Tiểu luận môn triết học hệ Cao học (Thạc sĩ) Chuyên ngành QLDA, KTXD trường ĐHXD Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến Vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái. (Thuộc chuyên đề 02)
Trang 1TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái (Thuộc chuyên đề 02)
Học viên:
Mã số học viên:
Hà Nội 2020
THÁNG 9 NĂM 2013
Trang 2-MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
I Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến 3
1 Phép biện chứng 3
1.1 Phép biện chứng 3
1.2 Phép biện chứng duy vật 3
2 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến 4
2.1 Khái niệm 4
2.2 Tính chất 4
2.3 Ý nghĩa phương pháp luận 5
II Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái 6
1 Tăng trưởng kinh tế 6
1.1 Khái niệm 6
1.2 Các hoạt động nhằm tăng trưởng kinh tế 7
2 Bảo vệ môi trường sinh thái 7
2.1 Môi trường sinh thái 7
2.2 Ô nhiễm môi trường 8
2.3 Bảo vệ môi trường và tầm quan trọng của bảo vệ môi trường 8
3 Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái 8
4 Thực trạng & hậu quả 10
4.1 Trong công nghiệp 10
4.2 Trong nông nghiệp 11
4.3 Trong du lịch 12
4.4 Gia tăng nhu cầu tiêu thụ 12
4.5 Hậu quả 13
5 Khuyến nghị & đề xuất để đảm bảo cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái 13
KẾT LUẬN 15
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Con người trong suốt cuộc đời đều có những nhu cầu thiết yếu: nhu cầu ăn, nghỉ, nhu cầu sinh hoạt, … Muốn những nhu cầu đó được đáp ứng, con người phải sản xuất ra của cải vật chất, mà vật chất là thế giới tồn tại xung quanh con người Con người muốn tồn tại và phát triển thì phải tác động vào giới tự nhiên, cải tạo tự nhiên Con người đã, đang
và sẽ tiếp tục tác động vào giới tự nhiên, hình thành lịch sử phát triển đồng thời của tự nhiên và con người thông qua những quá trình như lao động, sản xuất, nghiên cứu khoa học Chính vì vậy, con người và thiên nhiên có mối quan hệ phụ thuộc qua lại lẫn nhau ngày càng chặt chẽ, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế khi mà nhu cầu tăng trưởng kinh tế hiện trở nên cấp thiết với mỗi quốc gia Tuy vậy, thế giới chúng ta đang sống đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ không bền vững do sự phát triển bất chấp mọi tác động xấu đến môi
trường, tài nguyên, sinh vật Sự tăng trưởng kinh tế ngày càng nhanh một mặt nâng cao đời sống của người dân nhưng mặt khác đang gây một sức ép mạnh mẽ lên môi trường tự nhiên Nói cách khác, để có được những kết quả tốt về kinh tế trong ngắn hạn, chúng ta phải trả giá bằng sự mất đi tính bền vững của nguồn tài nguyên thiên nhiên trong dài hạn Tất cả những mối liên kết trong sự sống sẽ không tồn tại và phát triển được nếu không được hỗ trợ bởi môi trường Với tốc độ tàn phá môi trường như hiện nay của con người, môi trường của chúng ta đang dần bị suy thoái, mối liên két của mạng lưới sự sống đang dần bị phá vỡ Vì vậy, đã đến lúc cần nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của chính sách phát triển kinh tế bền vững song hành với bảo vệ môi trường sinh thái
Nhằm tìm hiểu sâu hơn về thực trạng phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam và cả thế giới, đồng thời kêu gọi sự chung tay giúp sức của cộng đồng vào vấn đề cấp thiết của quốc gia, em lựa chọn nghiên cứu về đề tài: phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái
Trang 4I Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến
1 Phép biện chứng
1.1 Phép biện chứng
Trong chủ nghĩa Mác – Lênin, khái niệm biện chứng dùng để chỉ những mối liên
hệ, tương tác, chuyển hóa và vận động, phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện
tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy Phép biện chứng là học thuyết nghiên
cứu, khái quát, biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn
Phương pháp biện chứng là phương pháp nhận thức đối tượng ở trong các mối
liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau, ở trạng thái vận động biến đổi về chất của sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập
để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng
Như vậy, phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt, phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại Nhờ thế, phương pháp tư duy biện chứng trở thành công
cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới
1.2 Phép biện chứng duy vật
a) Khái niệm phép biện chứng duy vật
Định nghĩa khái quát về phép biện chứng duy vật, Ph.Ăngghen cho rằng: “Phép biện chứng duy vật là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự
phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”
Trên cơ sở khái quát các mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, những quy luật phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy, phép biện chứng duy vật cung cấp những nguyên tắc, phương pháp luận chung nhất cho quá trình nhận thức và cải tạo thế giới
b) Đặc trưng cơ bảncủa phép biện chứng duy vật
Chỉ nghiên cứu những quy luật phổ biến nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy;
Trang 5 Do tính phổ biến của các quy luật mà nó nghiên cứu nên phép biện chứng duy vật cũng là phương pháp luận chung nhất cho việc nghiên cứu của các ngành khoa học cũng như hoạt động thực tiễn;
Có sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng
c) Vai trò của phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng duy vật giữ vai trò là một nội dung đặc biệt quan trọng trong thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tạo nên tính khoa học và cách mạng của , đồng thời nó cũng là thế giới quan và phương pháp luận chung nhất của hoạt động sáng tạo trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn
2 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
2.1 Khái niệm
Các nhà duy vật biện chứng cho rằng, tuy các sự vật, hiện tượng vô cùng phong phú, đa dạng nhưng chúng thống nhất với nhau ở tính vật chất Nhờ có tính thống nhất
đó, chúng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định Chính trên cơ sở đó, triết học duy vật biện chứng đã khẳng định: liên hệ là phạm trù triết học dung để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, hiện tượng trong thế giới
Khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới, đồng thời cũng dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới, trong đó những mối liên hệ phổ biến nhất là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới, nó thuộc đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng
2.2 Tính chất
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mối liên hệ phổ biến có 3 tính
chất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú
Trang 6 Tính khách quan của mối liên hệ biểu hiện: các mối liên hệ là vốn có của mọi sự vật,
hiện tượng, nó không phụ thuộc vào ý thức của con người;
Tính phổ biến của mối liên hệ biểu hiện: bất kì một sự vật hiện tượng nào ở bất kì
không gian nào, thời gian nào cũng có mối liên hệ với những sự vật hiện tượng khác Ngay trong cùng một sự vật, hiện tượng thì bất kì một thành phần nào, một yếu tố nào cũng có mối liên hệ với những thành phần, những yếu tố khác;
Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ biểu hiện: sự vật hiện tượng khác nhau,
không gian khác nhau, thời gian khác nhau thì các mối liên hệ đều biểu hiện khác nhau Có thể phân chia các mối liên hệ thành nhiều loại: mối quan hệ bên trong, mối quan hệ bên ngoài, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ thứ yếu, … Các mối liên hệ này
có vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và vận động của sự vật hiện tượng
Sự phân chia từng cặp mối liên hệ mang tính chất tương đối, vì mỗi loại mối liên
hệ chỉ là một hình thức, một bộ phận, một mắt xích của mối liên hệ phổ biến Mỗi loại mối liên hệ trong từng cặp có thể chuyển hóa lẫn nhau tùy theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động và phát triển của chính sự vật
Tuy sự phân chia từng cặp mối liên hệ mang tính chất tương đối nhưng sự phân chia đó lại rất cần thiết, bởi mỗi loại mối liên hệ có vị trí và vai trò xác định trong sự vận động và phát triển của sự vật con người cần nắm bắt đúng mối liên hệ để có cách tác động phù hợp nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của mình
2.3 Ý nghĩa phương pháp luận
Nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến có thể rút ra ý nghĩa về phương pháp luận sau:
a) Quan điểm toàn diện
Vì các mối quan hệ là sự tác động qua lại, chuyển hóa, quy định lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng và các mối liên hệ mang tính khách quan, mang tính phổ biến nên trong
Trang 7các hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm toàn diện, phải tránh cách xem phiến diện;
Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật hiện tượng trong mối liên
hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật đó với những sự vật khác Kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp
Đồng thời quan điểm toàn diện yêu cầu chúng ta phải biết phân biệt những mối liên
hệ, phải biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên và lưu ý đến sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mối liên hệ để hiểu rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bản thân
Trong hoạt động thực tế theo quan điểm toàn diện, khi tác động vào sự vật, chúng ta không những phải chú ý đến mối quan hệ nội tại của nó mà còn phải chú ý tới những mối liên hệ của sự vật ấy với sự vật khác Đồng thời chúng ta phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp và phương tiện khác nhau nhằm đem lại hiểu quả cao nhất
b) Quan điểm lịch sử - cụ thể
Vì các mối liên hệ có tính đa dạng, phong phú, sự vật hiện tượng khác nhau các mối liên hệ khác nhau không gian biểu hiện khác nhau nên trong hoạt động nhạn thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm lịch sử - cụ thể, môi trường cụ thể trong đó sự vật tồn tại và phát triển Thực tế cho thấy rằng, một luận điểm nào đó là luận điểm khoa học trong đó điều kiện này nhưng sẽ không là luận điểm khoa học trong điều kiện khác
II Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái
1 Tăng trưởng kinh tế
1.1 Khái niệm
Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GDP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định Tăng trưởng kinh tế thể
Trang 8hiện sự thay đổi về số lượng, chất lượng, quy mô của một nền kinh tế theo chiều hướng đi lên
Tăng trưởng kinh tế dài hạn là điều kiện tiên quyết tạo nên những tiến bộ về kinh
tế - xã hội, nhất là ở các nước đang phát triển Chính vì vậy, tăng trưởng kinh tế đang được xem là nhiệm vụ cấp thiết quan trọng nhất ở hầu hết các quốc gia
1.2 Các hoạt động nhằm tăng trưởng kinh tế
Thực hiện nghị quyết Đại học Đảng toàn quốc lần thứ 6, kể từ năm 1986 Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới Nó được tiến hành toàn diện trên mọi lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội Trong lĩnh vực kinh tế, Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện mở cửa, hội nhập quốc tế Để đất nước có thể hội nhập với thế giới, chính phủ đã và đang đẩy mạnh các chính sách như khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài, đầu tư phát triển khoa học công nghệ, chính sách thương mại tự do, … từ đó thu được những thành quả không nhỏ cho công cuộc phát triển kinh tế, giảm nhanh tình trạng đói nghèo, xây dựng nền kinh tế công nghiệp hóa, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao đi đôi với sự công bằng tương đối trong xã hội
2 Bảo vệ môi trường sinh thái
2.1 Môi trường sinh thái
Môi trường sinh thái là một mạng lưới chỉnh thể có mối liên quan chặt chẽ với nhau giữa đất, nước, không khí và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu Nó bao gồm tất cả những điều kiện xung quanh có liên quan đến sự sống Đối với con người, môi trường sinh thái là toàn bộ các điều kiện tự nhiên và xã hội, cả vô cơ và hữu cơ, có mối liên hệ tới sự sống của con người, sự tồn tại và phát triển của xã hội
Trang 92.2 Ô nhiễm môi trường.
Ô nhiễm môi trường là hiện tượng suy giảm chất lượng môi trường quá một giới hạn cho phép, các tính chất vật lý, hóa học, sinh học của môi trường bị thay đổi gây tác hại tới sức khỏe con người và các sinh vật khác
2.3 Bảo vệ môi trường và tầm quan trọng của bảo vệ môi trường
Bảo vệ môi trường bao gồm những hoạt động, những việc làm trực tiếp, tạo điều kiện giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện điều kiện vật chất, điều kiện sống của con người, sinh vật, làm sự sống tốt đẹp hơn, duy trì sự cân bằng sinh thái, tăng đa dạng sinh học Bảo vệ môi trường gồm các chính sách chủ trương, các chỉ thị nhằm ngăn chặn hậu quả xấu của con người đối với môi trường, các sự cố môi trường do con người
và thiên nhiên gây ra, khai thác và sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên Đây chính là nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách của mỗi quốc gia, là sự nghiệp của toàn dân, là trách nhiệm của bất kì tổ chức, cá nhân nào Bảo vệ môi trường cũng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta Có bảo vệ tốt thì cuộc sống của chúng ta mới phát triển tốt đẹp, bền vững
và lâu dài
3 Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái
Giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường luôn có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, đó chính là mối quan hệ biện chứng bao gồm hai mặt thống nhất và mâu thuẫn Tăng trưởng kinh tế được sinh ra, tồn tại và phát triển hoàn toàn phụ thuộc vào con người nên nó là cái tồn tại chủ quan Trong khi đó, môi trường sống sinh ra và tồn tại trong tự nhiên, tồn tại một cách khách quan độc lập với ý thức của con người Tuy nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái lại phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, con người có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tác động làm môi trường tốt lên hay xấu đi Môi trường chịu tác động của con người, tăng trưởng kinh tế cũng phụ thuộc vào con người, do đó có thể nói môi trường chịu tác động của tăng trưởng kinh tế và ngược lại Hai yếu tố này thống nhất
Trang 10với nhau về mục đích trong quá trình phát triển một chỉnh thể là tự nhiên - xã hội Điều
đó được thể hiện qua một số khía cạnh như sau:
Về tình trạng khai thác tài nguyên thiên nhiên: nước giàu và nghèo có một sự chênh lệch về việc nhìn nhận mức độ tiêu dùng nguồn tài nguyên Cụ thể, đối với nước giàu thì sự phát triển kinh tế bền vững phải gắn với cắt giảm đáng kể mức độ tiêu dùng lãng phí về năng lượng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong khi nước nghèo chỉ chú tâm vào việc khai thác để xuất thô một cách cạn kiệt Phát triển kinh tế giúp nâng cao đời sống người dân đồng thời cũng nâng cao nhận thức con người, ý thức bảo vệ môi trường tăng lên
Về bầu khí quyển: tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện cho con người tạo nên những máy móc, công cụ sản xuất ít gây ảnh hưởng đến môi trường Các khu công nghiệp đang dần cố gắng giảm thiểu lượng khí thải bay vào bầu khí quyển Nhiều nhà máy, khu xử
lí rác thải được xây dựng cũng góp phần không nhỏ vào công cuộc bảo vệ môi trường
Về môi trường nước: kinh tế càng phát triển, hệ thống xử lí nước sạch càng hiện đại, máy móc xử lí rác thải giúp giảm lượng rác đổ ra biển, hồ, sông…Kinh tế phát triển nguồn nước cũng được bảo vệ an toàn Như vậy, xét về một khía cạnh nào đó thì phát triển kinh tế đã tác động tích cực đến bảo vệ môi trường Ngược lại, môi trường sinh thái trong lành, ổn định cũng là điều kiện, cơ sở và động lực thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế vì:
Môi trường sinh thái trong lành giúp con người cảm thấy thoải mái, hưng phấn trong cuộc sống, đảm bảo sức khoẻ tốt cũng là cách để làm việc hiệu quả
Bảo vệ môi trường sinh thái tạo nên môi trường sống ổn định, phát triển bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng chính là phát triển nền kinh tế lâu dài Từ đó, có thể thấy sự phát triển kinh tế xã hội một cách tiến bộ khi có sự kết hợp hài hoà giữa hai mục tiêu là phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái Mặc dù vậy, thực trạng đang dần chứng tỏ mặt mâu thuẫn trong mối liên hệ của hai vấn đề trên Trên thế giới, nền kinh tế đang phát triển chóng mặt, chính điều đó kéo theo nhiều hệ luỵ xấu và mối hiểm hoạ đến môi trường Tài nguyên không phải là vô hạn, nếu chỉ tăng