1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm của toàn án nhân dân cấp tỉnh

82 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể ở khoản 2 Điều 28 Luật tổ chức Toà án nhân dân sửa đổi bổ sung năm 2002 quy định Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền: Phúc thẩm những vụ án mà bản

Trang 2

TRẦN VĂN QUÁN

GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật hành chính

Mã số: 60380102

Người hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Thương Huyền

Tp Hồ Chí Minh – 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Công trình nghiên cứu này được thực hiện với sự nổ lực của bản thân đồng thời với sự tận tình hướng dẫn của giáo viên, theo sự phân công Những thông tin, tài liệu, dữ liệu, số liệu trong luận văn được trích dẫn rõ ràng, đầy đủ

về nguồn gốc Đó là những thông tin, số liệu đầy tính khách quan và trung thực Bản thân cam đoan đây là công trình không vay mượn, sao chép

Trần Văn Quán

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ GIẢI QUYẾT

VỤ ÁN HÀNH CHÍNH THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 6 1.1 Khái niệm, mục đích, nhiệm vụ của giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính của Toà án nhân dân cấp tỉnh 6

1.1.1 Khái niệm 6 1.1.2 Mục đích của phúc thẩm vụ án hành chính giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính của Toà án nhân dân cấp tỉnh 8 1.1.3 Nhiệm vụ của giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm vụ

án hành chính của Toà án nhân dân cấp tỉnh 11

1.2 Quy định của pháp luật về giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh 15

1.2.1 Kháng cáo, kháng nghị 15 1.2.2 Phiên toà phúc thẩm vụ án hành chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh 21

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 44 2.1 Thực trạng giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh 44

2.1.1 Khái quát tình hình giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh 44 2.1.2 Thực trạng thực hiện các chế định pháp luật trong thực tiễn 48

2.2 Một số bất cập về giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh 57 2.3 Một số giải pháp hoàn thiện về giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh 61

Trang 6

2.3.1 Về mặt pháp lý 61 2.3.2 Về mặt thực tiễn 67

KẾT LUẬN 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giải quyết vụ án hành chính là một trong những hoạt động tố tụng của Tòa

án Nói đến giải quyết vụ án hành chính là nói đến một quá trình tố tụng gồm nhiều giai đoạn trong đó thủ tục phúc thẩm vụ án là một trình tự thủ tục Các giai đoạn của tố tụng hành chính bao gồm: Giai đoạn đầu: khởi kiện và thụ lý vụ án hành chính; Chuẩn bị xét xử; Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính; Xét xử phúc thẩm vụ án hành chính; Giai đoạn giám đốc thẩm và tái thẩm vụ án hành chính Cuối cùng là Thi hành án Luật tố tụng hành chính quy định thực hiện chế độ hai cấp xét xử ở Điều 19 như sau:

Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử án hành chính, trừ trường hợp xét xử vụ án hành chính đối với khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Luật TTHC

Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn do Luật TTHC quy định thì có hiệu lực pháp luật; trường hợp bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ

án phải được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật

Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện

có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo quy định của Luật TTHC

Hai cấp xét xử là một nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của

hệ thống tư pháp ở nước ta nói chung

Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992 - nhất là Hiến pháp 1992 quy định rất rõ về tổ chức Tòa án Theo đó Tòa án được tổ chức thành Tòa sơ thẩm khu vực và tòa án cấp Tỉnh, Thành phố

Điều 11 Luật tổ chức Tòa án nhân dân sửa đổi bổ sung năm 2002 quy định:

“Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử” Đó là cấp xét xử sơ thẩm và cấp xét xử phúc thẩm Quy định này có tính phổ biến, Tòa án các nước trên thế giới áp dụng

Trang 8

chế độ này Việt Nam áp dụng nguyên tắc này từ khi hiến pháp 1946 Cụ thể ở khoản 2 Điều 28 Luật tổ chức Toà án nhân dân sửa đổi bổ sung năm 2002 quy định Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền: Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật

tố tụng Đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn đòi hỏi Thẩm phán của Tòa án nhân dân cấp tỉnh phải có đầy đủ năng lực, trình độ hơn hẳn Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp sơ hẩm Có như vậy mới phát hiện, nhận ra những sai sót yếu kém của cấp sơ thẩm, dù bất kỳ lý do gì

Nghị quyết 49 của Bộ chính trị cũng đã chỉ rõ: “xác định Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm” “Mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các khiếu kiện hành chính Đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại Tòa án; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan công quyền trước Tòa án”

Giải quyết vụ án hành chính là một quá trình giải tố tụng tương tự như các thủ tục tố tụng tư pháp khác Giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm là một thủ tục

tố tụng cũng như giải quyết các vụ án dân sự, lao động, kinh tế, ….Tuy nhiên, giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục hành chính nên nó có những nét đặc thù của “hành chính” Đó là sự hiện diện của cơ quan quyền lực công với tư cách người bị kiện Giải quyết vụ án hành chính là giải quyết một mối quan hệ “bất bình đẳng” giữa một bên là Nhà nước với tư cách người bị kiện và một bên là công dân (hoặc tổ chức) với tư cách người khởi kiện

Khi chưa có Luật tố tụng hành chính, giải quyết vụ án hành chính chủ yếu căn cứ vào Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính ban hành năm

1996 được hướng dẫn bởi Nghị quyết số 04/2006/NQ-HĐTP ngày 04/8/2006 của Tòa án nhân dân tối cao Luật Tố tụng hành chính ban hành năm 2010 thay thế Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính trên tinh thần cải cách Tư pháp theo chỉ thị của Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị Luật tố tụng hành chính thể hiện nhiều tiến bộ, phù hợp với thực tế giải quyết các khiếu kiện hành chính trong thời gian qua Có hiệu lực từ tháng 7/2011, Luật tố tụng hành chính ra đời

đã tạo hành lang pháp lý thông thoáng hơn cho công dân thực hiện quyền khiếu

Trang 9

kiện của mình tại Toà án Những quy định mới trong Luật là nút gỡ khó khăn cho người khởi kiện Việc bỏ qua thủ tục “tiền tố tụng” là một điển hình Người dân kiện thẳng ra Tòa án mà không cần có trả lời khiếu nại lần đầu của cơ quan ban hành quyết định hành chính

Trong những năm gần đây, tình hình thụ lý, giải quyết án hành chính ngày càng tăng cả về số lượng và phức tạp về nội dung tranh chấp Luật tố tụng hành chính đã dùng phương pháp loại trừ khi xác định thẩm quyền giải quyết án hành chính của Tòa án

Nhìn chung, việc giải quyết án hành chính đã đem lại hiệu quả nhất định,

ổn định được tình hình chính trị, trật tự xã hội của từng địa phương Nhưng cũng còn không ít những vụ sau khi xét xử sơ thẩm người khiếu kiện không đồng ý tiếp tục kháng cáo hoặc Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, vụ án

vì thế kéo dài Nhiều vụ án sau khi xem xét theo thủ tục phúc thẩm phải hủy toàn

bộ án sơ thẩm, giao về xét xử sơ thẩm lại hoặc cải sửa một phần hay cải sửa toàn

bộ án sơ thẩm Đối tượng để giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh không chỉ là bản án, chưa có hiệu lực pháp luật mà còn là các quyết định như tạm đình chỉ, đình chỉ …

Vậy nguyên nhân của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là gì Nhằm tìm một phán quyết đúng đắn đảm bảo được quyền lợi ích hợp pháp cho đương sự? Hay pháp luật quy định được quyền kháng cáo thì đương sự được thực hiện kháng cáo? Người tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm không khách quan trong giải quyết vụ án? Dù với bất kỳ lý do nào, sự bất nhất trong cách hiểu, cách vận dụng, áp dụng pháp luật….tất cả đều dẫn đến để lại những hệ lụy nhất định Điều đó không những gây tranh cải cho người công tác trong ngành mà còn ảnh hưởng đến sự bất an trong tâm tưởng người dân, nhất là những người trực tiếp khiếu kiện Hậu quả của nó không đơn giản là những thiệt hại vật chất

cụ thể mà còn là niềm tin của con người vào công lý Nhà nước pháp quyền luôn bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân cần có một hệ thống pháp luật hành chính hoàn chỉnh

Từ những nhu cầu về lý luận cũng như thực tiễn nêu trên, tác giả chọn đề

tài “giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm của Toà án nhân

Trang 10

dân cấp tỉnh” làm đề tài nghiên cứu trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ luật

học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đây là một đề tài mới, chưa có công trình nghiên cứu nhất là khi Luật tố tụng hành chính mới ban hành năm 2010 Ngoài một số giáo trình nghiên cứu về Luật tố tụng hành chính nói chung của Phó GS Tiến sĩ Nguyễn Cửu Việt, Giáo trình Luật tố tụng hành chính do Tiến sĩ Nguyễn Thị Thương Huyền chủ biên, một số bài viết trên tạp chí Toà án…chưa có đề tài nào nghiên cứu về tài tài này Bản thân nhận thấy có một số đề tài có liên quan như đề tài của học viên Nguyễn Thanh Thảo về “Thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân đối với các khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai”1 Tuy nhiên, đề tài không làm rõ được tính chất, mục đích của giải quyết phúc thẩm vụ án hành chính cũng như sự khác biệt giữa phiên tòa sơ thẩm và thủ tục phúc thẩm

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những quy định của pháp luật Tố tụng hành chính về giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm của Toà

án nhân dân cấp tỉnh trong Luật TTHC Từ đó đánh giá những ưu điểm, hạn chế

và đưa ra những kiến nghị hoàn thiện những quy định về thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm của TAND cấp tỉnh, phạm vi xét xử phúc thẩm thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh, trong Luật TTHC cả về mặt lý luận và thực tiễn, góp phần khắc phục những điểm bất cập của Luật TTHC hiện hành

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài và phương pháp nghiên cứu

4.1 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

Giải quyết vụ án hành chính bao gồm nhiều giai đoạn: khởi kiện, thụ lý vụ

án, chuẩn bị xét xử, phiên toà sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm, thủ tục tái thẩm Trong phạm vi đề tài này người viết chỉ tập trung nghiên cứu giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm của Toà án nhân dân cấp tỉnh mà không nghiên cứu việc giải quyết các vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao

Phần thứ nhất, Những vấn đề lý luận, pháp lý về giải quyết các vụ án hành theo thủ tục phúc thẩm của Toà án nhân dân cấp Tỉnh

1

Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Luật

Trang 11

Phần thứ hai, Thực trạng và những giải pháp kiến nghị hoàn thiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và phép biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng, Nhà nước về Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa; các phương pháp khoa học cụ thể như: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp quy nạp và diễn dịch

Vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, lôgic, và tổng kết thực tiễn để xem xét giải quyết các vấn đề cụ thể về lý luận và thực tiễn

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận văn là một công trình nghiên cứu một cách đấy đủ và tương đối có hệ thống các quy định của pháp luật tố tụng về giải quyết các vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh

Luận văn có thể trở thành tài liệu phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy pháp luật về tố tụng hành chính Những kiến nghị của luận văn sẽ góp phần làm tư liệu tham khảo cho các nhà lập pháp trong việc hoàn thiện các quy định pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính Từ đó mang lại hiệu quả nhất định trong việc nâng cao kỷ năng giải quyết các vụ án hành chính nói chung - theo thủ tục phúc thẩm nói riêng

6 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm các phần chính:

Phần mở đầu

Phần nội dung gồm có hai chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận, pháp lý về giải quyết án hành hành chính theo thủ tục phúc thẩm của Toà án nhân dân cấp tỉnh

Chương 2 Thực trạng và những kiến nghị hoàn thiện giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh

Phần kết luận

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM CỦA TOÀ ÁN

NHÂN DÂN CẤP TỈNH 1.1 Khái niệm, mục đích, nhiệm vụ của giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính của Toà án nhân dân cấp tỉnh

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm

Theo pháp luật tố tụng hành chính Việt Nam, sau khi bản án, quyết định sơ thẩm được tuyên thì chúng chưa có hiệu lực pháp luật ngay mà có một khoảng thời gian để đương sự thực hiện quyền kháng cáo, Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với các bản án, quyết định sơ thẩm đó Việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp dưới chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị được gọi là thủ tục xét xử phúc thẩm

Vậy có thể hiểu phúc thẩm vụ án hành chính là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp dưới chưa có hiệu lực pháp luật khi có kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật2 Cách hiểu này phù hợp với nguyên tắc bảo đảm chế độ hai cấp xét xử được quy định tại Điều 11 Luật tổ chức Tòa án năm 2002 Trên tinh thần đó, Điều 173 Luật tố tụng hành chính năm 2010 (Luật TTHC) quy định về tính chất của thủ tục xét xử phúc thẩm như sau: thủ tục phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ

án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị

Ta thấy, tuy cách diễn đạt có khác nhau nhưng chung quy phúc thẩm vụ án hành chính vẫn là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

Hiện nay, pháp luật tố tụng hành chính không quy định rõ về thời hạn bắt đầu và kết thúc của thủ tục phúc thẩm, kết hợp quy định tại các điều luật khác

2

Nguyễn Thanh Bình (1997), Tìm hiểu pháp luật tố tụng hành chính, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr 119

Trang 13

nhau theo chúng tôi thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính (VAHC) bắt đầu từ thời điểm VAHC được Tòa án thụ lý theo thủ tục phúc thẩm và kết thúc vào thời điểm Tòa án cấp phúc thẩm ban hành ra bản án, quyết định giải quyết VAHC Trong giai đoạn này Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành nhiều hoạt động tố tụng khác nhau như: phân công Hội đồng xét xử phúc thẩm, xác định phạm vi xét xử phúc thẩm, chuẩn bị các công việc cần thiết tiến tới việc mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, ban hành ra các quyết định tố tụng, mở phiên tòa hoặc phiên họp xét

xử phúc thẩm…Tất cả những hoạt động tố tụng trên đều hướng đến mục đích bảo đảm cho việc giải quyết VAHC tại phiên tòa cấp phúc thẩm được đúng đắn, khách quan, bảo đảm triệt để quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

1.1.1.2 Khái niệm giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm của Toà án nhân dân cấp tỉnh

Hiện nay pháp luật TTHC không đưa ra khái niệm riêng về giải quyết VAHC theo thủ tục phúc thẩm của TAND cấp tỉnh mà chỉ quy định về tính chất của thủ tục xét xử phúc thẩm theo quy định tại Điều 173 Luật TTHC mà chúng tôi đã phân tích ở trên Từ quy định này, theo chúng tôi giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm của TAND cấp tỉnh là việc Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử lại đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện bị đương sự kháng cáo hay bị Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện hoặc cấp cấp tỉnh kháng nghị

Theo quy định của pháp luật TTHC ở nước ta hiện nay, quyền xét xử phúc thẩm VAHC thuộc về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân tối cao Qua khái niêm phân tích trên, có thể thấy việc giải quyết VAHC theo thủ tục phúc thẩm của TAND cấp tỉnh có những điểm tương đồng với việc xét xử phúc thẩm của TAND tối cao, cụ thể: đối tượng xét xử phải là những bản

án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, thẩm quyền xét xử phúc thẩm luôn thuộc về Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm, chủ thể được quyền kháng cáo là đương sự trong vụ án, chủ thể được quyền kháng nghị là Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp hoặc trên một cấp…Bên cạnh đó, việc giải quyết VAHC theo thủ tục phúc thẩm của TAND cấp tỉnh và TAND có một số điểm khác biệt về đối tượng xét xử, thẩm quyền theo cấp Tòa

án xét xử, chủ thể kháng nghị,…

Trang 14

Bên cạnh đó, giải quyết VAHC theo thủ tục phúc thẩm của TAND cấp tỉnh

có những điểm khác cơ bản với thủ tục sơ thẩm, thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm VAHC của TAND cấp tỉnh nói riêng và của các cấp Tòa án nói chung Đối với thủ tục xét xử sơ thẩm VAHC là việc xét xử lần đầu VAHC3, trong đó, đối tượng xét xử là những khiếu kiện được quy định tại Điều 28 Luật TTHC và thẩm quyền theo cấp, theo lãnh thổ giải quyết VAHC được xác định dựa vào Điều 29

và Điều 30 Luật TTHC Ngoài ra, những quy định của Luật TTHC về xét xử theo thủ tục sơ thẩm của TAND cấp tỉnh cũng khác đối với việc xét xử phúc thẩm của TAND cấp tỉnh về thành phần Hội đồng xét xử, thời hạn chuẩn bị xét

xử, sự có mặt của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, thẩm quyền của Hội đồng xét xử…

Thủ tục phúc thẩm của TAND cấp tỉnh cũng khác với thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm của TAND cấp tỉnh Những điểm khác biệt cơ bản là: đối tượng xét xử, nếu như đối tượng xét xử phúc thẩm của TAND cấp tỉnh là bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm cấp huyện chưa có hiệu lực pháp luật thì đối tượng giám đốc thẩm, tái thẩm của TAND cấp tỉnh là bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm cấp huyện đã có hiệu lực pháp luật; thẩm quyền xét xử phúc thẩm của TAND cấp tinh thuộc về Tòa hành chính trong khi đó thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm thuộc về Ủy ban Thẩm phán TAND cấp tỉnh; chủ thể được quyền kháng nghị đối với thủ tục xét xử phúc thẩm của TAND cấp tỉnh là Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện và Viện trưởng Viện kiềm sát nhân dân cấp tỉnh trên cùng lãnh thổ với Tòa án đã xét xử sơ thẩm, trong khi đó chủ thể kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm cấp huyện là Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân tối cao, Chánh án TAND cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, ngoài ra những quy định của pháp luật về việc tiến hành phiên tòa, thẩm quyền của Hội đồng xét xử cũng có sự khác biệt

1.1.2 Mục đích của phúc thẩm vụ án hành chính giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính của Toà án nhân dân cấp tỉnh

3 Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam, Nxb Hồng Đức –

Hội Luật gia Việt Nam, tr 290

Trang 15

Điều 19 Luật TTHC quy định Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử vụ

án hành chính, trừ trường hợp xét xử vụ án hành chính đối với các khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đông nhân dân Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản trong pháp luật tố tụng của Việt Nam cũng như ở nhiều quốc gia trên thế giới nhằm đảm bảo rằng các bản án, quyết định do Tòa án tuyên được xem xét một cách thận trọng, đảm bảo tính công bằng, đúng đắn Thủ tục phúc thẩm các bản án, quyết định hành chính có vai trò quan trọng trong việc phát hiện và khắc phục kịp thời những sai sót, vi phạm pháp luật có thể xảy ra trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm Vì vậy, quy định này góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án Giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm của Toà án nhân dân cấp tỉnh cũng nhằm đạt đạt mục đích đó:

Một là, thông qua hoạt động này Toà án cấp tỉnh đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hành chính đúng pháp luật, bảo vệ được quyền lợi của nhà nước của các tổ chức xã hội cũng như quyền lợi ích hợp pháp của công dân Mục đích của việc phúc thẩm vụ án hành chính là để khắc phục những sai sót có thể có sau khi xét xử sơ thẩm VAHC của TAND cấp huyện để cho bản án, quyết định của Tòa

án đúng pháp luật, phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án, bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức xã hội

Hai là, Toà án cấp tỉnh sửa chữa những sai lầm, thiếu sót, khuyết điểm mà Tòa án cấp sơ thẩm mắc phải trong quá trình tố tụng

Pháp luật quy định việc phúc thẩm vụ án hành chính tạo điều kiện cho các đương sự sau khi xét xử lần đầu có cơ hội yêu cầu Tòa án cấp trên xem xét lại vụ

án một lần nữa Toà án cấp trên với hội đồng xét xử có số lượng Thẩm phán nhiều hơn, có kinh nghiệm hơn sẽ là đảm bảo tốt hơn cho vụ án được giải quyết công bằng, khách quan Nguyên tắc bản án, quyết định có thể bị xem xét lại còn

có tác dụng nâng cao tinh thần trách nhiệm của các Thẩm phán sơ thẩm Với khả năng các phán quyết của Thẩm phán cấp sơ thẩm có thể sẽ bị phúc thẩm để xem xét lại sẽ nâng cao tinh thần trách nhiệm trong nhiệm vụ

Để khắc phục những sai lầm của bản án sơ thẩm trong phạm vi thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh sẽ có quyết định thích hợp Sửa chữa, bổ sung những nội dung còn thiếu hoặc về tố tụng nếu pháp

Trang 16

luật cho phép Căn cứ để sửa bản án quyết định sơ thẩm là có vi phạm về nội dung, điều tra thu thập chứng cứ nhưng chưa đầy đủ nhưng cấp phúc thẩm có thể

bổ sung được; hủy án sơ thẩm giao về giải quyết lại những nội dung hoặc những

vi phạm tố tụng mà theo thủ tục phúc thẩm không thể khắc phục được Về vấn

đề này cũng có quan điểm cho rằng trong bản án hoặc quyết định phúc thẩm không thể hiện trực tiếp mục đích sửa chữa những sai lầm Vì phúc thẩm chủ yếu

là do kháng cáo của đương sự mà phát sinh và Tòa án buộc phải giải quyết chứ không phải Tòa án tự mình làm điều đó Sửa chữa sai lầm của Tòa án sơ thẩm là nhiệm vụ chứ không phải là mục đích của phúc thẩm Sửa chữa sai lầm là nhằm đạt mục đích bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và bảo đảm pháp chế, ngay cả đối với thủ tục giám đốc thẩm thì sửa chữa sai lầm của Tòa án cấp dưới cũng chỉ là nhiệm vụ chứ không phải là mục đích Tuy nhiên, suy cho cùng

dù là nhiệm vụ hay mục đích thì phúc thẩm vụ án hành chính cũng đều đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được đúng đắn hơn, khách quan hơn

Ở đây có thể hiểu mục đích sửa chữa những sai lầm, thiếu sót, khuyết điểm của Tòa án cấp sơ thẩm là lý do quan trọng nhất dẫn đến việc quy định nguyên tắc bảo đảm hai cấp xét xử tại Điều 11 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân

Vì pháp luật trao quyền kháng cáo theo trình tự phúc thẩm cho đương sự trước hết là để cho đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại Tòa án cấp trên Việc khắc phục sai lầm của Tòa án cấp sơ thẩm chỉ cần việc kháng nghị để giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm

Xét xử lại ở cấp phúc thẩm khác với xét xử lại trong trường hợp bản án

sơ thẩm bị hủy và trả lại để xét xử sơ thẩm Xét xử lại ở cấp sơ thẩm khi bị hủy

án là xét xử theo thủ tục chung mà pháp luật quy định đối với sơ thẩm, là quyết định lại từ đầu đối với vụ án hành chính4 Xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm chỉ xét xử nội dung có kháng cáo hoặc kháng nghị (xem phạm vi xét xử phúc thẩm)

Ba là, thông qua xét xử phúc thẩm Tòa án cấp trên hướng dẫn Tòa án cấp dưới thực hiện thống nhất pháp luật trong việc giải quyết các vụ án hành chính Mục đích của xét xử phúc thẩm VAHC là việc Tòa án cấp trên hướng dẫn xét xử

4 Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam, Nxb Hồng Đức –

Hội Luật gia Việt Nam, tr 289

Trang 17

các vụ án hành chính đối với Tòa án cấp dưới, tạo điều kiện áp dụng pháp luật được thống nhất Mặc dù pháp luật về nội dung và thủ tục tố tụng đều có quy định thành từng điều luật nhưng không phải các chủ thể áp dụng pháp luật cũng hiểu giống nhau về một quy định cụ thể Có khi cùng một quy định của điều luật nhưng mỗi người hiểu mỗi khác, mỗi Tòa án, mỗi cấp hiểu cũng khác cho nên thông qua việc xét xử phúc thẩm bản án phúc thẩm định ra một cách hiểu chung nhất về một vấn đề Từ đó các tòa cấp sơ thẩm hiểu vấn đề hơn và áp dụng đúng đắn, thống nhất hơn Thực tiễn sau khi Luật TTHC có hiệu lực để việc áp dụng thống nhất Tòa án nhân dân tối cao cũng đã ban hành Nghị quyết số 01 và Nghị quyết số 02 hướng dẫn thi hành Luật TTHC

1.1.3 Nhiệm vụ của giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm

vụ án hành chính của Toà án nhân dân cấp tỉnh

Giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính có những nhiệm vụ cụ thể sau:

Thứ nhất, kiểm tra tính có căn cứ khách quan của bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm

Tính xác thực (hay tính có căn cứ khách quan) của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đòi hỏi các quyết định của Tòa án phải phù hợp với những tình tiết đã được chứng minh, những chứng cứ được xem xét đầy đủ tại phiên tòa

Để thực hiện nhiệm vụ này thì sau khi thụ lý vụ án và chuẩn bị xét xử phúc thẩm cho đến suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm phải áp dụng các biện pháp tố tụng cần thiết để làm rõ từng tình tiết của vụ án, xác minh, xem xét, đối chiếu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ Trong trường hợp cần thiết có thể thu thập thêm chứng cứ mới Bảo đảm cho người đã kháng cáo và Viện kiểm sát, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự bổ sung chứng cứ5

5 Điều 189 Luật TTHC quy định bổ sung chứng cứ mới như sau: 1 Trước khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà

phúc thẩm, người kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng

cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền bổ sung chứng cứ mới 2

Toà án cấp phúc thẩm tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự tiến hành xác minh chứng cứ mới được bổ

sung Toà án có thể thực hiện ủy thác xác minh chứng cứ theo quy định tại Điều 86 của Luật này

Trang 18

Chỉ như vậy mới bảo đảm cho các kết luận của Tòa án xét xử phúc thẩm về các tình tiết của vụ án phù hợp với thực tế khách quan

Thứ hai, kiểm tra tính pháp lý của bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm cấp huyện

Nhiệm vụ này được hiểu là kiểm tra các căn cứ pháp lý mà dựa vào đó Tòa án cấp sơ thẩm ra quyết định đối với yêu cầu của các đương sự Chẳng hạn: điều khoản cụ thể của văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, về thu hồi đất, về buộc thôi việc, v.v Các điều khoản có thể là của văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản áp dụng pháp luật Thậm chí là công văn hướng dẫn thuộc các lĩnh vực khác nhau mà Tòa án đã căn cứ vào đó để giải quyết vụ án Cũng có thể là quy định của pháp luật hình sự (như có dấu hiệu của tội phạm hay không hay chỉ là vi phạm hành chính), pháp luật dân sự (trường hợp giải quyết bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính), v.v

Tòa án cấp phúc thẩm phải khẳng định được các quy định của pháp luật nội dung mà Tòa sơ thẩm áp dụng là phù hợp về hiệu lực, về đối tượng áp dụng, thẩm quyền, hình thức văn bản Việc hủy hay giữ nguyên quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc hoặc việc tuyên bố hành vi hành chính trái hoặc đúng pháp luật tại Tòa án sơ thẩm là có hoặc không có căn cứ pháp lý

Trước đây trong một số khái niệm phổ biến được sử dụng là kiểm tra tính hợp pháp, chứ không gọi là tính pháp lý Theo giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt Nam của Trường Đại học Luật Tp.HCM thì cho rằng gọi là tính pháp lý thì đúng nghĩa hơn Còn tính hợp pháp thì bao gồm cả tính xác thực khách quan và tính pháp lý Nhiệm vụ chung của tố tụng hành chính là bảo đảm tính hợp pháp gồm cả hai phương diện này Quan điểm cá nhân thấy khái niệm này chuẩn xác hơn

Bên cạnh tính pháp lý về luật nội dung là tính pháp lý về luật thủ tục tức

là bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng hành chính và các thủ tục

tố tụng khác trong khi giải quyết vụ án hành chính Tính pháp lý về tố tụng chủ yếu thể hiện ở việc tuân thủ quy định của Luật tố tụng hành chính và các văn bản pháp luật liên quan

Trước đây, trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính không

có phần về chứng cứ, chứng minh nhưng lại được quy định tại Chương 6 Luật

Trang 19

TTHC gọi là chứng minh và chứng cứ Điều này cho thấy việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ thật sự quan trọng trong quá trình giải quyết một vụ án nói chung, vụ

án hành chính nói riêng Đây là quy định đúc kết từ thực tiễn xét xử và là lổ hổng của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính Tại sao phải kiểm tra lại tính xác thực về mặt chứng cứ? Phương thức kiểm tra như thế nào và ai là người thực hiện? Trả lời những câu hỏi này chúng ta sẽ làm sáng tỏ nhiệm vụ thứ nhất của thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính

Chứng cứ trong vụ án rất quan trọng là căn cứ để Thẩm phán, Hội đồng xét xử phán quyết ra một bản án, quyết định

Chứng cứ trong vụ án hành chính có các thuộc tính là tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp Như vậy, việc kiểm tra tính xác thực của chứng

cứ tức là xem chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có phải là những gì có thật, đã hoặc đang tồn tại trên thực tế hay không Chứng cứ đó có nhưng có phải là tài liệu giả mạo không ? Chứng cứ đó có liên quan đến tình tiết của vụ án không Đặc biệt là những chứng cứ trong hồ sơ có được thu thập theo trình tự được pháp luật tố tụng hành chính quy định Nếu không được theo trình tự luật định thì không được coi là chứng cứ, và dĩ nhiên không có giá trị chứng minh Chứng cứ không thoả mãn ba thuộc tính trên thì không được coi là chứng cứ, không có giá trị chứng minh

Nếu như ở phiên tòa sơ thẩm kết hợp việc hỏi với đánh giá chứng cứ do các bên cung cấp đối chiếu tài liệu có trong hồ sơ để đi đến quyết định thì ở thủ tục phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử kiểm tra lại tính đúng đắn của những chứng cứ đó - những chứng cứ mà khi xét xử sơ thẩm hội đồng lấy đó là căn cứ giải quyết vụ án Phúc thẩm vụ án hành chính, Thẩm phán, Hội đồng xét

xử kiểm tra tính đúng đắn của chứng cứ là kiểm tra việc yêu cầu đương sự cung cấp, giao nộp chứng cứ hoặc trình bày những vấn đề cần thiết

Kiểm tra tính xác thực về mặt chứng cứ còn là kiểm ra xem việc xem xét, thẩm định tại chỗ có đúng quy định hay không Trước và khi khi tiến hành thẩm định có tuân thủ theo thủ tục do Luật TTHC quy định không

Ngoài ra kiểm tra tính xác thực về mặt chứng cứ còn là việc kiểm tra việc trưng cầu giám định có đúng quy định tại Điều 83 Luật TTHC hay không Lưu ý trong trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi

Trang 20

phạm pháp luật thì theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Thẩm phán ra quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại Người đã thực hiện việc giám định trước đó không được thực hiện giám định lại Hay việc định giá tài sản, thẩm định giá tài sản6

có đảm bảo đúng quy định của pháp luật hay không Giai đoạn phúc thẩm vụ án cũng cần lưu ý khi có yêu cầu thẩm định lại giá Luật TTHC đã rất cụ thể, rõ ràng trong việc quy định thành phần hội đồng định giá

Vì vậy, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh là phải có kết luận đúng đắn về các điều khoản cần áp dụng đối với yêu cầu của người khởi kiện và của các đương sự khác, về việc bảo đảm tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm

Hai nhiệm vụ nói trên liên quan chặt chẽ với nhau vì tính xác thực và tính pháp lý của bản án có thể phân biệt nhưng không hoàn toàn tách biệt nhau, tính xác thực là cơ sở để bảo đảm tính pháp lý, còn nếu không bảo đảm tính pháp lý, nhất là không tuân thủ trình tự tố tụng thì tính xác thực của bản án sẽ khó đạt được

Như vậy, Tòa án cấp phúc thẩm phải xem xét, kiểm tra toàn diện tính xác thực về chứng cứ và tính pháp lý của bản án bản án, quyết định sơ thẩm để trên

cơ sở đó đưa ra quyết định đúng đắn nhất Phúc thẩm không phải là việc kiểm tra một cách hình thức thông qua tài liệu có trong hồ sơ mà phải là hoạt động xét xử tại phiên tòa được tiến hành như phiên tòa sơ thẩm

Thứ ba, đưa ra quyết định đúng đắn đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị

Nhiệm vụ này thể hiện ở việc Tòa án cấp phúc thẩm ra các quyết định cụ thể đối với bản án, quyết định sơ thẩm7

Các quyết định này phải được đưa ra trên cơ sở đã xem xét toàn diện bản án, quyết định sơ thẩm Trong trường hợp bản án hoặc quyết định sơ thẩm đã được tuyên là hợp pháp và đúng đắn thì Tòa

án cấp phúc thẩm có trách nhiệm giữ nguyên Trong trường hợp phát hiện sai lầm về áp dụng pháp luật cũng như sai lầm trong việc xác định chứng cứ và tình tiết của vụ án tại cấp sơ thẩm thì Tòa án cấp phúc thẩm có trách nhiệm sửa chữa

Trang 21

những sai lầm đó Đây chính là nhiệm vụ cuối cùng của phúc thẩm Vì Tòa án cấp phúc thẩm kết thúc xét xử bằng việc ra bản án hoặc quyết định trong đó thể hiện quyết định của Hội đồng xét xử Quyết định đó cần phải là quyết định đúng đắn, hợp pháp và có căn cứ

Thực hiện tốt nhiệm vụ này là nhằm đạt được mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và góp phần bảo đảm pháp chế trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước

Trong thực tế có không ít trường hợp, cấp sơ thẩm xét xử đúng nhưng Tòa

án cấp phúc thẩm cho là sai lầm nên đã xét xử trái với quan điểm của Tòa án cấp

sơ thẩm Trong trường hợp này bản án sai lầm của Tòa án cấp phúc thẩm sẽ có hiệu lực thi hành và việc khắc phục sai lầm của bản án phúc thẩm chỉ còn trông cậy vào việc kháng nghị và xét xử vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm Thế nhưng

có một vấn đề không thể khắc phục đó là tỉ lệ án hủy của Thẩm phán cấp sơ thẩm khi hết nhiệm kỳ mà chưa có kết quả của quyết định giám đốc thẩm cho rằng bản án phúc thẩm xét xử sai

1.2 Quy định của pháp luật về giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh

Như đã trình bày, thủ tục phúc thẩm bắt đầu từ khi kháng cáo của đương

sự hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện hoặc Viện kiêm sát nhân dân cấp tỉnh được TAND cấp tỉnh thụ lý giải quyết Nói tới việc giải quyết

vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm, điều quan trọng nhất là phải xem xét

về cơ sở pháp lý làm phát sinh thủ tục phúc vụ án hành chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh; những nội dung được giải quyết tại phiên toà phúc thẩm và thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm Từ những quy định này có thể nhận diện đầy đủ về tính chất và sự khác biệt trong việc giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm với việc giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm và thủ tục đặc biệt là giám đốc thẩm và tái thẩm; sự khác biệt trong việc giải quyết vụ án theo thủ tục này của Toà án nhân dân cấp tỉnh với Toà án nhân dân tối cao

1.2.1 Kháng cáo, kháng nghị

Kháng cáo, kháng nghị là căn cứ dẫn đến việc giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm cho dù việc giải quyết thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp tỉnh hay Toà án nhân dân tối cao Quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà

Trang 22

án cấp sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm là một quyền đặc biệt quan trọng nằm trong nguyên tắc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Bao giờ trong bản án sơ thẩm cũng tuyên các đương sự được thực hiện quyền này Quyền kháng cáo, kháng nghị nhằm đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử theo quy định của Điều 19 Luật TTHC

Quyền kháng nghị của Viện kiểm sát được quy định trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và trong Luật TTHC nhằm kiểm sát việc xét

xử, bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa

Thứ nhất, đối tượng kháng cáo, kháng nghị

Hiện nay Luật TTHC không có điều khoản riêng biệt quy định về đối tượng kháng cáo, kháng nghị của TAND cấp tỉnh mà thay vào đó Điều 173 Luật TTHC có đề cập đối tượng xét xử theo thủ tục phúc thẩm là bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị Từ quy định này, có thể rút ra đối tượng kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp tỉnh gồm:

Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện, tức bản

án đã được tuyên tại phiên tòa sơ thẩm và đang trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm của Toà án nhân dân cấp huyện; quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án, quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án của Toà án cấp huyện

Như vậy các quyết định như quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời do Toà án nhân dân cấp huyện ban hành trong quá trình giải quyết vụ án, quyết định chuyển vụ án cho tòa án khác giải quyết, quyết định đưa vụ án ra xét

xử, quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng … không phải là đối tượng kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm vì những quyết định này không giải quyết nội dung yêu cầu của người khởi kiện mà đây chỉ là các quyết định của Tòa án trong quá trình thực hiện các bước tố tụng không mang tính quyết định giải quyết nội dung vụ án

Thứ hai, chủ thể kháng cáo, kháng nghị

Kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là hành vi tố tụng của đương sự (hoặc người đại diện), thực hiện quyền của mình theo quy định của Luật TTHC yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm thuộc thẩm quyền

Trang 23

của Tòa án nhân dân cấp tỉnh là việc đương sự (hoặc người đại diện) kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp huyện đã xét xử chưa có hiệu lực pháp luật, còn trong thời hạn kháng cáo, để yêu cầu Tòa án nhân nhân tỉnh xét xử phúc thẩm vụ

án

Theo quy định tại Điều 174 Luật TTHC chỉ có “Đương sự hoặc người đại diện của đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm để yêu cầu Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm” Chủ thể kháng cáo để giải quyết VAHC theo thủ tục phúc thẩm cũng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh cũng nằm trong phạm vi này

Như vậy, đối chiếu với quy định này, chủ thể được quyền kháng cáo được chia làm hai nhóm: nhóm thứ nhất là đương sự bao gồm người khởi kiện, người

bị kiện và người có quyền và nghĩa vụ liên quan; nhóm thứ hai là người đại diện của đương sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền của đương sự Trường hợp, đương sự là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có thể tự mình thực hiện quyền kháng cáo hoặc uỷ quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện việc kháng cáo Nếu đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì người đại diện theo pháp luật sẽ kháng cáo mà không cần có sự ủy quyền bằng văn bản của đương sự Nếu đương sự không có người đại diện để đảm bảo quyền lợi về mặt tố tụng thì theo quy định của pháp luật, Tòa án sẽ cử một người thân thích của họ hoặc yêu cầu một cơ quan, tổ chức cử thành viên làm người đại diện cho họ Trong trường hợp này, người đại diện cũng có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm Trường hợp đương sự là cơ quan, tổ chức thì quyền kháng cáo thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp

Đương sự là người khởi kiện, người bị kiện có quyền kháng cáo đối với toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định sơ thẩm có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình Đương sự là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì chỉ

có thể thực hiện quyền yêu cầu này đối với phần nội dung ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của họ Đối với người đại diện theo ủy quyền thực hiện quyền kháng cáo thị phải được sử ủy quyền bằng bằng văn bản của đương sự trong vụ án

Trang 24

Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là việc Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và cấp trên trực tiếp kháng nghị bản án, quyết định hành chính của cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh là hành vi tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện hoặc Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh cùng lãnh thổ với Tòa án cấp huyện đã xét xử sơ thẩm yêu cầu Toà án nhân dân cấp tỉnh xét xử lại đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa án huyện, thị, thành phố thuộc tỉnh chưa

có hiệu lực pháp luật Hành vi tố tụng này thông qua việc ra quyết định kháng nghị phúc thẩm

Quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm chỉ giới hạn là quyền của Viện kiểm sát - cơ quan có chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp, cụ thể ở đây là kiểm sát hoạt động giải quyết các vụ án hành chính Nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ của Viện Kiểm sát nhân dân nói chung và kiểm sát việc xét xử nói riêng

Điều 181 Luật TTHC quy định “Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm của huyện, thị , thành phố thuộc tỉnh để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm” Như vậy, chủ thề được quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp tỉnh bao gồm: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện cùng cấp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm

và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh (cấp trên trực tiếp) cùng cấp với Tòa án xét xử phúc thẩm vụ án hành chính Quy định này phù hợp với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Viện Kiểm sát nhân dân hoạt động theo chế độ thủ trưởng nên quyền kháng nghị phúc thẩm chính là quyền của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Chủ thể kháng nghị phúc thẩm là Viện trưởng Viện Kiểm sát cùng cấp hoặc cấp trên trực tiếp

Có ý kiến cho rằng khi Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị cũng chính là thực hiện nghĩa vụ Người viết đồng tình với quan điểm này Bởi Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình thông

Trang 25

qua hoạt động kiểm sát và bằng các quyết định8 Nhiệm vụ cũng là nghĩa vụ, trách nhiệm được giao được luật hóa bằng hành vi buộc phải làm

Tuy nhiên, cũng do Viện Kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất nên thông thường sẽ quyết định một cấp kháng nghị hoặc Viện trưởng Viện Kiểm sát cùng cấp hoặc Viện trưởng Viện Kiểm sát trên một cấp Ví dụ trong trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện đã kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án cùng cấp thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh sẽ không kháng nghị thêm

Viện Kiểm sát có quyền kháng nghị một phần hoặc toàn bộ nội dung bản án hoặc quyết định sơ thẩm liên quan đến bất kỳ đương sự nào trong vụ án hành chính khi phát hiện thấy những vi phạm pháp luật trong quá trình xét xử sơ thẩm, những sai lầm về mặt chứng cứ trong các bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Luật cũng không quy định Viện kiểm sát không được quyền kháng nghị nội dung mà đương sự đã có kháng cáo Đây là quyền của đương sự

và của Viện kiểm sát nhân dân mà luật quy định

Thứ ba, thời hạn, thủ tục kháng cáo, kháng nghị

Về thời hạn kháng cáo, theo quy định tại Điều 176 Luật TTHC, thời hạn kháng cáo đối với bản án của Toà án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày Toà án tuyên án; trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính

từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, phường nơi họ cư trú hoặc nơi có trụ sở, trong trường hợp đương sự là cơ quan, tổ chức

Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết

vụ án của Toà án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định Trong trường hợp đơn kháng cáo gửi qua bưu điện thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở phong

Đơn kháng cáo phải đảm bảo đầy đủ nội dung theo Điều 175 Luật TTHC Trường hợp đơn kháng cáo quá thời hạn quy định tại Điều 176 của Luật này (sau đây gọi là kháng cáo quá hạn) vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Toà án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trình bày rõ lý do và xuất trình

8

Luật tổ chức Viện kiểm sát

Trang 26

tài liệu, chứng cứ (nếu có) để chứng minh cho lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn

là chính đáng9

Người kháng cáo phải làm đơn có đầy đủ nội dung theo quy định tại Điều

175 Luật TTHC Đơn kháng cáo phải gởi cho Tòa án huyện,thành phố thuộc tỉnh

đã xét xử sơ thẩm vụ án hành chính

Về thời hạn kháng nghị, theo quy định tại điều 183 Luật TTHC thì kháng nghị đối với bản án của Toà án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày, kể từ ngày tuyên án Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị phải gửi ngay quyết định kháng nghị cho đương sự có liên quan đến kháng nghị Người được thông báo về việc kháng nghị có quyền gửi văn bản ghi ý kiến của mình về nội dung kháng nghị cho Toà án cấp phúc thẩm Văn bản ghi ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án Nội dung Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát được quy định tại Điều

182 Luật TTHC Quyết định kháng nghị phải được gửi ngay cho Toà án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định bị kháng nghị để Toà án cấp sơ thẩm tiến hành các thủ tục quy định tại Điều 186 của Luật TTHC Kèm theo quyết định kháng nghị

là tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ và hợp pháp

Một vấn đề cũng cần lưu ý là việc kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định là cơ sở cho việc xem xét bản án, quyết định sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm Về nguyên tắc, kháng cáo, kháng nghị quá hạn luật định là kháng cáo kháng nghị không hợp lệ và không được xem xét theo thủ tục phúc thẩm để đảm bảo tính nghiêm khắc của việc xét xử Từ Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đến Luật TTHC đều có quy định “vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan” mà người kháng cáo trình bày rõ lý do và xuất trình tài liệu, chứng cứ (nếu có) để chứng minh cho lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn là chính đáng thì Toà án chấp nhận việc kháng cáo quá hạn Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nói ở đây tức là những điều kiện khách quan đem lại hoặc

9

Khoản 2 Điều 177 Luật tố tụng hành chính

Trang 27

gây nên mà các bên đương sự không thể tự khắc phục được Ví dụ như người kháng cáo gặp tai nạn giao thông, thiên tai, bão lụt….đã trình bày ở trên

Từ việc phân tích trên có thể thấy, thời hạn kháng cáo, kháng nghị để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm của TAND cấp tỉnh hoàn toàn giống như quy định

về thời hạn kháng cáo, kháng nghị để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm của TAND tối cao

1.2.2 Phiên toà phúc thẩm vụ án hành chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh

Từ quy định chung như trên có thể thấy, chỉ có những phần bản án quyết định đã xét xử ở cấp sơ thẩm mới được xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm Nói cách khác, chỉ có những phần nội dung của bản án, quyết định sơ thẩm đã được Tòa án nhân dân cấp huyện xét xử mới thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh10 Quy định này nhằm phân định thẩm quyền phúc thẩm vụ án của Tòa

án nhân dân cấp tỉnh và thẩm quyền phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao Bởi Tòa án nhân dân cấp tỉnh ngoài nhiệm giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm còn có nhiệm vụ giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ án hành chính thuộc thẩm quyền Đó là những vụ án quy định tại Điều 30 Luật tố tụng hành chính Những bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh khi

có kháng cáo, kháng nghị thẩm quyền xét xử phúc thẩm sẽ thuộc Tòa phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao

Kết hợp với quy định tại Điều 190 Luật tố tụng hành chính ta thấy tính chất của xét xử phúc thẩm không xét xử lại toàn bộ vụ án, chỉ xem xét lại phần bản

án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị Quá trình xét xử có nội dung liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị hội đồng xét xử phúc thẩm mới xem xét Thực tế xét xử cho thấy, trong đơn kháng cáo đương sự thường ghi kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm Tại tòa xét xử phúc thẩm đương sự mới trình bày nội dung đương sự yêu cầu kháng cáo Vấn đề này tuy cấp sơ thẩm làm chưa hết trách nhiệm nhưng đương sự thực hiện được quyền kháng cáo của nh mà không bị xem là “vượt quá yêu cầu kháng cáo” Lẽ ra, cấp sơ thẩm phải lấy lời khai của đương sự trong trường hợp kháng cáo chung chung để làm rõ nội dung

10

Điều 29 luật tố tụng hành chính

Trang 28

kháng cáo cụ thể Tuy nhiên, có trường hợp đương sự kháng cáo nhiều nội dung nhưng không kháng cáo về án phí nên khi yêu cầu xem xét giảm án phí tại Tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm cũng không xét để phù hợp với tính chất của xét xử phúc thẩm là giới hạn trong phạm vi kháng cáo, kháng nghị

1.2.2.2 Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm quy định tại Điều 192 Luật tố tụng hành chính gồm ba Thẩm phán Hội đồng xét xử phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh cũng gồm ba Thẩm phán Như vậy, khác với thành phần Hội đồng xét

xử sơ thẩm, thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm luôn luôn là ba thành viên

và không có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân Theo chúng tôi quy định này của Luật TTHC là hợp lý, bởi lẽ cấp xét xử phúc thẩm của TAND cấp tỉnh là cấp xét xử sau cùng, án có hiệu lực thi hành đòi hỏi các thành viên trong Hội đồng xét xử phải là những người chuyên nghiệp để việc giải quyết vụ án bảo đảm được tính đúng đắn và khách quan

Về sự có mặt của những người tiến hành tố tụng tại phiên tòa xét xử phúc thẩm của TAND cấp tỉnh, khoản 1 Điều 193 Luật TTHC quy định: phiên toà chỉ được tiến hành khi có đủ thành viên Hội đồng xét xử và Thư ký Toà án Trường hợp có Thẩm phán vắng mặt hoặc không thể tiếp tục tham gia xét xử vụ án nhưng có Thẩm phán dự khuyết tham gia phiên toà từ đầu thì người này được thay thế Thẩm phán vắng mặt tham gia xét xử vụ án.Trường hợp không có Thẩm phán dự khuyết để thay thế thành viên Hội đồng xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 192 Luật luật tố tụng hành chính thì phải hoãn phiên toà Trường hợp Thư

ký Toà án vắng mặt hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên toà mà không có người thay thế thì phải hoãn phiên toà

Đối với Kiểm sát viên, Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân công có nhiệm vụ tham gia phiên toà, nếu vắng mặt thì Hội đồng xét

xử quyết định hoãn phiên toà và thông báo cho Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 194 Luật tố tụng hành chính.Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên toà, nhưng có Kiểm sát viên dự khuyết tham gia phiên toà từ đầu thì người này được thay thế Kiểm sát viên vắng mặt tham gia phiên toà xét xử vụ án Thực

Trang 29

tế xét xử cho thấy dù Luật quy định như thế nhưng hiếm khi có việc Kiểm sát viên hay Thẩm phán dự khuyết tham gia phiên Tòa ngay từ đầu để thay thế

Sự có mặt Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong phiên tòa xét xử vụ

án hành chính là bắt buộc Trong Bộ luật tố tụng dân sự Viện kiểm sát nhân dân chỉ tham gia trong những trường hợp đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, liên quan đến quyền sử dụng đất, những vụ án mà Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ hoặc có bên đương sự là người chưa thành niên, người

có nhược điểm về thể chất, tinh thần11 Quy định này đồng nghĩa không phải phiên tòa xét xử nào của vụ án dân sự cũng có mặt Kiểm sát viên Viện kiểm sát

1.2.2.3 Các trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm không phải mở phiên toà, không phải triệu tập đương sự

Khoản 1 Điều 196 Luật tố tụng hành chính quy định Hội đồng xét xử phúc thẩm không phải mở phiên tòa trong các trường hợp như xét kháng cáo, kháng nghị quá hạn, xét kháng cáo, kháng nghị những quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm Quy định này cho thấy, không phải có kháng cáo, kháng nghị buộc cấp phúc thẩm đều mở phiên tòa đưa vụ án ra xét xử và phải triệu tập đương sự Nhưng cũng không nghiêm cấm việc triệu tập đương sự khi cần thiết Ví dụ như điểm a, xét kháng cáo, kháng nghị quá hạn lẽ ra Tòa án căn cứ vào hồ sơ cấp sơ thẩm chuyển đến thành lập Hội đồng xét xử ba Thẩm phán việc kháng cáo, kháng nghị quá hạn là đủ (tất nhiên là có sự tham gia của Viện kiểm sát) Nhưng trường hợp lời trình bày nêu lý do của người kháng cáo quá hạn không rõ ràng, chưa nêu được sự kiện bất ngờ hoặc nguyên nhân khách quan đem lại khiến việc kháng cáo không đúng hạn được Hội đồng xét xử muốn nghe rõ hơn sẽ triệu tập đương sự đến để nghe họ trình bày thêm Đối với kháng nghị quá hạn Viện kiểm sát sẽ có ý kiến tại phiên họp xét hoặc nêu trong văn bản Hay như điểm b, đương sự kháng cáo phần án phí đây là chế tài của Nhà nước đối với công dân khi tham gia vào một quan hệ tranh chấp Việc xem xét trên cơ sở những chứng

cứ do đương sự cung cấp như đơn xin xác nhận hoàn cảnh khó khăn…được thể hiện trong hồ sơ Thế nhưng có khi đương sự trình bày họ thuộc hộ nghèo cấp sơ thẩm lại không làm rõ, chuyển hồ sơ lên phúc thẩm Hội đồng xét xử có thể triệu tập đương sự đến trình bày thêm căn cứ, cung cấp sổ hộ nghèo để xem xét

11

Điều 21 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011

Trang 30

Những vấn đề về xét miễn giảm án phí đã được quy định rõ hơn trong Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐPT ngày 13/6/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao12

1.2.2.5 Chuẩn bị xét xử phúc thẩm

Chuẩn bị xét xử phúc thẩm là một giai đoạn trong thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính Trong đó có một số nội dung Tòa án giải quyết theo thủ tục phúc thẩm nói chung, Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm nói riêng cần phải thực hiện như sau:

Một là, thành lập Hội đồng xét xử phúc thẩm Theo Điều 187 Luật TTHC Chánh án Toà án cấp phúc thẩm hoặc Chánh toà Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao thành lập Hội đồng xét xử phúc thẩm và phân công một Thẩm phán làm Chủ toạ phiên toà, phiên họp

Việc phân công thành phần Hội đồng xét xử được tiến hành ngay sau khi khi vụ án được thụ lý để xét xử phúc thẩm Chánh án hoặc Phó Chánh án được phân công ký lịch xét xử vụ án Trong đó phân công cụ thể thành phần hội đồng

12

Thông qua ngày 29/3/2012 Có hiệu lực từ sau 45 ngày đăng công báo

Trang 31

xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán Đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh được tổ chức theo mô hình các Tòa chuyên trách tuy nhiên không phải xét xử loại án nào thì phân công Thẩm phán Tòa đó tham gia Hội đồng xét xử Đôi khi biên chế Thẩm phán mỗi Tòa cũng không đủ để tham gia xét xử những vụ án của chính Tòa hành chính.Vấn đề này còn tùy thuộc vào tính chất vụ án và trình độ chuyên môn của Thẩm phán ở các Tòa Trong thực tiễn đôi khi theo lịch đã phân công Hội đồng xét xử nhưng khi xét xử lại là Hội đồng khác Có trường hợp thay đổi

cả chủ tọa lẫn thành viên Hội đồng Đó là trường hợp đương sự xin thay đổi người tiến hành tố tụng theo khoản 9 Điều 49 Luật tố tụng hành chính

Hai, xem xét việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị Theo quy định tại Điều 188 Luật TTHC, trước khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo, Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị, nhưng không được vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng cáo, kháng nghị đã hết.Trước khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo có quyền rút kháng cáo, Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền rút kháng nghị

Toà án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với vụ án mà người kháng cáo đã rút kháng cáo hoặc Viện kiểm sát đã rút kháng nghị Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm trước khi mở phiên toà do Thẩm phán Chủ toạ phiên toà quyết định, tại phiên toà do Hội đồng xét xử quyết định

Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị trước khi mở phiên toà phải được làm thành văn bản và gửi cho Toà án cấp phúc thẩm Toà án cấp phúc thẩm phải thông báo cho các đương sự biết về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị; thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo của đương sự Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị tại phiên toà phải được ghi vào biên bản phiên toà

Ba là, xem xét vấn đề bổ sung chứng cứ mới quy định tại Điều 189 Luật TTHC Trước khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền bổ sung chứng cứ mới Toà án cấp phúc thẩm tự mình hoặc theo yêu cầu của đương

Trang 32

sự tiến hành xác minh chứng cứ mới được bổ sung Toà án có thể thực hiện ủy thác xác minh chứng cứ theo quy định tại Điều 86 của Luật tố tụng hành chính Bốn là, phạm vi xét xử phúc thẩm Theo Điều 190 Luật TTHC quy định về phạm vi xét xử phúc thẩm có thể thấy, phạm vi xét xử phúc thẩm vụ án hành chính của TAND cấp tỉnh bao gồm hai đối tượng sau: thứ nhất, phần bản án, quyết định của Toà án cấp huyện có kháng cáo, kháng nghị, thứ hai, phần bản

án, quyết định của Toà án cấp huyện có liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị Trong khi đó theo Điều 173 Luật TTHC thì đối tượng xét xử phúc thẩm là bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị Từ quy định trên có thể rút ra kết luận: phạm vi xét xử phúc thẩm của TAND cấp tỉnh bao gồm: phần bản án hành chính sơ thẩm, quyết định chỉ giải quyết vụ án hành chính, quyết định tạm chỉ giải quyết vụ án hành chính của TAND cấp huyện chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị và phần bản án hành chính sơ thẩm, quyết định chỉ giải quyết vụ án hành chính, quyết định tạm chỉ giải quyết vụ án hành chính của Tòa án cấp huyện chưa có hiệu lực pháp luật có liên quan đến nội dung bị kháng cáo kháng nghị Cũng như trong tố tụng hình sự, dân sự bao giờ phạm vi xét xử phúc thẩm cũng nằm gọn trong “phần bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị” Dù luật tố tụng quy định như thế nhưng Thẩm phán nghiên cứu hồ sơ phải nghiên cứu tất cả các nội dung trong vụ án để nắm được bản chất của vụ án

Có như vậy Thẩm phán mới làm chủ được hồ sơ vụ án khi ra xét hỏi tại phiên tòa không bị lúng túng Việc chỉ xét xử phần kháng cáo, kháng nghị là việc tiến hành tố tụng tại phiên Tòa phụ thuộc vào kỹ năng của từng Thẩm phán

Năm là, thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm Điều 191 Luật TTHC quy định thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm chung cho các cấp Tòa án như sau: trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công làm Chủ toạ phiên toà phải ra một trong các quyết định như tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án; đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án; đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Toà án cấp phúc thẩm có thể quyết định kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử hơn 60 ngày nhưng không được quá 30 ngày Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà phúc thẩm, trong

Trang 33

trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 60 ngày Quyết định đưa vụ

án ra xét xử phúc thẩm phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị

Việc quy định thời hạn xét xử phúc thẩm vụ án hành chính tuy có ngắn hơn thời hạn xét xử sơ hẩm vụ án hành chính nhưng đây là một quy định hợp lý Bởi

ở giai đoạn phúc thẩm chỉ là việc xét xử lại trên cơ sở hồ sơ vụ án đã có đầy đủ chứng cứ do các bên cung cấp Trường hợp có chứng cứ mới "có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan” luật cũng đã cho phép thời gian kéo dài đến 90 ngày Quy định này nhằm đảm bảo vụ án hành chính sớm được đưa ra giải quyết

Về thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án hành chính của TAND cấp tỉnh điều luật quy định ngắn hơn thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, chỉ bằng nữa thời gian13 Nhưng trong thực tế, việc vi phạm thời gian tiến hành tố tụng ở cấp

sơ thẩm thường xảy ra hơn Do Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền chậm cử người tham gia tố tụng, chậm có văn bản phản hồi sau khi có thông báo thụ lý của Tòa án gởi Giải quyết án hành chính theo thủ tục phúc thẩm thường tuân thủ đúng tố tụng về thời gian như luật quy định Bởi các bên đã “biết nhau” ở phiên tòa sơ thẩm, những chứng cứ đã được thẩm tra Không lý do nào khác phải xin hoãn hoặc vắng để kéo dài thời gian và một tâm lý nữa là muốn kết thúc sơm vụ

án

Một vấn đề cũng cần được lưu ý là giai đoạn xét xử phúc thẩm của TAND cấp tỉnh Tòa án có thể tổ chức đối thoại giữa các đương sự với nhau Theo Điều

12 Luật TTHC, trong quá trình giải quyết vụ án hành chính Tòa án tạo điều kiện

để các đương sự đối thoại về việc giải quyết vụ án Việc đối thoại là một giải pháp tối ưu gỡ “sĩ diện” cho cơ quan công quyền trong trường hợp quyết định của cơ quan công quyền không đúng Thường gặp trong các vụ án khiếu kiện quyết định hành chính của Ủy ban Tòa án không muốn “mất mặt” “ mất lòng”

13 Điều 117 Luật tố tụng hành chính

a) 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 104 của Luật này; b) 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 104 của Luật này c) Đối với vụ án phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì Chánh án Toà án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử một lần, nhưng không quá 02 tháng đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này và không quá 01 tháng đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này

Trang 34

Ủy ban nên có “trao đổi” về tính đúng đắn của quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân để Ủy ban “biết mình biết người” Khoản 11 Điều 49 Luật TTHC quy định đương sự cũng được quyền đối thoại trong quá trình giải quyết vụ án Nhưng “đối thoại”, không phải là thủ tục bắt buộc và Tòa án chỉ tiến hành khi các bên đương sự có yêu cầu

Vậy, trong quá trình tố tụng đương sự được yêu cầu đối thoại bao nhiêu lần? Luật không quy định việc này nhưng từ quy định về thời gian xét xử phúc thẩm, Thẩm phán có thể chấp nhận và không chấp nhận Nếu xét thấy việc đối thoại không đem lại hiệu quả thì không chấp nhận Hiện nay, có quan điểm cho rằng, khi đương sự yêu cầu tổ chức đối thoại tại thủ tục xét xử phúc thẩm thì thời gian tổ chức đối thoại được tính thêm vào thời hạn trong giai đoạn chuẩn bị xét

xử phúc thẩm Chúng tôi không đồng với quan điểm này vì như trong phần trên

đã phân tích mục đích của việc chuẩn bị xét xử phúc thẩm là chuẩn bị các công việc cần thiết để tiến tới mở phiên tòa phúc thẩm, do vậy những công việc cần thực hiện thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải tổ chức thực hiện ngay trong giai đoạn này

Về thủ tục xét xử phúc thẩm,

Điều 202 Luật tố tụng hành chính quy định: phiên tòa phúc thẩm được tiến hành giống như phiên tòa sơ thẩm Chuẩn bị cho việc khai mạc phiên toà, Thư

ký thông báo nội quy phiên tòa và mời Hội đồng xét xử vào phòng xử án Khoản

1 Điều 127 Luật tố tụng hành chính quy định: khi Hội đồng xét xử vào phòng xử

án mọi người phải đứng dậy Quy định này cho thấy, Viện kiểm sát phải vào phòng xét xử trước và đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào Thực tiễn xét xử Viện kiểm sát nhân dân thường vào cùng lúc với hội đồng xét xử phúc thẩm Vấn đề này do tế nhị nên Tòa cũng không buộc Kiểm sát viên Viện kiểm sát phải thực hiện đúng quy định

Trang 35

Phần khai mạc phiên tòa phúc thẩm, thực tiễn xét xử có hai cách Thẩm phán chủ tọa thực hiện

Cách thứ nhất, Thẩm phán khai mạc với nội dung: “hôm nay ngày, tháng năm tòa án (tên tòa án mở phiên tòa phúc thẩm) để xét xử vụ án hành chính do Tòa án nhân dân ….xét xử sơ thẩm tại bản án số ngày, tháng, năm do có kháng cáo, kháng nghị của người bị kiện hay người khởi kiện hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân … Thay mặt hội đồng xét xử phúc thẩm tôi tuyên bố khai mạc phiên tòa Sau đó đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử

Cách thứ hai, Thẩm phán đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm và tuyên bố khai mạc phiên tòa14

Về mặt lý luận cách thứ nhất đúng trình tự quy định của pháp luật hơn Vì ở Khoản 1 Điều 142 Luật tố tụng hành chính quy định về việc khai mạc phiên toà:“Chủ toạ phiên toà khai mạc phiên toà và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử” Ở cách thứ hai cũng không sai quy định nhưng có hoán đổi thứ tự trước sau nhưng vẫn có đọc quyết định và khai mạc phiên tòa Quan điểm của người viết, nên kết hợp ngắn gọn giữa cách thứ nhất và cách thứ hai Sau phần khai mạc là phần thủ tục bắt đầu phiên tòa Phần này bắt dầu bằng việc Thẩm phán chủ tọa phiên tòa kiểm tra sự có mặt của những người tham gia tố tụng theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và kiểm tra căn cước của đương sự và những người tham gia tố tụng khác; Phổ biến quyền và nghĩa vụ của các đương sự và của những người tham gia tố tụng khác như người làm chứng, giám định viên…;Giới thiệu họ, tên của thành viên Hội đồng xét xử15

và những người khác như Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên Đối với những người tham gia khác nếu có như phiên dịch, Thẩm định viên… Tiếp theo hỏi những người có quyền yêu cầu thay đổi những người tiến hành tố tụng xem có thay đổi ai không? Nếu có người yêu cầu thì Hội đồng xét xử xem xét và quyết định theo quy định của pháp luật Thực tiễn, nếu có yêu cầu thay đổi Hội đồng tuyên bố nghỉ hội ý, xem xét Nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi Những trường hợp phải thay đổi hoặc từ chối tiến hành tố tụng được quy định tại Điều 41 Luật tố tụng hành chính Thay đổi

14 Tòa án nhân dân tối cao, “Sổ tay Thẩm phán”

15 Bộ luật tố tụng dân sự, hình sự…không quy định Viện kiểm sát, Thư ký là thành viên của hội đồng xét xử nhưng là những người tiến hành tố tụng

Trang 36

Thẩm phán, Kiểm sát viên phải đúng theo quy định tại Điều 42 và Điều 43 Luật

tố tụng hành chính

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cùng các thành viên của Hội đồng xét xử xem xét quyết định việc hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt theo quy định của pháp luật Theo quy định của Điều 201 Luật tố tụng hành chính chỉ có những trường hợp nêu trong điều luật này mới được hoãn phiên tòa

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa hỏi những thành viên khác của hội đồng xét

xử xem xét quyết định việc xin thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Luật tố tụng hành chính Nếu như có việc thay đổi thì việc thay đổi nội dung yêu cầu kháng cáo, kháng nghị không được vượt qua phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu16 Ví dụ: trường hợp đương sự kháng cáo không đồng ý giá trị đền bù nhưng tại tòa phúc thẩm lại yêu cầu hủy quyết định thu hồi đất của Ủy ban Yêu cầu hủy quyết định được xem là yêu cầu vượt quá

Thực tiễn xét xử xảy ra tình huống trong phần hỏi người bị kiện đồng ý sẽ rút quyết định bị khiếu kiện Khi người khởi kiện đồng ý rút đơn kiện, Tòa án áp dụng tương tự như Bộ luật tố tụng Dân sự: hủy án sơ thẩm đình chỉ việc giải quyết vụ án17 Nhưng sau đó người bị kiện là Ủy ban nhân dân lại không rút quyết định hành chính bị khiếu kiện Nếu như thời hiệu khởi kiện vẫn còn thì không có vấn đề gì nhưng nếu hết thời hiệu người khởi kiện không thể kiện trở lại

Cuối cùng Thẩm phán chủ tọa phiên tòa hỏi và cùng các thành viên khác của Hội đồng xét xử quyết định về việc cung cấp thêm chứng cứ hoặc yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng của các đương sự hoặc người đại diện của đương

sự, kiểm sát viên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Theo quy định của Điều 202 Luật tố tụng hành chính thủ tục xét xử phúc thẩm được thực hiện như thủ tục xét xử sơ thẩm Chỉ có điểm khác là sau khai mạc phiên toà sau khi kết thúc phần thủ tục bắt đầu phiên toà trước khi bắt đầu thủ tục hỏi, thì một thành viên của Hội đồng xét xử phúc thẩm công bố nội dung

vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và nội dung kháng cáo, kháng nghị Quy

Trang 37

định như thế đồng nghĩa với việc không nhất thiết chủ tọa phiên tòa phải tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm mà có thể một thành viên của Hội đồng xét xử Quy định này tương tự như Bộ luật tố tụng dân sự18

Ta thấy việc quy định một Thẩm phán tóm tắt nội dung vụ án trước khi đi vào phần hỏi là một quy định hợp lý Bởi việc tóm tắt như là “cầu nối” cho tính liên tục xét xử qua hai cấp Những người theo dõi phiên tòa cũng có thể theo dõi nội dung sự việc Theo lẽ đương nhiên Hội đồng xét xử phải nghiên cứu hồ sơ

vụ án cùng với Thẩm phán trước khi ra xét hỏi tại Tòa Tuy nhiên, trong thực tiễn, Thẩm phán hội đồng không có thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án do Thẩm phán khác chủ tọa Cho nên việc tóm tắt vụ án cũng giúp hội đồng nắm nội dung

vụ án để có thể tham gia hỏi và làm rõ vấn đề và trong nghị án phát biểu quan điểm của mình

Tiếp sau phần thủ tục là phần hỏi tại phiên tòa

Ở phần hỏi, chủ tọa phiên tòa hỏi nội dung kháng cáo của người kháng cáo Theo quy định của Điều 204 Luật tố tụng hành chính quy định về thủ tục hỏi:Thẩm phán hỏi những người kháng cáo trước, hỏi những người khác sau Nếu cả người khởi kiện và người bị kiện đều kháng cáo thì hỏi người khởi kiện trước, người bị kiện hỏi sau Trường hợp có luật sư bảo vệ quyền lợi của đương

sự thì yêu cầu luật sư trình bày nội dung kháng cáo trước, đương sự bổ sung Tuần tự cho đến người liên quan nếu có kháng cáo Trường hợp đương sự không

có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình thì họ tự trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị và đề nghị của mình

Trường hợp vừa có kháng nghị vừa có kháng cáo thì đương sự - nếu có Luật sư thì Luật sư trình bày nội dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo trước sau đó Kiểm sát viên trình bày nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị19 Luật tố tụng hành chính quy định trình tự như ở phiên tòa sơ thẩm

Sau khi đã kết thúc phần hỏi, chủ tọa tuyên bố chuyển sang phần tranh luận Trước khi kết thúc phần hỏi Thẩm phán chủ tọa hỏi các đương sự có ai đề nghị Hội đồng xét xử hỏi thêm vấn đề gì khác hay không Nếu không có ai đề

18 Điều 268 bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011

19

Điều 204 Luật tố tụng hành chính

Trang 38

nghị, Thẩm phán chủ tọa tuyên bố kết thúc phần hỏi chuyển sang phần tranh luận Trong phần này, Thẩm phán cần hướng dẫn đương sự, người bào vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của họ tranh luận vào trọng tâm vấn đề Chủ tọa phiên tòa cắt những phần tranh luận lan man, không vào trọng tâm Tuy nhiên, cần tôn trọng nguyên tắc đảm bảo tranh tụng, cho đương sự thực hiện quyền của mình

Họ được phân tích đánh giá các chứng cứ của vụ án, được trình bày quan điểm đối với việc giải quyết vụ án và dựa vào pháp luật để bảo vệ yêu cầu của mình Việc tranh luận được thực hiện theo trình tự như ở phần hỏi Nếu đương sự có nhờ Luật sư hoặc người khác bảo vệ quyền lợi thì những người này phát biểu trước, đương sự bổ sung

Kết thúc phần tranh luận trước khi chuyển sang phần nghị án và tuyên án là phần phát biểu của Kiểm sát viên Nếu như ở phiên tòa sơ thẩm Kiểm sát viên chỉ phát biểu việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng hành chính, từ khi thụ lý vụ

án đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án thì tại phiên tòa phúc thẩm Kiểm sát viên phát biểu cả phần nội dung kháng cáo, kháng nghị và việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm20 Quy định này tương tự như quy định tại Điều 273a Bộ luật tố tụng Dân sự sửa đổi bổ sung Vấn đề này đã được thống nhất giữa Tòa án và Viện kiểm sát tại Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/8/2012 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 39

Thực tiễn có trường hợp ba Thẩm phán có ba quan điểm khác nhau làm cho việc nghị án gặp khó khăn Để giải quyết vấn đề này thông thường Thẩm phán chủ tọa báo cáo lãnh đạo phụ trách Tòa Pháp luật không quy định nhưng đây là

“thực tiễn” Cũng có trường hợp Hội đồng xét xử quay lại phần hỏi rồi hoãn phiên tòa, phiên tòa sau sẽ mời Thẩm phán khác

Kết quả của hoạt động tố tụng giai đoạn phúc thẩm là việc ra bản án phúc thẩm

Bản án phúc thẩm gồm có phần mở đầu; phần nội dung bao gồm tóm tắt nội dung vụ án, kháng cáo, kháng nghị, nhận định và phần quyết định Nghị quyết số 01/2005/HĐTP ngày 31/5/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chỉ hướng dẫn chi tiết về cách viết bản án sơ thẩm dùng chung cho Dân sự, Lao động, hành chính, kinh doanh thương mại nhưng chưa hướng dẫn cách viết bản án phúc thẩm Nhưng về cơ bản, theo người viết cũng không khác nhau nhiều So sánh như sau:

Trong phần mở đầu của bản án phúc thẩm phải ghi rõ tên của Tòa án xét xử phúc thẩm., số ngày thụ lý vụ án, số bản án và ngày tuyên án, họ tên các thành viên của hội đồng xét xử (án sơ thẩm một Thẩm phán hai hội thẩm nhân dân), Thư ký, kiểm sát viên, những người khác nếu có, họ tên địa chỉ người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của những người này (nếu có), người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp (nếu có) (như bản án sơ thẩm); người kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị (án sơ thẩm không có), Xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử (như

xử quyết định giữ nguyên án sơ thẩm, sửa án hay hủy án sơ thẩm Những căn cứ nêu ra và điều viện dẫn phải chính xác, thuyết phục không phải các đương sự,

Trang 40

người bảo vệ mà cả cấp sơ thẩm Bản án phúc thẩm phải mang tính thuyết phục cao

Trong phần quyết định của bản án phúc thẩm phải ghi rõ các quyết định của hội đồng xét xử phúc thẩm về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án đó có kháng cáo, kháng nghị, về việc phải chịu án phí sơ thẩm, phúc thẩm

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án Các đương sự không còn quyền kháng cáo

Luật tố tụng hành chính không quy định bản án được sửa chữa bổ sung như

Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 nhưng trong trường hợp sau khi tuyên án phát hiện có sai sót về tính toán có thể áp dụng tinh thần hướng dẫn tại Nghị quyết 20/2006/HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Bộ luật tố tụng Dân sự năm

2004

1.2.2.7 Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm

Hiện nay, Luật TTHC không quy định thẩm quyền riêng của Hội đồng xét

xử phúc thẩm của TAND cấp tỉnh mà quy định chung về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm Căn cứ vào Điều 205 Luật TTHC, có thể rút ra thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm của TAND cấp tỉnh như sau:

Thứ nhất, bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên các quyết định của bản

án sơ thẩm của TAND cấp huyện

Về nội dung kháng cáo của đương sự thông thường có hai phần: về thủ tục

tố tụng và về điều luật luật áp dụng Cũng như vụ án dân sự, lao động, trong vụ

án hành chính đương sự kháng cáo cả hai mặt cả về nội dung pháp luật áp dụng

Ngày đăng: 21/04/2021, 21:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w