Trước đây Pháp lệnh TTGQVAHC không chỉ rõ tính chất của phúc thẩm là xét xử lại vụ án như trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, mà chỉ được hiểu thôn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH
-*** -
NGUYỄN THÙY LINH MSSV: 0955040282
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô Trường Đại học Luật TP.HCM, đặc biệt là thầy cô khoa Luật hành chính đã truyền thụ cho em những kiến thức bổ ích trong bốn năm ngồi trên giảng đường đại học Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các anh, chị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa Hành chính Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho em khảo sát thực tế, có thêm những kiến thức thực tế phục vụ cho bài viết của mình Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy Nguyễn Văn Thạch, người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ
em trong suốt quá trình viết luận văn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
Pháp lệnh TTGQVAHC: Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án hành chính năm 1996
được sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2006 TTHC: Tố tụng hành chính
TAND: Tòa án nhân dân
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
Trang 4MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ THỦ TỤC
PHÚC THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH 1
1.1 Khái niệm phúc thẩm vụ án hành chính 1
1.2 Mục đích của phúc thẩm vụ án hành chính 4
1.3 Kháng cáo, kháng nghị để phúc thẩm vụ án hành chính 5
1.3.1 Khái niệm kháng cáo, kháng nghị 6
1.3.2 Đối tượng kháng cáo, kháng nghị 7
1.3.3 Chủ thể kháng cáo, kháng nghị 8
1.3.4 Thời hạn, thủ tục kháng cáo, kháng nghị 10
1.3.5 Thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị; bổ sung chứng cứ mới 14 1.3.6 Hậu quả pháp lý của kháng cáo, kháng nghị 16
1.4 Xét xử phúc thẩm vụ án hành chính 17
1.4.1 Thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm 17
1.4.2 Chuẩn bị xét xử phúc thẩm 18
1.4.3 Thẩm quyền xét xử của Tòa án trong giai đoạn xét xử phúc thẩm 19
1.4.4 Hội đồng xét xử phúc thẩm 20
1.4.5 Phạm vi xét xử phúc thẩm 25
1.4.6 Phiên tòa phúc thẩm 26
1.4.7 Các trường hợp không phải mở phiên tòa phúc thẩm 35
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN THỦ TỤC PHÚC THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH 37
2.1.Thực trạng 37
2.1.1 Quy định của pháp luật về phúc thẩm vụ án hành chính 37
2.1.2.Thực tiễn phúc thẩm vụ án hành chính 45
2.1.2.1 Thực trang chung của cả nước 45
Trang 52.2 Nguyên nhân 55
2.2.1 Nguyên nhân khách quan 55
2.2.2 Nguyên nhân chủ quan 60
2.3 Kiến nghị 62
2.3.1 Hoàn thiện quy định của pháp luật về tố tụng hành chính cũng như các ngành luật liên quan 63
2.3.2 Thay đổi cơ cấu tổ chức tòa án 65
2.3.3.Thay đổi nhiệm kỳ, cơ chế bổ nhiệm thẩm phán đảm bảo nguyên tắc độc lập khi tham gia xét xử của Tòa án, đồng thời nâng cao phẩm chất đạo đức của cán bộ ngành Tòa án 66
2.3.4 Nâng cao chất lượng cán bộ ngành Kiểm sát 67
2.3.5 Đảm bảo chế độ đãi ngộ đối với cán bộ ngành Tòa án 68
2.3.6 Tăng cường và nâng cao giám sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan tư pháp, cơ quan thi hành án 69
2.3.7 Tuyên truyền, phổ biến pháp luật tố tụng hành chính 69
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Khoản 1 Điều 2
đã khẳng định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” Pháp luật là nền tảng
của nhà nước pháp quyền Hệ thống pháp luật là một yếu tố hết sức quan trọng và có ý nghĩa khi đánh giá hiệu quả của bất kỳ hoạt động nào của một quốc gia Tuy nhiên, xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật là điều quan trọng nhưng quan trọng hơn hết là pháp luật phải phù hợp với thực tiễn làm cho pháp luật đi vào cuộc sống biến thành hiện thực sinh động Bởi vậy, muốn đánh giá được hiệu quả của những quy định pháp luật thì chúng ta cần thiết phải dựa vào yếu tố này
Ngày 11/7/2011 Luật Tố tụng hành chính có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam, với nhiều quy định mang tính đột phá, Luật tố tụng hành chính đã mở rộng cửa tòa cho người dân đi kiện cơ quan công quyền khi có tranh chấp Tuy nhiên, do ngành luật tố tụng hành chính là ngành khá mới mẻ, ra đời muộn hơn các ngành luật khác, các văn bản hướng dẫn vẫn chưa nhiều, nên trong thực tiễn xét xử các thẩm phán gặp nhiều khó khăn Với thực trạng án hành chính ngày càng tăng thì sai sót trong quá trình giải quyết vụ án hành chính là không tránh khỏi Để đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án chính xác; bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Nhà nước ta đã quy định chế định phúc thẩm trong vụ án hành chính Đó là việc Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án có bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị
Qua thực tiễn áp dụng các quy định của chế định phúc thẩm trong xét xử đã khẳng định được ý nghĩa và vai trò to lớn của chế định phúc thẩm trong giải quyết vụ
án hành chính Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực trong công tác xét xử vẫn còn tồn tại những vướng mắc, bất cập cần tháo dỡ Những vướng mắc này một phần do các quy định pháp luật chưa rõ ràng, chưa phù hợp dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, áp dụng pháp luật không thống nhất; mặt khác do nguyên nhân chủ quan xuất phát từ cơ quan tiến hành tố tụng đã làm giảm hiệu quả của công tác xét xử Từ đó đã phần nào ảnh hưởng đến tâm lí của người dân, giảm lòng tin vào Tòa án
Trang 7Thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính là một thủ tục quan trọng trong giải quyết
vụ án hành chính tuy nhiên rất ít công trình nghiên cứu về đề tài này Chủ yếu được nghiên cứu chung trong các công trình khoa học về tố tụng hành chính trong đó thủ tục phúc thẩm được đề cấp rất hạn chế Trước đây khi Luật tố tụng hành chính chưa được ban hành đã có công trình nghiên cứu về đề tài này đó là khóa luận tốt nghiệp cử nhân
luật “Xét xử các vụ án hành chính theo trình tự phúc thẩm” của tác giả Trịnh Thị Hoàng
Châu, năm 2008, nghiên cứu chuyên sâu về thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính Tuy nhiên từ khi Luật tố tụng hành chính có hiệu lực, với những sửa đổi, bổ sung so với Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án hành chính thì chưa có công trình nào tìm hiểu sâu
về thủ tục này mà chủ yếu tập trung vào giai đoạn sơ thẩm như khởi kiện, thụ lý vụ án hành chính…
Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, khắc phục những vướng mắc, bất cập của các qui định pháp luật về xét xử phúc thẩm, việc phân tích, đánh giá một cách toàn diện, làm rõ các điểm lý luận cũng như phân tích các qui định pháp luật để tiến tới hoàn thiện pháp luật về xét xử phúc thẩm vụ án hành chính là điều
cần thiết Đó là lý do tác giả chọn đề tài: “Thủ tục giải quyết phúc thẩm vụ án hành chính từ thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh” làm khóa luận tốt nghiệp
2 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của đề tài là nghiên cứu chuyên sâu về thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính được quy định trong Luật tố tụng hành chính năm 2010 và các văn bản hướng dẫn, đưa ra một số điểm mới khắc phục những điểm chưa phù hợp của Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án hành chính năm 1996 được sửa đổi bổ sung năm 1998 và 2006 Ngoài ra, đề tài cũng nghiên cứu việc áp dụng các quy định của pháp luật về chế định phúc thẩm trong thực tiễn nhằm xác định nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong phúc thẩm vụ án hành chính đồng thời góp phần hoàn thiện chế định này
Để đạt được mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ:
- Phân tích làm rõ các vấn đề lí luận về thủ tục phúc thẩmvụ án hành chính; làm
rõ một số khái niệm khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật về thủ tục phúc thẩm giải quyết vụ án hành chính cùng với nghiên cứu thực trạng chung và cụ thể là thực tiễn tại
Trang 8thành phố Hồ Chí Minh đưa ra điểm tiến bộ cũng như những bất cập, hạn chế trong chế định phúc thẩm;
- Đưa ra những kiến nghị bước đầu hoàn thiện Luật Tố tụng hành chính, đồng thời nâng cao hiệu quả xét xử phúc thẩm vụ án hành chính
3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu phần lí luận và thực tiễn của thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính Đây là một đề tài rộng và phức tạp, do đó để nghiên cứu sâu về đề tài này, tác giả giới hạn phần thực tiễn nghiên cứu thực trạng thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính tại thành phố Hồ Chí Minh Là một trung tâm kinh tế lớn của cả nước, thành phố
Hồ Chí Minh như là một điển hình về giải quyết án phúc thẩm hành chính với các mối quan hệ xã hội ngày càng đa dạng và phức tạp cùng với vai trò của Tòa Phúc thẩm Tòa
án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và Tòa Hành chính Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh
4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định về thủ tục phúc thẩm vụ
án hành chính nhằm nâng cao nhận thức, tạo điều kiện cho việc xây dựng và hoàn thiện quy định của pháp Luật tố tụng hành chính Để tài cho thấy rõ tầm quan trọng của giai đoạn phúc thẩm vụ án hành chính Qua nghiên cứu thấy được thực trạng quy định của pháp luật còn vướng mắc khi áp dụng vào thực tiễn xét xử đồng thời đóng góp ý kiến
để sửa đổi, bổ sung Luật tố tụng hành chính, cũng như đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng xét xử phúc thẩm vụ án hành chính Ngoài ra, luận văn có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho các công trình nghiên cứu khác
5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
Tác giả vận dụng những lí luận chung của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng
Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Sử dụng các phương pháp so sánh, phân tích, đối chiếu; phương pháp liệt kê, phương pháp chứng minh đồng thời kết hợp với các tài liệu trong tạp chí Khoa học pháp lý, tạp chí Tòa án nhân dân, tạp chí Viện kiểm sát đặc biệt coi
Trang 96 Kết cấu của đề tài
Đề tài khóa luận gồm: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục
Phần nội dung được trình bày trong hai chương:
Chương I: Những vấn đề lí luận và pháp lý về thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính
Chương II: Thực trạng và phương hướng hoàn thiện thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính
Trang 10Hai cấp xét xử được bắt đầu bằng cấp xét xử sơ thẩm vụ án, kết quả của cấp xét
xử sơ thẩm là việc Tòa án sơ thẩm có thể ban hành một trong các quyết định sơ thẩm, bản án sơ thẩm Việc tòa án sơ thẩm ban hành quyết định, bản án có thể không nhận được sự đồng ý từ các đương sự và VKS trong trường hợp đó họ có quyền kháng cáo hoặc kháng nghị đối với những bản án, quyết định sơ thẩm Việc tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án có bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị gọi là thủ tục phúc thẩm
Để hiểu rõ về thủ tục phúc thẩm, đầu tiên phải hiểu tính chất của phúc thẩm, tính chất của phúc thẩm sẽ quyết định đến những vấn đề khác của thủ tục phúc thẩm Ngoài
ra tính chất của phúc thẩm chính là một trong những điểm khác biệt để phân biệt với thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm
Bàn về tính chất của phúc thẩm, xét xử phúc thẩm chính là cấp xét xử thứ hai
trong quá trình TTHC “Pháp luật tố tụng dân sự và tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành, thì phúc thẩm được hiểu thống nhất là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại
Trang 11đối với vụ án đã được xét xử sơ thẩm nhưng bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm”1
Trước đây Pháp lệnh TTGQVAHC không chỉ rõ tính chất của phúc thẩm là xét
xử lại vụ án như trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, mà chỉ được hiểu thông qua quy định tại Khoản 1 Điều 55 của Pháp lệnh:
“Đương sự hoặc người đại diện có quyền kháng cáo, VKS cùng cấp hoặc cấp trên một cấp có quyền kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc giải quyết
vụ án của tòa cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án trên một cấp xét xử phúc thẩm, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 41 của pháp lệnh này” Quy định trên mang tính khái
quát và không có văn bản nào giải thích như thế nào là xét xử phúc thẩm nên có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này Hiện nay, khi Luật TTHC năm 2010 có hiệu lực
khái niệm phúc thẩm được quy định tại Điều 173 “Xét xử phúc thẩm là việc tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị” Như vậy, phúc thẩm không phải là
xem xét lại mà là xét xử lại vụ án Quan niệm này phù hợp với tinh thần của nguyên tắc bảo đảm hai cấp xét xử theo quy định tại Điều 11 của Luật tổ chức TAND 2002 và đảm bảo thống nhất về tính chất của phúc thẩm trong Tố tụng dân sự và Tố tụng hình sự Với quy định như vậy, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ được giải quyết VAHC theo trình tự phúc thẩm khi có kháng cáo, kháng nghị của các chủ thể có thẩm quyền
Tuy nhiên vẫn có quan điểm cho rằng “về bản chất, phúc thẩm không phải là xét
xử đầu tiên đối với một vụ án hành chính mà là xét xử lần thứ hai”2 Căn cứ vào các quy định của Luật TTHC 2010 có thể thấy: trình tự phiên tòa phúc thẩm được tiến hành như phiên tòa sơ thẩm (trừ một số khác biệt nhỏ) Tòa án phúc thẩm thể hiện kết quả của mình bằng bản án hoặc quyết định phúc thẩm cũng tương tự như tại Tòa sơ thẩm Trong khi đó chế định giám đốc thẩm, luật quy định chỉ ra “quyết định giám đốc thẩm” Những hoạt động này cho thấy tòa phúc thẩm dường như xử lại vụ án sơ thẩm lần hai Nhưng, Tòa án cấp phúc thẩm khi xét xử chỉ có nhiệm vụ xem xét lại những nội dung thuộc phạm vi bị kháng cáo, kháng nghị Những phần không có kháng cáo, kháng nghị
1 Giáo trình luật Tố tụng hành chính, trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh năm 2012, Tr 334
2 Giáo trình luật TTDS, trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Tư pháp năm 2005, Tr 295
Trang 12Tòa phúc thẩm không có nhiệm vụ xét xử Điều này thể hiện chủ thể kháng cáo, kháng nghị hoàn toàn có quyền định đoạt và quyết định kháng cáo, kháng nghị cũng như phạm
vi kháng cáo, kháng nghị Quy định này cho thấy chế định phúc thẩm không phải việc xét xử lại vụ án lần hai
Trong quá trình giải quyết VAHC, phúc thẩm là một giai đoạn độc lập Nghĩa vụ của Tòa án cấp phúc thẩm là kiểm tra lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án,
quyết định sơ thẩm, trên cơ sở đó xét xử lại về mặt nội dung “Tính hợp pháp của bản
án, quyết định sơ thẩm thể hiện ở chỗ không những nó phải phù hợp với luật nội dung
mà còn phải phù hợp với những quy định về mặt hình thức”3, nghĩa là phải phù hợp với pháp luật hành chính về mặt nội dung và phù hợp với những quy định của pháp Luật
TTHC về mặt hình thức “Tính có căn cứ thể hiện khía cạnh bản án hoặc quyết định của bản án phải phù hợp với những sự kiện có thật trong thực tế và được chứng minh bằng những chứng cứ đầy đủ, xác thực”4 Tòa án cấp phúc thẩm không những xét lại bản án mà còn xét xử lại vụ án Bằng cách mở phiên tòa công khai, Tòa án cấp phúc thẩm đánh giá lại chứng cứ đã được đánh giá ở cấp sơ thẩm và chứng cứ mới do đương
sự cung cấp bổ sung để xác định lại sự thật khách quan của vụ án trên cơ sở đưa ra một bản án mới hoặc có thể y án sơ thẩm hay sửa một phần bản án sơ thẩm và cũng có thể hủy án sơ thẩm
Như vậy, tính chất của phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ
án có bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm gắn với việc xét lại nội dung vụ án đó
Tóm lại, thủ tục xét xử phúc thẩm hành chính là một giai đoạn của quá trình tố tụng diễn ra sau thủ tục sơ thẩm trên cở sở kháng cáo, kháng nghị của chủ thể có thẩm quyền đối với những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
Nhiệm vụ của phúc thẩm VAHC là kiểm tra tính có căn cứ khách quan (hay tính xác thực) về mặt chứng cứ của các sự kiện, tình tiết mà căn cứ vào đó Tòa án đã ra bản
3
Giáo trình luật Tố tụng hành chính, Nxb công an nhân dân, năm 2007, Tr 299
4 Giáo trình luật Tố tụng hành chính, Nxb Công an nhân dân, năm 2007, Tr 299
Trang 13án, quyết định sơ thẩm; kiểm tra tính hợp pháp của bản án, quyết định sơ thẩm; đưa ra quyết định đúng đắn đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm kháng cáo, kháng nghị
1.2 Mục đích của phúc thẩm vụ án hành chính
Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình đòi hỏi Tòa án khi ra một bản án hay quyết định thì chúng phải có căn cứ và hợp pháp TAND nhân danh Nhà nước ra các bản án, quyết định, tác động trực tiếp đến nhân phẩm, danh dự và tài sản của công dân, đến tài sản của Nhà nước Chính vì vậy khi tuyên một bản án hoặc quyết định thì
đó phải là một biểu hiện của thực tế khách quan, áp dụng đúng quy định của pháp luật, đúng chính sách của nhà nước ta Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết các VAHC do những tác động khác nhau, các quy định về pháp luật tố tụng còn nhiều điểm hạn chế, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể Mặt khác, xét về mặt chủ quan đội ngũ tiến hành tố tụng chưa đồng đều về nghiệp vụ dẫn đến việc áp dụng pháp luật còn nhiều lúng túng nên không tránh khỏi những sai sót Điều này có nghĩa là, không phải tất cả các bản án, quyết định của tòa án cấp sơ thẩm đều hoàn toàn chính xác và điều này sẽ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Do đó, pháp luật TTHC quy định giai đoạn xét xử phúc thẩm
Việc quy định của giai đoạn xét xử phúc thẩm tạo điều kiện cho những người tham gia tố tụng thực hiện quyền dân chủ, quyền tự quyết của mình một các toàn diện thông qua việc đương sự, người đại diện của đương sự thực hiện quyền kháng cáo khi
họ không đồng ý với bản án, quyết định của tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp họ
Mặt khác, qua việc xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp trên kiểm tra thường xuyên đối với hoạt động của Tòa án cấp dưới, có như vậy mới phát huy được tác dụng của hoạt động xét xử, mới đảm bảo được các nguyên tắc trong quá trình tố tụng.Thông qua việc xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp trên tổng kết rút kinh nghiệm từ thực tiễn xét xử của tòa án cấp dưới có thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình không, từng bước nâng cao hiệu quả công tác giải quyết VAHC Tòa án cấp trên cũng phát hiện những thiếu sót, chồng chéo trong các quy định của pháp luật để đảm bảo các quy định của pháp luật luôn phù hợp với cuộc sống và nền kinh tế, phát huy được tác dụng của pháp luật trong lĩnh vực hành chính Bên cạnh đó đảm bảo mọi hành vi tố tụng của cơ quan nhà
Trang 14nước và người tiến hành tố tụng phải được thực hiện đúng nội dung và trình tự do pháp luật quy định; đảm bảo về tính nội dung và hình thức trong bản án, quyết định của Tòa
Pháp luật quy định quyền kháng cáo, kháng nghị xuất phát từ mục đích: kháng cáo, kháng nghị là phương tiện pháp lý hữu hiệu nhất, là cơ hội để những người có lợi ích liên quan trực tiếp đến vụ án có thể bảo vệ một cách hiệu quả và kịp thời khôi phục lợi ích hợp pháp của mình sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm
1.3.1 Khái niệm kháng cáo, kháng nghị
Khái niệm kháng cáo:
Để hiểu rõ bản chất của kháng cáo, đầu tiên phải hiểu được kháng cáo là gì
“Kháng cáo là quyền của đương sự tự mình hoặc thông qua người đại diện của mình đề
Trang 15nghị Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử phúc thẩm đối với bản án, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính của cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật”5
Như vậy, kháng cáo là việc đương sự hoặc đại diện của đương sự không đồng ý với một phần hoặc toàn bộ quyết định bản án sơ thẩm của tòa án thì có quyền yêu cầu tòa án cấp trên xét xử lại để bảo vệ quyền và lợi của mình Cũng có thể nói đó là việc
các đương sự hoặc chủ thể khác theo quy định của pháp luật “chống” lại bản án, quyết
định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật yêu cầu tòa án cấp trên xét xử lại vụ án Đương sự chỉ cần cảm thấy bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật chưa thỏa đáng đối với họ, họ có quyền kháng cáo, chỉ cần kháng cáo hợp pháp thì
vụ án đó phải xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm Kháng cáo đảm bảo cho đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước tòa
Kháng cáo là quyền của đương sự “Quyền kháng cáo là một quyền đặc biệt quan trọng thuộc nội dung của nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ và lợi ích hợp pháp của đương sự”6 Quyền này phát sinh sau khi khi có bản án, quyết định của tòa án cấp
sơ thẩm, đương sự sẽ được thông báo về quyền này
Khái niệm kháng nghị:
“Kháng nghị bản án sơ thẩm là một quyền tố tụng của Viện kiểm sát khi thấy bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa đổi hoặc hủy bản án hoặc quyết định sơ thẩm đó nhằm đảm bảo việc xét xử đúng pháp luật”7
Kháng nghị bảo đảm cho VKS thực hiện có hiệu quả công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong việc giải quyết VAHC Nếu kháng cáo mang tính chất chủ quan gắn liền với quyền và lợi ích của chính đương sự, đương sự cảm thấy bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không đúng và xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì việc kháng nghị được thực hiện theo thẩm quyền được giao chứ không vì quyền lợi của cá nhân của chủ thể kháng nghị
5 Từ điển luật học, Viện khoa học pháp lý, Nxb Từ điển Bách khoa năm 2006, Tr 418
6 Giáo trình luật tố tụng hành chính, trường Đại học Luật TP HCM năm 2012, Tr 343
7 Nguyễn Mạnh Hùng, Thuật ngữ pháp lý, Nxb Sự thật năm 2011, Tr 231
Trang 161.3.2 Đối tƣợng kháng cáo, kháng nghị
Phúc thẩm hành chính là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản
án, quyết định của Tòa án cấp dưới chưa có hiệu lực pháp luật khi có kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật Như vậy, đối tượng kháng cáo, kháng nghị là bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Để hiểu rõ đối tượng của kháng cáo, kháng nghị, đầu tiên phải tìm hiểu khi nào bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật Có các cách hiểu khác nhau về thời điểm có hiệu lực của bản án, quyết định
sơ thẩm, có thể cho rằng bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực kể từ khi tuyên án hoặc cũng có thể cho rằng bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực sau thời hiệu kháng cáo, kháng nghị
Từ quy định của pháp luật có thể thấy bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực khi hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị Vì bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành Nếu bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án thì việc thi hành, bản án, quyết định đã có thể bị hủy bỏ nếu có kháng cáo, kháng nghị và đây là điều mâu thuẫn Ngược lại, bản án, quyết định sơ thẩm chưa
có hiệu lực pháp luật có nghĩa là bản án, quyết định sơ thẩm đó đang trong thời gian kể
từ ngày Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án cho đến khi trước thời điểm có hiệu lực của bản
án, quyết định sơ thẩm Trong thời hạn đó, những chủ thể được trao quyền có thể bày tỏ quan điểm của mình về bản án, quyết định hành chính sơ thẩm bằng cách kháng cáo, kháng nghị, từ đó phát sinh thủ tục phúc thẩm Khi hết thời hạn trên, chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị không còn quyền kháng cáo, kháng nghị trừ trường hợp chủ thể kháng cáo chứng minh được là gặp trở ngại khách quan hoặc vì sự kiện bất khả kháng trong thời hạn luật định Cho nên bản án, quyết định hành chính sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật là bản án, quyết định còn thời hạn kháng cáo, kháng nghị
Tuy nhiên pháp luật TTHC cũng quy định một số bản án, quyết định có hiệu lực
thi hành ngay tại Điều 172 Luật TTHC 2010: “Bản án, quyết định đình chỉ vụ án giải quyết khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân có hiệu lực thi hành ngay Đương sự không có quyền kháng cáo, VKS không có quyền kháng nghị” Các bản án, quyết định này có hiệu lực
ngay để đảm bảo tính chất vụ việc là cần giải quyết nhanh chóng, kịp thời
Trang 17Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHC, Tòa án cấp sơ thẩm có thể ra bản án và quyết định sơ thẩm Nhưng cần phải lưu ý rằng, không phải quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật nào cũng được kháng cáo, kháng nghị Đối tượng kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm gồm: Bản án sơ thẩm; quyết định tạm đình chỉ giải quyết
vụ án; quyết định đình chỉ giải quyết vụ án chưa có hiệu lực pháp luật Các quyết định khác như: Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Quyết định chuyển vụ án cho tòa án khác giải quyết; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng… đều không phải là đối tượng kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
1.3.3 Chủ thể kháng cáo, kháng nghị
Chủ thể kháng cáo:
Chủ thể có quyền kháng cáo là đương sự và đại diện của đương sự Tùy thuộc vào sự đúng đắn của bản án hoặc quyết định của Tòa án, cũng như tùy thuộc vào nhận thức của người có quyền kháng cáo mà bản án hoặc quyết định sơ thẩm có bị kháng cáo hay không
Đương sự là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có thể tự mình thực hiện quyền kháng cáo hoặc ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện việc kháng cáo Tuy nhiên
có một trường hợp ngoại lệ đối với người đại diện cho đương sự khi thực hiện việc kháng cáo mà không cần sự ủy quyền bằng văn bản của đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất và tâm thần Nếu đương sự không có người đại diện để đảm bảo quyền lợi về mặt tố tụng thì theo quy định của pháp luật, Tòa án sẽ cử một người thân thích của họ hoặc yêu cầu một cơ quan, tổ chức cử thành viên làm người đại diện cho họ Trường hợp đương sự là cơ quan tổ chức thì kháng cáo thông qua người đại diện hợp pháp tức đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền
Cần lưu ý, không phải người nào cũng có thể làm đại diện cho đương sự để thực hiện quyền kháng cáo Theo quy định tại Khoản 6 Điều 54 Luật TTHC 2010 thì những người sau đây không được làm đại diện: là đương sự trong cùng một vụ án với người được đại diện mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người đại diện; là người đang là đại diện trong TTHC cho một đương sự khác
Trang 18mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người đại diện trong cùng một vụ án
So với Pháp lệnh TTGQVAHC, Luật TTHC 2010 quy định chi tiết hơn, cụ thể hơn về những người đại diện trong TTHC và những người không được làm người đại diện Theo đó, Luật TTHC 2010 có sự mở rộng phạm vi những người không được làm người đại diện, đó là trường hợp cán bộ, công chức trong các ngành Thanh tra, Thi hành án, công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an không được làm người đại diện trong TTHC, trừ trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện cho
cơ quan của họ hoặc với tư cách là người đại diện theo pháp luật (Khoản 7 Điều 54 Luật TTHC 2010)
Trường hợp đương sự là người khởi kiện, người bị kiện VAHC có quyền kháng cáo với toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định hành chính có liên quan đến quyền
và nghĩa vụ của mình Đương sự là người có quyền và lợi ích liên quan thì chỉ có thể thực hiện quyền yêu cầu này đối với phần nội dung ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của họ
Chủ thể có quyền kháng nghị:
Xuất phát từ chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật TTHC, trong quá trình thực hiện chức năng của mình nếu VKS phát hiện bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với quy định của pháp luật, có những thiếu sót nhất định thì có quyền kháng nghị yêu cầu tòa án cấp trên xem xét, khắc phục
Theo Điều 181 Luật TTHC 2010 thì thẩm quyền kháng nghị của VKS sẽ thuộc
về hai cấp: VKSND cùng cấp với tòa án đã xét xử sơ thẩm và VKSND cấp trên trực tiếp Do VKSND được tổ chức hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất, VKSND cấp dưới chịu sự lãnh đạo trực tiếp của VKSND cấp trên trực tiếp Và vì VKSND hoạt động theo cơ chế thủ trưởng nên quyền kháng nghị phúc thẩm chính là quyền của Viện trưởng VKSND Chủ thể kháng nghị phúc thẩm là Viện trưởng VKSND cùng cấp hoặc cấp trên trực tiếp
Qua phân tích có thể thấy “Quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm chỉ giới hạn là quyền của VKS cơ quan có chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp, cụ thể
Trang 19đây là hoạt động giải quyết các VAHC, nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ của VKSND nói chung”8 Việc quy định cả VKSND cùng cấp và VKSND cấp trên trực tiếp đều có quyền kháng nghị nhằm phát hiện và khắc phục kịp thời các sai sót về xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, bảo đảm tính hợp pháp và có căn cứ của các bản án hoặc quyết định sơ thẩm trước khi đưa ra thi hành
cơ quan, tổ chức
Khác với pháp lệnh TTGQVAHC thì thời hạn kháng cáo được Luật TTHC 2010 quy định một cách rõ ràng hơn tại Điều 176, thời hạn kháng cáo của bản án và quyết định chưa có hiệu lực là khác nhau Về thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm thì giống pháp lệnh là 15 ngày, kể từ ngày Tòa án tuyên án; trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc niêm yết tại trụ sở UBND cấp xã nơi họ cư trú hoặc nơi có trụ sở, trong trường hợp đương sự là cơ quan, tổ chức Nhưng Luật TTHC quy định thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là
07 ngày, kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định chứ không phải là
15 ngày Quy định này xuất phát từ bản chất của bản án với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án Để ra một bản án cần nhiều thời gian để thu thập chứng cứ, tài liệu nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc được chính xác, còn quyết định mang
8 Giáo trình luật Tố tụng hành chính, Trường Đại học luật TP.Hồ Chí Minh, năm 2012, Tr 349
Trang 20tính đơn giản hơn nên thời gian ngắn hơn, đây là một điểm mới, phù hợp với thực tiễn giải quyết VAHC
Kháng cáo trong thời hạn luật định là một trong các căn cứ để xem xét việc có tiến hành xét xử phúc thẩm hay không Vì thế, những kháng cáo quá hạn là không hợp
lệ và đó lý do để Tòa án cấp phúc thẩm bác đơn kháng cáo nhằm đảm bảo tính nghiêm minh trong hoạt động xét xử Tuy nhiên, trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan mà đương sự không thể tự khắc phục được như thiên tai, lũ lụt, gặp tai nạn phải điều trị… dẫn đến kháng cáo quá hạn thì thời gian bị trở ngại khách quan không tính vào thời hạn kháng cáo, kháng nghị Các chủ thể kháng cáo kháng nghị quá thời hạn phải trình bày lý do với tòa án đã đưa ra bản án, quyết định sơ thẩm giải quyết VAHC đó Tòa án cấp sơ thẩm có trách nhiệm xác minh lý do chính đáng của những kháng cáo quá hạn và báo cáo với Tòa án cấp phúc thẩm Dựa vào quy định của pháp luật hiện hành, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ xem xét, quyết định chấp nhận hay bác những kháng cáo quá hạn trên
- Thời hạn kháng nghị:
Nếu kháng cáo là khoảng thời gian để chủ thể có quyền kháng cáo thực hiện quyền kháng cáo thì thời hạn kháng nghị là khoảng thời gian quy định cho VKS thực hiện quyền kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm Trong khoảng thời gian này, tùy vào quyết định, bản án của tòa án cấp sơ thẩm mà VKSND cùng cấp và cấp trên trực tiếp phải thực hiện trách nhiệm kháng nghị (nếu có) Cũng giống như thời hạn của kháng cáo, thời hạn kháng nghị của VKS có sự khác nhau giữa bản án sơ thẩm và quyết định sơ thẩm Do cả VKSND cùng cấp với Tòa án cấp sơ thẩm và VKSND cấp trên trực tiếp của VKSND đó đều có quyền kháng nghị nên thời hạn kháng nghị được quy định cụ thể cho từng cấp với thời gian cụ thể như sau:
- Đối với VKSND cùng cấp thì thời hạn là 15 ngày với bản án của Tòa án cấp
sơ thẩm kể từ ngày tuyên án Thời hạn 07 ngày với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án kể từ ngày VKS cùng cấp nhận được quyết định
Trang 21- Đối với VKSND cấp trên trực tiếp thời hạn là 30 ngày tính từ ngày tuyên án với bản án và thời hạn là 10 ngày với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết
vụ án kể từ ngày VKS cùng cấp nhận được quyết định
Như vậy, trong khoảng thời gian trên nếu VKS cùng cấp và VKS cấp trên trực tiếp không có kháng nghị, đương sự không kháng cáo (trừ kháng cáo quá hạn) thì bản
án sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật và trường hợp có sai sót thì chỉ được xem xét theo trình tự giám đốc thẩm
Thủ tục kháng cáo, kháng nghị:
Theo quy định của pháp luật hành chính thì chủ thể khi kháng cáo phải làm đơn kháng cáo gửi đến tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết VAHC đó Để đảm bảo cho việc kháng cáo đúng quy định pháp luật, đơn kháng cáo cần đảm bảo đúng mẫu và ghi đầy
đủ các nội dung sau: ngày tháng năm làm đơn kháng cáo; tên, địa chỉ của người kháng cáo; kháng cáo phần nào của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật; lý do của việc kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo gửi đến Tòa cấp sơ thẩm đã giải quyết VAHC Trường hợp đơn kháng cáo được gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm thì Tòa án đó phải chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiến hành các thủ tục cần thiết theo quy định tại Điều 186 Luật TTHC 2010 trước khi hồ sơ vụ án được chuyển cho tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm
Khi nộp đơn kháng cáo, đương sự phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người kháng cáo phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm biên lai nộp tiền tạm ứng án phí Hết thời hạn này mà người kháng cáo không nộp tiền tạm ứng
án phí phúc thẩm thì coi như là họ từ bỏ việc kháng cáo, trừ trường hợp có lí do chính đáng; Tòa án trả lại đơn kháng cáo cho đương sự Tiền tạm ứng án phí được nộp tại cơ quan thi hành án cùng cấp với cơ quan đã xét xử sơ thẩm và gửi vào tài khoản tạm giữ được mở tại kho bạc Nhà nước
Khác với thủ tục kháng cáo, trong thủ tục kháng nghị chủ thể kháng nghị là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng nằm trong khối cơ quan nhà nước nên mọi hành
vi tố tụng nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS phải thực hiện
Trang 22bằng văn bản với tên gọi là quyết định kháng nghị Quyết định kháng nghị phải có các nội dung: ngày, tháng năm ra quyết định kháng nghị và số của quyết định kháng nghị; tên của VKS ra quyết định kháng nghị; kháng nghị phần nào của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật; lý do của việc kháng nghị và yêu cầu của VKS; họ, tên người kí quyết định kháng nghị và đóng dấu của VKS ra quyết định kháng nghị Sau khi thực hiện việc kháng nghị, VKS phải gửi ngay quyết định kháng nghị cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị để tòa cấp
sơ thẩm tiến hành những thủ tục cần thiết theo quy định trước khi gửi hồ sơ vụ án cho Tòa cấp phúc thẩm
Đương sự phải gửi kèm theo đơn kháng cáo, VKS phải gửi kèm theo quyết định kháng nghị các chứng cứ tài liệu bổ sung nếu có để chứng minh cho yêu cầu kháng nghị của VKS có căn cứ và hợp pháp
Quy định về chủ thể và thủ tục kháng cáo, kháng nghị đã thể hiện rõ phạm vi kháng cáo, kháng nghị của các chủ thể Trước đây theo quy định tại Điều 55 Pháp lệnh TTGQVHC thì phạm vi kháng cáo, kháng nghị không được thống nhất Khoản 1 Điều
55 quy định “đương sự hoặc người đại diện của đương sự có quyền kháng cáo, VKS cùng cấp hoặc trên một cấp có quyền kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm để yêu cầu Toà án trên một cấp xét xử phúc thẩm”, tức là có thể kháng cáo, kháng nghị toàn bộ hay một phần bản án,
quyết định sơ thẩm Còn Khoản 2 lại quy định mâu thuẫn với Khoản 1 trong đơn kháng
cáo, quyết định kháng nghị phải ghi “nội dung phần quyết định của bản án, quyết định
sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị” Theo quy định này thì phạm vi kháng cáo, kháng
nghị đã bị thu hẹp, chỉ có thể kháng cáo, kháng nghị phần quyết định của bản án, phần nhận định không được kháng cáo, kháng nghị (nội dung bản án thường có hai phần chính là nhận định và quyết định)
Nhận thấy hạn chế đó, để tạo hành lang pháp lý thống nhất, Luật TTHC 2010 đã quy định rõ ràng hơn, trong đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị phải có nội dung
“kháng cáo phần nào của bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật”, tức
là phạm vi kháng cáo, kháng nghị là toàn bộ hay một phần bản án, quyết định, tùy thuộc vào chủ thể kháng cáo, kháng nghị Quy định này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp
Trang 23pháp của đương sự cũng như tôn trọng quyền tự quyết của các chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị
1.3.5 Thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị; bổ sung chứng cứ mới
Thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị:
Quy định về thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị là biểu hiện của nguyên tắc định đoạt là nguyên tắc được thực hiện xuyên suốt trong quá trình giải quyết VAHC
Trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, chủ thể kháng cáo, kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị Kháng cáo, kháng nghị là quyền mà pháp luật trao cho các chủ thể nhất định mà đã là quyền thì các chủ thể có thực hiện hay không phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ quan của họ, tuy nhiên khi thực hiện các quyền này thì chủ thể phải thực hiện theo đúng trình tự, quy định của pháp luật Cụ thể Toà án chấp nhận việc đương sự kháng cáo, VKS đã kháng nghị thay đổi,
bổ sung kháng cáo, kháng nghị như sau: Trường hợp chưa hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại của Luật TTHC 2010 thì đương sự kháng cáo, VKS đã kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị mà không bị giới hạn bởi phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu; trường hợp đã hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định thì trước khi bắt đầu phiên toà hoặc tại phiên toà người đã kháng cáo, VKS đã kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị, nhưng không được vượt quá phạm vi đã kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị Đây là một quy định phù hợp, vì nếu cho đương sự kháng cáo, VKS đã kháng nghị thay đổi, bổ sung vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu khi hết thời gian kháng cáo, kháng nghị sẽ bất lợi cho đương sự có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị trong việc chuẩn bị chứng cứ, tài liệu phản tố lại nội dung kháng cáo, kháng nghị vì họ không có thời gian chuẩn bị hay nói cách khác họ rơi vào thế bị động và cũng gây khó khăn cho Tòa án trong việc xem xét, chuẩn bị hồ sơ vụ án
Chủ thể kháng cáo, kháng nghị cũng có thể rút nội dung kháng cáo, kháng nghị trước hoặc ngay tại phiên tòa Việc rút kháng cáo của các chủ thể kháng cáo phải trên tinh thần tự nguyện Còn đối với kháng nghị của VKS, do VKS hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất, VKS cấp dưới chịu sự lãnh đạo của VKS cấp trên nên VKS
Trang 24cấp trên trực tiếp có quyền rút một phần hoặc toàn bộ nội dung kháng nghị của VKS cấp dưới Tòa án cấp phúc thẩm sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án có bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị Việc đình chỉ xét xử trước khi mở phiên tòa do Chủ tọa phiên tòa quyết định, tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định Cần lưu ý đối với những kháng cáo, kháng nghị đương sự, VKS rút toàn bộ nhưng Tòa án cấp phúc thẩm thấy những vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định thì Tòa án cấp phúc thẩm phải tiến hành xem xét và kiến nghị với cá nhân có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm khi có đầy đủ các căn cứ Trước khi mở phiên tòa, việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị phải được lập thành văn bản và gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm Đồng thời Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho các đương sự và VKS biết Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa
Bổ sung chứng cứ mới:
Theo quy định tại Điều 189 Luật TTHC 2010 thì:
- Trước hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo, VKS kháng nghị có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự có quyền bổ sung chứng cứ mới;
- Tòa cấp phúc thẩm tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự tiến hành xác minh chứng cứ mới được bổ sung Tòa án có thể thực hiện ủy thác xác minh chứng cứ bằng quyết định ủy thác để Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền theo quy định thực hiện
Chứng cứ có vai trò quan trọng trong giải quyết VAHC, đó chính là căn cứ để xác định yêu cầu kháng cáo, kháng nghị có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như các tình tiết khác để giải quyết VAHC một cách đúng đắn Do đó, Luật TTHC quy định quyền bổ sung chứng cứ cho các chủ thể có quyền, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể kháng cáo, kháng nghị cũng như tạo điều kiện cho Tòa phúc thẩm giải quyết vụ
án chính xác hơn
1.3.6 Hậu quả pháp lý của kháng cáo, kháng nghị
Bản án, quyết định chưa có hiệu lực của Tòa án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị Trường hợp các đương sự cũng như VKS không đồng ý với việc giải quyết
Trang 25của Tòa cấp sơ thẩm họ có quyền kháng cáo, kháng nghị đối với bản án, quyết định đó Kháng cáo, kháng nghị được gửi đến Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết VAHC đó Tòa
án cấp sơ thẩm nhận đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị sẽ biết về việc kháng cáo,
kháng nghị đối với quyết định, bản án mình đã ban hành
Khi có kháng cáo, kháng nghị hợp lệ thì vụ án đó phải được xét xử lại Hậu quả của việc Tòa án cấp trên xem xét xử lại vụ án thể hiện ở chỗ những phần của bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị chưa được đưa ra thi hành Bản án, quyết định hoặc những phần của bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị và không liên quan đến việc các chủ thể yêu cầu xem xét lại ở cấp phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật
kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị của tất cả các chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị Do thời hạn kháng cáo, kháng nghị không giống nhau nên xác định thời điểm bản án, quyết định sơ thẩm phát sinh hiệu lực do không có kháng cáo, kháng nghị cần phải tính từ thời điểm kết thúc thời hạn kháng nghị của VKS cấp trên trực tiếp Chỉ đến thời điểm đó, bản án, quyết định sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị mới phát sinh hiệu lực
1.4 Xét xử phúc thẩm vụ án hành chính
1.4.1 Thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm
Pháp lệnh TTGQVAHC không có quy định về thụ lý vụ án ở cấp phúc thẩm, pháp lệnh chỉ quy định trình tự gửi và nhận kháng cáo, kháng nghị của Tòa án cấp sơ thẩm và việc chuyển hồ sơ cùng kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm Luật TTHC 2010 đã có quy định về thủ tục thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm tại Điều 187
Thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm là một thủ tục quan trọng để Tòa án có thể tiến hành các công việc cần thiết để xét xử vụ án Trong thời hạn 05 ngày làm việc Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án, đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho Tòa án cấp phúc thẩm Ngay sau khi Tòa án cấp phúc thẩm nhận được hồ sơ vụ án, kháng cáo hợp lệ; kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo do Tòa án cấp sơ thẩm chuyển lên, Tòa án cấp phúc thẩm phải vào sổ thụ lý vụ án để xét
xử phúc thẩm Tòa án cấp phúc thẩm ghi ngày tháng năm nhận hồ sơ vụ án làm căn cứ xác định ngày thụ lý vụ án và căn cứ để tính thời hạn chuẩn bị xét xử
Trang 26Để tiến hành việc giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm thì ngay sau khi thụ lý
vụ án Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm hoặc Chánh án TANDTC thành lập Hội đồng xét
xử phúc thẩm và phân công một Thẩm phán làm Chủ tọa phiên tòa (nếu là trường hợp bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị) hoặc phiên họp (nếu là trường hợp quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án bị kháng cáo, kháng nghị)
1.4.2 Chuẩn bị xét xử phúc thẩm
Chuẩn bị xét xử là một giai đoạn của quá trình tố tụng, được thực hiện trước khi
mở phiên tòa phúc thẩm Chuẩn bị xét xử phúc thẩm là công tác cần thiết để bảo đảm chất lượng xét xử phúc thẩm Giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm chủ yếu tập trung vào việc giải quyết những phần của bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị
Theo quy định tại Điều 191 Luật TTHC 2010 thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm VAHC là 60 ngày, đối với vụ án có tính chất phức tạp được kéo dài thời hạn chuẩn bị nhưng không quá 30 ngày Trong khoảng thời gian này, thẩm phán được phân công giải quyết vụ án sẽ thực hiện các công việc cần thiết đưa ra một trong ba quyết định: tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án; đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án; đưa vụ án
ra xét xử phúc thẩm;
Trong giai đoạn này thẩm phán được phân công sẽ giải quyết các công việc để phiên tòa có thể diễn ra: đầu tiên là kiểm tra kháng cáo, kháng nghị có đúng quy định của pháp luật hay không, kiểm tra một cách toàn diện về cả trình tự, thủ tục, hình thức, nội dung của kháng cáo Bên cạnh đó là kiểm tra nội dung của VAHC từ khởi kiện, thụ
lý vụ án đến chuẩn bị xét xử phúc thẩm, quá trình xét xử ở giai đoạn sơ thẩm; kiểm tra thẩm quyền theo loại việc, theo cấp Thẩm phán còn phải xác minh tính chính xác của bản án hay quyết định của tòa án cấp sơ thẩm có phù hợp với pháp luật hiện hành và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập hay không; nếu phát hiện thiếu sót, sai lầm thì chuẩn
bị cách khắc phục thiếu sót, sai lầm trong phiên tòa phúc thẩm Xác minh thu thập những tài liệu, chứng cứ cho phiên tòa
Kể từ ngày thụ lý vụ án đến trước khi xét xử thì Tòa án có quyền ra các quyết định:
- Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm: Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm trong trường hợp: đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan tổ chức đã
Trang 27giải thể mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng; đương
sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật; cần đợi kết quả giải quyết của cơ quan khác hoặc vụ việc khác có liên quan
Hậu quả của việc tạm đình chỉ xét xử vụ án là không xóa tên VAHC mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý ngày, tháng, năm của quyết định tạm đình chỉ, Tòa phúc thẩm sẽ giải quyết vụ án khi lý do tạm đình chỉ vụ án phúc thẩm không còn
- Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm - là trường hợp tòa án ngưng việc xét xử phúc thẩm khi có các căn cứ: người khởi kiện là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ được thừa kế; cơ quan, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng; người kháng cáo rút toàn bộ đơn kháng cáo hoặc VKS rút toàn bộ kháng nghị; người kháng cáo được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt; các trường hợp khác mà pháp luật quy định
- Quyết định đưa vụ án ra xét xử: Tòa án sẽ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử khi không có căn cứ tạm đình chỉ hay đình chỉ xét xử VAHC và hoàn tất hồ sơ vụ án trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm Quyết định đưa vụ án ra xét xử là quyết định mang tính hình thức chuyển giai đoạn từ chuẩn bị xét xử sang giai đoạn mở phiên tòa phúc thẩm để xét xử Quyết định này phải gửi cho VKSND cùng cấp và những người có kháng cáo, kháng nghị
Sau khi thụ lý, Tòa phúc thẩm phải chuyển hồ sơ vụ án cho VKS nghiên cứu Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án VKS phải trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm để đưa vụ án ra xét xử
Theo quy định của pháp luật TTHC, Tòa án cấp phúc thẩm còn có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo yêu cầu của đương sự, người đại diện của đương sự hoặc tự mình quyết định Đương sự yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải gửi đơn lên Tòa án có thẩm quyền Quyết định áp dụng, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời có hiệu lực thi hành ngay
1.4.3 Thẩm quyền xét xử của Tòa án trong giai đoạn xét xử phúc thẩm
Khái niệm thẩm quyền gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trọng
bộ máy nhà nước, thẩm quyền trở thành một thuộc tính cơ bản, tất yếu của quyền lực
nhà nước “Thẩm quyền xét xử của Tòa án là quyền xem xét và quyết định trong hoạt
Trang 28động xét xử của Tòa án theo quy định của pháp luật”9 Đây là quyền riêng biệt được trao cho Tòa án, thẩm quyền xét xử là để phân định thẩm quyền xét xử các vụ án giữa các Tòa án với nhau
Vậy Tòa án nào được coi là Tòa án cấp phúc thẩm VAHC Nghiên cứu tổ chức
hệ thống TAND của nước ta cho thấy, hệ thống TAND được tổ chức theo đơn vị hành chính mà không tổ chức theo cấp xét xử Từ thẩm quyền của mỗi cấp Tòa án được quy định trong Luật tổ chức TAND năm 2002 cho thấy Tòa hành chính TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Điều 27 và Điều 30 Luật tổ chức TAND năm 2002)
và Tòa phúc thẩm TANDTC (Điều 20 và Điều 24 Luật tổ chức TAND năm 2002) có thẩm quyền xét xử phúc thẩmVAHC Theo nguyên tắc hai cấp xét xử, Tòa án huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét xử sơ thẩm thì Tòa án tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (mà Tòa án huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đó trực thuộc) sẽ xét
xử phúc thẩm, cụ thể là Tòa Hành chính của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đó Nếu Tòa án tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét xử sơ thẩm thì TANDTC sẽ xét xử phúc thẩm cụ thể là Tòa phúc thẩm TANDTC TANDTC có ba Tòa phúc thẩm: Tòa phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội (có thẩm quyền xét xử bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực của TAND tỉnh, thành phố trục thuộc trung ương thuộc khu vực miền Bắc), Tòa phúc thẩm TANDTC tại Đà Nẵng (có thẩm quyền xét xử bản
án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực của TAND tỉnh, thành phố trục thuộc trung ương thuộc khu vực miền Trung), Tòa phúc thẩm TANDTC tại TPHCM (có thẩm quyền xét xử bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực của TAND tỉnh, thành phố trục thuộc trung ương thuộc khu vực miền Nam)
1.4.4 Hội đồng xét xử phúc thẩm
Theo quy định tại Điều 192 Luật TTHC 2010: “Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm
ba Thẩm phán” Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm khác với Hội đồng xét xử sơ thẩm, đối với Tòa án cấp sơ thẩm thì Hội đồng xét xử gồm “một thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân Trường hợp đặc biệt, Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân” (Điều 128 Luật TTHC 2010)
9
Từ điển luật học, Viện khoa học pháp lý, Nxb Từ điển Bách khoa năm 2006
Trang 29Sở dĩ có quy định như vậy xuất phát từ tính chất phúc thẩm là xét xử lại vụ án
mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị; xét lại tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị chứ không phải xử lý và giải quyết vụ án giống tòa cấp sơ thẩm Hơn nữa bản án cấp phúc thẩm là bản án có hiệu lực thi hành ngay, đòi hỏi Hội đồng xét xử khi ra bản án phải đảm bảo độ chính xác cao Thẩm phán phải có tính chuyên nghiệp, kiến thức chuyên môn và pháp luật cao hơn trong việc xem xét, đánh giá các chứng cứ và tình tiết vụ án cũng như áp dụng pháp luật Bên cạnh đó, những thẩm phán với trình độ hiểu biết pháp luật ở mức đại học trên đại học, trong khi Hội thẩm nhân dân thường là những người làm công tác kiêm nhiệm và không phải ai cũng
đủ trình độ pháp lý cần thiết để tham gia vào công tác xét xử phúc thẩm khi mà công tác này đòi hỏi những yêu cầu và đòi hỏi pháp lý cao hơn
Trong một phiên tòa, dù là sơ thẩm hay là phúc thẩm thì vai trò của Hội đồng xét
xử là rất quan trọng Những thành viên trong Hội đồng xét xử đều là những người tiến hành tố tụng mà vai trò của họ mang tính quyết định của vụ án Những quyết định của
họ mang tính định đoạt cho vụ án, do đó việc xác định thẩm quyền của Hội đồng xét xử trong phiên tòa là rất quan trọng để tránh tình trạng lạm quyền và mất công bằng trong xét xử Theo quy định của Luật TTHC 2010, khi xét xử VAHC theo thủ tục phúc thẩm, Hội đồng xét xử có thẩm quyền:
Thứ nhất, bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên các quyết định của bản án
Việc y án sơ thẩm trong trường hợp vụ án có một đương sự và cũng chỉ có đương sự kháng cáo, VKS kháng nghị, về lý luận cũng như thực tiễn không có gì vướng mắc, bởi vì không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị thì bản án sơ thẩm được giữ nguyên toàn bộ Tuy nhiên với vụ án có nhiều đương sự kháng cáo hoặc VKS kháng
Trang 30nghị, Hội đồng xét xử có thể thấy y án với đương sự này, nhưng có thể sửa án hoặc hủy
án đối với đương sự khác thì phải coi là sửa một phần bản án sơ thẩm Do đó căn cứ mỗi phần sẽ khác nhau Ví dụ: đối với phần y án thì căn cứ Khoản 1 Điều 205 Luật TTHC 2010, còn phần sửa bản án thì căn cứ Khoản 2 Điều 205 Luật TTHC 2010… Qua đó có thể thấy Hội đồng xét xử phúc thẩm các VAHC có thể ra một hoặc nhiều quyết định khác nhau trong cùng một lúc
Thứ hai, sửa bản án sơ thẩm
Hội đồng xét xử có quyền sửa một phần hoặc toàn bộ bản án nếu xét thấy bản án cấp sơ thẩm quyết định không đúng pháp luật vì lý do việc chứng minh và thu thập chứng cứ đã thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định ở cấp sơ thẩm nhưng tòa án cấp sơ thẩm vẫn ra bản án không đúng pháp luật hoặc việc chứng minh và thu thập chứng cứ chưa đầy đủ ở cấp sơ thẩm nhưng tại phiên tòa phúc thẩm đã được sửa đổi, bổ sung Như vậy, tòa án cấp phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm khi tại phiên tòa phúc thẩm việc chứng minh và thu thập chứng cứ đã được thực hiện, bổ sung đầy đủ theo quy định của pháp luật
Tùy vào từng trường hợp cụ thể để Hội đồng xét xử quyết định sửa một phần bản
án hoặc toàn bộ bản án Điều 205 Luật TTHC 2010 không quy định cụ thể Hội đồng xét
xử phúc thẩm có thẩm quyền sửa đổi các quyết định khác của Tòa cấp sơ thẩm như: quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định thu thập chứng cứ, ủy thác thu thập chứng cứ… Nhưng trên thực tế, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào các quy định tương ứng của Luật TTHC 2010, nếu thấy Tòa án sơ thẩm áp dụng không đúng thì Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các quyết định đó cho đúng pháp luật
Thứ ba, hủy bản án sơ thẩm
Hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại trong trường hợp: có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc có chứng cứ mới quan trọng mà Tòa cấp sơ thẩm xét xử lại trong trường hợp có vi phạm về mặt thủ tục tố tụng hoặc có chứng cứ mới quan trọng mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung được
Căn cứ thế nào là “vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng” không được hướng dẫn
trong Luật TTHC 2010 và các văn bản hướng dẫn nhưng theo khoa học pháp lý thì vi
Trang 31phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng được hiểu là việc vi phạm các trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định trong Luật TTHC 2010 gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các
đương sự Còn căn cứ “có chứng cứ quan trọng mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể thu thập” được áp dụng để hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm
xét xử lại khi Tòa án cấp phúc thẩm trong quá trình giải quyết vụ án phát hiện căn cứ cho rằng có chứng cứ quan trọng có thể thay đổi tính chất vụ án mà chứng cứ đó chưa được Tòa án cấp sơ thẩm thu thập và Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung được
Ngoài ra, theo quy định tại Khoản 4 Điều 6 Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 nếu phát hiện vụ án giải quyết không phải là VAHC hay phát hiện việc giải quyết VAHC là thuộc thẩm quyền của tòa khác thì Toà án cấp phúc thẩm căn cứ vào Khoản 3 Điều 205 của Luật TTHC 2010 huỷ bản án, quyết định sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng và giao hồ sơ vụ án cho Toà án có thẩm quyền xét xử
sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại vụ án theo thủ tục chung do pháp luật tố tụng quy định đối với việc giải quyết vụ án đó
Hội đồng xét xử cũng có quyền hủy bản án trong trường hợp tại phiên tòa người khởi kiện rút đơn khởi kiện và người bị kiện đồng ý và hủy bản án nếu trong quá trình xét xử sơ thẩm có một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 120 của Luật TTHC 2010 Trong trường hợp này đồng thời ra quyết định hủy bản án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
Thứ tư, đình chỉ giải quyết vụ án, đình chỉ xét xử vụ án
Cần lưu ý rằng quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và quyết định đình chỉ xét
xử phúc thẩm VAHC bản chất là khác nhau Việc đình chỉ giải quyết vụ án làm chấm dứt hoàn toàn việc giải quyết VAHC, còn việc đình chỉ xét xử phúc thẩm chỉ làm chấm dứt việc xét xử phúc thẩm còn kết quả của việc giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm vẫn được giữ nguyên
Trang 32án Quy định này không nhằm mục đích hạn chế quyền tự quyết định của người khởi kiện mà là nhằm bảo vệ quyền lợi cho người bị kiện trước viễn cảnh có thể bị người khởi kiện khởi kiện lại nếu chấp nhận cho người khởi kiện rút đơn khởi kiện
- Nếu việc xét xử vụ án cần phải có mặt người kháng cáo và họ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà họ vẫn vắng mặt và sự có mặt của họ là cần thiết để giải quyết vụ án thì tòa án ra quyết đình chỉ giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm Trường hợp này coi như đương sự từ bỏ quyền kháng cáo của mình, bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật Trường hợp nhiều người kháng cáo, thì tòa án vẫn tiến hành xét xử phúc thẩm, chỉ không xem xét phần nội dung kháng cáo của người đó
- Khi trong quá trình xét xử sơ thẩm có một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 120 Luật TTHC 2010 Điểm cần lưu ý là những căn cứ này phải đã xuất hiện và tồn tại khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án Đáng lẽ Tòa án cấp sơ thẩm phải đình chỉ giải quyết vụ án khi có những căn cứ đó nhưng vì lý do nào đó, Tòa án cấp sơ thẩm vẫn giải quyết thì Tòa án cấp phúc thẩm sẽ đình chỉ giải quyết VAHC
+ Đình chỉ xét xử vụ án hành chính:
Đình chỉ xét xử VAHC khi có căn cứ quy định tại Điều 198 Luật TTHC 2010: các trường hợp quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 120 Luật TTHC 2010; người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc VKS rút toàn bộ kháng nghị; người kháng cáo được triệu tập đến lần thứ hai vẫn vắng mặt; các trường hợp khác mà pháp luật quy định
Ví dụ: Sau khi xét xử sơ thẩm vụ án, bản án sơ thẩm số 07/2012/HCST ngày 21
tháng 9 năm 2012 của TAND huyện Nhà Bè bị người khởi kiện là ông Vương Minh Tử
và bà Lý Thị Tố Mai kháng cáo Tại cấp phúc thẩm, ông Vương Minh Tử và bà Lý Thị
Tố Mai có đơn xin rút kháng cáo, Hội đồng xét xử xét việc rút đơn kháng cáo nêu trên
là hoàn toàn tự nguyện, không trái với quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 198 Luật TTHC nên căn cứ xét phúc thẩm không còn Do đó Hội đồng thẩm phán ra quyết định
số 58/2013/QĐPT-HC đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC thụ lý ngày 05/11/201210
Thứ năm, tạm đình chỉ xét xử vụ án
Tại phiên tòa phúc thẩm hành chính có thể phát sinh các trường hợp tạm đình chỉ xét xử vụ án nếu có căn cứ tại Điều 118 Luật TTHC 2010 Quyết định này phải được
10 Quyết định số 58/2013/QĐPT-HC ngày 21/9/2012 của Tòa án nhân dân TPHCM
Trang 33Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng nghị án và phải lập thành văn bản Khi ra quyết đinh tạm đình chỉ xét xử vụ án có nghĩa Tòa án tạm ngưng không tiến hành các hoạt động tố tụng và sẽ tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm khi không còn căn cứ để tạm đình chỉ
1.4.5 Phạm vi xét xử phúc thẩm
Để xét xử phúc thẩm đạt được mục đích và hoàn thành nhiệm vụ, pháp luật TTHC đã dành cho Tòa cấp phúc thẩm những quyền hạn nhất định trong việc xem xét giải quyết VAHC và những quyền hạn ấy được giới hạn ở một phạm vi nhất định được
quy định tại Điều 190 Luật TTHC 2010: “Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc nội dung liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị” Nghĩa là khi chủ thể kháng cáo, kháng
nghị yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần nào của bản án hoặc quyết định sơ thẩm thì Tòa án chỉ được xét xử lại phần đó Điều đó đồng nghĩa với việc xác định phạm vi xét xử phúc thẩm chỉ cần xác định phạm vi kháng cáo, kháng nghị Vì thế, việc xác định phạm vi kháng cáo, kháng nghị rất quan trọng trong việc quyết định những vấn đề mà Tòa cấp phúc thẩm phải thực hiện tiếp theo ở giai đoạn phúc thẩm như triệu tập ai tham gia tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm…
Theo quy định tại Điều 190 Luật TTHC 2010 có thể thấy Tòa án cấp phúc thẩm chỉ được quyền:
- Xem xét lại toàn bộ vụ án nếu có vi phạm xét xử sơ thẩm toàn bộ bản án hay quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm Trong trường hợp này, Tòa án có thẩm quyền sẽ tiến hành xác định lại tất cả những vấn đề có liên quan đến vụ án trước phiên tòa phúc thẩm
- Chỉ xem xét những phần bị kháng cáo, kháng nghị và không phải xem xét những phần khác trừ trường hợp những phần này có liên quan đến phần bị kháng cáo kháng nghị nếu phạm vi phúc thẩm là từng phần của bản án hay quyết định sơ thẩm
Ngoài ra, khi tiến hành xét xử phúc thẩm VAHC, Tòa án còn có thể xem xét đối với những yêu cầu mới của đương sự có liên quan đến VAHC nhưng chưa được xem
Trang 34xét ở cấp sơ thẩm Tuy nhiên yêu cầu mới thực chất chỉ là yêu cầu thuộc nội dung VAHC11
1.4.6 Phiên tòa phúc thẩm
Thời hạn mở phiên tòa xét xử phúc thẩm:
Thời hạn mở phiên tòa phúc thẩm là khoảng thời gian do pháp luật quy định Trong khoảng thời gian đó, Tòa án cấp phúc thẩm phải mở phiên tòa xét xử phúc thẩm bản án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị Đây cũng chính là thời hạn chuẩn bị xét
xử Pháp luật TTHC quy định thời hạn mở phiên tòa phúc thẩm nhằm mục đích nâng cao trách nhiệm của những người làm công tác xét xử, đồng thời đây cũng chính là quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng
Theo quy định tại Điều 191 Luật TTHC 2010: thời hạn là 60 ngày, đối với các
vụ việc có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì thời hạn đó có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày
Tuy nhiên thời hạn này không phải được áp dụng trong mọi trường hợp vì có trường hợp thời hạn phiên tòa phúc thẩm không thể là 60 ngày hoặc được kéo dài thêm
30 ngày Đó là trong trường hợp có căn cứ tạm đình chỉ giải quyết VAHC, mà quyết định này được ban hành trước khi mở phiên tòa phúc thẩm thì Tòa án tiếp tục giải quyết khi lý do của việc tạm đình chỉ không còn Lúc này thời hạn mở phiên tòa phúc thẩm căn cứ vào thực tế lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án, thời hạn trong trường hợp này được quy định tại Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TANDTC trường hợp có quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC thì thời hạn chuẩn bị xét xử kết thúc vào ngày ra quyết định tạm đình chỉ Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bắt đầu tính lại, kể từ ngày Toà án cấp phúc thẩm tiếp tục xét xử phúc thẩm vụ án khi lý do tạm đình chỉ không còn nữa
Những người tham gia phiên tòa:
Sau khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán sẽ gửi giấy triệu tập những người tham gia phiên tòa, Tòa án gửi giấy thông báo cho VKS cùng cấp để
11 Nguyễn Ngọc Điệp- Thủ tục giải quyết vụ án hành chính- Nxb TPHCM năm 2000, Tr.127
Trang 35cử người tham gia phiên tòa phúc thẩm Thủ tục gửi giấy triệu tập những người tham gia phiên tòa được tiến hành như phiên tòa sơ thẩm
Những người tham gia phiên tòa gồm: những người tham gia tố tụng: người kháng cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch Những người tiến hành tố tụng gồm: Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký Tòa án Trong những người tham dự phiên tòa nếu họ vắng mặt thì tùy từng trường hợp có thể hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử
Phiên tòa xét xử phúc thẩm phải được tiến hành trong một thời hạn luật định Tuy nhiên trong một số trường hợp do những nguyên nhân khác nhau làm cho Tòa án không thể xét xử theo đúng thời hạn, Hội đồng xét xử phải ra quyết định hoãn phiên tòa Đây là việc chuyển dời thời điểm tiến hành phiên tòa đã định sang thời điểm khác muộn hơn khi có các căn cứ luật định Căn cứ hoãn phiên tòa phúc thẩm được quy định tại Điều 201 Luật TTHC 2010 Tòa án ra quyết định hoãn phiên tòa trong các trường hợp:
- Căn cứ đầu tiên, trường hợp người tiến hành tố tụng; người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm:
Là các trường hợp người phiên dịch vắng mặt mà không có người thay thế; Thẩm phán vắng mặt hoặc không thể tiếp tục tham gia xét xử vụ án mà không có thẩm phán dự khuyết tham gia ngay từ đầu; Thư kí tòa án vắng mặt hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên tòa mà không có người thay thế; Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp mà có người vắng mặt; vắng mặt Kiểm sát viên
Đây là những trường hợp người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng không thể tham gia phiên tòa phúc thẩm thì phải hoãn phiên tòa phúc thẩm Như sự có mặt của Kiểm sát viên có vai trò quan trọng trong việc giải quyết VAHC; theo quy định tại Điều 21 của Luật tổ chức VKSND 2002 và Điều 23 Luật TTHC 2010 ta có thể thấy được nhiệm vụ quyền hạn mà VKS đảm nhiệm và tham gia phiên tòa phúc thẩm là một trong những phương pháp giúp VKS thực hiện tốt nhiệm vụ mà luật đã quy định cho mình thông qua đó góp phần bảo đảm việc xét xử nhanh chóng, công minh, đúng pháp
Trang 36luật, khắc phục những vi phạm pháp luật và sai lầm trong việc giải quyết vụ án, góp phần bảo đảm pháp chế xã hội…
Quy định này xuất phát từ vai trò quan trọng của những chủ thể này trong quá trình xét xử phúc thẩm, đảm bảo cho việc thực hiện xét xử đúng pháp luật và bảo vệ được quyền và lợi ích của đương sự
- Trường hợp người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thuộc trường hợp phải thay đổi nhưng không có người thay thế tại phiên tòa phúc thẩm
Quy định này cũng xuất phát từ tầm quan trọng của họ trong quá trình xét xử phúc thẩm Nếu một trong các chủ thể trên bị thay đổi mà không có người thay thế ngay thì hoãn phiên tòa, đảm bảo tính khách quan và công bằng khi tiến hành xét xử
- Cần phải xác minh thu thập tài liệu chứng cứ bổ sung mà không thể thực hiện ngay tại phiên tòa:
Thu thập chứng cứ là việc phát hiện, lựa chọn và tập hợp chứng cứ đưa vào hồ
sơ vụ án một cách đúng đắn Đây là công việc rất quan trọng, tạo cơ sở cho quá trình chứng minh, có ý nghĩa quyết định đối với việc giải quyết các VAHC Có thể nói xuất trình tài liệu chứng cứ vừa là quyền, đồng thời là nghĩa vụ của các đương sự trong việc làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Các quy định trên thể hiện rõ Luật TTHC đã tạo cơ hội tối đa cho các đương sự xuất trình chứng cứ mà mình có, đảm bảo chính xác và đầy đủ nguồn chứng cứ và thực hiện nguyên tắc tòa án xác định sự thật của vụ án khi có đầy đủ tài liệu chứng cứ
Ví dụ: Ngày 10/4/2012, ông A là tài xế của công ty H Trên đường vận chuyển
vải cho công ty từ tỉnh X đến thành phố Y, lực lượng chức năng tỉnh X phát hiện trên
xe có chứa một ngàn cây thuốc lá lậu nên đã lập biên bản vi phạm hành chính Ngày 15/4/2012, Chi cục trưởng chi cục quản lý thị trường tỉnh X ra quyết định số 10/QĐ-QLTT phạt ông A 5,000,000 đồng và tạm giữ xe vi phạm Không đồng ý với quyết định trên, A khởi kiện ra TAND tỉnh X Bản án sơ thẩm tuyên ông A thua kiện, giữ nguyên quyết định xử phạt của Chi cục trưởng cục quản lý thị trường tỉnh X Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ông A làm đơn kháng cáo lên Tòa phúc thẩm TANDTC Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hành chính trên, người làm chứng khai báo là A
Trang 37vận chuyển số thuốc lá trên xe nhiều hơn trong biên bản Hội đồng xét xử ra quyết
định hoãn phiên tòa để xác minh lại lời khai của nhân chứng
Lời khai của người làm chứng là một trong những chứng cứ quan trọng quyết định đến sự thật khách quan của bản án, quyết định của Hội đồng xét xử nên trong trường hợp trên do có mâu thuẫn giữa lời khai của người làm chứng và biên bản vi phạm hành chính mà ngay tại phiên tòa không xác minh được thì phải hoãn phiên tòa
- Trường hợp hoãn phiên tòa do người làm chứng, người giám định vắng mặt Theo quy định của pháp luật thì người làm chứng có nghĩa vụ phải tham gia phiên tòa để nhằm làm sáng tỏ vụ việc Sự vắng mặt của người làm chứng tùy vào vào từng trường hợp mà tòa án ra quyết định hoãn hay tiếp tục phiên tòa Còn người giám định là người có kiến thức, kinh nghiệm cần thiết theo quy định của pháp luật về lĩnh vực cần giám định, cũng như người làm chứng, trong quan hệ tố tụng, người giám định
có vai trò to lớn, bởi họ có quyền và nghĩa vụ đọc tài liệu trong các hồ sơ vụ án liên quan đến đối tượng giám định, yêu cầu tòa cung cấp tài liệu cần thiết, đặt câu hỏi đối với người tham gia tố tụng về những vấn đề liên quan đến đối tượng giám định một cách trung thực, có căn cứ
Thời hạn hoãn phiên tòa phúc thẩm là không quá 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa Quyết định hoãn phiên tòa phải được thảo luận, thông qua tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản
Diễn biến phiên tòa phúc thẩm:
Phiên tòa phúc thẩm diễn biến qua năm bước:
Thứ nhất, khai mạc phiên tòa
+ Chuẩn bị khai mạc phiên tòa
Các quy định về chuẩn bị khai mạc phiên tòa tương tự như tại phiên tòa sơ thẩm Tuy nhiên về tính chất của xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại
vụ án mà bản án, quyết định của Tòa phúc thẩm bị kháng cáo, kháng nghị nên nội dung của phiên tòa phúc thẩm có những điểm khác so với nội dung của phiên tòa sơ thẩm Đây là thủ tục bắt buộc nhằm bảo đảm cho phiên tòa diễn ra có sự tham gia đầy đủ của những người tham gia tố tụng, kiểm tra lại xem có trường hợp nào phải hoãn phiên tòa không, đồng thời nhằm ổn định trật tự tại phiên tòa trước khi tiến hành khai mạc
Trang 38Theo quy định của Luật TTHC thì công việc chuẩn bị khai mạc là công việc của Thư kí Tòa án, cụ thể:
- Phổ biến nội quy phiên tòa;
- Kiểm tra, xác định sự có mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của tòa án; nếu có người vắng mặt thì phải làm rõ lý do, hướng dẫn những người tham gia phiên tòa ngồi đúng vị trí;
- Ổn định trật tự trong phòng xử án;
- Yêu cầu mọi người trong phòng xử án đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án
+ Khai mạc phiên tòa
Khai mạc phiên tòa là một thủ tục bắt buộc phải thực hiện trước khi Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án Giống như thủ tục khai mạc phiên Tòa tại phiên tòa sơ thẩm, thủ tục khai mạc phiên tòa phúc thẩm được bắt đầu bằng việc Thẩm phán là chủ tọa phiên tòa đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử Sau đó Thư kí phiên tòa tiến hành báo cáo về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập hoặc giấy báo của tòa án và lý do vắng mặt Chủ tọa tự mình kiểm tra căn cước của đương sự một lần nữa sau khi Thư ký đã tiến hành báo cáo về sự có mặt của những người tham gia tố tụng Chủ tọa phiên tòa phổ biến quyền và nghĩa vụ của đương sự và những người tham gia tố tụng khác nhằm đảm bảo cho đương sự và những người khác biết rõ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại điều luật tương ứng trong Luật TTHC hiện hành Chủ tọa phiên tòa giới thiệu họ tên, chức vụ của người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch và hỏi những người có quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch xem họ có yêu cầu thay đổi
ai không và lý do yêu cầu thay đổi Đây là một trong những điều kiện cần thiết để đảm bảo việc giải quyết VAHC khách quan, đúng đắn bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự Trong trường hợp có yêu cầu thay đổi thì Hội đồng xét xử phải xem xét, quyết định chấp nhận hay không, nếu không chấp nhận thì phải nêu rõ lý do không chấp nhận và ghi vào biên bản Trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng thì tùy từng trường hợp có thể tiếp tục phiên tòa hoặc ra quyết định hoãn phiên tòa
Trang 39Thứ hai, thủ tục hỏi tại phiên tòa phúc thẩm
Sau khi kết thúc các thủ tục về khai mạc phiên tòa, chuyển qua phần hỏi Thông qua việc hỏi Hội đồng xét xử trực tiếp nghe các ý kiến, từ đó xác định đầy đủ các tình tiết của vụ án và giúp Hội đồng xét xử kiểm tra các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được
từ đó giải quyết vụ án một cách đúng đắn nhất Thủ tục hỏi tại phiên tòa phúc thẩm chỉ khác thủ tục hỏi tại phiên tòa sơ thẩm ở chỗ khi xét hỏi một thành viên của Hội đồng xét xử (thường là Chủ tọa phiên tòa) trình bày nội dung vụ án, quy định của bản án sơ thẩm và nội dung kháng cáo, kháng nghị
Đầu tiên, xuất phát từ khởi kiện, kháng cáo, kháng nghị là quyền định đoạt của các chủ thể được pháp luật trao quyền nên người khởi kiện có quyền rút đơn khởi kiện; người kháng cáo, VKS có quyền thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị trước khi
mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa Tại phiên tòa Chủ tọa phiên tòa hỏi về việc thay đổi,
bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị: hỏi người khởi kiện có rút đơn khởi kiện hay không; hỏi người kháng cáo, Kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị hay không Trường hợp việc rút đơn khỏi kiện của người khởi kiện không được tòa án chấp nhận, đương sự vẫn giữ kháng cáo hoặc VKS vẫn giữ kháng nghị phiên tòa xét xử phúc thẩm tiếp tục
Trình tự hỏi được thực hiện như sau: Nếu là VAHC có đơn kháng cáo của người kháng cáo thì hỏi người kháng cáo trước Trong trường hợp cả người khởi kiện và người bị kiện đều kháng cáo thì Hội đồng xét xử hỏi người khởi kiện trước, người bị kiện sau Nếu là VAHC có quyết định khởi kiện của VKS thì Kiểm sát viên trình bày quan điểm của mình, nêu những sai sót trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm
để tòa án cấp phúc thẩm xem xét
Xuất phát từ tính chất phúc thẩm nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét lại những bản
án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị mà không xem lại những phần không bị kháng cáo, kháng nghị, nên không bắt buộc phải xét hỏi lại toàn bộ vấn đề đã xét hỏi ở phiên tòa sơ thẩm
Thứ ba, tranh luận
Tranh luận - nhằm đề cao vai trò tích cực chủ động của các đương sự trong việc đối đáp tại phiên tòa giúp Hội đồng xét xử xác định sự thật khách quan và ra các phán
Trang 40quyết đúng đắn về các vấn đề cần giải quyết trong VAHC; bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích chính đáng của công dân, đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp của nước ta trong giai đoạn hiện nay Thủ tục tranh luận được tiến hành với sự tham gia của đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp Mục đích của tranh luận là nhằm làm sáng tỏ các tình tiết, sự kiện và xác định sự thật khách quan của vụ án Những người tham gia tố tụng tranh luận phát biểu quan điểm của mình
về các chứng cứ, tài liệu của vụ án, đồng thời đưa ra các căn cứ pháp luật và đề xuất với Hội đồng xét xử hướng giải quyết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Nguyên tắc của tranh luận là không hạn chế nhưng Hội đồng xét xử có quyền bác những ý kiến không liên quan đến vụ án tránh mất thời gian Vì tính chất của tranh luận, phạm vi tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm: tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện như tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm và chỉ được tranh luận về những
vấn đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm và được hỏi tại phiên tòa phúc thẩm
Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong thì, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến Xoay quanh việc phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên, trong quá trình xây dựng Luật TTHC có những quan điểm trái chiều Quan điểm thứ nhất cho rằng việc phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên là phát biểu quan điểm về việc giải quyết VAHC trong phiên tòa, phiên họp hành chính Quan điểm thứ hai lại cho rằng cần phải có sự khác biệt trong việc phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm VAHC Xuất phát từ chức năng nhiệm vụ của VKS trong phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm; căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của VKS và tính chất riêng của từng phiên tòa thì ở phiên tòa sơ thẩm VKS chỉ nên phát biểu về việc tuân theo pháp luật vì ở phiên tòa sơ thẩm chưa có bản án, quyết định của tòa án nên chưa thể phát biểu quan điểm Còn tại Tòa phúc thẩm, phiên họp phúc thẩm Kiểm sát viên ngoài việc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật thì còn phải phát biểu quan điểm
về việc kiểm sát bản án quyết định của Tòa án hoặc bảo vệ kháng nghị trong trường hợp VKS kháng nghị
Tham khảo các ý kiến tại dự thảo xây dựng Luật TTHC, Luật TTHC 2010 đồng
ý với quan điểm thứ hai: khác với phiên tòa sơ thẩm VKS chỉ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong việc quá trình giải quyết vụ án và chấp hành pháp luật