6 định sở hữu đất đai qua các thời kỳ và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với đất đai”; " Hình thức hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thực tiễn giải quyết tranh chấp t
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THEO THỦ TỤC SƠ THẨM TỪ THỰC TIỄN CÁC TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Hà Nội, ngày tháng năm 20
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Nhật Chiến
Trang 4Hà Nội, ngày tháng năm 20
Tác giả luận văn
Lê Nhật Chiến
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THEO THỦ TỤC SƠ THẨM TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN 10
1.1 Tranh chấp đất đai 10
1.1.1 Khái niệm tranh chấp đất đai 10
1.1.2 Đặc điểm của tranh chấp đất đai 11
1.1.3 Phân loại tranh chấp đất đai 13
1.2 Giải quyết tranh chấp đất đai 15
1.2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai 15
1.2.2 Đặc điểm của giải quyết tranh chấp đất đai 15
1.2.3 Ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp đất đai 17
1.2.4 Các phương thức giải quyết tranh chấp đất đai 17
1.3 Giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án 20
1.3.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án 20
1.3.2 Đặc điểm giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án 21
1.3.3 Ý nghĩa của giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án 23
1.4 Lý luận pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại tòa án 24
1.4.1 Khái niệm pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại tòa án 24
1.4.2 Cấu trúc của pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại tòa án 25
Kết luận chương 1 29
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THEO THỦ TỤC SƠ THẨM 30
2.1 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm 30
2.1.1 Thẩm quyền theo loại vụ việc: 30
2.1.2 Thẩm quyền theo cấp xét xử 31
2.1.3 Thẩm quyền theo lãnh thổ 31
Trang 62.2 Khởi kiện và thụ lý vụ án tranh chấp đất đai 32
2.2.1 Khởi kiện và giải quyết đơn khởi kiện tranh chấp đất đai 32
2.2.2 Thụ lý vụ án tranh chấp đất đai 38
2.3 Chuẩn bị xét xử và hòa giải trong vụ án tranh chấp đất đai 38
2.3.1 Chuẩn bị xét xử vụ án tranh chấp đất đai 38
2.3.2 Hòa giải vụ án tranh chấp đất đai tại Tòa án 48
2.4 Phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ án tranh chấp đất đai 51
2.4.1 Những quy định chung về phiên tòa sơ thẩm vụ án tranh chấp đất đai 52
2.4.2.Thủ tục tiến hành phiên tòa sơ thẩm vụ án tranh chấp đất đai 54
Chương 3: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THEO THỦ TỤC SƠ THẨM TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THEO THỦ TỤC SƠ THẨM TẠI CÁC TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH………66
3.1 Khái quát về Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định 66
3.2 Thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại các Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định 68
3.2.1 Những kết quả đạt được trong quá trình giải quyết các vụ án tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm 68
3.2.2 Một số hạn chế, vướng mắc trong giải quyết các vụ án tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm 85
3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án theo thủ tục sơ thẩm 98
3.3.1 Hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm 98
3.3.2 Tăng cường cơ chế phối hợp trong giải quyết các tranh chấp đất đai 108
3.3.3 Tăng cường kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân 108
3.3.4 Xử lý nghiêm minh các trường hợp cố tình vi phạm quy định của pháp luật khi giải quyết tranh chấp đất đai 110
Kết luận chương 3 113
KẾT LUẬN CHUNG 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Số liệu thụ lý, giải quyết án tranh chấp đất đai của các TAND tỉnh Nam Định từ 01/01/2014 đến 31/12/2018 69 Bảng 3.2: Số liệu các vụ án tranh chấp đất đai bị kháng cáo, kháng nghị và kết quả xét xử phúc thẩm 71
Trang 8DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Từ đầy đủ
BLTTDS: Bộ luật tố tụng dân sự TAND: Tòa án nhân dân HĐXX: Hội đồng xét xử UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 Hội nghị Trung ương 6 khóa XI
về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, chúng ta đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần khai thác và phát huy có hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định xã hội, an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường Hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai từng bước được tăng cường; chính sách, pháp luật về đất đai ngày càng được hoàn thiện; các quyền của người sử dụng đất được mở rộng và được Nhà nước bảo đảm; thị trường bất động sản, trong đó có quyền sử dụng đất đã được hình thành và phát triển nhanh Kết quả đó khẳng định các quan điểm chỉ đạo, định hướng chính sách, pháp luật về đất đai được xác định trong Nghị quyết Trung ương 7 khoá IX cơ bản là đúng đắn, phù hợp với đặc điểm, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, cùng với các kết quả đó, những năm qua các vụ việc tranh chấp đất đai không ngừng gia tăng về số lượng cũng như mức độ phức tạp Là một trong những
cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, bằng nỗ lực của mình ngành Tòa án đã giải quyết được số lượng lớn các vụ án tranh chấp đất đai với chất lượng xét xử ngày càng cao góp phần bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người sử dụng đất Tuy nhiên qua thực tiễn xét xử có thể nhận thấy rằng đây là loại án khó giải quyết từ việc áp dụng pháp luật, đánh giá chứng cứ đến tính chất tranh chấp giữa các bên trong vụ án dẫn đến việc giải quyết còn kéo dài, khó khăn, lúng túng, nhiều
vụ án bị quá hạn, bị kháng cáo, kháng nghị, bị hủy, sửa… làm mất lòng tin của người dân đối với đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
BLTTDS năm 2015 thay thế cho BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) là một bước ngoặt lớn trong thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án Trải qua thời gian thi hành, BLTTDS năm 2015 đã phát huy hiệu quả trong việc
Trang 102
giúp cho Tòa án áp dụng thống nhất, đảm bảo giải quyết đúng thủ tục các vụ việc dân sự nói chung và vụ án tranh chấp đất đai nói riêng Mặc dù các quy định của BLTTDS năm 2015 đã có nhiều thay đổi nhưng vẫn còn nhiều quy định bộc lộ những bất cập, những điểm chưa rõ ràng cần được hướng dẫn cụ thể, hay sửa đổi,
bổ sung cho phù hợp đặc biệt là các quy định về thủ tục sơ thẩm Do đó việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về việc giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm có ý nghĩa hết sức quan trọng về mặt tố tụng cũng như thực tiễn Xuất phát từ
những căn cứ trên tác giả đã lựa chọn đề tài “Pháp luật về giải quyết tranh chấp
đất đai theo thủ tục sơ thẩm từ thực tiễn các tòa án nhân dân tỉnh Nam Định” để
làm luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Có thể thấy, thời gian qua đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến chủ đề này Có thể kể đến một số công trình nổi bật như sau:
- “Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thông qua Tòa án nhân dân”
luận văn thạc sĩ luật học của Dương Thị Sen (2012), Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội;
- “Giải quyết tranh chấp đất đai bằng con đường Tòa án ở quận Hà Đông”
luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Thị Thu Hà (2013), Đại học Luật Hà Nội;
- “Thủ tục giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất từ thực tiễn thực hiện
tại Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương” luận văn thạc sĩ luật học của Đỗ
Trường Giang (2015), Viện đại học Mở Hà Nội;
- “Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thông qua Tòa án” luận văn
thạc sĩ luật học của Trần Nguyệt Ánh (2015), Đại học Luật Hà Nội;
- “Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai và thực tiễn xét xử tại Tòa án
nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh” luận văn thạc sĩ luật
học của Đinh Thị Thanh Thảo (2016), Đại học Luật Hà Nội;
Trang 113
- Luận văn thạc sĩ luật học của Vũ Hải Yến (2017), Học viện Khoa học Xã hội
đề tài: “Giải quyết tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất – thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”
- Luận văn thạc sĩ luật học của Đỗ Thị Vân (2015), Viện Đại học mở Hà Nội
với đề tài: “ Giải quyết tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất – thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố
Hà Nội”;
- Luận văn thạc sĩ luật học của Vũ Thị Hường(2017), Học viện Khoa học xã
hội, đề tài: “ Giải quyết tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất từ thực tiễn xét xử sơ thẩm tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh”
- Lê Thị Hậu, Luận văn thạc sỹ "Tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất từ thực tiễn giải quyết tại Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng", Trường Đại học Luật Hà Nội, 2016
- Phạm Văn Oanh, Luận văn thạc sỹ "Giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ở tại Tòa án nhân dân huyện Thường Tín",
Trường Đại học Luật Hà Nội, 2017
- Đặng Thúy Quỳnh, Luận văn thạc sỹ "Giải quyết tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên địa bàn thành phố Nam Định",
Trường Đại học Luật Hà Nội, 2017
- “Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân – Thực
trạng và giải pháp hoàn thiện” khóa luận tốt nghiệp của Trịnh Thị Lệ Quyên
(2012), Đại học Luật Hà Nội;
- “Hòa giải tranh chấp đất đai – Nội dung quan trọng trong pháp luật về giải
quyết tranh chấp đất đai” khóa luận tốt nghiệp của Khổng Thị Chanh
(2015), Đại học Luật Hà Nội;
Trang 124
- “Ách tắc trong công tác giải quyết tranh chấp đất đai do luật hay do người
thực thi” của tác giả Phạm Thái Quý, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 8
(2008);
- “Giải quyết tranh chấp đất đai bằng Tòa án qua thực tiễn tại một địa
phương” của tác giả Mai Thị Tú Oanh, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 8
(2009);
- “Thủ tục hòa giải tiền tố tụng – điều kiện bắt buộc để thụ lý các vụ án tranh
chấp đất đai” của tác giả Nguyễn Minh Hằng – Hà Văn Nâu, Tạp chí Tòa án
nhân dân số 11 (2011);
- “Cần sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai, Bộ luật Dân sự để
tháo gỡ vướng mắc trong giải quyết tranh chấp đất đai, nhà ở trên địa bàn thành phố Hải Phòng” của tác giả Nguyễn Thị Mai, Tạp chí Kiểm sát số 24
(2012);
- “Một số điểm mới về giải quyết tranh chấp đất đai theo Luật Đất đai 2013”
của tác giả Nguyễn Quang Tuyến – Nguyễn Vĩnh Diện, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 11 (2014);
- Ngoài ra, còn có các bài viết như: “Chế định sở hữu đất đai qua các thời kỳ
và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với đất đai” TS Doãn Hồng
Nhung - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đăng trên Website trường Đại học Kiểm sát Hà Nội;
- Bài viết “Bản chất của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo
pháp luật hiện hành” Nguyễn Văn Hiến, Tòa án nhân dân tối cao, đăng trên
Tạp chí dân chủ pháp luật ngày 5/7/2018,
- Trần Thị Thu Hiền, "Bàn về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất viết tay", Tạp chí Kiểm sát Số 7/2012, tr 56 - 57, 64
Trang 135
- Lê Sỹ Nam, "Hình thức hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thực
tiễn giải quyết tranh chấp tại tòa án", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật Số
7/2012, tr 42 - 49
- Nguyễn Thị Thu Hòa, "Kinh nghiệm kiểm sát việc giải quyết các vụ án tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất", Tạp chí Kiểm sát Số
20/2016, tr 53 - 56
- Trần Thị Thu Hiền, "Một số khó khăn, vướng mắc và giải pháp nâng cao
chất lượng giải quyết các vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất", Tạp chí Kiểm sát Số 13/2018, tr 52 - 55
- Phạm Thị Hương Lan, "Một số kiến nghị qua thực tiễn giải quyết tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất", Tạp chí Kiểm sát Số 15/2010,
tr 30 - 32
- Nguyễn Hải An, "Một vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất có nhiều quan điểm giải quyết khác nhau", Tạp chí Dân chủ và
Pháp luật Số 12/2010, tr 49 - 50
- Mai Thị Tú Oanh, "Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và những vấn đề đặt ra", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Số 11/2012, tr 42 - 47
- Chu Thị Châu, "Tranh chấp đất đai hay tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất", Tòa án nhân dân Số 7/2012, tr 26 - 27
- Nguyễn Tuấn Anh, "Vấn đề giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất", Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Số chuyên đề 12/2008, tr
11 - 12
Đánh giá tổng quan: Nội dung các công trình nghiên cứu nói trên đã phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau liên quan đến việc giải quyết tranh chấp đất đai bằng Tòa án Từ những bài viết về những vướng mắc về lý luận, như "Bản chất của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo pháp luật hiện hành", hay “Chế
Trang 146
định sở hữu đất đai qua các thời kỳ và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với đất đai”; " Hình thức hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thực tiễn giải quyết tranh chấp tại tòa án", “Bản chất của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo pháp luật hiện hành”, " Tranh chấp đất đai hay tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất", đến những vấn đề thực tiễn giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, như " Vấn đề giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất", " Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và những vấn đề đặt ra" Một số tác giả cũng có những nghiên cứu về pháp luật liên quan đến giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, như
" Cần sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai, Bộ luật Dân sự để tháo gỡ
vướng mắc trong giải quyết tranh chấp đất đai, nhà ở trên địa bàn thành phố Hải Phòng" hay bài viết " Một số điểm mới về giải quyết tranh chấp đất đai theo Luật
Đất đai 2013" Qua nghiên cứu, nhiều tác giả đã có những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, như " Một số kiến nghị qua thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất", "Một số khó khăn, vướng mắc và giải pháp nâng cao chất lượng giải quyết các
vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất" Các kết quả nghiên cứu trên là những tư liệu quý giá để luận văn kế thừa một cách hợp lý trong quá trình nghiên cứu
Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về thủ tục sơ thẩm giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân từ thực tiễn các tòa án trên địa bàn tỉnh Nam
Định Vì vậy đề tài " Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ
thẩm từ thực tiễn các tòa án nhân dân tỉnh Nam Định" là một đề tài có tính mới
và có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở làm rõ thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại các TAND tỉnh Nam Định, Luận văn hướng đến mục đích kiến nghị các giải
Trang 157
pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại các Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được các mục đích trên, luận văn cần tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án nhân dân
- Phân tích làm rõ thực tiễn các quy định của pháp luật liên quan đến việc giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm; thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại các TAND tỉnh Nam Định giai đoạn 2014-2018
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại các Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận, pháp luật hiện hành
về thủ tục sơ thẩm giải quyết tranh chấp đất đai cũng như thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại các TAND tỉnh Nam Định
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành Luật Kinh tế nên không đi sâu nghiên cứu các thủ tục mà tiếp cận từ góc độ pháp luật đất đai để nghiên cứu thủ tục sơ thẩm giải quyết các vụ án tranh chấp đất đai
Luận văn giới hạn phạm vi không gian là thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định Luận văn giới hạn phạm vi thời gian là thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại các TAND tỉnh Nam Định giai đoạn 2014-2018
Trang 168
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về pháp luật, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách, pháp luật đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại tòa án nhân dân
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung của khoa học xã hội cũng như các phương pháp nghiên cứu đặc thù của lĩnh vực luật học, bao gồm:
- Phương pháp phân tích, phương pháp bình luận, phương pháp lịch sử, phương pháp quy nạp, diễn dịch, nghiên cứu tài liệu, suy luận logic… được sử dụng trong nghiên cứu các nội dung của chương 1 để làm rõ những vấn đề lí luận về tranh chấp đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại tòa án nhân dân
- Phương pháp so sánh, phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp bình luận, phương pháp thống kê, nghiên cứu điển hình, quy nạp, diễn dich, logic… được sử dụng trong chương 2 để làm rõ các quy định của pháp luật về trình
tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án cũng như thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại các TAND tỉnh Nam Định
- Phương pháp phân tích và tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, logic, phương pháp bình luận… được sử dụng trong chương 3 để kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại các TAND tỉnh Nam Định
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lí luận
Trang 179
Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại các TAND tỉnh Nam Định Luận văn góp phần bổ sung, làm phong phú thêm các vấn đề lý luận về tranh chấp và giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại TAND, từ đó góp phần làm giàu thêm lý luận về giải quyết tranh chấp nói chung tại tòa án
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Những giải pháp của luận văn giúp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai nói chung và giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn tỉnh Nam Định nói riêng Những kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo đối với những người làm công tác xét xử tranh chấp đất đai trong hệ thống Tòa án nhân dân Những kết quả nghiên cứu của luận văn cũng có giá trị tham khảo trong việc sửa đổi pháp luật, trong việc sử dụng làm tài liệu tham khảo trong các cơ sở đào tạo Luật trên địa bàn cả nước
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục
sơ thẩm tại Tòa án
Chương 2: Thực tiễn pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục
sơ thẩm tại Tòa án nhân dân và thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục
sơ thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai
theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định
Trang 1810
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THEO THỦ TỤC SƠ
THẨM TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN 1.1 Tranh chấp đất đai
1.1.1 Khái niệm tranh chấp đất đai
Trong nền kinh tế thị trường, tranh chấp luôn diễn ra một cách thường xuyên
trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế, bởi lợi ích của các cá nhân, tổ chức trong xã hội
thường xuyên đối lập nhau Tranh chấp vì vậy là hiện tượng tất yếu trong đời sống
kinh tế - xã hội
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: Tranh chấp là “giành co cái không rõ thuộc về
bên nào” [33, tr.989] Từ điển tiếng Việt thông dụng định nghĩa: Tranh chấp là “1
Giành giật, giằng co nhau cái không rõ thuộc về bên nào; 2 Bất đồng, trái ngược
nhau” [32, tr.808] Như vậy, có thể thấy, cả hai quyển từ điển nêu trên đều coi tranh
chấp là sự giằng co cái mà chưa rõ phần đúng thuộc về bên nào Muốn xác định
phần đúng thuộc về bên nào thì cần phải có một cơ chế khách quan, độc lập đứng
ra phân xử Từ điển giải thích thuật ngữ luật học cho rằng: “Tranh chấp dân sự có
thể hiểu là những mâu thuẫn, bất hòa về quyền và nghĩa vụ hợp pháp giữa các chủ
thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự Tranh chấp kinh doanh là những mâu
thuẫn, bất đồng, xung đột giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trong các hoạt
động kinh doanh… Hay tranh chấp hợp đồng được hiểu là những xung đột, bất
đồng, mâu thuẫn giữa các bên về việc thực hiện hoặc không thực hiện các quyền và
nghĩa vụ trong hợp đồng” [26, tr.35] Theo định nghĩa này, nội hàm của tranh chấp
được hiểu rõ hơn, đó chính là những mâu thuẫn, bất đồng về lợi ích giữa các bên
trong các quan hệ dân sự, kinh tế hoặc trong hợp đồng
Trang 1911
Từ những phân tích nêu trên, tranh chấp đất đai được hiểu chính là những mâu thuẫn, bất đồng giữa các chủ thể trong các quan hệ pháp luật đất đai.[10, tr.20]
Giáo trình Luật đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội định nghĩa “Tranh
chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa
vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai” [27, tr.401] Định
nghĩa về cơ bản cũng trùng với định nghĩa tại khoản 24 Điều 3 Luật đất đai năm
2013 “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất
giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”
Định nghĩa này cũng tương đồng với định nghĩa của tác giả Nguyễn Thị Hải
Thanh: "Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về mặt lợi ích,
về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ đất đai trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai" [24, tr.9; 26, tr 401]
Tóm lại, kế thừa những điểm hợp lý trong các định nghĩa nói trên, có thể đưa
ra định nghĩa như sau: Tranh chấp đất đai là những bất đồng, mâu thuẫn về quyền,
nghĩa vụ giữa những người sử dụng đất với nhau hoặc với những tổ chức, cá nhân khác khi tham gia vào các quan hệ pháp luật đất đai
1.1.2 Đặc điểm của tranh chấp đất đai
Từ khi Nhà nước thay đổi chính sách, tạo thuận lợi cho người dân đưa quyền
sử dụng đất vào giao dịch dân sự, đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, như chính sách, pháp luật đất đai liên tục thay đổi, các giấy tờ chứng minh nguồn gốc đất không còn, quyền sử dụng đất được chuyển dịch qua nhiều người, … dẫn đến tranh chấp đất đai ngày càng gia tăng trong xã hội [13, tr 51.]
Tranh chấp đất đai có các đặc điểm đặc thù sau đây:
Thứ nhất, chủ thể trong các tranh chấp đất đai không phải là chủ sở hữu đất
đai
Trang 2012
Chế độ sở hữu đất đai ở nước ta có tính đặc thù đó là: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu Hiến pháp và pháp luật nước ta quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu [18, Điều 53]
Là chủ sở hữu, Nhà nước giao đất, cho thuê đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân (gọi chung là người sử dụng đất) được sử dụng ổn định, lâu dài hoặc công nhận quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất Vì vậy, người sử dụng đất chỉ có thể là chủ thể quản lý hoặc sử dụng đất đai,
mà hoàn toàn không có quyền sở hữu đối với đất đai Như vậy, chủ thể của tranh chấp đất đai không phải là chủ sở hữu đối với đất đai Đây chính là điểm đặc thù của tranh chấp đất đai so với các loại tranh chấp khác Đặc điểm đặc thù này cũng ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chấp đất đai
Thứ hai, Đối tượng của tranh chấp đất đai là các quyền và lợi ích phát sinh từ
quá trình sử dụng đất [27, tr.402]
Đối tượng của tranh chấp đất đai là quyền quản lý, quyền sử dụng và những lợi ích phát sinh từ quá trình sử dụng đất Điều này có nghĩa là pháp luật chỉ thừa nhận và giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc quản lý đất đai hoặc tranh chấp
về sử dụng đất đai Các tranh chấp về quyền sở hữu đất đai như tranh chấp đòi lại đất trước đây đã hiến, tặng cho nhà nước; tranh chấp về đòi lại đất mà Nhà nước đã chia, cấp cho người dân trong cải cách ruộng đất; tranh chấp đòi lại đất trước đây đã góp vào hợp tác xã, tập đoàn sản xuất để làm ăn tập thể nay hợp tác xã, tập đoàn kinh tế giải thể, … sẽ không được thừa nhận và không được xem xét giải quyết
Thứ ba, tranh chấp đất đai có ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều chủ thế khác
nhau trong xã hội
Tranh chấp đất đai luôn gắn liền với quá trình sử dụng đất của các chủ thể nên không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các bên trong tranh chấp mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước Chính vì ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều chủ thể nên nếu không được giải quyết nhanh chóng, dứt điểm, kịp thời thì sẽ gây mất
an toàn an ninh, trật tự xã hội, ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý, tinh thần của các
Trang 2113
bên, gây nên tình trạng mất ổn định, bất đồng trong nội bộ nhân dân, làm cho những quy định của pháp luật đất đai cũng như những chính sách của Nhà nước không được thực hiện một cách triệt để
Thứ tư, tranh chấp đất đai có liên quan đến rất nhiều các lĩnh vực pháp luật
khác nhau
Quan hệ đất đai do tính đặc thù nên có liên quan đến những quan hệ xã hội khác thuộc phạm vi điều chỉnh của nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật dân sự, Luật xây dựng, Luật nhà ở, Luật bảo vệ môi trường, Luật kinh doanh bất động sản, Luật bảo vệ và phát triển rừng và các văn bản hướng dẫn thi hành… Trên thực tế, tranh chấp đất đai xảy ra không chỉ liên quan đến quyền sử dụng đất mà còn liên quan đến các tài sản gắn liền với đất, những lợi ích phát sinh từ quyền sử dụng đất nên khi giải quyết tranh chấp đất đai, cơ quan nhà nước có thẩm quyền không chỉ áp dụng Luật đất đai mà còn áp dụng các đạo luật khác có liên quan để xem xét, giải quyết
1.1.3 Phân loại tranh chấp đất đai
Căn cứ vào đối tượng tranh chấp, có thể phân loại tranh chấp đất đai thành một số dạng chủ yếu sau:
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trong quan hệ thừa kế, quan hệ hôn nhân;[27, tr.402]
Trang 2214
- Tranh chấp đòi lại đất, tài sản gắn liền với đất của người thân trong những giai đoạn trước đây mà qua các chính sách trong các thời kỳ khác nhau, ruộng đất đã được chia, cấp cho người khác;[27, tr.403]
- Tranh chấp giữa đồng bào dân tộc địa phương với đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới; giữa đồng bào địa phương với các nông trường, lâm trường và các tổ chức sử dụng đất khác.[27, tr.403]
b) Tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất
Khi một bên vi phạm nghĩa vụ, làm cản trở tới việc thực hiện quyền của phía bên kia hoặc khi một bên không làm đúng nghĩa vụ của mình cũng làm phát sinh tranh chấp QSDĐ, thể hiện dưới những hình thức sau:
- Tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng về chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất;
- Tranh chấp liên quan đến việc đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm… c) Tranh chấp về mục đích sử dụng đất
Đây là loại tranh chấp xảy ra nhiều nhất đối với nhóm đất nông nghiệp, giữa đất trồng lúa với đất nuôi tôm, giữa đất trồng cà phê với đất trồng cây cao su, giữa đất hương hỏa với đất thổ cư… trong quá trình phân bổ và quy hoạch sử dụng đất.[27, tr.403]
Ngoài các cách phân loại như trên thì còn có thể phân loại tranh chấp đất đai dựa trên chủ thể của tranh chấp, theo đó tranh chấp đất đai có thể được phân loại thành:
- Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân;
- Tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân với tổ chức;
- Tranh chấp đất đai giữa tổ chức với tổ chức
Trang 2315
1.2 Giải quyết tranh chấp đất đai
1.2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai
Trên thực tế, đất đai ngày càng trở nên có giá trị cao, vì vậy tranh chấp đất đai là một vấn đề nhạy cảm, đụng chạm đến nhiều vấn đề của xã hội nên nếu như không được giải quyết nhanh chóng, dứt điểm thì có thể là nguyên nhân dẫn đến mất an ninh, trật tự và tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định chính trị Do đó, việc giải quyết tranh chấp đất đai hiệu quả đang là một thách thức được đặt ra hiện nay với các cơ quan có thẩm quyền Ngoài ra việc giải quyết tranh chấp đất đai cũng là một nội dung quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước đối với đất đai và là một biện pháp để pháp luật đất đai phát huy được vai trò trong đời sống xã hội
Thuật ngữ “giải quyết tranh chấp đất đai” đã được đề cập trong nội dung của Luật đất đai năm 1987, Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai năm 2003 và Luật đất đai năm 2013 Mặc dù vậy, các văn bản pháp luật trên không giải thích rõ nội hàm của thuật ngữ “giải quyết tranh chấp đất đai” Dưới góc độ lí luận, thuật ngữ “giải quyết tranh chấp đất đai” được giải thích cụ thể trong Từ điển Giải thích Thuật ngữ luật học (Phần Luật đất đai, Luật lao động, Tư pháp quốc tế) của Trường Đại học
Luật Hà Nội xuất bản năm 1999, như sau: “Giải quyết tranh chấp đất đai: Giải
quyết bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tổ chức và trên cơ sở đó phục hồi các quyền lợi hợp pháp bị xâm hại; đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất đai” [25, tr.35]
Từ nghiên cứu những quy định của pháp luật cũng như thực tiễn thì: Giải
quyết tranh chấp đất đai là việc tìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất
1.2.2 Đặc điểm của giải quyết tranh chấp đất đai
Giải quyết tranh chấp đất đai có các đặc điểm cơ bản sau:
Trang 2416
- Giải quyết tranh chấp đất đai là một nội dung quản lý Nhà nước về đất đai
do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện căn cứ vào các quy định của pháp luật, quan điểm, đường lối của Đảng và thực tiễn sử dụng đất để tìm ra phương thức phù hợp nhằm giải quyết bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên tranh chấp.[27, tr.407]
- Tranh chấp đất đai là vấn đề nhạy cảm, phức tạp bởi đất đai có tầm quan trọng trên nhiều phương diện trong khi đó việc quản lý và sử dụng đất có nhiều biến động qua các thời kỳ lịch sử vì vậy mà hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai phải huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị
- Nhà nước khuyến khích việc tự hòa giải, thương lượng trong giải quyết tranh chấp đất đai nhằm giải quyết ổn thoả tranh chấp, duy trì sự ổn định chính trị -
xã hội, đảm bảo sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân.[10, tr.19] Xét về cả mặt lý luận lẫn thực tiễn, lợi ích bao giờ cũng là vấn đề cốt lõi trong hầu hết các quan hệ xã hội
vì vậy để bảo vệ một cách tốt nhất những lợi ích đó các bên tranh chấp phải gặp nhau để bàn bạc, thảo luận và thương lượng, đó cũng là cơ sở quan trọng đảm bảo quyền tự định đoạt cho các đương sự Đối với các vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất Tòa án chỉ thụ lý đơn khi các bên đã tiến hành hòa giải mà không đạt được sự nhất trí cần thiết
- Giải quyết tranh chấp đất đai phải đảm bảo nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu Đây là nguyên tắc cơ bản đòi hỏi khi xem xét, giải quyết mọi vấn đề phát sinh trong quan hệ pháp luật đất đai đều phải thực hiện trên cơ sở đất đai thuộc sở hữu toàn dân, bảo vệ quyền lợi cho người đại diện của chủ sở hữu, bảo vệ thành quả cách mạng về ruộng đất Cần quán triệt quan điểm xuyên suốt của Nhà nước là không thừa nhận và không xem xét giải quyết các tranh chấp về việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 2517
- Việc giải quyết tranh chấp đất đai không chỉ dựa vào quan điểm, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn căn cứ vào tâm lý, thị hiếu, phong tục, tập quán … trong quá trình quản lý, sử dụng đất đai của người dân ở các vùng, miền khác nhau trong cả nước để có hướng giải quyết phù hợp, hợp tình, hợp
lý do đó giải quyết tranh chấp đất đai cần mềm dẻo, linh hoạt
1.2.3 Ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp đất đai
- Việc xem xét, giải quyết tranh chấp đất đai không chỉ là một nội dung quan trọng trong hoạt động quản lý Nhà nước đối với đất đai mà còn là một biện pháp để pháp luật đất đai phát huy được vai trò trong đời sống xã hội
- Thông qua việc giải quyết tranh chấp đất đai, các quan hệ đất đai được điều chỉnh cho phù hợp với lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của người sử dụng đất, góp phần vào việc duy trì sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và đảm bảo sự đoàn kết trong nhân dân
- Giải quyết tranh chấp đất đai vừa góp phần củng cố chế độ sở hữu toàn dân
về đất đai vừa góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất
- Thông qua hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai mà ý thức pháp luật của người dân nói chung và người sử dụng đất nói riêng được nâng cao, ngăn ngừa những vi phạm pháp luật khác có thể xảy ra, góp phần vào việc tăng cường pháp chế trong quản lý và sử dụng đất đai.[27, tr.407]
1.2.4 Các phương thức giải quyết tranh chấp đất đai
1.2.4.1 Phương thức hòa giải
Hòa giải tranh chấp đất đai là phương thức giải quyết tranh chấp mang tính mềm dẻo, linh hoạt và hiệu quả nhằm giúp các bên tranh chấp tìm ra giải pháp thống nhất để khắc phục những mâu thuẫn, bất đồng trong quan hệ pháp luật đất đai trên cơ sở tự nguyện.[10, tr.20] Vì vậy Nhà nước luôn khuyến khích đẩy mạnh phương thức hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai Trường hợp các bên tranh chấp không thể tự thương lượng, hòa giải được với nhau thì vụ tranh chấp đất đai có
Trang 26Hòa giải tại UBND được thực hiện sau khi hòa giải tại cơ sở không đạt kết quả và một bên gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp để yêu cầu tổ chức hòa giải Theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013: Chủ tịch UBND cấp
xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình Trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của UBND cấp xã Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì UBND cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác để trình UBND cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
1.2.4.2 Phương thức giải quyết tranh chấp bằng con đường hành chính
Giải quyết tranh chấp đất đai bằng con đường hành chính do UBND thực hiện Theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 203 Luật đất đai năm 2013, tranh chấp đất đai mà không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong số các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 (các giấy tờ hợp lệ về đất đai) và đương sự lựa chọn hình thức giải quyết
Trang 27- Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì
có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại TAND theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
Trong cả hai trường hợp trên thì người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai phải ra quyết định giải quyết tranh chấp Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.[27, tr.412]
Như vậy đối với các trường hợp tranh chấp đất đai mà không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc các giấy tờ hợp lệ về đất đai thì việc cơ quan quản lý nhà nước về đất đại cụ thể là UBND giải quyết sẽ có hiệu quả bởi đây là cơ quan có đầy đủ thông tin, số liệu, hồ sơ địa chính về từng thửa đất cũng như nắm rõ nguồn gốc, hiện trạng sử dụng đất nên biết rõ ai là người có quyền sử dụng đất hợp pháp Đối với những tranh chấp này, các quyết định của UBND có thẩm quyền có giá trị bắt buộc thực hiện đối với các bên tranh chấp
1.2.4.3 Giải quyết tranh chấp đất đai bằng tòa án
Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 203 Luật đất đai năm 2013 thì giải quyết tranh chấp bằng con đường tố tụng do TAND thực hiện đối với tranh chấp về tài sản gắn liền với đất đai và tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 hoặc không có một trong các giấy tờ quy
Trang 2820
định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 nhưng có yêu cầu Tòa án giải quyết Việc giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự được tiến hành theo trình tự, thủ tục quy định tại BLTTDS năm 2015 thông qua hai cấp xét xử là sơ thẩm và phúc thẩm Hình thức giải quyết này thông qua cơ quan quyền lực công có chức năng xét xử để đưa ra một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bắt buộc đối với các bên tham gia tranh chấp, là cơ sở để các cơ quan hành chính nhà nước
về đất đai có những điều chỉnh phù hợp theo nội dung quyết định, bản án đã nêu So với các hình thức giải quyết tranh chấp đất đai khác thì giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án có thể coi là phương thức phổ biến và lâu đời nhất.[27, tr.410]
1.3 Giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án
1.3.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án
Giải quyết tranh chấp QSDĐ tại tòa án và việc tòa án căn cứ vào các quy định của các chính sách pháp luật về đất đai để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình quản lý và sử dụng đất của các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật đất đai [13, tr 20]
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Thủ tục là những việc cụ thể phải làm theo một
trật tự quy định để tiến hành một công việc có tính chất chính thức” [32, tr.960]
Còn thuật ngữ sơ thẩm được giải thích trong Từ điển Giải thích Luật học (Phần Luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật tố tụng dân sự) của Trường Đại học Luật
Hà Nội là “Xét xử lần đầu vụ án dân sự” [26, tr.225] Từ đó có thể hiểu: Thủ tục sơ
thẩm là các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự để xét xử lần đầu vụ án dân sự
Theo các quy định của pháp luật hiện hành thì ở nước ta hiện nay cơ quan có thẩm quyền xét xử duy nhất là Tòa án nhân dân và thủ tục sơ thẩm được quy định trong BLTTDS Việc giải quyết các tranh chấp dân sự bao gồm cả tranh chấp đất đai tại Tòa án được thực hiện theo chế độ hai cấp xét xử là xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự
Trang 2921
Việt Nam được quy định tại khoản 6 Điều 103 Hiến pháp năm 2013, Điều 6 Luật tổ chức TAND và Điều 17 BLTTDS năm 2015
Từ những phân tích trên có thể định nghĩa:
Giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án nhân dân là việc Tòa án nhân dân tiến hành các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật TTDS để xem xét, giải quyết tranh chấp đất đai lần đầu tiên
Giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm bắt đầu từ khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện đến khi Tòa án ra bản án, quyết định sơ thẩm Bản án, quyết định sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị Nếu bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án
1.3.2 Đặc điểm giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án
Giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm có những đặc điểm sau:
- Giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm là việc Tòa án xét xử vụ
án tranh chấp đất đai lần đầu Bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngay và chưa phải là kết quả cuối cùng giải quyết tranh chấp vì nó có thể bị kháng cáo, kháng nghị Khi đó Tòa án cấp phúc thẩm sẽ xét xử lại vụ án đã được Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết Như vậy có thể hiểu, thủ tục sơ thẩm chính là thủ tục đầu tiên, bắt buộc phải có khi giải quyết vụ án tranh chấp đất đai Trên cơ sở thủ tục sơ thẩm thì mới làm phát sinh các thủ tục tố tụng tiếp theo, như thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án tranh chấp đất đai
- Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án phải tuân theo các quy định của BLTTDS về thẩm quyền theo vụ việc, thẩm quyền theo cấp và thẩm quyền theo lãnh thổ Tòa án không được tùy tiện giải quyết tranh chấp đất đai, mà chỉ được giải quyết những tranh chấp thuộc thẩm quyền của mình Ngoài ra về thẩm quyền theo cấp Tòa án thì chỉ có TAND cấp huyện hoặc TAND cấp tỉnh mới có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm các vụ án tranh chấp đất đai Tòa án
Trang 30là hình thức duy nhất được pháp luật Việt Nam ghi nhận là cơ sở pháp lí làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Không có hoạt động khởi kiện thì không có quá trình tố tụng dân sự cho các giai đoạn tiếp theo
- Việc giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm về nội dung phải căn cứ vào các quy định của Luật đất đai, Bộ luật dân sự, Luật công chứng, Luật xây dựng, Luật nhà ở, để xác định chứng cứ cũng như xác định các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự Ngoài ra hệ thống chính sách pháp luật về đất đai qua các thời kỳ có sự khác nhau nên trong quá trình giải quyết Tòa án phải nghiên cứu cả những văn bản pháp luật tại thời điểm phát sinh quan hệ đất đai và cả pháp luật hiện hành để có hướng giải quyết phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và thực tế sử dụng đất Còn về hình thức phải tuân theo các quy định của BLTTDS về thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm được quy định tại Phần thứ hai của BLTTDS năm 2015 (từ chương XII đến chương XIV) Bất cứ hành vi tố tụng nào không được tiến hành theo quy định của BLTTDS đều bị coi là vi phạm thủ tục tố tụng và nếu vi phạm đó là nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự thì sẽ khiến cho bản án, quyết định sơ thẩm bị hủy để giải quyết lại
- Quá trình giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm sẽ kết thúc khi Tòa án ra bản án, quyết định về việc giải quyết vụ án Bản án, quyết định sơ thẩm nếu không bị kháng cáo, kháng nghị sẽ có hiệu lực pháp luật và có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên tranh chấp, nếu các bên không tự nguyện thi hành thì sẽ bị cưỡng chế bằng quyền lực của Nhà nước thông qua cơ quan Thi hành án dân sự
Trang 3123
1.3.3 Ý nghĩa của giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án
So với các phương thức giải quyết tranh chấp đất đai khác thì việc giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án là một phương thức phổ biến, thường được các chủ thể lựa chọn xuất phát từ ý nghĩa của phương thức giải quyết này trong thực tiễn, cụ thể:
Thứ nhất, Toà án là một thiết chế của Nhà nước; hoạt động của Toà án là
một hoạt động rất đặc biệt và mang tính kỹ năng nghề nghiệp cao TAND được tổ chức theo một hệ thống độc lập nằm ngoài hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai Hơn nữa, Toà án có một đội ngũ Thẩm phán có năng lực, trình độ và kỹ năng xét xử Cơ chế vận hành của Toà án dựa trên nguyên tắc cơ bản “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” Do đó, giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án đảm bảo tính chính xác, công minh, các bên tranh chấp tin tưởng thực hiện
Thứ hai, Tòa án xét xử nhân danh quyền lực Nhà nước Các phán quyết của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, cơ quan, tổ chức
có trách nhiệm thực thi, nếu không tự nguyện sẽ bị cưỡng chế thi hành án Như vậy,
có thể thấy kết quả giải quyết tranh chấp đất đai thông qua Tòa án có hiệu lực pháp luật và được đảm bảo bằng quyền lực Nhà nước nên là cơ sở để giải quyết dứt điểm tranh chấp, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho các bên tham gia tranh chấp; nó cũng thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật
Thứ ba, nguyên tắc xét xử công khai của Toà án đảm bảo tính minh bạch cho
hoạt động của Toà án Hơn nữa, nguyên tắc này còn tạo điều kiện để người dân và công luận xã hội giám sát hoạt động xét xử của Toà án Vì vậy, phán quyết của Toà
án có tính thuyết phục cao đối với các bên đương sự
Thứ tư, hoạt động xét xử theo thủ tục sơ thẩm của Toà án được tiến hành
theo một quá trình tố tụng chặt chẽ theo quy định của pháp luật Do đó, dường như
nó loại trừ ở mức thấp nhất những sai sót trong việc đưa ra phán quyết của Tòa án,
Trang 321.4 Lý luận pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại tòa án
1.4.1 Khái niệm pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại tòa án
Hệ thống các quy tắc xử sự liên quan đến giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại tòa án là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh mọi quan hệ phát sinh trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án Pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại tòa án có những đặc điểm riêng sau đây:
Thứ nhất, pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại
tòa án điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại tòa án Các loại quan hệ này phát sinh trong quá trình tòa án giải quyết các tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm Các loại tranh chấp đất đai thường xảy ra như tranh chấp giữa những người sử dụng đất
về ranh giới giữa các vùng đất, đây có thể là tranh chấp về ranh giới đất liền kề, tranh chấp lối đi,…Loại tranh chấp này thường do một bên tự ý thay đổi ranh giới hoặc hai bên không xác định được với nhau về ranh giới, một số trường hợp
Trang 3325
chiếm luôn diện tích đất của người khác Loại tranh chấp thứ hai thường gặp là tranh chấp về quyền sử dụng đất có liên quan đến tranh chấp về địa giới hành chính Loại tranh chấp này thường xảy ra giữa người ở các địa phương giáp ranh với nhau Loại tranh chấp thứ ba thường gặp là tranh chấp đòi lại đất Thực chất đây là dạng tranh chấp đòi lại đất, đòi lại tài sản gắn liền với đất có nguồn gốc trước đây thuộc quyền sở hữu của họ hoặc người thân của họ mà do nhiều nguyên nhân khác nhau họ không còn quản lý, sử dụng nữa Bây giờ những người này đòi lại người đang quản lý, sử dụng dẫn đến tranh chấp: đất đã cho người khác mượn sử dụng mà không trả lại, hoặc tranh chấp giữa người dân tộc thiểu số với người đi xây dựng vùng kinh tế mới… …
Thứ hai, pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại tòa
án mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều quy phạm pháp luật của các ngành luật khác nhau, trong đó, có hai hệ thống pháp luật cơ bản là hệ thống pháp luật về đất đai, hệ thống pháp luật dân sự và pháp luật tố tụng dân sự Trong đó, pháp luật tố tụng dân sự chứa đựng các nguyên tắc, quy phạm xác định trình tự, thủ tục, thẩm quyền còn pháp luật về đất đai, pháp luật dân sự quy định về các vấn
đề liên quan đến việc xác định tính đúng đắn, hợp pháp về quyền sử dụng đất, cũng như mức bồi thường thiệt hại
Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa:
Pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại tòa án là hệ thống quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại tòa án nhằm bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất trong quá trình sử dụng đất được Nhà nước giao
1.4.2 Cấu trúc của pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại tòa án
Pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại tòa án bao gồm hai nhóm: Pháp luật nội dung và pháp luật hình thức
Trang 34Khi giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại tòa án, ngoài BLTTDS
là căn cứ để tòa án tiến hành các trình tự, thủ tục tố tụng trong xét xử, tòa án còn
sử dụng rất nhiều văn bản pháp luật nội dung có liên quan đến việc xác định tính hợp pháp của quyền sử dụng đất của các đương sự trong vụ án Các văn bản pháp luật này thường có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó LĐĐ là văn bản quan trọng nhất, ngoài ra còn có Luật Dân sự xác định quyền thừa kế tài sản, … và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành
1.4.2.2 Pháp luật tố tụng trong giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại tòa án
Luật tố tụng bao gồm những quy định pháp luật về quy trình, thủ tục để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại tòa án Luật tố tụng bao gồm nhiều quy định về trình tự, thủ tục trong quá trình đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm tại Tòa án Tòa án cần thiết phải thiết lập một quy trình tố tụng phù hợp với các quy định mà BLTTDS đặt ra Những quy định này đưa ra nhằm đảm bảo sự công bằng trong xét xử và tính nghiêm minh của luật pháp trong cả quá trình tố tụng
Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013, BLTTDS, Luật tổ chức Tòa án nhân dân
là các cơ sở pháp lý để tòa án thực hiện chức năng, nhiệm vụ xét xử các vụ án trong đó có giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại tòa án BLTTDS quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự, các trình tự tố tụng từ khi khởi kiện đến khi thụ lý, giải quyết vụ án; phân định thẩm quyền giải quyết vụ án của các Tòa án; quyền hạn trách nhiệm của những người tiến hành tố
Trang 3527
tụng; quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức người tham gia tố tụng; quy định các nguyên tắc cơ bản về thi hành án.v.v… nhằm đảm bảo việc giải quyết các tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm nhanh chóng, chính xác, công minh, đúng pháp luật
BLTTDS năm 2015 gồm 10 phần, 42 chương, 517 Điều có nội dung liên quan đến: những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự, trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, đất đai; trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, đất đai; trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân
sự tại Tòa án; thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài; thi hành án dân sự; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, của cá nhân, của cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có liên quan nhằm bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm theo trình tự tố tụng (dân sự): Người khởi kiện vụ án gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015 quy định khởi kiện của nguyên đơn, khởi kiện của bị đơn (nếu
bị đơn có yêu cầu phản tố) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (nếu họ có yêu cầu độc lập) Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp này được tiến hành theo một trình tự theo luật tố tụng dân sự, từ giai đoạn khởi kiện
vụ án, thụ lý, chuẩn bị xét xử, tổ chức hòa giải, tiếp cận, công khai chứng cứ, đưa
Trang 3628
vụ án ra xét xử, phiên tòa xét xử sơ thẩm, thủ tục kháng cáo, kháng nghị, phiên tòa xét xử phúc thẩm, giải quyết đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
Khởi kiện vụ án: người khởi kiện là bên nguyên đơn phải có đơn khởi kiện
và nộp kèm theo đơn là tài liệu chứng cứ đến Tòa
Thụ lý vụ án tranh chấp đất đai là việc Tòa án nhận đơn khởi kiện của người khởi kiện và vào sổ thụ lý án dân sự, tùy từng trường hợp mà thủ tục hòa giải tại UBND có thể là điều kiện thụ lý vụ án Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TANDTC ngày 05 tháng 05 năm 2017 về hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều
192 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi
kiện lại vụ án: "Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa
được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có
đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015
Đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp
về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất, thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải
là điều kiện khởi kiện vụ án"
Chuẩn bị xét xử tranh chấp đất đai là quá trình bao gồm nhiều công việc khác nhau như đo đạc, thẩm định, định giá đất tranh chấp, lập hồ sơ vụ án, tiến hành hòa giải vụ án…Căn cứ vào đơn khởi kiện, xét tài liệu chứng cứ kèm theo, thẩm phán phân công xét xử phải đưa vụ án ra xét xử
Mở phiên tòa xét xử sơ thẩm: Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự quy định phiên tòa phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử trong quá trình xét xử, các đương sự vẫn có quyền thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Sau khi xét xử, nếu không đồng ý với
Trang 3729
phán quyết của Tòa thì các bên vẫn có quyền kháng cáo để giải quyết theo trình
tự phúc thẩm
Kết luận chương 1
Chương 1 của luận văn đã làm rõ một số vấn đề lý luận về tranh chấp đất đai
và giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm trong đó đưa ra khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân phát sinh và phân loại tranh chấp đất đai; khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và các phương thức giải quyết tranh chấp đất đai; khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án Từ đó có thể thấy rằng tranh chấp đất đai là một hiện tượng tất yếu xảy ra trong xã hội xuất phát
từ tầm quan trọng của đất đai đối với đời sống của con người chính vì vậy mà giải quyết tranh chấp đất đai là một việc làm cấp thiết hiện nay để đảm bảo an ninh chính trị, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất Hiện nay, ở nước
ta có nhiều phương thức để giải quyết tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án được coi là phương thức phổ biến nhất Giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án theo thủ tục sơ thẩm được tiến hành qua nhiều cấp xét xử trong đó việc Tòa án tiến hành các thủ tục theo quy định của BLTTDS để xem xét giải quyết tranh chấp đất đai lần đầu tiên được gọi là thủ tục sơ thẩm
Trang 38
30
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
ĐẤT ĐAI THEO THỦ TỤC SƠ THẨM 2.1 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục sơ thẩm
Quy định của BLTTDS về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai không
phải là một trình tự, thủ tục sơ thẩm Tuy nhiên trước khi tìm hiểu các quy định của
BLTTDS năm 2015 về trình tự, thủ tục sơ thẩm giải quyết tranh chấp đất đai thì
phải nắm được Tòa án có thẩm quyền áp dụng các quy định này
2.1.1 Thẩm quyền theo loại vụ việc:
Theo quy định tại khoản 9 Điều 26 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai Cụ thể
theo quy định của Luật đất đai năm 2013 thì các tranh chấp đó là:
- Tranh chấp đất đai mà đương sự có giấy chứng nhận hoặc có một trong các
loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013;
- Tranh chấp về tài sản gắn liền với đất;
- Tranh chấp đất đai mà đương sự không có giấy chứng nhận hoặc không có
một trong các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 mà đương sự lựa
chọn hình thức khởi kiện tại TAND có thẩm quyền
Ngoài ra theo quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS năm 2015 Tòa án còn
có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự trong đó
có các giao dịch, hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất
Như vậy có thể thấy rằng thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh
chấp đất đai rất rộng, bao gồm tất cả các tranh chấp về quyền sử dụng đất và tranh
chấp liên quan đến quyền sử dụng đất
Trang 3931
2.1.2 Thẩm quyền theo cấp xét xử
Theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và Điều 37 BLTTDS năm 2015 thì đối với hầu hết các tranh chấp đất đai thẩm quyền giải quyết sơ thẩm đều thuộc về TAND cấp huyện TAND cấp tỉnh chỉ có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với một số trường hợp sau:
- Những tranh chấp đất đai mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài
- Các tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện nhưng TAND cấp tỉnh lấy lên để giải quyết khi xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của TAND cấp huyện
- Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa
án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ
sở của nguyên đơn nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết;
- Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết
Xét về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo lãnh thổ có điểm đặc biệt hơn so với các tranh chấp dân sự khác đó là đối với những vụ án có đối tượng tranh chấp là đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng thì chỉ Tòa án nơi có đất đai hoặc nhà, công, trình xây dựng, tài sản khác (tài sản) gắn liền với đất đai có thẩm quyền giải quyết Trong trường hợp đất đai, tài sản gắn liền với đất đai có ở nhiều nơi khác
Trang 40Ngoài ra, thì nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp đất đai trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 40 BLTTDS năm 2015
2.2 Khởi kiện và thụ lý vụ án tranh chấp đất đai
2.2.1 Khởi kiện và giải quyết đơn khởi kiện tranh chấp đất đai
2.2.1.1 Khởi kiện vụ án tranh chấp đất đai
Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác [24, tr.241]
Khởi kiện vụ án dân sự nói chung hay vụ án tranh chấp đất đai nói riêng chính là hành vi đầu tiên của cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các thủ thể khác theo quy định của pháp luật, là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân
sự Tòa án chỉ thụ lý, giải quyết vụ án khi có đơn khởi kiện của các chủ thể
Riêng đối với các tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất thì theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao phải được hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp thì mới được khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết Do đó khi xem xét đơn khởi kiện đối với tranh chấp quyền sử dụng đất Tòa án cần phải kiểm tra xem vụ án đã được hòa giải tại UBND cấp xã hay chưa thì mới nhận đơn hay hướng dẫn cho