1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính

87 8 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về giải pháp: Luận văn kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính như: sửa đổi, bổ sung một số quy định về thẩm quyền, căn cứ, thời hạn tạm đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

TRỊNH NGỌC DIỆU

TẠM ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT

VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài “Tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính” là công trình do chính tác

giả tìm hiểu, nghiên cứu và thực hiện Những nội dung, ý tưởng các tác giả khác trong các tài liệu tham khảo đều được trích dẫn đầy đủ theo đúng quy định Nội dung của Luận văn này không sao chép từ bất kỳ Luận văn hay tài liệu nào khác Tác giả chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính trung thực của Luận văn./

Tác giả

Trịnh Ngọc Diệu

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ TẠM ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH 5

1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính 5

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm vụ án hành chính 5

1.1.2 Khái niệm tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính 11

1.1.3 Đặc điểm và ý nghĩa của tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính 14

1.2 Quy định của pháp luật về tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính 20

1.2.1 Thẩm quyền tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính 20

1.2.2 Căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính 23

1.2.3 Thời hạn tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính 36

1.2.4 Hậu quả pháp lý của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính 37

1.2.5 Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 41

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN TẠM ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH VÀ KIẾN NGHỊ 42

2.1 Thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật về tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính 42

2.1.1 Tình hình chung về tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính 42

2.1.2 Những bất cập trong việc thực hiện pháp luật về tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính

45

2.2 Giải pháp 54

2.2.1 Hoàn thiện quy định của pháp luật về tạm đình chỉ giải quyết vụ án 54

2.2.2 Giải pháp khác 60

Trang 6

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 64 KẾT LUẬN 65 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, có nhiều sự kiện xảy ra làm cho việc giải quyết vụ án không được liên tục Tuy nhiên, nguyên tắc giải quyết vụ án hành chính với việc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích của các chủ thể là phải kịp thời, công bằng, công khai Cho nên việc gián đoạn giải quyết vụ

án hành chính phải có căn cứ và cơ sở pháp lý rõ ràng Chính vì vậy, Luật Tố tụng hành chính quy định các căn cứ tạm đình chỉ, hậu quả pháp lý của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính,… là cơ sở cho việc Toà án quyết định việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hành chính và thực trạng quy định của pháp luật còn chưa đồng nhất Xuất phát từ nhiều nguyên nhân

từ phía pháp luật và chủ thể áp dụng

Về phía pháp luật, hệ thống pháp luật tố tụng hành chính hiện hành chưa có hướng dẫn cụ thể các quy định liên quan đến căn cứ tạm đình chỉ, làm cho việc áp dụng còn chưa thống nhất và xuất hiện sai sót, vi phạm

Về chủ thể áp dụng, việc hiểu và vận dụng chính xác, thống nhất các quy định của pháp luật chưa chính xác một phần cũng do sự lạm dụng, chủ quan của Toà án trong quá trình giải quyết hành chính, để kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử hoặc do

cả nể trong quá trình giải quyết vụ án hành chính

Xuất phát từ những lý do nói trên, tác giả quyết định chọn đề tài Tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính là đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Kết quả khảo sát lịch sử nghiên cứu đề tài

Trong phạm vi tìm hiểu của tác giả qua hệ thống cơ sở dữ liệu các đề tài luận văn thạc sĩ của trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (cập nhật đến trước ngày bảo

vệ đề cương) thì chưa có đề tài thạc sĩ nghiên cứu về Tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả tìm được một số đề tài liên quan Phải kể

đến là các đề tài của tác giả Nguyễn Thị Huyền (2014), Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ

án hành chính, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tác giả Trần Linh

Huân (2014), Tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, Luận văn tốt nghiệp cử

Trang 8

nhân Luật, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tác giả Nguyễn Thị Hạnh (2013), Chuẩn

bị xét xử sơ thẩm vụ án hành chính, Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật, Đại học Luật

TP Hồ Chí Minh Những luận văn này là một trong số ít những tài liệu có liên quan

và giúp ích cho tác giả rất nhiều trong việc nghiên cứu đề tài luận văn thạc sĩ Luận văn của tác giả Trần Linh Huân đã khái quát được những vấn đề lý luận liên quan đến tạm đình chỉ giải quyết vụ án Đặc biệt là phân tích sâu các căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện Tuy nhiên, các nghiên cứu của tác giả Trần Linh Huân trên cơ sở quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2010 nên chưa bao quát hết các quy định của pháp luật hành chính hiện hành, đặc biệt là Luật Tố tụng hành chính năm 2015 với những quy định mới liên quan đến việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính Các đề tài luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Huyền (2014), và luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật của tác giả Nguyễn Thị Hạnh (2013) không nghiên cứu chuyên sâu về tạm đình chỉ mà chỉ

đề cập đến một phần trong việc ban hành các quyết định của Toà án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hành chính Các sách báo và tạp chí viết về tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính cũng khá ít, đáng kể là bài viết Vương Văn Bép (2016), “Trao đổi một số vấn đề về quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết

vụ án hành chính của Tòa án”, Tạp chí Kiểm sát, số 24/2016 Điều này cũng một

phần hạn chế về nguồn tài liệu tham khảo chuyên môn khi thực hiện luận văn Chính vì vậy, những quy định về tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính chưa được nghiên cứu ở cấp độ luận văn thạc sĩ Đặc biệt là những quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 chưa được nghiên cứu và phân tích chuyên sâu Điều này sẽ được tác giả phân tích và làm rõ trong phạm vi luận văn

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Tác giả nghiên cứu vấn đề tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính với mong muốn nâng cao hiệu quả, chất lượng của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính trong hoạt động tố tụng, hướng đến mục đích cuối cùng là nhằm bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu nội dung pháp lý và thực tiễn hoạt động tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính

Trong phạm vi của Luận văn, tác giả nghiên cứu về tạm đình chỉ trong các giai đoạn tố tụng hành chính, chủ yếu là giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm theo Luật Tố

Trang 9

tụng hành chính năm 2015; không nghiên cứu pháp luật nước ngoài Bên cạnh đó, Luận văn còn nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính qua những vụ việc tác giả thu thập được

5 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu trong từng chương như sau:

Chương 1: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích, liệt kê và so sánh để trình bày về cơ sở lý luận pháp lý và các quy định của pháp luật tố tụng hành chính về tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính

Chương 2: Luận văn sử dụng phương pháp số liệu, phân tích, thống kê, tổng hợp sử dụng trong chương 2 về đánh giá thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện

6 Dự kiến các điểm mới, các đóng góp mới về mặt lý luận

Luận văn là thành quả nghiên cứu về quy định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính Đây là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho những đọc giả nghiên cứu chuyên sâu về tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính Luận văn dự kiến đóng góp những vấn đề sau:

Về mặt lý luận: Luận văn làm rõ khái niệm, đặc điểm vụ án hành chính; khái

niệm, đặc điểm, ý nghĩa tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính là cơ sở lý luận cho việc đối chiếu các quy định của pháp luật, cũng như phân biệt quy định về tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính với những quy định khác của pháp luật

Về mặt pháp lý: Luận văn dự kiến làm rõ được những quy định của pháp luật

về tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính như: thẩm quyền tạm đình chỉ, căn cứ tạm đình chỉ, thời hạn tạm đình chỉ, hậu quả pháp lý của việc tạm đình chỉ và quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính Đây là cơ sở pháp lý của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, đảm bảo cho việc hiểu và áp dụng pháp luật chính xác và thống nhất

Về mặt thực tiễn: Luận văn đánh giá sơ lược về tình hình chung của việc tạm

đình chỉ giải quyết vụ án hành chính Đồng thời, Luận văn chỉ ra những bất cập của pháp luật về tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính cũng như những bất cập, vướng mắc về thực tiễn là cơ sở cho việc đề ra những giải pháp hoàn thiện

Trang 10

Về giải pháp: Luận văn kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về tạm

đình chỉ giải quyết vụ án hành chính như: sửa đổi, bổ sung một số quy định về thẩm quyền, căn cứ, thời hạn tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, tạm đình chỉ trong trường hợp tạm ngừng phiên tòa, tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án; hướng dẫn

áp dụng pháp luật về tạm đình chỉ đối với những quy định chưa rõ ràng, chưa cụ thể

mà đã gây khó khăn cho vệc hiểu và áp dụng chính xác, thống nhất như đương sự yêu cầu tạm đình chỉ giải quyết vụ án, thủ tục quyết định tạm đình chỉ sau khi tạm ngừng phiên tòa, khi nào cần lắng nghe ý kiến của đương sự khi phiên họp phúc thẩm xem xét quyết định bị kháng cáo, kháng nghị Bên cạnh đó, Luận văn đề cập một số giải pháp khác mang tính thực tiễn như chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp;

cơ chế kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án; cơ chế phối hợp giữa cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương Đây là những giải pháp cần thiết cho việc hoàn thiện quy định về tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính

và việc áp dụng quy định này trong thực tiễn chính xác và thống nhất trong thời gian tới

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ TẠM ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm vụ án hành chính

a) Khái niệm

nghĩa là thuộc phạm vi quản lý, chỉ đạo việc thi hành chính sách, pháp luật của Nhà

cần được xem xét, giải quyết trước Toà án Từ đó, VAHC có thể hiểu là sự việc tranh chấp về quyền lợi phát sinh từ hoạt động chỉ đạo, quản lý việc chấp hành luật pháp, chính sách của Nhà nước được xem xét, giải quyết bởi Toà án Định nghĩa này chưa thật sự thể hiện được nội hàm của vụ án hành chính trong pháp luật tố tụng hành chính Định nghĩa chỉ làm nổi bật được nội dung trong vụ án hành chính

là những tranh chấp phát sinh trong hoạt động chỉ đạo, quản lý và được giải quyết bởi cơ quan là Tòa án, chưa làm rõ được hành vi khởi kiện của cá nhân, cơ quan, tổ chức- là một trong những tiền đề quan trọng phát sinh vụ án hành chính trong tố tụng hành chính

Về mặt thuật ngữ luật học, “Vụ án hành chính là vụ án phát sinh tại Tòa hành

chính do cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức khởi kiện ra Tòa án yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.”6 Định nghĩa này về cơ bản thể hiện được các nội hàm như hành vi khởi kiện của cá nhân, cơ quan, tổ chức Tuy nhiên không thể hiện được hành vi thụ lý vụ án của Tòa án, cũng chưa thể hiện được đối tượng khởi kiện, đối tượng cần xem xét trong vụ án hành chính

4

Nguyễn Văn Xô (chủ biên) (2008), tlđd (2), tr 10

Trang 12

Trong pháp luật tố tụng hành chính, khái niệm “vụ án hành chính” không

được giải thích tại Điều 3 Luật TTHC năm 2015 cũng như Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính và Luật TTHC năm 2010 cũng không đề cập đến khái niệm này Cho nên, nhiều tác giả nghiên cứu về tố tụng hành chính đưa ra các khái niệm khác nhau về vụ án hành chính

Tác giả Nguyễn Thanh Bình, “Vụ án hành chính là vụ án phát sinh tại Tòa

hành chính có thẩm quyền do có cá nhân, cơ quan Nhà nước hay tổ chức khởi kiện

ra trước Tòa án yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”7 Định nghĩa này về cơ bản giống như trong từ điển về thuật ngữ luật học phân tích ở trên, nhưng tác giả đã nhấn mạnh thêm rằng vụ án hành chính phát sinh tại Tòa án có thẩm quyền giải quyết, bao gồm thẩm quyền về cấp tòa án, thẩm quyền theo lãnh thổ và

thẩm quyền theo loại việc Theo trường Đại học Luật Hà Nội, “Vụ án hành chính là

vụ việc tranh chấp hành chính phát sinh do cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc.”8

Định nghĩa này đã làm rõ được đối tượng cần xem xét trong vụ án hành chính, bằng cách liệt kê cụ thể: quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc; hành vi khởi kiện của cá nhân, cơ quan, tổ chức

Tuy là Luật TTHC không quy định về định nghĩa khái niệm vụ án hành chính

là gì, nhưng thông qua các quy định của luật, có thể hình dung được nội hàm của khái niệm vụ án hành chính Theo đó, VAHC là vụ án phát sinh trong trình tự tố tụng hành chính VAHC phát sinh sau khi thụ lý vụ án hành chính Như vậy, VAHC

là hệ quả của hoạt động thụ lý vụ án mà dấu hiệu pháp lý là Toà án ban hành thông báo thụ lý vụ án Cho nên, điều kiện phát sinh vụ án hành chính là điều kiện thụ lý

vụ án hành chính Một vụ án hành chính chỉ phát sinh khi:

Thứ nhất, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quyền khởi kiện vụ án hành

chính Chủ thể thực hiện hành vi khởi kiện phải là người chịu tác đông trực tiếp bởi quyết định hành vi hành chính, đồng thời phải thỏa mãn các điều kiện về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và chưa được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định

đã có hiệu lực của Tòa án Cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện việc khởi kiện phải có

Trang 13

năng lực chủ thể tố tụng hành chính và có quyền khởi kiện vụ án hành chính Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc khởi kiện, pháp luật tố tụng hành chính cho phép người khởi kiện có thể nộp đơn trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua đường bưu điện Theo quy định của Luật TTHC năm 2015 quy định người đủ 18 tuổi trở lên phải tự mình thực hiện việc khởi kiện vụ án hành chính Đối với người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ thực hiện việc khởi kiện

Luật TTHC năm 2015 cũng quy định tương tự đối với trường hợp là cơ quan,

tổ chức khởi kiện và đương sự là cơ quan, tổ chức trong vụ án hành chính Theo đó,

cơ quan, tổ chức có thể khởi kiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo uỷ quyền

Thứ hai, Tòa án thụ lý vụ án hành chính Nếu việc khởi kiện của cá nhân, cơ

quan, tổ chức là điều kiện cần thì việc thụ lý của Tòa án là điều kiện đủ làm phát sinh vụ án hành chính

Theo trình tự tố tụng, trước khi Toà án tiến hành thụ lý vụ án thì việc xem xét đơn khởi kiện và các điều kiện khởi kiện là một việc quan trọng quyết định đến việc

có thụ lý hay không thụ lý yêu cầu khởi kiện, phát sinh vụ án hành chính Bên cạnh việc xem xét các điều kiện về đơn khởi kiện, các tài liệu kèm theo đơn khởi kiện do người khởi kiện cung cấp, có thuộc thẩm quyền giải quyết hay không Đó còn là việc thẩm phán được phân công giải quyết vụ án xem xét các điều kiện về nội dung như: người khởi kiện có quyền khởi kiện hay không, người bị kiện là ai, đối tượng khởi kiện là gì, còn thời hiệu khởi kiện hay không

Toà án tiến hành thụ lý vụ án khi người khởi kiện xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí, trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tạm ứng án phí thì thông báo cho người khởi kiện biết về việc thụ lý vụ án Dấu hiệu của việc thụ lý vụ

án là việc ghi vào sổ thụ lý vụ án

Khái niệm vụ án hành chính phải thể hiện đầy đủ hai điều kiện về hành vi khởi kiện và việc thụ lý vụ án của Toà án Việc xem xét các điều kiện để thụ lý vụ án gồm nhiều điều kiện về nội dung và hình thức Tác giả cũng đồng ý với quan điểm của tác

giả Trần Linh Huân: “Vụ án hành chính là vụ án phát sinh sau khi cá nhân, cơ quan,

tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét tính hợp pháp của đối tượng

Trang 14

khiếu kiện hành chính theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi có căn cứ cho rằng đối tượng khiếu kiện này

là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp cả bản thân và được Tòa

án có thẩm quyền thụ lý theo quy định của pháp luật.”9

Vì khái niệm này đã diễn đạt đầy đủ được những dấu hiệu làm phát sinh vụ án hành chính là: cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện quyền khởi kiện và Tòa án tiến hành thụ lý theo đúng thẩm quyền Bên cạnh đó, khái niệm còn xác định được đối tượng khởi kiện, chủ thể khởi kiện và thẩm quyền giải quyết Tuy nhiên, cá nhân, cơ quan, tổ chức không cần phải có căn

cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính đó là trái pháp luật mới có quyền khởi kiện, chủ thể khởi kiện chỉ cần nhận thấy không đồng ý với quyết định

án phát sinh khi cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện việc khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của đối tượng khởi kiện theo quy định của Luật Tố tụng hành chính xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân và được Tòa án có thẩm quyền thụ lý theo quy định của pháp luật

b) Đặc điểm

Đặc điểm là dấu hiệu để phân biệt các sự vật, hiện tượng Đặc điểm của vụ án hành chính là yếu tố để phân biệt vụ án hành chính với vụ án dân sự Đặc thù của mỗi loại vụ án làm nên đặc trưng của chúng và dấu hiệu để phân biệt VAHC có những đặc điểm khác biệt với vụ án khác Những đặc điểm của vụ án hành chính cụ thể như sau:

Thứ nhất, về người khởi kiện: trong vụ án hành chính, cơ quan, tổ chức, cá

nhân thực hiện quyền khởi kiện là người bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính Cho nên, người khởi kiện trong vụ án hành chính là bên yếu thế trong quan hệ hành chính, người bị áp dụng bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, mang quyền lực nhà nước, đơn phương và bất bình đẳng Trong

vụ án dân sự, người thực hiện quyền khởi kiện gọi là nguyên đơn, người bị kiện gọi

là bị đơn, giữa nguyên đơn và bị đơn không có sự bất bình đẳng về địa vị pháp lý, mối quan hệ được xác lập giữa nguyên đơn và bị đơn mang tính chất dân sự, trên

Trang 15

nguyên tắc tự do thoả thuận, bình đẳng, tranh chấp phát sinh giữa họ dựa trên quan

hệ dân sự này

Thứ hai, về người bị kiện: người bị kiện trong vụ án hành chính là chủ thể

mang quyền lực nhà nước trong quan hệ hành chính Đặc điểm này xuất phát từ đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính, hành vi hành chính và người bị kiện là cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Như vậy, trong quan hệ pháp luật hành chính, mối quan hệ giữa người bị kiện và người khởi kiện là quan hệ giữa người quản lý và người bị quản lý.Chính vì vậy, có sự bất bình đẳng về địa vị pháp lý giữa hai chủ thể, luôn luôn có sự đối lập về lợi ích khi phát sinh tranh chấp

Vì sự chênh lệch về địa vị pháp lý trong hoạt động quản lý nhà nước như vậy nên khi phát sinh vụ án hành chính, mâu thuẫn quyền lợi giữa hai chủ thể này thì đòi hỏi pháp luật tố tụng hành chính phải tạo điều kiện, cơ sở pháp lý vững chắc để đảm bảo sự công bằng và bình đẳng giữa người khởi kiện và người bị kiện khi tham gia tố tụng hành chính Một trong những nguyên tắc chỉ đạo trong tố tụng hành chính đó là đảm bảo sự bình đẳng giữa các đương sự trong tố tụng hành chính.Từ

đó, các quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của người khởi kiện và người bị kiện được quy định trên nguyên tắc bình đẳng này Trước hết là để tạo tâm lý an tâm cho

cơ quan, tổ chức, cá nhân khi khởi kiện vụ án hành chính ra Toà án, yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tin vào công lý và sự công bằng, công minh của pháp luật Hơn nữa, nguyên tắc này giúp cho hoạt động tố tụng hành chính được khách quan, công bằng, là một kênh quan trọng giúp bảo vệ công lý và chính nghĩa

Thứ ba, về đối tượng xem xét trong vụ án hành chính, tính hợp pháp của

quyết định hành chính, hành vi hành chính là đối tượng xem xét trong vụ án hành chính Tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính là một trong yêu cầu của việc ban hành quyết định hành chính, khi nó là hình thức thể hiện mang quyền lực nhà nước Tính hợp pháp thể hiện ở những yêu cầu sau:

Một là, quyết định hành chính phải được ban hành bởi chủ thể có thẩm quyền

Hay nói cách khác, phải tuân thủ các quy định của pháp luật về thẩm quyền ban

Trang 16

hành từng loại quyết định hành chính Thể hiện trên hai phương diện: thẩm quyền

về nội dung và thẩm quyền về hình thức

Thẩm quyền về nội dung là quyết định hành chính phải được ban hành bởi người có thẩm quyền thực hiện những công việc liên quan đến chức năng, nhiệm

vụ, không được vượt quyền, lạm quyền Thẩm quyền về hình thức là quyết định đó phải được ban hành đúng hình thức (tên gọi, thể thức trình bày) đã được pháp luật

Hai là, quyết định hành chính phải phù hợp với các quy định về nội dung,

cũng như mục đích Bởi vì quyết định hành chính là văn bản dưới luật Không được trái với văn bản của Quốc hội, Hội đồng nhân dân và của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên Có nghĩa là quyết định hành chính được ban hành trên cơ sở áp dụng đúng pháp luật Nội dung quyết định hành chính ban hành trên cơ sở của các quy định pháp luật đang có hiệu lực thi hành vào thời điểm ban hành quyết định hành

Ba là, quyết định hành chính phải ban hành theo đúng trình tự, thủ tục và hình

thức do pháp luật quy định, được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp

Chính vì vậy, khi xem xét và giải quyết vụ án hành chính, để xác định tính hợp pháp của đối tượng khởi kiện cần căn cứ vào ba yêu cầu về tính hợp pháp nói trên của quyết định hành chính về cả nội dung và hình thức của quyết định hành chính Bên cạnh đó, Toà án có thể xem xét tính hợp pháp của văn bản hành chính, hành vi hành chính có liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện và kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại văn bản hành chính, hành vi hành chính đó và trả lời kết quả cho Toà án Toà án có quyền kiến nghị xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật nếu phát hiện văn bản đó trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên Nếu trong thời hạn quy định và không nhận được văn bản trả lời

Trang 17

Người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính Và họ có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng

cứ chứng minh cho yêu cầu của mình Xét thấy cần thiết, Toà án có thể tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết yêu cầu được chính xác Trường hợp chưa có điều kiện chứng minh, Toà án có thể tách yêu cầu bồi thường thiệt hại

1.1.2 Khái niệm tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính

Theo quy định của Luật TTHC thì vụ án hành chính phải được giải quyết trong một khoảng thời gian nhất định, nếu hết thời hạn tối đa mà luật cho phép mà

vụ án vẫn chưa được giải quyết thì sẽ vi phạm thời hạn Chính vì vậy, mọi Tòa án đều cố gắn giải quyết trong thời hạn luật định Trên thực tế, có nhiều sự kiện xuất hiện làm cho mọi nổ lực hết sức của Tòa án cũng không thể giải quyết vụ án đúng hạn Vì vậy, Luật TTHC đã quy định những trường hợp tạm dừng giải quyết vụ án, chứ không phải là dừng vĩnh viễn hay không giải quyết vụ án nữa Một trong những quy định làm tạm dừng việc giải quyết vụ án hành chính là quy định về tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính

Theo từ điển tiếng Việt, “tạm” là chỉ trong một thời gian nào đó, khi có điều

Như vậy, về mặt ngữ nghĩa, “tạm đình chỉ” được hiểu là việc ngừng một việc gì đó

một thời gian nào đó, khi có điều kiện thì sẽ thay đổi Cũng có thể hiểu là tạm đình chỉ là việc ngừng một việc gì đó trong một thời gian nào đó, khi có điều kiện thay đổi thì việc đó sẽ được tiếp tục thực hiện

Cách định nghĩa của từ điển tiếng Việt đã thể hiện đặc trưng của việc tạm đình chỉ là tạm ngừng một thời gian, sau đó sẽ được tiếp tục khi điều kiện thay đổi Tuy nhiên, vì là giải thích về mặt ngữ nghĩa nên đây là định nghĩa chung chung, chưa thể hiện được đặc trưng của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, dẫn đến không phân biệt được các khái niệm tạm đình chỉ giải quyết vụ án hình sự hay tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Theo đó, có quan điểm cho rằng, tạm đình chỉ giải

Trang 18

quyết vụ án hành chính là việc Toà án có thẩm quyền sau khi thụ lý vụ án và phát hiện những căn cứ theo quy định của pháp luật đã ra quyết định tạm dừng việc giải

gì, đồng thời chưa thể hiện được việc vụ án tiếp tục được giải quyết khi căn cứ tạm

đình chỉ không còn Theo Đại học Luật Hà Nội thì “Tạm đình chỉ giải quyết vụ án

là việc Thẩm phán được giao giải quyết vụ án ra quyết định tạm thời dừng giải quyết vụ án vì có những lý do nhất định làm cho vụ án không thể tiếp tục giải quyết được, khi những lý do đó không còn nữa thì được giải quyết vụ án” 20 Quan điểm này thể hiện được tính chất tạm dừng việc giải quyết vụ án và tiếp tục giải quyết khi căn cứ tạm đình chỉ không còn; tuy nhiên, định nghĩa vẫn chưa chỉ rõ căn cứ tạm đình chỉ, cũng như việc chủ thể có thẩm quyền tạm đình chỉ giải quyết vụ án chưa

bao quát Theo tác giả Đoàn Tấn Minh, “tạm đình chỉ giải quyết vụ án là việc Tòa

án có thẩm quyền tạm ngừng việc giải quyết vụ án hành chính khi có căn cứ do Luật

Tố tụng hành chính quy định cho đến khi lý do của việc tạm đình chỉ đó không

vụ án là việc Tòa án có thẩm quyền tạm dừng việc giải quyết vụ án hành chính khi

có căn cứ tạm đình chỉ do Luật Tố tụng hành chính quy định Vụ án sẽ được tiếp tục đưa ra xét xử khi căn cứ tạm đình chỉ không còn.”22

Hai quan điểm này có phần đầy

đủ nội hàm hơn so với các khái niệm phân tích ở trên nhưng chưa thể hiện được giai đoạn áp dụng của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án Bên cạnh đó khái niệm của Đại học Luật Hà Nội cũng chưa nhấn mạnh vụ án sẽ tiếp tục giải quyết khi căn cứ tạm đình chỉ không còn

Nghiên cứu các quy định của Luật TTHC năm 2015 về tạm đình chỉ giải quyết

vụ án, có thể thấy rằng tạm đình chỉ giải giải quyết vụ án là việc áp dụng của Toà án

có thẩm quyền trong quá trình giải quyết vụ án hành chính sau khi đã tiến hành thụ

lý vụ án Bởi lẽ, vụ án hành chính chỉ phát sinh khi Tòa án đã tiến hành thủ tục thụ

lý, lúc này mới xác định được thẩm quyền của Tòa án theo cấp giải quyết vụ án hành chính Cụ thể, tạm đình chỉ giải quyết vụ án chỉ áp dụng trong giai đoạn chuẩn

19

Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, Luật Tố tụng hành chính Việt Nam- Những nội dung cơ bản, câu

hỏi và tình huống, Nguyễn Thị Thương Huyền, NXB Lao động, tr.139

nại hành chính tại Tòa, NXB Lao động, tr 102

Hội Luật gia Việt Nam, tr 277

Trang 19

bị xét xử, xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm vụ án hành chính Tạm đình chỉ giải quyết vụ án không áp dụng trong thủ tục xem xét lại bản án quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm vụ án hành chính Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định

Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, pháp luật không quy định về tạm đình chỉ giải quyết vụ án mà chỉ quy định về tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án là vì cấp phúc thẩm là cấp xét xử lại vụ án khi bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực bị kháng cáo, kháng nghị Do vậy, khi Tòa án cấp phúc thẩm phát hiện Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm về việc quyết định tạm đình chỉ thì không thể ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án mà phải đề nghị chủ thể có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm để xem xét lại vì lúc này quyết định tạm đình chỉ đó đã có hiệu lực thi hành Nếu Tòa án cấp phúc thẩm phát hiện căn cứ tạm đình chỉ trong giai đoạn xét xử phúc thẩm thì Tòa án quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ

án, không quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính

Quyết định việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án khi và chỉ khi xuất hiện các căn

cứ làm gián đoạn việc giải quyết vụ án Những căn cứ này tác động trực tiếp đến quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không thể tiếp tục giải quyết vụ án, buộc phải tạm dừng Như vậy, căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án phải có liên quan đến vụ án đang được giải quyết Tính liên quan thể hiện ở việc căn cứ phát sinh liên quan đến chứng cứ, chứng minh trong vụ án, liên quan đến đương sự trong vụ án, thời hạn giải quyết, Tuy nhiên, các căn cứ không thể tùy nghi cho chủ thể áp dụng mà phải được quy định cụ thể, rõ ràng trong Luật TTHC, tránh trường hợp lạm dụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Hình thức tạm đình chỉ phải bằng một quyết định Bởi vì đây là một quyết định mang tính pháp lý, ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự trong vụ án Quyết định này được tống đạt cho đương sự, Viện kiểm sát Do đó, buộc phải thể hiện bằng một hình thức cụ thể là văn bản

Như vậy, khái niệm tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính phải đầy đủ các nội hàm: là một quyết định của Toà án có thẩm quyền, được áp dụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm vụ án, không được ban

Trang 20

hành tùy nghi mà phải dựa trên căn cứ của Luật TTHC và vụ án phải được tiếp tục giải quyết khi căn cứ ấy không còn

Theo đó, tác giả Trần Linh Huân đưa ra khái niệm khá hoàn chỉnh: “Tạm đình

chỉ giải quyết vụ án hành chính là việc Tòa án có thẩm quyền sau khi thụ lý giải quyết vụ án hành chính đã ra quyết định tạm dừng việc giải quyết vụ án khi phát hiện có căn cứ tạm đình chỉ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính; vụ án sẽ được tiếp tục đưa ra giải quyết khi căn cứ đó không còn.”24 Tuy nhiên, khái niệm này đề cập đến giai đoạn áp dụng còn chung chung, chưa cụ thể

Trên cơ sở nghiên cứu và tiếp thu ý kiến của các nhà nghiên cứu Luật học, tác

giả đưa ra khái niệm tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính như sau: Tạm đình

chỉ giải quyết vụ án hành chính là việc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm vụ án, Toà án có thẩm quyền quyết định tạm dừng việc giải quyết vụ án khi có căn cứ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính và Toà án tiếp tục giải quyết vụ án khi lý do tạm đình chỉ không còn

Tạm đình chỉ giải quyết vụ án không phải là một cách giải quyết vụ án mà nó

1.1.3 Đặc điểm và ý nghĩa của tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính

a) Đặc điểm

Việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án chỉ là việc tạm thời ngừng giải quyết vụ án trong một thời gian, chứ không phải chấm dứt việc giải quyết vụ án, đình chỉ tố tụng Vì trên thực tế, vụ án hành chính chỉ bị tạm dừng giải quyết trong một thời hạn mà sau đó sẽ phải tiếp tục giải quyết cho đến cùng bằng việc đưa vụ án hành chính ra xét xử hoặc Toà án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đó Chính vì vậy, pháp luật quy định “bỏ ngõ” việc xử lý tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp, việc không xoá tên vụ án trong sổ thụ lý, trách nhiệm đôn đốc, theo dõi việc khắc phục lý do dẫn đến tạm đình chỉ hay quy định về tiếp tục giải quyết vụ án khi lý do tạm đình chỉ không còn Pháp luật không quy định thời hạn tạm đình chỉ, mà việc tạm đình chỉ dài hay ngắn phụ thuộc vào diễn biến của căn cứ tạm đình chỉ Khi căn

cứ không còn, thì phải đưa vụ án ra tiếp tục giải quyết Điều này chứng tỏ, vụ án

Trang 21

hành chính vẫn đang và sẽ được tiếp tục giải quyết và quy định về tạm đình chỉ không phải là một cách giải quyết vụ án hành chính

Tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, tạm đình chỉ giải quyết vụ án không phải là một cách giải quyết vụ

án Đây là đặc điểm quan trọng của tạm đình chỉ giải quyết vụ án

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án buộc phải ban hành một trong ba loại quyết định: đưa vụ án ra xét xử, tạm đình chỉ giải quyết vụ án và đình chỉ giải quyết vụ án thay cho việc đánh dấu bước ngoặc của quá trình giải quyết vụ án hoặc kết thúc việc giải quyết vụ án Theo đó, quyết định tạm đình chỉ không làm kết thúc vụ án, cũng không phải là kết quả giải quyết cuối cùng của vụ án đó Quyết định này chỉ làm tạm thời ngừng tố tụng trong một thời gian để chủ thể có thẩm quyền có thêm thời gian xác minh, thu thập tài liệu phục vụ cho việc giải quyết vụ án được chính xác, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và chất lượng hoạt động xét xử Khi những nội dung cần làm rõ đã được sáng tỏ thì vụ án tiếp tục được khôi phục giải quyết Trong khi đó, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án làm cho vụ án chấm dứt, là một hình thức giải quyết vụ án theo con đường tố tụng Quyết định đình chỉ làm kết thúc cả về thủ tục và giải quyết nội

phải là một cách giải quyết vụ án

Thứ hai, căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính do Luật TTHC

quy định

Nước ta nằm trong hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, nguồn luật chủ yếu là nguồn thành văn, nguồn không thành văn chỉ là nguồn bổ sung Bên cạnh đó, Thẩm

quyết của Tòa án đều phải dựa trên cơ sở pháp luật

Mặt khác, nguyên tắc của Luật TTHC là giải quyết vụ án kịp thời, khách quan

và công bằng đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Nguyên tắc Toà án xét xử kịp thời thể hiện thông qua việc Toà án xét xử kịp thời trong thời hạn

do luật quy định Trong trình tự tố tụng, các giai đoạn của quá trình tố tụng được

Trang 22

quy định cụ thể và mạch lạc, thời hạn giải quyết vụ án quy định cụ thể và cụ thể hoá trong từng giai đoạn Đó là điều kiện cần để đảm bảo nguyên tắc xét xử kịp thời Đảm bảo đúng thời hạn luật định trong quá trình giải quyết vụ án hành chính là yêu cầu nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng, có những sự kiện pháp lý phát sinh làm cho quá trình tố tụng không thể liên tục và xuyên suốt được Nếu Thẩm phán bất chấp giải quyết thì có thể không đảm bảo quyền tham gia tố tụng của đương sự Do đó, việc Toà án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền

phải dựa trên những quy định cụ thể Đặc điểm này nhằm đảm bảo các quyền tố tụng của đương sự, đảm bảo tính chính xác, đúng đắn và áp dụng thống nhất quy định của pháp luật về tạm đình chỉ, cũng tránh sự áp dụng tuỳ tiện quy định về tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính nhằm những mục đích khác nhau Theo đó, Toà án chỉ được ban hành quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính khi

có căn cứ quy định theo Luật TTHC năm 2015 Các quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính không dựa trên căn cứ quy định sẽ không đảm bảo tính hợp pháp, có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật

Thứ ba, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính được áp dụng ở

giai đoạn chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm vụ án hành chính Căn cứ tạm đình chỉ dựa trên các sự kiện pháp lý khách quan nên những căn

cứ này có thể xảy ra ở bất kì giai đoạn nào của tố tụng hành chính như: chuẩn bị xét

xử, xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm vụ án Tuy nhiên, nếu có căn cứ tạm đình chỉ ở giai đoạn xét xử phúc thẩm thì Tòa án quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án mà không phải là tạm đình chỉ giải quyết vụ án Như vậy, cần phân biệt giữa tạm đình chỉ giải quyết vụ án và tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính Về cơ bản căn cứ áp dụng, hậu quả pháp lý của hai quy định này là giống

giải quyết vụ án thì tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm chỉ làm tạm dừng hoạt động tố tụng xét xử phúc thẩm vụ án Thẩm quyền ban hành quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm là Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán, không có Hội thẩm nhân nhân

28

Nguyễn Thị Hạnh (2013), Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hành chính, Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật,

Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tr 28

Trang 23

Thủ tục ban hành quyết định có thể tại phiên tòa hoặc phiên họp Và một điểm khác biệt nữa là quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay,

Thứ tư, tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính chỉ mang tính chất tạm thời,

không phải là dừng hẳn việc giải quyết vụ án hành chính Chính vì vậy mà đa số các

căn cứ tạm đình chỉ quy định theo cách dùng từ “Cần đợi kết quả…” hoặc “…chưa

xác định được…” Những căn cứ này mang tính tạm thời và sẽ thay đổi trong tương

lai Khi đó vụ án sẽ tiếp tục được giải quyết Theo đó, vụ án tạm dừng có tính chất tạm thời nên vụ án hành chính không bị xoá tên trong sổ thụ lý, mà chỉ ghi chú là tạm đình chỉ giải quyết và vẫn tiếp tục theo dõi Tạm ứng án phí, lệ phí được lưu giữ và xử lý khi vụ án được tiếp tục giải quyết Đây là đặc điểm phân biệt với việc đình chỉ giải quyết vụ án hành chính (dừng hẳn việc giải quyết vụ án)

Thứ năm, về hậu quả pháp lý Tạm đình chỉ không phải làm chấm dứt hoàn

toàn quá trình giải quyết vụ án sau đó nên khi lý do tạm đình chỉ không còn, Toà án phải tiếp tục giải quyết vụ án Khi đó, Toà án phải ra quyết định về việc tiếp tục giải quyết vụ án hành chính và huỷ bỏ quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án có thể bị kháng cáo và kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Tuy nhiên, điểm cần lưu ý là quyết định tạm đình chỉ xét xử phú thẩm có hiệu lực thi hành ngay

Thứ sáu, thời hạn tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính là không xác định

Trong quá trình giải quyết vụ án, khi phát hiện các căn cứ cho việc tạm đình chỉ thì Toà án quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính và khi lý do tạm đình chỉ không còn, Toà án ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án hành chính và huỷ bỏ quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án Như vậy, thời hạn tạm đình chỉ giải quyết

vụ án được tính kể từ khi ban hành quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án đến khi Toà án ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án hành chính và huỷ bỏ quyết định tạm đình chỉ

Bên cạnh quy định về tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, pháp luật Tố tụng hành chính còn có một số quy định về việc tạm dừng việc giải quyết vụ án có tính chất tương tự với tạm đình chỉ Tuy nhiên, cùng với tính chất tạm dừng giải quyết nhưng mỗi quy định có những đặc điểm khác nhau, giúp phân biệt và áp dụng

Trang 24

đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quá trình giải quyết vụ án đúng đắn và chính xác nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng Đó là quy định về hoãn phiên toà và tạm ngừng phiên toà

Hoãn phiên toà là việc chuyển, thay đổi thời điểm mở phiên toà sang thời điểm khác muộn hơn Có thể hiểu là việc Toà án chuyển thời điểm tiến hành phiên toà đã định trước đó sang thời điểm khác muộn hơn khi có những căn cứ pháp luật quy định Các căn cứ này chủ yếu liên quan đến việc vắng mặt của người tham gia

tố tụng, thay đổi người tiến hành tố tụng,… Nếu thời hạn tạm đình chỉ giải quyết vụ

án hành chính là không xác định thì thời hạn hoãn là xác định, thời điểm mở lại phiên toà được ấn định cụ thể trong Quyết định hoãn phiên toà Thời hạn hoãn không quá 30 ngày hoặc không quá 15 ngày đối với thủ tục rút gọn Thẩm quyền tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính có thể là Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hành chính hoặc Hội đồng xét xử, tuỳ thuộc vào giai đoạn tiến hành tố tụng Việc ban hành quyết định hoãn phiên toà thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét

xử và thường được tiến hành ở thủ tục bắt đầu phiên toà

Tạm ngừng phiên toà được hiểu là việc Toà án không thể tiếp tục tiến hành các hoạt động tố tụng trong thời gian nhất định khi có căn cứ do pháp luật quy định Các căn cứ đó chủ yếu phát sinh do đột ngột về tình trạng sức khoẻ hoặc sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan, hoặc những phát hiện tại Toà nhưng không thể bổ sung hay giải quyết ngay được,… Thời hạn tạm ngừng là xác định, không quá 30 ngày kể từ ngày Toà án quyết định tạm ngừng phiên toà Việc tạm ngừng phiên toà không thể hiện bằng hình thức là quyết định mà được ghi vào biên bản phiên toà Thẩm quyền quyết định việc tạm ngừng phiên toà là Hội đồng xét xử Việc tạm ngừng phiên toà có thể là thủ tục phát sinh việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án khi đã hết thời hạn tạm ngừng phiên toà mà lý do tạm ngừng chưa khắc phục được Khi đó, Hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án

Như vậy, tuy về bản chất có điểm giao thoa giữa các quy định về việc tạm dừng mang tính chất tạm thời, nhưng mỗi quy định có những đặc điểm riêng về thời hạn, thẩm quyền áp dụng và được áp dụng trong những căn cứ nhất định Có thể khái quát sự khác nhau các quy định trên như sau:

Trang 25

Tiêu chí Tạm đình chỉ Hoãn phiên toà Tạm ngừng phiên toà Thẩm quyền Thẩm phán/ Hội đồng

Xét xử sơ thẩm/ phúc thẩm

Xét xử sơ thẩm/ phúc thẩm

Thời hạn Không xác định Không quá 30 ngày/ 15

30 ngày)

Hình thức

thể hiện

Quyết định tạm đình chỉ/ Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án

Quyết định hoãn phiên toà/ Thông báo mở lại phiên toà (nếu thay đổi thời gian và địa điểm trong quyết định hoãn)

Ghi nhận trong biên bản phiên toà/ Không quy định về hình thức văn bản thể hiện việc tiếp tục giải quyết

Căn cứ áp

dụng

Khoản 1 Điều 141 Luật TTHC năm 2015

Khoản 1 Điều 162 Luật TTHC năm 2015

(sự vắng mặt của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng,…)

Khoản 1 Điều 187 Luật TTHC năm 2015

(tình trạng sức khoẻ, bất khả kháng, trở ngại khách quan, những sự việc phát sinh ngay tại phiên toà không thể giải quyết ngay được)

b) Ý nghĩa

 Ý nghĩa đối với đương sự

Việc Toà án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Điều này xuất phát từ hai khía cạnh

Thứ nhất, Toà án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính có ý

nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đặc biệt là quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện là bên yếu thế trong quan hệ

Trang 26

pháp luật hành chính Khi xuất hiện các tình tiết làm cho vụ án hành chính không thể tiếp tục được, nếu không tạm đình chỉ mà tiếp tục giải quyết vụ án thì không chỉ ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án mà cả quyền và lợi ích hợp pháp của đương

sự sẽ không được bảo đảm Chính vì vậy mà việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án là cần thiết, tránh gây thiệt hại cho quyền và lợi ích chính đáng của đương sự

Thứ hai, tránh sự áp dụng tuỳ tiện của Toà án trong việc áp dụng quy định

này để kéo dài thời gian chuẩn bị xét xử Khi Toà án tuyên bố tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính khi xuất hiện các tình tiết không có cơ sở, căn cứ pháp luật thì sẽ không đảm bảo quyền tham gia, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Do vậy, Toà án chỉ quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính khi có những căn cứ luật định, tránh gây thiệt hại cho quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

 Ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án của Toà án

Toà án với vai trò là chủ thể mang quyền lực và việc thực thi, áp dụng luật phải đảm bảo tính chặt chẽ để tránh việc lạm quyền, vượt quyền Chính vì vậy, các quy định về tạm đình chỉ giải quyết vụ án giúp Toà án khỏi lúng túng trong việc vận dụng pháp luật để giải quyết vụ án hành chính Toà án tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính khi có những căn cứ luật định Điều này đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được công khai, công bằng, khách quan và chính xác Hơn nữa, quy định này cũng giúp cho Toà án chủ động việc tạm dừng giải quyết vụ án để đảm bảo tính chính xác cho phán quyết cuối cùng của mình, đảm bảo chất lượng của hoạt động xét xử

1.2 Quy định của pháp luật về tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính

1.2.1 Thẩm quyền tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính

Thẩm quyền tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thể hiện thông qua quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cá nhân, cơ quan trong việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính Trong tố tụng hành chính, thẩm quyền này thuộc về cơ

quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng

Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có nhiệm vụ quyền hạn trong việc giải quyết vụ án hành chính Do đó, quy định về thẩm quyền tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính phải gắn liền với nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Tuy nhiên, không phải tất cả cơ quan tiến

Trang 27

hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều có thẩm quyền tạm đình chỉ giải quyết

vụ án hành chính

Luật TTHC năm 2015 quy định về cơ quan tiến hành tố tụng gồm: Toà án, Viện kiểm sát; người tiến hành tố tụng gồm: Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thẩm tra viên, Thư ký Toà án, Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên Trong đó,

định về nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng, Chánh án có quyền ra

chính, tuỳ từng giai đoạn tố tụng mà thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về người tiến hành tố tụng khác nhau Khi đó, trách nhiệm giải quyết vụ án hành chính sẽ thuộc về Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hay tập thể Hội đồng xét xử bao gồm Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân Thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính phát sinh trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm Nên thẩm quyền tạm đình chỉ giải quyết vụ án cũng căn cứ vào giai đoạn tố tụng

Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hành chính là giai đoạn tố tụng từ khi thụ lý vụ án hành chính đến khi Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ban hành một trong các quyết định: đưa vụ án ra xét xử, tạm đình chỉ giải quyết vụ án,

chính, Thẩm phán được Chánh án phân công giải quyết vụ án hành chính có thẩm

quyết định việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thuộc về Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án Thẩm quyền tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính phát sinh kể từ ngày thụ lý vụ án hành chính và được trao cho Thẩm phán kể từ ngày Chánh án ra quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án trong thời hạn

03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án Như vậy, vụ án hành chính chỉ có thể bị tạm đình chỉ giải quyết kể từ ngày Chánh án ra quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án hành chính

33

Khoản 5 Điều 38 Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Trang 28

Trong thời hạn chờ mở phiên toà (20 ngày hoặc 30 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử), nếu xuất hiện căn cứ phải quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thì Tòa án có thể ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án

mà giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm kết thúc khi có quyết định đưa vụ án ra xét

xử Như vậy, trong 20 ngày hoặc 30 ngày từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến khi mở phiên toà thì Thẩm phán được phân công giải quyết không có thẩm quyền tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính Hiện có hai quan điểm khác nhau

Quan điểm thứ nhất cho rằng: do quyết định đưa vụ án ra xét xử có đầy đủ các nội

dung về Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng nên phải tuân thủ nguyên tắc Tòa án xét

xử tập thể nên kể từ sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Hội đồng xét xử Chính vì vậy Hội đồng xét xử có thẩm quyền quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính trong thời gian chờ mở phiên

tòa này Quan điểm thứ hai cho rằng: để đảm bảo giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp

thời theo quy định của pháp luật và quy định mở về việc giao nộp chứng cứ của đương sự nên Tòa án có thể tạm đình chỉ giải quyết vụ án và thẩm quyền thuộc về

Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, thẩm quyền tạm đình chỉ giải quyết vụ án thuộc về Hội đồng xét xử giải quyết vụ án đó Hội đồng xét xử quyết định việc tạm

Trong quá trình xét xử sơ thẩm

vụ án hành chính, nếu xuất hiện các căn cứ hoãn phiên toà hoặc tạm ngừng phiên toà thì Hội đồng xét xử quyết định việc hoãn phiên toà, tạm ngừng phiên toà trong thời hạn không quá 30 ngày (hoãn không quá 15 ngày đối với thủ tục rút gọn) Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hành chính có khoảng thời hạn 30 ngày (15 ngày đối với thủ tục rút gọn) mà khi xuất hiện các căn cứ tạm đình chỉ vụ án hành chính, không chủ thể nào có thẩm quyền quyết định việc này mà phải chờ cho Hội đồng xét xử xem xét và quyết định tại phiên toà

hành chính của Tòa án”, Tạp chí Kiểm sát, số 24, tr 35

Trang 29

Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm là 60 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án để xét

xử phúc thẩm Trong thời hạn này, cũng giống như giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Thẩm phán được Chánh án phân công là chủ toạ phiên phúc thẩm có thẩm quyền tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính Trong trường hợp Thẩm phán được phân công làm chủ toạ phiên phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét

xử phúc thẩm thì trong thời hạn 30 ngày (kéo dài không quá 60 ngày) kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm phải mở phiên toà Như vậy, trong thời hạn chờ mở phiên toà 30 ngày (kéo dài không quá 60 ngày) này xuất hiện các căn

cứ cho việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thì Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên phúc thẩm không có thẩm quyền tạm đình chỉ giải quyết

vụ án mà phải chờ Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định tại phiên toà, phiên họp phúc thẩm vụ án hành chính

Tại phiên toà phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án hành chính có thẩm quyền quyết định việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính nếu

định tạm đình chỉ phải được quyết định tại phiên toà

Tóm lại, tuỳ từng giai đoạn tố tụng mà thẩm quyền tạm đình chỉ giải quyết vụ

án hành chính thuộc về Thẩm phán được Chánh án phân công giải quyết vụ án hoặc Hội đồng xét xử Điều này đảm bảo sự phân công trong quá trình giải quyết vụ án hành chính Phân định rõ ràng giữa thẩm quyền của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hành chính

1.2.2 Căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính

Để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hành chính được liên tục, nhanh chóng, kịp thời, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì Toà án chỉ quyết định việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án khi có những căn cứ luật định

Khoản 1 Điều 141 Luật TTHC năm 2015 đã quy định có 06 căn cứ để tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, đã tăng lên 02 căn cứ so với khoản 1 Điều 118 Luật TTHC năm 2010 Theo đó, Luật TTHC năm 2015 đã bổ sung và chi tiết hoá một số căn cứ tạm đình chỉ Đó là:

Trang 30

a Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc tuyên bố phá sản mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng

 Đương sự là cá nhân chết chưa có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng

Đương sự trong tố tụng hành chính bao gồm: người khởi kiện, người bị kiện,

nghĩa vụ tố tụng hành chính của người khởi kiện, người bị kiện được quy định tại Điều 59 Luật TTHC năm 2015

Người khởi kiện là cá nhân đã chết mà quyền và nghĩa vụ của họ được kế thừa thì người thừa kế tham gia tố tụng Việc xác định người thừa kế để kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng hành chính được xác định theo pháp luật dân sự Người thừa kế xác định trên quan hệ về tài sản, tức có nghĩa là người khởi kiện chết mà quyền và nghĩa vụ về tài sản của họ có người thừa kế thì người thừa kế được tham gia tố tụng Trường hợp chưa có cá nhân kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng có thể là chưa xác định được ngay người thừa kế hoặc người thừa kế chưa thể tham gia tố tụng Bởi vì theo pháp luật dân sự thì xác định người nhận di sản thừa kế còn loại trừ các

tục giải quyết vụ án nếu như chưa có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính của người khởi kiện, việc tiếp tục giải quyết vụ án sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Người bị kiện trong tố tụng hành chính là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc,quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện Xác định người bị kiện căn cứ vào quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ việc đó Như vậy, nếu người bị kiện là cá nhân thì phải là người có chức

vụ, chức danh cụ thể Cá nhân đó ký quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi

43

Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005

Trang 31

hành chính với danh nghĩa chức vụ, chức danh có thẩm quyền.46 Nếu cá nhân này chết thì chức danh, chức vụ pháp lý này vẫn tồn tại; quy định về kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng chỉ đề cập trường hợp chức danh đó không còn hoặc cơ quan, tổ

mặt nguyên tắc thì khi cá nhân này chết không phải là căn cứ để tạm đình chỉ giải quyết vụ án

Điều 53 Luật TTHC năm 2010 và Điều 59 Luật TTHC năm 2015 không quy định về việc kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tuy nhiên, nếu người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chết thì việc xác định người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là điều cần thiết trong quá trình giải quyết vụ án Như vậy, Tòa án vẫn phải tạm đình chỉ giải quyết vụ án mà chưa có người kế thừa quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ví

dụ như trong vụ án số 03/2012/TLST-HC ngày 26/3/2012 về việc “Khiếu kiện quyết

định hành chính” của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An giữa người

khởi kiện là bà Phạm Thị Minh Lý, người bị kiện là UBND huyện Bến Lức và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị Ngọc Ánh Bà Ánh chết vào tháng 5/2012 Ngày 17/8/2012, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ban

hành quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án số 01/2012/QĐST-HC với lý do “Xét

thấy, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị Ngọc Ánh đã chết mà chưa có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng.” Sau đó, Tòa án xác minh được

chồng bà Ánh là ông Lê Minh Châu đã chết và ông bà có một người con duy nhất là

Lê Minh Phú Ngày 27/1/2012, Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án và đưa Lê Minh Phú tham gia tố tụng với tư cách người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Như vậy, Toà án áp dụng căn cứ đương sự là cá nhân chết mà chưa có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng để tạm đình chỉ giải quyết vụ án khi Toà án cần xác định

ai là người thừa kế, có bao nhiêu người thừa kế tham gia tố tụng hoặc vì lý do nào đó

mà người thừa kế chưa thể tham gia tố tụng như: do chưa xác định được địa chỉ của người thừa kế, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng đã đi nước ngoài dài ngày nên chưa hỏi được ý kiến của họ, người kế thừa ốm nặng nên chưa thể hiện được ý chí,

Trang 32

Có quan điểm cho rằng quyền và nghĩa vụ được kế thừa trong tố tụng hành chính là quyền và nghĩa vụ về nhân thân thì việc đưa người thừa kế tham gia tố tụng

Với lý lẽ rằng, quyền nhân thân là những quyền dân sự gắn

mà quyền và nghĩa vụ để lại là quyền nhân thân thì việc xác định người thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự tham gia tố tụng để đi đến cùng là một phán quyết thì phán quyết này cũng không còn ý nghĩa đối với đương sự Ví dụ như trường hợp bà

A là chuyên viên của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K bị ông B là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K ký quyết định kỷ luật buộc thôi việc Bà A không đồng ý với quyết định này và khởi kiện ra Tòa án Trong quá trình giải quyết vụ án, bà A chết Trong trường hợp này, theo quy định của Luật TTHC thì Tòa án phải quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án để đưa người thừa kế của A tham gia tố tụng Tuy nhiên, kết quả giải quyết vụ án cũng không có ý nghĩa Bởi vì, nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện thì bà A cũng không thể tiếp tục làm việc và người thừa kế của bà A cũng không thể thay thế bà A tiếp tục làm việc Tuy nhiên, tác giả không đồng tình với quan điểm này Về mặt thực tế, đúng là trong ví dụ trên bà A cũng không thể tiếp tục làm việc hoặc người thừa kế thay và tiếp tục công việc đó; nhưng nếu yêu cầu khởi kiện được chấp nhận có ý nghĩa đối với danh dự của cá nhân và gia đình bà A Bên cạnh đó, với những quy định liên quan của pháp luật, thì phán quyết cuối cùng trong vụ án hành chính này còn là cơ sở để xem xét trách nhiệm bồi

vụ được kế thừa trong tố tụng hành chính liên quan đến quyền về tài sản hay quyền

về nhân thân thì việc đưa người thừa kế tham gia tố tụng để vụ án được giải quyết tới tận cùng là cần thiết Tòa án phải tạm đình chỉ giải quyết vụ án khi đương sự là

cá nhân chết mà chưa có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng

 Đương sự là cơ quan, tổ chức đã giải thể, tuyên bố phá sản mà chưa có

người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng

Khi doanh nghiệp giải thể, tất cả các nghĩa vụ về tài sản đã được thực hiện Khi tuyên bố giải thể doanh nghiệp đó chấm dứt hoạt động mà không có bất cứ cá

49

Điều 25 Bộ luật Dân sự năm 2015

Trang 33

hợp này, người đại diện theo pháp luật, các thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, các thành viên Hội đồng quản trị công ty cổ phần, thành viên hợp danh của công ty hợp danh liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty Cho nên, người khởi kiện là công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty cổ phần, công ty hợp danh bị giải thể mới có người kế thừa quyền, nghĩa vụ Khi đó, người đại diện theo pháp luật, chủ sở hữu của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên Hội đồng quản trị công ty cổ phần, thành viên hợp danh công ty hợp danh tham gia tố tụng hành chính

Trường hợp cơ quan, tổ chức bị giải thể là cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp, doanh nghiệp nhà nước thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó hoặc đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức tiếp nhận các quyền, nghĩa vụ

Theo pháp luật về phá sản hiện hành thì tuyên bố phá sản chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp và hợp tác xã được thành lập theo quy định của pháp luật Trong quá trình giải quyết thủ tục phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã không nhất thiết dẫn đến hậu quả doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động như giải thể doanh nghiệp mà có thể doanh nghiệp, hợp tác xã đó thay đổi chủ sở hữu và hoạt động kinh doanh được phục hồi Trong trường hợp này, chủ sở hữu hoặc đại diện chủ sở hữu của doanh nghiệp hợp tác xã tham gia tố tụng

Như vậy, trường hợp người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

có yêu cầu độc lập là cơ quan, tổ chức mà “chưa xác định được người kế thừa

quyền và nghĩa vụ tố tụng” để tham gia giải quyết vụ án hành chính làm căn cứ tạm

đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp này được hiểu là đã có kết quả về việc giải thể hoặc quyết định về việc phá sản nhưng chưa xác định được thành viên, chủ

sở hữu, người đại diện hợp pháp của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh bị giải thể, người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức cấp trên

Trang 34

trực tiếp hoặc người sở hữu, người đại diện cơ quan, tổ chức sở hữu doanh nghiệp tuyên bố phá sản

Đối với người bị kiện, trường hợp giải thể đơn vị hành chính thì cơ quan, tổ chức đã ra quyết định hành chính có trách nhiệm tham gia tố tụng với tư cách là người bị kiện Cơ quan tiếp nhận của đối tượng hành chính bị kiện phải tham gia tố

Như vậy, trường hợp người bị kiện là cơ quan, tổ chức bị giải thể mà chưa có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng thực chất là chưa xác định cơ quan tiếp nhận đối tượng hành chính bị kiện tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vì trong trường hợp này, người bị kiện vẫn được xác định là cơ quan, tổ chức

đã ra quyết định hành chính

b Đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên

mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật

Khi tham gia vào hoạt động tố tụng hành chính, đương sự nói chung phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng hành chính Theo đó thì người đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính trừ người mất năng lực hành vi dân sự và pháp luật có quy định khác Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự, người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng hành

Việc xác định người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự như sau:

Người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên: cha, mẹ đối với con chưa thành niên; người giám hộ đối với người được giám hộ Xác định người giám

hộ đối với người chưa thành niên trong trường hợp không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ; người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Toà án hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều

53

Khoản 5, Điều 59 Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Trang 35

Theo đó người giám hộ của người chưa thành niên trong trường hợp này xác định theo thứ tự sau: anh, chị ruột; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; bác ruột, chú

chưa thành niên cử trong trường hợp không có người giám hộ đương nhiên

Người đại diện theo pháp luật của người mất năng lực hành vi dân sự: người

nếu người kia mất năng lực hành vi dân sự; con nếu cha, mẹ đều mất năng lực hành

vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, người còn lại không đủ điều kiện làm người giám hộ; cha, mẹ đối với con nếu con chưa có vợ, chồng, con hoặc

Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người chưa thành niên cử trong trường hợp không có người giám hộ đương nhiên

Như vậy, trong quá trình giải quyết vụ án, toà án quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án khi chưa xác định được người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên, người đại diện theo pháp luật của người mất năng lực hành vi dân sự là trường hợp chưa xác định được những người là đại diện theo pháp luật được quy định theo pháp luật dân sự như phân tích ở trên

c Đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà một trong các đương sự không có mặt

vì lý do chính đáng, trừ trường hợp có thể xét xử vắng mặt đương sự

Sự vắng mặt của đương sự trong thời hạn chuẩn bị xét xử có thể được xem xét khi có những lý do chính đáng Lý do chính đáng là những lý do phát sinh vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan Theo đó, sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người

có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự của mình Đó có thể

59

Cách hiểu tương tự như quy định của pháp luật tố tụng dân sự về trường hợp lý do chính đáng dẫn đến việc kháng cáo quá hạn quy định tại Điều 6 Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ngày 03/2/2012

Trang 36

Trường hợp này, đương sự không thể tham gia đúng hạn theo quy định không phải

do lỗi của đương sự cố tình gây ra mà sự vắng mặt này hoàn toàn nằm ngoài ý chí của họ, bản thân họ không muốn điều này xảy ra và đã cố gắn khắc phục nhưng thực tế những sự kiện đó đã xảy ra và gây cản trở việc đương sự tham gia vụ án Bên cạnh đó, phải xem xét việc vắng mặt có thuộc trường hợp có thể xét xử vắng mặt đương sự hay không Đó là: đương sự có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt; đương sự vắng mặt nhưng có người đại diện tham gia phiên toà; Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt không có lý do chính đáng mà không có người đại diện

25/10/2010 về việc “Khiếu kiện quyết định hanh chính về quản lý đất đai trong lĩnh

vực thu hồi đất” của TAND huyện Bến Lức, tỉnh Long An Người khởi kiện là bà

Nguyễn Thị Phụng, đại diện theo ủy quyền của bà Phụng là ông Nguyễn Văn Tâm và người bị kiện là UBND huyện Bến Lức Ngày 29/9/2011, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ban hành quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án với lý do

“Xét thấy vụ án hành chính đã thụ lý từ ngày 25/10/2010 đến nay thời hạn chuẩn bị

xét xử đã hết mà người đại diện theo pháp luật của người khởi kiện là ông Nguyễn Văn Tâm không thể có mặt vì lý do chính đáng đã có đơn yêu cầu tạm đình chỉ vụ án” Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án ông Tâm đã cung cấp bản tự khai ghi

ngày 15/4/2011, bà Phụng cũng đã cung cấp bản tự khai cho Tòa án và cũng đã có mặt tham gia đối thoại theo triệu tập của Tòa án Cho nên quyết định tạm đình chỉ của Tòa án với căn cứ trên là không hợp lý, có dấu hiệu vi phạm pháp luật

Như vậy, trừ trường hợp đương sự không có mặt vì lý do chính đáng và trường hợp có thể xét xử vắng mặt thì Toà án quyết định việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án

khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà đương sự không có mặt Việc “không có mặt”

không có nghĩa là không triệu tập được đến Toà án để giải quyết vụ án hành chính,

mà việc “không có mặt” này hiểu là việc Toà án không tiến hành được việc lấy lời

khai của đương sự hoặc đương sự không cung cấp bản tự khai theo yêu cầu của Toà

án Việc có mặt hay không có mặt của đương sự trong thời hạn chuẩn bị xét xử xác định dựa vào việc có hay không sự thể hiện ý chí của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, cụ thể là được ghi nhận trong hồ sơ vụ án

Trang 37

Trong trường hợp vụ án quá hạn luật định (đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà Thẩm phán được phân công giải quyết chưa ban hành một trong ba quyết định theo quy định) đương sự có mặt trong thời gian quá hạn đó thì không được áp dụng căn

cứ này để tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính Mặt dù về mặt từ ngữ thì việc không có mặt của đương sự xảy ra trong 30 ngày, 60 ngày hay 02 tháng, 04 tháng của thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định nhưng ý nghĩa của căn cứ đã không còn trong việc quyết định tạm đình chỉ giải quyết Nên Toà án vẫn tiến hành giải quyết

vụ án hành chính theo quy định Nếu đương sự vắng mặt trong suốt thời gian chuẩn

bị xét xử không có lý do chính đáng mặt dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ thì xem như

họ từ bỏ quyền lợi của mình, vụ án hành chính vẫn tiếp tục được giải quyết

d Cần đợi kết quả giải quyết của cơ quan khác hoặc kết quả giải quyết vụ việc khác có liên quan

Đối với căn cứ này có hai quan điểm: Quan điểm thứ nhất cho rằng trong quá

trình giải quyết vụ án, Tòa án cần được các cơ quan khác cung cấp tài liệu, chứng

cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án hoặc xác định cơ quan, tổ chức đó đang lưu giữ tài liệu, chứng cứ mà Tòa án yêu cầu nhưng chưa cung cấp Đây là một biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án và việc chờ kết quả là cần thiết Nhiều trường hợp khi nhận yêu cầu của Tòa án thường kéo dài hoặc không hợp tác nên việc tạm đình chỉ chờ kết quả giải quyết là phù hợp, đảm bảo không quá hạn giải quyết vụ

án Quan điểm thứ hai cho rằng căn cứ này áp dụng đối với những vụ án mà trong

quá trình giải quyết vụ án mà nếu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án sẽ thiếu chính xác, thiếu toàn diện, không hợp pháp và có thể ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Chính vì vậy cần thiết phải chờ kết quả giải quyết trước theo thẩm quyền của cơ quan khác hoặc vụ việc khác có liên quan như: kết quả giải quyết của cơ quan nhà nước khác, kết quả giải quyết trước từ án dân sự, hình sự,

Trang 38

chính mà Toà án đang thụ lý hoặc kết quả đó có thể ảnh hưởng đến căn cứ ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính bị khiếu kiện thì phải đợi

Kết quả giải quyết theo quy định tại căn cứ này là những nội dung liên quan đến cơ sở xác định thẩm quyền của Tòa án, xác định quyền khởi kiện, xác định địa

vị pháp lý, xác định người tham gia tố tụng, xác định quan hệ tranh chấp hoặc căn

cứ để Tòa án giải quyết vụ án toàn diện, chính xác và đúng pháp luật

Vụ việc khác có thể là vụ án hình sự, hành chính hoặc vụ việc dân sự có liên quan Cơ quan khác có thể gồm Công an, Thi hành án, Ủy ban nhân dân, khi thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình mà kết quả thực hiện đó nhằm xác định những nội dung nêu trên

Như vậy, kết quả giải quyết của cơ quan khác hoặc kết quả giải quyết vụ việc khác có liên quan là kết quả giải quyết của các vụ án hình sự, hành chính hay vụ việc dân sự có liên quan hoặc kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền là cơ

sở xác định thẩm quyền của Toà án, xác định quyền khởi kiện đối với vụ án, xác định địa vị pháp lý, xác định người tham gia tố tụng, xác định quan hệ tranh chấp hoặc căn

cứ để Toà án giải quyết vụ án toàn diện, chính xác và đúng pháp luật

e Cần đợi kết quả giám định bổ sung, giám định lại; cần đợi kết quả thực hiện

uỷ thác tư pháp, uỷ thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Toà án mới giải quyết được vụ án

Đây là quy định mới của Luật TTHC năm 2015 so với Luật TTHC năm 2010 Căn cứ này nêu rõ từng trường hợp thu thập chứng cứ cần thiết để làm rõ các tình tiết của vụ án, giúp cho việc giải quyết vụ án được chính xác, khách quan, công bằng

Đó là những trường hợp Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ bằng các biện pháp cụ thể sau: giám định tư pháp, ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ Những khái niệm này được quy định trong các luật chuyên ngành Cụ thể: Giám định bổ sung khi nội dung giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc phát sinh vấn đề mới có liên quan đến tình tiết của vụ án đã được kết luận giám định trước đó Giám định lại được thực hiện khi có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác, có vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp đặc biệt, có sự mâu

Trang 39

thuẫn giữa kết quả giám định và kết quả giám định lại thì Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định giám định lại

Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp theo quy định của pháp luật nước có liên quan

trường hợp Toà án ra quyết định uỷ thác để Toà án khác lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập tài liệu, chứng cứ, xác minh tình tiết của vụ án hành chính Trường hợp thu thập tài liệu, chứng cứ ở nước ngoài thì Toà án tiến hành uỷ thác tư pháp thông qua cơ quan có thẩm quyền

Trường hợp Tòa án tiến hành ủy thác thu thập tài liệu chứng cứ thì trong thời hạn 30 ngày, nơi nhận ủy thác phải thông báo kết quả bằng văn bản Trường hợp Tòa án yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu chứng cứ thì trong thời hạn 15 này phải cung cấp cho Tòa án Như vậy, nếu xét thấy cần đợi kết quả giám định bổ sung, giám định lại; uỷ thác tư pháp, uỷ thác thu thập chứng cứ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu chứng cứ thì Toà án quyết định việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính

f Cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của

cơ quan nhà nước cấp trên mà Toà án đã có văn bản kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản đó

Trước hết, đây là một căn cứ mới của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, được quy định thành một chương trong trong Luật TTHC năm 2015 liên quan đến việc phát hiện và kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính Quy định này khắc phục những tồn tại của Luật TTHC năm 2010 khi chưa quy định về thẩm quyền của Toà án trong việc phát hiện những văn bản quy pháp pháp luật trái với Hiến pháp, luật và và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên dẫn đến việc lúng túng trong vận dụng pháp luật để giải quyết vụ án Trước yêu cầu của thực tiễn

là tồn tại những văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với văn bản quy phạm

Trang 40

pháp luật có giá trị pháp ý cao hơn trong thời gian qua như quy định về Cảnh sát giao thông có quyền trưng dụng phương tiện trên đường, cấm quay phim, chụp ảnh

Theo đó, trong quá trình giải quyết vụ án, nếu phát hiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án hành chính có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì Chánh án hoặc Hội đồng xét xử đề nghị Chánh án có thẩm quyền thực hiện việc kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật đó

Cụ thể, Chánh án Toà án nhân dân tối cao có quyền kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường

vụ Quốc hội, nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; nghị định của Chính phủ, nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tố quốc Việt Nam; quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,

Bộ trưởng, Thủ trưởng Cơ quan ngang bộ; thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh và Chánh án Toà án nhân dân cấp cao

có quyền kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã; Quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã; văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính- kinh tế đặc biệt Chánh án Toà án cấp huyện có quyền kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã; quyết định

Ngày đăng: 21/04/2021, 20:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ngày 03/2/2012 về hướng dẫn quy định trong Phần thứ ba “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi theo Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm
16. Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ngày 03/13/2012 về hướng dẫn quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi theo Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm
23. Vương Văn Bép (2016), “Trao đổi một số vấn đề về quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính của Tòa án”, Tạp chí Kiểm sát, số 24, tr. 33-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trao đổi một số vấn đề về quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính của Tòa án”, "Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Vương Văn Bép
Năm: 2016
24. Nguyễn Thanh Bình (1997), Tìm hiểu pháp luật tố tụng hành chính, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu pháp luật tố tụng hành chính
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1997
25. Đào Kim Cương (2001), “Một số căn cứ huỷ quyết định hành chính bị khiếu kiện, cơ quan nhà nước ban hành quyết định hành chính trái pháp luật bồi thường thiệt hại cho công dân”, Tạp chí Toà án nhân dân, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số căn cứ huỷ quyết định hành chính bị khiếu kiện, cơ quan nhà nước ban hành quyết định hành chính trái pháp luật bồi thường thiệt hại cho công dân”, "Tạp chí Toà án nhân dân
Tác giả: Đào Kim Cương
Năm: 2001
26. Nguyễn Quang Dũng (2017), “Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện- những vấn đề đặt ra”, Tạp chí kiểm sát, số 06, tr. 18-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện- những vấn đề đặt ra”, "Tạp chí kiểm sát
Tác giả: Nguyễn Quang Dũng
Năm: 2017
27. Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam, NXB Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam
Tác giả: Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam
Năm: 2012
28. Nguyễn Thục Đoan (2013), Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính
Tác giả: Nguyễn Thục Đoan
Năm: 2013
29. Nguyễn Thị Hà (2016), “Bàn về quyết định hành chính đối tượng xét xử của vụ án hành chính”, Tạp chí Kiểm sát, số 08 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quyết định hành chính đối tượng xét xử của vụ án hành chính”, "Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Nguyễn Thị Hà
Năm: 2016
30. Nguyễn Thị Hạnh (2013), Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hành chính, Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hành chính
Tác giả: Nguyễn Thị Hạnh
Năm: 2013
31. Trần Linh Huân (2014), Tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính
Tác giả: Trần Linh Huân
Năm: 2014
32. Nguyễn Thị Huyền (2014), Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hành chính, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hành chính
Tác giả: Nguyễn Thị Huyền
Năm: 2014
33. Duy Kiên (2014), “Một số vấn đề tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Duy Kiên
Năm: 2014
34. Đoàn Tấn Minh (2011), Bình luận khoa học Luật Tố tụng hành chính và văn bản áp dụng giải quyết khiếu nại hành chính tại Tòa, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Luật Tố tụng hành chính và văn bản áp dụng giải quyết khiếu nại hành chính tại Tòa
Tác giả: Đoàn Tấn Minh
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2011
35. T.Tài-C.Tâm-A.Tú (2014), “Xét xử vụ án hành chính dân kiện Chủ tịch huyện Đại Từ, Thái Nguyên: Tòa sơ thẩm “vỡ trận lần thứ tư”, Bảo vệ pháp luật, số 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xét xử vụ án hành chính dân kiện Chủ tịch huyện Đại Từ, Thái Nguyên: Tòa sơ thẩm “vỡ trận lần thứ tư”, "Bảo vệ pháp luật
Tác giả: T.Tài-C.Tâm-A.Tú
Năm: 2014
36. Tòa án nhân dân TP. Tân An (2017), Báo cáo tham luận về các giải pháp khắc phục án quá hạn luật định và công tác phối hợp giữa Tòa án nhân dân thành phố- UBND-VKS nhân dân thành phố, Tài liệu Hội nghị triển khai công tác năm 2017 của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Long An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tham luận về các giải pháp khắc phục án quá hạn luật định và công tác phối hợp giữa Tòa án nhân dân thành phố- UBND-VKS nhân dân thành phố
Tác giả: Tòa án nhân dân TP. Tân An
Năm: 2017
40. Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuật ngữ luật học
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 1999
41. Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt Nam, NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2005
42. Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm: 2009
43. Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hành chính
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w