LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Bước sang thế kỷ 21, thế giới có nhiều biến động mạnh mẽ theo hai chiều hướng tốt xấu: một mặt thế giới xuất hiện nhiều hơn các cuộc chiến tranh cục bộ, chiến tranh kh
Trang 1KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
-
NGUYỄN ĐOÀN HƯƠNG THUỶ
BẢN SẮC VĂN HOÁ NÔNG NGHIỆP,
NÔNG THÔN NHẬT BẢN THỂ HIỆN TRONG
THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÂU Á HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016
Trang 2KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
-
NGUYỄN ĐOÀN HƯƠNG THUỶ
BẢN SẮC VĂN HOÁ NÔNG NGHIỆP,
NÔNG THÔN NHẬT BẢN THỂ HIỆN TRONG
THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÂU Á HỌC
Mã số: 60.31.50
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN VŨ QUỲNH NHƯ
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016
Trang 3nhận được nhiều sự giúp đỡ chân thành từ phía Thầy Cô, Gia đình và Bạn bè
Đầu tiên, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình
đã động viên khích lệ tinh thần tôi trong suốt quá trình học tập
Kế đến, xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS Nguyễn Vũ Quỳnh Như
Cô đã rất tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Đồng thời, xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô Khoa Đông Phương học đã tận tình truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cũng như góp ý cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn các bạn học viên cùng niên khoá đã hỗ trợ
và động viên tôi trong suốt quá trình học tập
Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn tất cả
Trang 41 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 2
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 6
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
6 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI 8
CHƯƠNG 1: NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN NHẬT BẢN VÀ THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ 9
1.1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN NHẬT BẢN 9
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 9
1.1.2 Điều kiện xã hội 12
1.2 CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN NHẬT BẢN 14
1.3 THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ NHẬT BẢN 26
1.3.1 Khái niệm Thành ngữ, Tục ngữ 26
1.3.2 Nguồn gốc thành ngữ, tục ngữ Nhật Bản 29
CHƯƠNG 2 – BẢN SẮC VĂN HOÁ NÔNG NGHIỆP NHẬT BẢN 43
2.1 BẢN SẮC VĂN HOÁ NÔNG NGHIỆP 43
2.1.1 KHÁI NIỆM VĂN HOÁ 43
2.1.2 VĂN HOÁ NÔNG NGHIỆP 45
2.2 ỨNG XỬ HÀI HOÀ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN 55
2.2.1 VĂN HOÁ ỨNG XỬ VỚI NƯỚC 56
2.2.2 ỨNG XỬ VỚI ĐẤT 59
2.3 VĂN HOÁ ỨNG XỬ VỚI CÂY TRỒNG 62
2.3.1 GẠO 62
2.3.2 ĐẬU TƯƠNG 66
2.4 ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI 70
2.4.1 COI TRỌNG YẾU TỐ GIA ĐÌNH 70
Trang 52.5 COI TRỌNG GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG: LỄ HỘI NÔNG NGHIỆP
(PHONG TỤC TẬP GIAN) 77
CHƯƠNG 3: VĂN HOÁ NÔNG THÔN NHẬT BẢN 82
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC SÁCH THAM KHẢO 104
Trang 6DẨN LUẬN
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Bước sang thế kỷ 21, thế giới có nhiều biến động mạnh mẽ theo hai chiều hướng tốt xấu: một mặt thế giới xuất hiện nhiều hơn các cuộc chiến tranh cục bộ, chiến tranh khu vực do nhiều lý do với nhiều mục đích: xung đột tôn giáo, mâu thuẫn chính trị, tranh giành lãnh thổ…, nền kinh tế suy thoái trầm trọng trên phạm
vi toàn cầu, những vấn đề về an sinh xã hội, môi trường ngày càng trở nên xấu… Bên cạnh đó cũng có không ít những chuyển biến tốt như: quá trình toàn cầu hóa đưa các quốc gia xích lại gần nhau hơn, hiệu ứng chảy tràn – đàn nhạn bay giúp các nước đang phát triển có nhiều cơ hội học tập, phát triển kinh tế và kỹ thuật, xu hướng quay trở lại Châu Á để bảo vệ các giá trị tuyền thống của các cường quốc lớn
là Nhật Bản, Mỹ… cùng với sự trỗi dậy của con rồng Trung Quốc…
Nhìn vào toàn cảnh kinh tế thế giới hiện nay, có thể nói Châu Á chính là lời giải đáp – chìa khóa cho sự khôi phục nền kinh tế và phát triển trong tương lai Nhìn vào quá trình phát triển của kinh tế, văn hoá, xã hội… có thể thấy Châu Âu là cội nguồn của sự phát triển, Châu Mỹ là hiện tại của sự phát triển còn Châu Á chính
là tương lai của con đường đó Với những điều kiện hấp dẫn như: thị trường đông dân, nền kinh tế vẫn đang trên đà phát triển, nền chính trị ổn định và nền văn hóa truyền thống sâu sắc… chính là những điều kiện cần thiết cho thế giới hiện nay
Khi nói đến Châu Á không thể không nhắc đến Nhật Bản - một nước bại trận trong chiến tranh thế giới thứ hai, một đất nước nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề nhưng chỉ sau mấy thập kỷ khôi phục và phát triển đất nước trở thành một quốc gia công nghiệp mạnh, đứng hàng đầu thế giới Nhiều nhà nghiên cứu đã tìm hiểu phương thức thành công của Nhật và đã đưa ra rất nhiều nguyên nhân Một trong những nguyên nhân chính là: kỹ thuật phương tây kết hợp với giá trị của văn hóa truyền thống phương đông nói chung, Nhật Bản nói riêng là chìa khóa cho sự thành công
Văn hoá nông nghiệp chính là yếu tố cơ bản làm nên cơ tầng văn hóa truyền thống Phương Đông nói chung và văn hóa Nhật Bản nói riêng với những biểu hiện
Trang 7như: văn hoá lúa nước, đồng ruộng, con trâu, cái cày…những câu ca dao, thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ được đúc kết từ những quan niệm sống, trải qua nhiều đời và được lưu truyền cho đến ngày nay
Thành ngữ, tục ngữ là một bộ phận quan trọng trong cuộc sống, là phương tiện thể hiện tư duy mang nhiều tính biểu cảm độc đáo mà các loại đơn vị từ vựng thông thường không thể thay thế Chính những đặc điểm riêng này đã giúp cho thành ngữ, tục ngữ có một nội hàm rất phong phú: vừa là những kinh nghiệm, những bài học được đúc kết qua nhiều đời, vừa là phương tiện thể hiện tâm tư tình cảm, vừa là một trong những phương tiện lưu giữ văn hóa truyền thống của dân tộc một cách hữu hiệu bằng hai cách: truyền miệng và văn bản…Chính vì vậy mà thành ngữ, tục ngữ Nhật Bản là một đề tài rất được yêu thích và được nghiên cứu qua rất nhiều công trình Tuy nhiên đại đa số các đề tài tập trung nghiên cứu về cấu trúc, thành tố, ngữ nghĩa hoặc nội dung chung Còn đem thành ngữ, tục ngữ xét trên phương diện lưu giữ và biểu hiện văn hóa nông nghiệp – nông thôn của xã hội Nhật Bản thì chưa có đề tài nào được thực hiện Vì vậy dựa vào các công trình nghiên cứu về tục ngữ Nhật Bản cũng như văn hoá Nhật Bản đã được nghiên cứu từ trước,
tôi đi vào tìm hiểu đề tài “Bản sắc văn hóa nông nghiệp nông thôn Nhật Bản thể hiện trong thành ngữ, tục ngữ”
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Các công trình đã nghiên cứu về đề tài “bản sắc văn hoá nông nghiệp, nông thôn” và “thành ngữ, tục ngữ Nhật Bản” của các tác giả Việt Nam và Nhật Bản có khá là nhiều Tôi xin điểm sơ qua một vài công trình nghiên cứu
2.1 Về bản sắc văn hoá nông nghiệp, nông thôn
Nhật Bản nằm trong khu vực Châu Á – Đông Bắc Á là chủ yếu Khu vực văn hoá Châu Á - Phương Đông được các học giả thuộc tất cả các lĩnh vực chia đều ra thành sáu khu vực văn hoá: Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Nam Á, Trung Á, Bắc Á, Tây Á – Bắc Phi Khu vực Đông Bắc Á vốn đã nổi bật từ xưa đến nay do nó bao gồm các nền văn hoá lớn của thế giới là Trung Hoa, Nhật Bản và Hàn Quốc Điểm đặc biệt của khu vực này chính là: tất cả các nền văn hoá trong khu vực đều chịu
Trang 8ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa, văn hoá Trung Hoa là “văn hoá trung tâm” nhưng đồng thời lại có thể tự mình “giải Hoa hoá” và xây dựng nên một nền văn hoá riêng biệt đậm đà bản sắc văn hoá của riêng mình
Có rất nhiều yếu tố tạo nên sự gắn kết các nền văn hoá lại với nhau như: điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, lịch sử hình thành… Nhưng sẽ là thiếu sót nếu không đề cập đến một yếu tố đặc trưng của các nước Châu Á nói chung – khu vực Đông Bắc
Á nói riêng chính là nền văn hoá văn minh lúa nước - yếu tố cơ bản làm nên mẫu số chung cho nền văn hoá Châu Á Nền nông nghiệp làm kinh tế chủ đạo, cây lúa đồng ruộng… tạo nên những đặc trưng cho nông nghiệp: yêu thiên nhiên, hoà hợp thiên nhiên và cộng đồng cũng như các đặc trưng của nông thôn như: tính công đồng, tính chất chủ toàn và tổng hợp, tính cộng đồng và cách ứng xử mềm dẻo, tính chất hoà đồng thuận tự nhiên, tính chất trọng tĩnh hướng nội và khép kín Trong các đặc điểm trên, do “xã hội Phương Đông là xã hội nông nghiệp vì vậy văn hoá Phương Đông là văn hoá gốc nông nghiệp và bản sắc nổi trội nhất của nó là tính chất nông nghiệp – nông thôn”.[25, tr 8]
Nếu trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam” của Giáo sư – Tiến sĩ khoa học Trần Ngọc Thêm thì nêu lên “nước với truyền thống dân chủ của văn hoá nông nghiệp” cũng như nêu ra các nguyên tắc tổ chức nông thôn như: theo huyết thống (hàng dọc), theo địa bàn cư trú (hàng ngang, không gian), theo nghề nghiệp –
sở thích, theo truyền thống cư trú, theo mặt hành chính, theo đặc trưng của nông thôn… thì trong cuốn “Văn Hoá Người Việt vùng Tây Nam Bộ” xuất bản 2013 do NXB Văn Hoá xuất bản cũng do Giáo sư – Tiến sĩ Trần Ngọc Thêm chủ biên đưa ra cho người đọc cái nhìn rõ nét hơn về văn hoá cộng đồng, làng xã của người vùng Tây Nam Bộ có những đặc trưng riêng so với người Việt ở miền Bắc, miền Trung: tính cởi mở, cuộc sống nông nghiệp tổng hợp…
Trong cuốn “Cội nguồn và bản sắc văn hoá Việt Nam” của Tiến sĩ Huỳnh Công Bá đưa ra các cơ sở và biểu hiện của các đặc trưng khác như: yêu nước, cộng đồng, khoan dung, tình nghĩa, sáng tạo, tinh tế, bình dị Còn theo Giáo sư Trần Quốc Vượng trong cuốn “Tìm hiểu văn hoá nông nghiệp, nông thôn và nông dân
Trang 9Việt Nam” do NXB Văn hoá thông tin & Viện văn hoá, Hà nội, 2012 thì nêu ra các yếu tố trong văn hoá nông nghiệp như: yếu tố nước, yếu tố đất…
Bên cạnh các tác phẩm, công trình nghiên cứu về văn hoá nông nghiệp nông thôn Việt Nam thì cũng có các công trình nghiên cứu về nông nghiệp nông thôn Nhật Bản Về nông nghiệp Nhật Bản thì có thể kể đến như là “Một số vấn đề cơ bản
về con đường phát triển hiện đại của nông nghiệp và nông thôn Nhật Bản” do nhóm tác giả TS Dương Minh Tuấn (chủ biên) xuất bản năm 2012; “Phát triển kinh tế của Nhật Bản – con đường đi lên từ một nước đang phát triển” biên dịch từ cuốn “The economic Development of Japan” của Giáo sư Kenichi Ohno (The Path Traveled bu Japan as a Developing Country), Diễn đàn phát triển GRIPS, Tokyo,2006 xuất bản 3/2007…Về nông thôn, làng xã của Nhật Bản tôi có tham khảo một số cuốn như
“Thành hoàng ở Việt Nam và Shinto ở Nhật Bản – Một nghiên cứu” của NXB Văn hoá thông tin & Viện Văn hoá, 1998… Cuốn sách cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng quan về nông nghiệp và nông thôn Nhật Bản, quá trình hình thành và phát triển cũng như vai trò, vị trí và ảnh hưởng của nông nghiệp – nông thôn Nhật Bản đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước
Còn các tác phẩm về văn hoá nông nghiệp - nông thôn Nhật Bản bằng tiếng Nhật có thể kể đến như: “Lịch sử nông nghiệp Nhật Bản” – “日本農業史” của tác giả Kimura Shigenmitsu làm chủ biên, xuất bản 11/2010 tại NXB Toshikawako, Tokyo mô tả về lịch sử hình thành và phát triển của nông nghiệp Nhật Bản Hay cuốn “Nông nghiệp là văn hoá, thực phẩm là văn minh” – “文化としての農業、文明としての食料” của tác giả Suehara Tatsuro - trung tâm nghiên cứu nông nghiệp đại học Kyoto – Bộ Kinh tế tài nguyên sinh vật Các tác phẩm cho thấy văn hoá Nhật Bản là văn hoá nông nghiệp và nông thôn Nhật Bản cũng có văn hoá riêng của nó
2.2 Về thành ngữ, tục ngữ Nhật Bản:
Về thành ngữ, tục ngữ nói chung và thành ngữ, tục ngữ Nhật Bản nói riêng
có nhiều công trình nghiên cứu dưới dạng sách, từ điển hay các bài viết trên các tạp chí Có thể kể đến như: tác giả Miyaji Yutaka (1977,1982,1985,1986) với một số
Trang 10bài viết có tiếng vang về thành ngữ và tác giả Iraishi Taiji với cuốn “Đại từ điển thành ngữ tiếng Nhật”(1977) Bên cạnh đó có thể kể đến các cuốn sách về từ điển thành ngữ, tục ngữ Nhật Bản bằng tiếng Nhật như: ‘故事ことわざ辞典’、Koji kotowaza jiten, Từ điển cố sự kotowaza (2008), ‘例解学習ことわざ辞典’、Reikai gakushu kotowaza jiten, Từ điển tục ngữ có minh họa (1995) Còn tiếng Việt thì
có thể kể đến như: từ điển tục ngữ Nhật – Việt của Lê Đức Niệm và một số tác giả khác xuất bản tại NXB Cà Mau 1993 hay cuốn “Tục ngữ Nhật – Việt” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Thu, NXb Văn học; Các bài viết nghiên cứu trên các tạp chí như:
“Khái niệm và các nguồn hình thành Kotowaza Nhật Bản” của Nguyễn Thị Hồng Thu, tạp chí nghiên cứu Nhật Bản, số 5/1999; “Tục ngữ Nhật Bản với người phụ nữ” tạp chí Văn hoá nghệ thuật số 4/2001 trang 82 - 85; “Hình ảnh người phụ nữ Nhật Bản qua tục ngữ” tạp chí nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 5/2001 trang 42 – 46; “Một số giá trị đạo đức truyền thống Nhật Bản thể hiện qua Kotowaza” tạp chí nghiên cứu Nhật Bản, số 2/2000, trang 26 - 29; “Thiên triều Nhật Bản với những ảnh hưởng của hệ tư tưởng phong kiến Trung Hoa nhìn từ Kotowaza” tạp chí nghiên cứu Nhật Bản, số 1/2001 trang 33 – 36 của tác giả Nguyễn Thị Hồng Thu
Thông qua các ấn phẩm có thể thấy thành ngữ, tục ngữ hàm chứa nhiều nội dung, nhiều vấn đề về cuộc sống cũng như giúp người nói bộc lộ thái độ, quan niệm sống hay đơn giản chỉ là đúc kết kinh nghiệm một cách xúc tích, ngắn gọn số lượng lớn thành ngữ, tục ngữ còn tồn tại trong xã hội Nhật và được sử dụng rất nhiều
Bên cạnh các bài viết thì các khoá luận, luận văn, luận án cũng rất phong phú như: “Cấu trúc và nội hàm trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Nhật” - khoá luận tốt nghiệp 2010 của sinh viên Nguyễn Phạm Trúc Anh ngành Nhật Bản học đưa ra cách nhìn tổng quan về cấu trúc và nội dung cơ bản của thành ngữ, tục ngữ Nhật Bản nói chung; “Văn hoá ứng xử của người Nhật Bản thể hiện trong tục ngữ” - khoá luận tốt nghiệp 2001 của sinh viên Bùi Thị Thu Hà ngành Đông Phương học chuyên ngành Nhật Bản học tìm hiểu người Nhật Bản, cách ứng xử hay “Đặc điểm cấu tạo – ngữ nghĩa của từ tượng thanh – từ tượng hình trong tiếng Nhật (So sánh với tiếng Việt)” - khoá luận tốt nghiệp 2011 của sinh viên Hồ Thị Thiên Thanh
Trang 11ngành Châu Á Học chuyên ngành Nhật Bản học lại tìm hiểu về tục ngữ, thành ngữ trên phương diện ngôn ngữ học
Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào tìm hiểu về bản sắc văn hoá nông nghiệp nông thôn Nhật Bản thể hiện trong thành ngữ, tục ngữ Vì vậy đề tài
“Bản sắc văn hoá nông nghiệp Nhật Bản thể hiện trong thành ngữ tục ngữ” có thể nói là đề tài còn khá mới mẻ chưa được nghiên cứu tìm hiểu, là một đề tài mà nội hàm của nó vẫn còn nhiều điều cần được nghiên cứu và khám phá
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
3.1 Ý nghĩa khoa học:
1 Thông qua việc nghiên cứu về bản sắc văn hoá nông nghiệp nông thôn của Nhật Bản, đề tài sẽ đi sâu tìm hiểu nguồn gốc văn hoá, quá trình hình thành và bản chất văn hoá của Nhật Bản Qua đó cung cấp thêm một cách lý giải về nguyên nhân thành công của Nhật Bản thần kỳ: một đất nước công nghiệp nhưng mang trong mình bản chất văn hoá nông nghiệp – kỹ thuật phương tây kết hợp với văn hoá Phương Đông
2 Sau khi hoàn thành đề tài sẽ tổng hợp được một số lượng các thành ngữ tục ngữ Nhật Bản liên quan đến nông nghiệp, nông thôn Nhật Bản Tổng hợp nội dung của các thành ngữ tục ngữ một cách chung nhất, trở thành một nguồn tư liệu mới và cụ thể về thành ngữ tục ngữ Nhật Bản
3.2 Ý nghĩa thực tiễn:
1 Việc hội nhập đối với Việt Nam là công cuộc rất quan trọng Học hỏi
từ các nước đi trước là con đường nhanh và đúng đắn nhất Nhật Bản
là một nước rất đáng để học hỏi và nguyen nhân thành công cũng đã được biết đến từ lâu: kỹ thuật phương Tây và văn hoá phương Đông Nhưng văn hoá phương Đông trong xã hội xưa kia đã tồn tại, ảnh hưởng và phát huy vai trò của mình như thế nào trong sự thành công của Nhật Bản? Và trong xã hội ngày nay thì văn hoá nông nghiệp ảnh hưởng mạnh mẽ như thế nào để Nhật Bản phát triển hơn nữa kinh tế
Trang 12cũng như duy trì vị trí của mình trên thế giới Vì vậy tìm hiểu về nguồn gốc của văn hoá là việc rất cần thiết, không chỉ cho Việt Nam trên con đường phát triển mà còn có thể giúp các nước khác trên thế giới có thêm một cách nhìn về chính nền văn hoá của mình trong công cuộc bảo tồn, phát huy và truyền bá nền văn hoá truyền thống trong thời đại ngày nay
2 Trong thời đại ngày nay thì việc hợp tác giữa các quốc gia ngày càng trở nên mạnh mẽ, cấp thiết không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn trong lĩnh vực giao lưu văn hoá Hiện nay “cây gậy và củ cà rốt” đã trở nên cũ kỹ và kém hiệu quả, hiệu ứng “chảy tràn” “đàn nhạn bay” đang có xu hướng bão hoà thì bản sắc văn hoá Đông Phương chính là chiếc chìa khoá cho quá trình phát triển kinh tế, hợp tác và phát triển
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là văn hoá nông nghiệp, nông thôn Nhật Bản thể hiện trong thành ngữ, tục ngữ Nhật Bản Chủ thể nghiên cứu là văn hoá Nhật Bản và văn hoá nông nghiệp Phạm vi nghiên cứu là thành ngữ, tục ngữ Nhật Bản Không gian ở đây không có sự giới hạn đặc biệt
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình viết bài thì tôi có sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp CKT, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê
- Phương pháp CKT: phương pháp do GS – TS Trần Ngọc Thâm sang tạo ra, quy chiếu ra ba nội dung là: chủ thể - không gian – thời gian
- Phương pháp phân tích: bằng phương pháp này người viết tiến hành phân tích nội dung các thành ngữ tục ngữ, phân tích các biểu hiện nhằm chứng minh bản sắc văn hoá nông nghiệp nông thôn của xã hội Nhật Bản, văn hoá Nhật Bản, con người Nhật Bản trong nguồn ngữ liệu thu thập được Sau đó
sẽ đi vào tổng hợp kết luận về những vấn đề được tìm thấy
Trang 13- Phương pháp tổng hợp: người viết tìm ra tất cả các thành ngữ, tục ngữ tiếng Nhật có đề cập đến các biểu hiện của bản sắc văn hoá nông nghiệp nông thôn
6 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài chương Dẫn Nhập và Kết Luận thì nội dung luận văn được chia thành
ba chương như sau:
Chương 1: Tổng quan, khái niệm về văn hoá nông nghiệp nông thôn và thành ngữ, tục ngữ Nhật Bản
Chương 2: Bản sắc văn hoá nông nghiệp Nhật Bản
Chương 3: Bản sắc văn hoá nông thôn Nhật Bản
Trong chương 1, tôi sẽ trình bày sơ lược về địa hình, khí hậu Nhật Bản, quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế nông nghiệp Điểm sơ qua các biểu hiện của văn hoá nông nghiệp, nông thôn tại Nhật Bản Bên cạnh đó, do giới hạn đề tài là tìm hiểu các biểu hiện được thể hiện trong thành ngữ, tục ngữ nên tôi sẽ điểm
sơ qua định nghĩa về thành ngữ, tục ngữ Nhật Bản Luận văn không tập trung vào phân tích cấu trúc của thành ngữ mà từ nội hàm của thành ngữ, tục ngữ rút ra bản sắc văn hoá nông nghiệp, văn hoá nông thôn Nhật Bản
Trong chương 2 sẽ tập trung làm rõ bản sắc văn hoá nông nghiệp Nhật Bản thể hiện thông qua thành ngữ tục ngữ, biểu hiện thông qua văn hoá Nhật ứng xử với
tự nhiên, ứng xử với xã hội, qua phong tục tập quán, văn hoá dân gian các lễ hội…
Trong chương 3 sẽ tập trung làm rõ bản sắc văn hoá nông thôn Nhật Bản với các đặc trưng như: tính tự trị, tính cộng đồng, tình làng nghĩa xóm…
Ở hai chương nội dung chính thì tôi sẽ vừa đưa ra các chứng minh trong cuộc sống xã hội của Nhật Bản vừa đưa ra các dẫn chứng trong thành ngữ, tục ngữ Nhật Bản – những dẫn chứng do chính người Nhật đúc kết thành
Trang 14CHƯƠNG 1: NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN NHẬT BẢN VÀ THÀNH NGỮ,
TỤC NGỮ 1.1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN NHẬT BẢN
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Diện tích
Theo sách “Nhật Bản, đất nước và con người” của NXB Văn Học do Eiichi Aoki chủ biên – Tiến sĩ Nguyễn Kiên Trường dịch xuất bản 2006 thì diện tích lãnh thổ Nhật Bản khoảng 377.688 km2 (145.825 dặm vuông) được trải dài gần 2000km
từ 24 độ đến 45 độ vĩ Bắc Vị trí của Nhật Bản nằm ở phía Đông Bắc của Châu Á,
là một quốc đảo được bao bọc xung quanh là biển duy nhất trong số các quốc gia thuộc khối Đông Bắc Á Có 4 quần đảo chính là đảo Hokkaido(北海道), Honshu
(本州), Shikoku(四国)và Kyushu (九州) và quận Okinawa [3, tr.15] Bên cạnh
đó là một chuỗi đảo với hơn 3000 đảo lớn nhỏ trải dài từ Bắc đến Nam dọc theo biển Thái Bình Dương
Với diện tích nhỏ hẹp như vậy nên nguồn đất dành cho nông nghiệp của Nhật Bản không nhiều, phân bố rải rác ở tất cả các đảo chính của Nhật Bản nhưng không đồng đều, một số đảo do địa hình và khí hậu nên không có diện tích dành cho việc canh tác nông nghiệp Vùng tập trung nông nghiệp nhiều có thể kể đến như Hokkaido Diện tích của Hokkado vào khoảng 83.453m21, là khu vực có diện tích phát triển nông nghiệp rộng lớn nhất Vào năm Bình Thành 24 (2012) thì diện tích đất dành nông nghiệp của Hokkaido được công bố là 1,15 triệu ha (chiếm 25% tổng diện tích cả nước Nhật), có độ rộng của diện tích đất là khoảng 22.3 ha (gấp 10 lần mức độ rộng trung bình của toàn nước Nhật) nhưng số gia đình làm nghề nông chỉ vào khoảng 42.000 hộ (chiếm chưa đến 2.8% số gia đình làm nông nghiệp của Nhật) và đang có xu hướng ngày càng sụt giảm Do cấu tạo địa hình có núi chạy dọc từ Bắc xuống Nam, khí hậu lạnh và khô nên nông nghiệp chủ yếu chuyên trồng lúa, ngũ cốc, rau quả và các sản phẩm làm từ sữa Điều kiện khí hậu khắc nghiệt
1 http://www.hkd.mlit.go.jp/zigyoka/z_nogyo/kai/nogyo.htm
Trang 15quanh năm lạnh và khô khiến cho nền nông nghiệp của khu vực này không phát triển mạnh bằng các khu vực khác Nông nghiệp ở Hokkaido chủ yếu phát triển các nông trại rộng lớn và tập trung chủ yếu vào lâm – ngư nghiệp
Đảo Honshu là hòn đảo lớn nhất Nhật Bản với chiều dài khoảng 1300km, rộng từ 50 đến 230km với tổng diện tích là 228.000 km2, vừa là trung tâm kinh tế vừa là trung tâm hành chính, chính trị, văn hóa của Nhật Bản, chiếm khoảng 60% diện tích và dân số Nhật Bản Đảo chia ra hai vùng lớn là vùng Tohoku (東北 đông bắc) với các vùng đồng bằng duyên hải nằm dọc theo chiều dài bờ biển như vùng duyên hải Thái Bình Dương, Biển Nhật Bản và vùng Kanto (関東 vùng phía đông) diện tích là khoảng 32.385 km2 (12.504 dặm vuông) nổi bật là đồng bằng Kanto chiếm hơn 40% diện tích Ngày xưa đại đa số diện tích của cả vùng này tập trung phát triển cây lúa và là khu vực trồng lúa lớn nhất Nhật Bản Hiện nay tổng diện tích dành cho nông nghiệp vào khoảng 4,61 triệu ha, trong đó đất cấy lúa là 2,51 triệu ha và đất trồng cây lâu năm là 320.000ha Chỉ tính riêng Hokkaido từ năm
2000 đến năm 2010, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp đã giảm từ 2,862 triệu xuống còn 1,994 triệu người và dự báo năm 2015 chỉ còn khoảng 1,572 triệu người Bên cạnh đó, độ tuổi của lao động trong nông nghiệp tăng từ 30 – 50 tuổi lên 60 – 65 tuổi 2
1 2http://www.hkd.mlit.go.jp/zigyoka/z_nogyo/kai/nogyo.htm
Trang 16ra từ những ngọn núi chính đã khiến địa hình của Nhật bị phân chia lồi lõm với các thung lũng, các lòng chảo, các bình nguyên nhỏ, hẹp và có độ dốc cao
Về sông: Các con sông suối của Nhật hầu hết đều nhỏ, ngắn như các con sông Ishikarigawa, Shinanogawa, Tonegawa, Kisogawa, Yodogawa, Chikugogawa [3, tr.18] Các con sông này bắt nguồn từ các ngọn núi cao, chảy dọc theo các sườn núi rẽ nhánh và đổ ra biển Sông nhỏ cộng với địa hình núi có độ dốc cao vừa có tác dụng hỗ trợ điều hoà lượng nước sử dụng cho từng vùng và theo từng mùa, vừa có tác dụng tạo ra những con sông tích lũ có tác dụng điều thuỷ, hỗ trợ cho công cuộc làm nông nghiệp của Nhật Bản
Chính cấu tạo địa hình này đã khiến cho nông nghiệp của Nhật Bản mang một đặc trưng rất riêng biệt:
Các đồng bằng nằm ven biển đan xen với các thung lũng, núi và các cao nguyên, ruộng bậc thang được sử dụng phổ biến trên toàn nước Nhật để tận dụng từ các cao nguyên, cụm cao nguyên, bồn địa đến các sườn núi và các đồng bằng ven biển Tỷ trọng này chiếm tới 2/3 tổng diện tích canh tác của Nhật Do đất trồng rất ít nên tất cả các vùng lân cận với rừng núi đều được khai thác tối đa để canh tác trồng trọt, trữ lượng đất sử dụng cho chăn thả gia súc chiếm một tỷ lệ thấp
Do ruộng chủ yếu là ruộng bậc thang trên các sườn núi nên cây trồng chủ yếu của Nhật Bản chủ yếu là: chè, lúa nước, mì, kê, yến mạch, lúa ngô, khoai tây
1.1.1.3 Khí hậu
Khí hậu Nhật Bản phần lớn là ôn hòa, biến đổi từ bắc xuống nam do 3 nguyên nhân: khối không khí lạnh từ Serbia, khối không khí nóng ẩm từ Thái Bình Dương chảy vào và các dãy núi chảy thẳng cắt ngang các luồng không khí này Khí hậu chủ đạo chia ra 2 vùng Bắc – Nam: Phía bắc Nhật Bản có khí hậu ôn đới gió mùa còn phía Nam lại có khí hậu cận nhiệt đới gió mùa
Bên cạnh đó biển Nhật Bản có vai trò to lớn ảnh hưởng mạnh đến sự biến đổi khí hậu của Nhật Bản Vào mùa đông thì gió lạnh và khô từ biển thổi vào gặp
Trang 17không khí nóng và ẩm của Thái Bình Dương nên mùa đông có tuyết và lạnh Vào mùa hè thì các luồng khí từ Thái Bình Dương thổi vào làm không khí nóng và ẩm rất khó chịu
Do bao quanh là biển nên lượng mưa trung bình hàng năm của Nhật Bản khá cao vào mùa hè, thấp vào mùa đông Với thời tiết đặc trưng của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, Nhật Bản thích hợp cho nông nghiệp lúa nước và thâm canh các loại cây trồng nhiệt đới
1.1.2 Điều kiện xã hội
Xã hội Nhật Bản từ khởi nguyên cho đến tận hôm nay là xã hội nông nghiệp mang trong mình nền kinh tế công nghiệp Vậy những yếu tố nào đã hình thành nên
xã hội Nhật Bản mang bản sắc nông nghiệp như hiện nay?
- Con người: Một đất nước với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, đất trồng trọt nghèo nàn (chiếm 13% diện tích) còn lại là rừng núi hiểm trở hoang dại thì dân tộc Nhật Bản phải tiến hành cuộc đấu tranh bền bỉ với thiên nhiên khắc nghiệt để đảm bảo cuộc sống Thực tế gay gắt ấy tạo cho con người ở nơi đây sự cần cù, bền bỉ
驕る平家は久しからず おごるへいけはひさしからず Ogoru heike wa hisashikarazu
Dịch nghĩa: sống lãng phí thì sẽ không giữ được lâu
- Tinh thần võ sĩ đạo: tinh thần võ sĩ đạo là cột trụ tinh thần, có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn thể người Nhật Đạo võ sĩ là “thanh gươm” mài sắc ý chí chiến đấu của nhiều lớp thanh niên, là trụ cột tinh thần của người Nhật, giúp nước Nhật điêu tàn sau chiến tranh trở nên một nước hùng mạnh nhất nhì thế giới
- Tôn giáo: Ở Nhật, nhiều tôn giáo cùng tồn tại: đạo Shinto (Thần đạo), đạo Phật, đạo Thiên chúa và nhiều tôn giáo khác Trong đó, ảnh hưởng nhiều nhất là Thần đạo và Phật giáo Thần đạo thờ các vị thần linh thiêng trong trời đất, thờ tổ tiên, thờ hồn người chết, đặc biệt là thờ các anh hùng dân tộc có công lao với đất nước Do vậy, Thần đạo gắn liền với dân tộc, ảnh hưởng
Trang 18nhiều đến việc hình thành tính cách con người nơi đây Thần đạo mài sắc ý chí và đem lại sức mạnh tinh thần, không ngừng thúc đẩy con người vượt qua mọi khó khăn để vươn lên trong cuộc sống Phật giáo lại giúp con người loại bỏ và hạn chế dục vọng để giữ gìn sự bền bỉ, kiên trì cho những mục đích của mình Hai tôn giáo hòa quyện với nhau, tạo nên một con người Nhật luôn biết chủ động, tĩnh tâm, không vô tâm nhưng cũng không bị lôi cuốn vào vòng sắc dục Trong văn hóa, tôn giáo dễ được xem là những yếu tố thuộc phạm vi tâm linh không dễ đóng góp vào sự phát triển xã hội, nhưng chính Nhật Bản đã biết khai thác mặt tích cực của đa thần Không có tôn giáo độc tôn nên không có chiến tranh tôn giáo, con người không bị đẩy vào chỗ mê tín, dị đoan, mà ngược lại góp phần xác định sức mạnh và quyền lực của những giá trị tinh thần, của tâm linh để phục vụ cho cuộc sống Vì vậy,
có nhiều người cho rằng, tâm hồn người Nhật có một cái gì đó thần bí, bí ẩn Thực ra cái gọi là bí ẩn chỉ là sự kiên trì nỗ lực, nuôi dưỡng ý chí cho một mục đích đang và sẽ thực hiện, ở những thời điểm thích hợp, trước những yêu cầu của xã hội, của đất nước, sức mạnh ấy bùng lên, tỏa ra thành một lực lượng vật chất và tinh thần vĩ đại, và lịch sử đã chứng minh cho điều đó, chứng minh cho sự vươn lên thần kỳ của đất nước này
- Các vị thần: các vị thần xuất hiện trong tất cả mọi mặt của đời sống Thần sông, thần núi, thần biển, thần rừng, thần ruộng, thần cá, thần trâu, thần mưa, thần sấm… Ngay trong các truyền thuyết khai thiên lập địa, người Nhật tự nhận mình là con cháu của thần mặt trời Tất cả mọi sự vật trong cuộc sống theo quan điểm của người Nhật đều có một vị thần bảo hộ và che chở, giúp
đỡ Đây có thể coi là đặc trưng của văn hoá nông nghiệp lúa nước của riêng Nhật Bản: tất cả các yếu tố tự nhiên đều được các vị thần che chở và mỗi làng quê lại có một vị thần, một sự tích riêng Người nông dân mong muốn
có thể nhận sự bảo hộ của tất cả các vị thần để có mùa màng bội thu, một năm mưa thuận gió hoà cũng như mong muốn sống hoà mình cùng thiên nhiên
Trang 19- Phong tục tập quán: Văn hóa Nhật Bản trải qua hàng ngàn năm đã tạo nên những phong tục, tập quán, nghi lễ đặc trưng riêng Cái đặc trưng đó chính là thái độ tiếp thu văn hoá ngoại lai một cách chủ động, có chọn lọc đồng thời vẫn bảo tồn nét văn hoá truyền thống của dân tộc Trà đạo là một nghệ thuật thưởng thức trà trong văn hóa Nhật Bản, được phát triển từ khoảng cuối TK XII Chỉ một ly trà xanh nho nhỏ nhưng với người Nhật nó lại như một ốc đảo trong tâm hồn Họ cho rằng thông qua trà đạo có thể phát hiện được giá trị tinh thần cần có của bản thân Tinh thần của trà đạo được biết đến qua bốn chữ hòa, kính, thanh, tịch Hòa là hòa bình, kính là tôn trọng người trên, yêu thương bè bạn, con cháu, thanh tức là thanh tịnh, thanh khiết, còn tịch là giới hạn mỹ học cao nhất của trà đạo: an nhàn. Bên cạnh đó, y phục truyền thống cũng là một nét sinh hoạt văn hóa của người Nhật, đặc biệt là đối với người con gái Cách búi tóc của các cô gái Nhật rất cầu kỳ, mái tóc trước được dựng cao làm cho khuôn mặt có vẻ riêng, còn những món tóc được uốn lượn cầu kỳ là một nét thẩm mỹ đoan trang và duyên dáng Màu sắc chủ đạo của Kimono là màu nhạt, màu nâu đất với các hoạ tiết hoa, lá và các biểu tượng thiên nhiên khác – phản ánh sự tương thích phù hợp với cuộc sống làm nông cũng như văn hoá nông nghiệp tình yêu thiên nhiên của người Nhật Bản Chỉ trong những dịp lễ hội như cưới hỏi thì màu đỏ và các hoạ tiết sặc
sỡ được yêu thích
Những phong tục và nghi lễ của Nhật Bản đã góp phần tạo nên cuộc sống nền nếp, đảm bảo cho sự phát triển của xã hội, tạo nên một nền văn hóa Nhật mang đậm yếu tố nội sinh
1.2 CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
NHẬT BẢN
Nhật Bản là quốc gia Châu Á đầu tiên và duy nhất thành công trong việc chuyển đổi cơ cấu và năng suất lao động trong nông nghiệp Ngược lại với mô hình của các nước Châu Mỹ, Nhật Bản đã có mô hình phát triển nông nghiệp riêng của
Trang 20mình: tăng hiệu suất lao động với các trang trại có quy mô trung bình nhờ áp dụng các kỹ thuật phương Tây phù hợp và các chính sách hỗ trợ đúng lúc, phù hợp
Trong suốt quá trình phát triển, nông nghiệp, nông thôn Nhật Bản phát triển qua các giai đoạn:truyền thống và hiện đại
1.2.1 Nông nghiệp, nông thôn truyền thống Nhật Bản
Nông nghiệp truyền thống là giai đoạn xã hội Nhật Bản theo chế độ phong kiến, nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Các triều đại, chính quyền lãnh đạo chủ yếu là củng cố quyền lực cai trị, mở rộng ruộng đất khai hoang và tăng cường nguồn thuế cho tài chính quốc gia
1.2.1.1 Chính sách đất đai
Bộ luật đầu tiên của Nhật Bản có đề cập mạnh mẽ đến nông nghiệp là bộ luật Taika, xuất phát từ cuộc cải cách Taika do Thiên hoàng Kotoku (hiệu là Taika) khởi xướng năm 646 Tháng giêng năm Taika thứ 2 (646), tờ chiếu mang tên Kaishin no Mikotonori (Chiếu chỉ đổi mới) gồm 4 điều được công bố Đây là một văn kiện nổi tiếng và có tầm quan trọng rất lớn về mặt sử liệu Nội dung viết như sau:
Điều 1: Bãi bỏ chế độ chia tư hữu dân (nông nô) và tư hữu địa (nông địa) của hoàng tộc và hào tộc, tất cả gộp chung thành những vật sở hữu của nhà nước theo chế độ gọi là kouchi (công địa) và koumin (công dân) Thay vào đó, hào tộc cấp cao sẽ được cấp thực phong (tức một khoản lương tính theo số nóc gia đình)
Điều 2: Qui hoạch lại các khu vực hành chánh để thực thi trung ương tập quyền Điều 3: Lập sổ bộ hộ tịch và kế toán, tổ chức việc thu hồi và phân phát ruộng ban điền Ban điền (hanten) hay ruộng khẩu phần (khẩu phần điền = kubunden) là ruộng được đem chia cho người dân các hộ tùy theo số miệng ăn và số người lao động để
họ canh tác để sinh sống và nộp thuế cho nhà nước
Điều 4: Áp dụng một chế độ tô thuế thống nhất
Như vậy, ruộng đất nói chung đều thuộc quyền sở hữu của nhà nước do Thiên hoàng đứng đầu Ruộng đất được phân chia theo chế độ “Ban điền” (Kubunden) có hiệu lực trong vòng 5 năm, tất cả những người dân từ 6 tuổi trở lên đều được chia ruộng đất
Trang 21Đến thời kỳ Nara (710 – 794) chính sách ruộng đất hầu như không thay đổi, chỉ mở rộng thêm chế độ cho thuê đất – thúc đẩy quá trình tư hữu đất đai, dẫn đến
sự tư hữu hoá về ruộng đất mà nổi bật là sự manh nha xuất hiện của các trang viên Trên thực tế, ruộng đất thời kỳ này bị chia sẻ và nằm trong tay các gia đình dòng họ quý tộc và quan chức triều đình Việc cho thuê đất chỉ áp dụng được đối với tiểu nông Năm 711, nhà nước ban một sắc lệnh quy định cho phép quan chức địa phương thay mặt nhà nước phân phối những đất vô chủ có thể cày cấy được Bên cạnh đó, để khuyến khích khai hoang đất nông nghiệp, chính quyền Nara ban hành đạo luật mới cho phép chủ nhân vùng đất mới được miễn thuế một thế hệ, thậm chí hai, ba thế hệ hoặc nếu sản xuất được nhiều còn miễn thuế suốt đời, đất được quyền
sở hữu vĩnh viễn Chính việc khai hoang vô độ bên cạnh những đạo luật đất đai không phù hợp cùng với sự quản lý yếu kém, tham nhũng của nhiều quan chức cai trị dẫn đến mâu thuẫn gay gắt về quyền sở hữu đất đai
Đến thời kỳ Heian (794 – 1192) chứng kiến nhiều sự biến đổi trong nông nghiệp Nhật Bản từ chế độ công hữu sang tư hữu Do thời hạn cho thuê đất không đảm bảo nên người dân gần như không thực hiện Từ khoảng năm 912, chính quyền không còn quan tâm nhiều đến phân phối đất đai mà chỉ đề cấp đến thuế má và việc cho thuê đất bỏ hoang Chế độ “Ban điền” được xem là chấm dứt và đến thế kỷ X thì ruộng đất thuộc quyền sở hữu tư nhân đã hoàn toàn lấn át ruộng đất do nhà nước ban cấp Giai đoạn này, xuất hiện các trang viên Shoen công hữu và tư hữu
Đến Thời kỳ Kamakura (1992 – 1333) do tồn tại hai chính quyền của Thiên Hoàng và Tướng Quân Shogun song song nên các chính sách nông nghiệp có sự biến đổi mạnh mẽ Chế độ ruộng đất chính giai đoạn này là: người ta có thể quản lý một trang viên nhỏ rồi giao nộp một phần sản phẩm cho người sở hữu đất đai đó như đã thỏa thuận Hoặc, đó là người nhận trông nom một số đất đai hay bảo vệ đất đai đó chống lại những người lính canh láng giềng để nhận được từ người sở hữu một số tiền thù lao cố định, phần trăm của thu hoạch….Tại một số địa phương, người lĩnh canh đem ủy thác trang viên cho một quan chức địa phương nào đó là tốt nhất bởi vị này sẽ trông nom trang viên lấy thù lao, làm sổ sách và nộp tiền cho chủ
Trang 22đất vắng mặt
Như vậy, trong một trang viên có nhiều loại ruộng đất
- Đất dành riêng cho chủ đất thường là gia đình hoàng thất, đại quý tộc
- Đất dành cho cơ sở tôn giáo
- Đất thừa kế với người chủ tự canh tác
- Đất cấp cho chủ đất dành cho việc bảo vệ, loại này thường được chủ Shoen cho nông dân cày cấy rồi nộp thuế cho chủ
- Các loại đất khác không phải đất trồng lúa như ao hồ, đồi, rừng cây vv…
Bước sang thế kỷ XIII, quyền lực chính quyền rơi vào tay các nhiếp chính dòng họ Hojo Những lãnh chúa phong kiến lớn (Daimyo) là những người có quyền
sở hữu ruộng đất lớn trong cả nước cùng với quyền lực ngày càng tăng lên Những năm 1222 và 1223, các cuộc điều tra cơ bản ở tất cả các tỉnh với mục đích nắm lại diện tích đất đai canh tác, tên tuổi chủ đất, tên tuổi các quan chức quản lý đất đai Qua đó, chính quyền Mạc Phủ muốn tăng cường hiệu lực trong các chính sách ruộng đất và quyền sở hữu đất đai trên phạm vi cả nước Năm 1232, chính quyền cho công bố Luật Joei với 51 điều trong đó có 2 điều nói về quyền sở hữu ruộng đất, trang viên, vấn đề thừa kế và các việc liên quan Quyền sở hữu ruộng đất có giá trị trong 20 năm Điều này là một bảo đảm pháp lý cho người sở hữu - khác với thời kỳ Yoritomo khi mà quyền sở hữu không được pháp luật bảo vệ chặt chẽ Các quan chức quản lý đất đai được các thanh tra giám sát chặt chẽ và bất kỳ sai phạm nào bị phát hiện cũng nhận sự trừng phạt nghiêm khắc Qua đó, các quyền hạn về thủy lợi
và sản lượng thu hoạch đã có những cố gắng trung thực để điều chỉnh chế độ đánh thuế theo các mức khác nhau Như vậy, chính sách bảo vệ nông dân chống lại sự áp bức của tư nhân là quyết định sáng suốt của chính quyền đương thời
Năm 1297, chính quyền Mạc Phủ ban hành sắc lệnh cấm võ sĩ bán ruộng đất
và thủ tiêu tất cả các giao kèo mua bán ruộng đất Chính những động thái này làm cho thế lực của dòng họ Thiên Hoàng mạnh lên, Thiên Hoàng Go – Daigo được sự ủng hộ của các tầng lớp tham gia chống lại Mạc Phủ, để rồi năm 1333, thành phố Kamakura, chỗ dựa cuối cùng của dòng họ Hojo bị đánh chiếm Quyền lực của
Trang 23dòng họ này chấm dứt cũng đồng thời kết thúc thời kỳ Mạc Phủ Kamakura
Sau khi trở lại kinh đô, Thiên hoàng Go – Daigo lập tức củng cố địa vị và khôi phục lại vương quyền đã bị chính quyền Mạc Phủ áp chế, mở ra thời kỳ Muromachi (1334 – 1573) Về chế độ ruộng đất, chính quyền tiến hành cải cách nhằm mục tiêu là xóa bỏ của bộ máy bảo vệ chế độ sở hữu ruộng đất và chế độ thuế khóa của chính quyền Mạc Phủ Thế nhưng, chính sách mới lại dựa theo luật Taiho (702) lại không chủ trương xoá bỏ các điền trang mà trao quyền hạn lớn cho các quan cai trị cấp tỉnh và huyện Chính sách này cũng được một số chủ đất lớn chấp nhận nhưng tầng lớp tiểu địa chủ và nông dân tỏ ra không hài lòng
Bên cạnh đó, chế độ thừa kế đất đai chia đều cho các con trai đã tạo nên tầng lớp điền chủ mới ở nông thôn Giai cấp nông dân cũng có quyền sở hữu ruộng đất,
ít nhất là những tá điền được quyền sở hữu một khoảnh ruộng đất trong một trang viên
Sắc lệnh tháng 10 năm 1441, có điều khoản quy định là người nào đã cày cấy trên mảnh đất trong 20 năm sẽ được quyền sở hữu mảnh đất đó, có nghĩa xác định lại quyền sở hữu đất
Đầu thế kỷ XV, Nhật Bản rơi vào loạn Onin (1467 – 1477) nông dân hầu như mất ruộng đất mà vẫn phải chịu mọi thứ thuế của chính quyền Mạc Phủ Trong bối cảnh ấy đã dần hình thành một tầng lớp thống trị mới là những quân nhân có nguồn gốc bình dân Họ trở nên giàu có nhanh chóng bằng cách tước đoạt những trang viên trong vùng, thậm chí của các tổ chức tôn giáo và quý tộc khác nữa Cuối thế kỷ XV, nông dân trở thành lực lượng đi lính quân dịch và quá trình này phát triển đã góp phần tạo nên sự thay đổi quan trọng trong đời sống nông thôn Đó là sự xuất hiện của những pháo đài kiên cố của các nhà quý tộc mới ở nông thôn, họ bắt thuộc hạ sống gần pháo đài còn đất đai của thuộc hạ sẽ do người khác quản lý Kết quả là cơ cấu xã hội nông thôn có sự phân biệt rõ giữa tầng lớp tộc trưởng, hào phú với giai cấp nông dân
1.2.1.2 Quy chế xử lý đất đai
Về đất đai, khi thực hiện luật ban điền (handen), nhà nước còn cần phải có
Trang 24một qui chế giúp họ xử lý (và điều hành) luật ấy một cách tốt đẹp Qui chế nói ở đây là jôrisei (điều lý chế), dùng vào việc qui hoạch đất đai và được tổ chức với hình thức như sau:
Trước hết, đất đai được chia thành nhiều khu vực hình vuông mỗi bề dài là 6 chô (đinh) Vì 1 chô là 60 bu (bộ) tương đương với 108m, cho nên bề dài 6 chô là 468m Một bề của miếng đất được gọi là jô (điều), bề kia được gọi là ri (lý) Miếng đóng khung giữa hai được vây bọc bởi jô và ri cũng được gọi là ri Diện tích của ri (lý) khi phân chia thành từng ô một với chiều dài mỗi bên 1 chô được gọi là tsubo (quốc tự viết với chữ thổ+bình) Mỗi tsubo còn được chia thành 10 phần bằng nhau gọi là dan (đoạn) Như thế, đơn vị cơ sở của đất đai là dan Cách chia tsubo thành dan có thể thực hiện theo 2 phương pháp: Hoặc chia theo hình thù một vạt đất dài (chôchigata): 60 bu x 6 bu = 360 bu (=1 dan); hoặc chia theo hình thù một vạt đất ngắn (han.origata): 30 bu x 12 bu = 360 bu (= 1 dan) Như thế, người ta sẽ biết một cách rõ ràng diện tích miếng đất rộng bao nhiêu jô, bao nhiêu ri, bao nhiêu tsubo
Cách tính toán, phân chia như thế hãy còn ảnh hưởng đến ngày nay Người Nhật bây giờ khi hỏi chuyện về nhà cửa đất cát với nhau vẫn tính toán diện tích theo tsubo
1.2.1.3 Quy chế thu thuế
Trong suốt quá trình cai trị, nhìn chung đất đai nhà cửa và đất vườn được công nhận sở hữu tư nhân và như vậy được phép truyền lại cho con cháu Những người được phân cấp ruộng đất không được phép rời khỏi mảnh đất được chia và phải đóng thuế cho nhà nước với ba loại thuế chính là: thuế đất (Sho) nộp bằng thóc lúa, thuế sức lao động nộp bằng sức lao động (Yoeki) hoặc bằng sản phẩm (Yo), thuế sản phẩm (Cho) nộp bằng các sản phẩm ngoài thóc lúa Cả ba loại thuế chính này áp dụng với tất cả nam giới trưởng thành Ngoài ra còn miễn thuế một phần hoặc toàn bộ cho những người trong gia đình hoàng tộc, người có hàm từ bát phẩm trở lên, thầy thuốc, thợ mộc, thợ rèn, binh lính, phu trạm, phu khuân vác Giới quý tộc địa phương được ban cấp ruộng đất và nông dân căn cứ vào tước vị, chức vụ, công lao với triều đình Phần ruộng đất ban cho quý tộc theo tước vị thấp nhất cũng
Trang 25gấp 40 lần phần ruộng của nông dân Cụ thể cách tính và thu thuế như sau:
Trước tiên, kẻ được hưởng ruộng khẩu phần phải trả tô (so) Theo qui định thì cứ một dan hay một công đất, nông dân phải nộp 2 bó (soku) và 2 nắm (wa) lúa Tính ra thì cứ 10 wa thì thành một soku và tương đương với 3% số lúa thu hoạch được Do đó, một người đàn ông thuộc tầng lớp lương dân (ryômin) và được cấp 2 dan ruộng khẩu phần thì sẽ phải đóng cho nhà nước 4 soku 4 wa Số địa tô này nhà nước giao phó cho địa phương giữ lại để mai sau chi dùng cho những việc chung sử dụng kinh phí của nhà nước
Một tài nguyên khác của chính quyền trung ương là hai thứ thuế điệu (chô)
và dung (yô) Để có thể thu thuế điệu và dung, nhà nước mỗi năm phải lập đinh bạ
để kiểm kê dân số (keichô) rồi cứ theo đầu người mà đánh thuế Thuế điệu thu bằng vải, tơ hay lụa tùy theo sản vật của địa phương còn thuế dung là thuế sưu dịch (gọi
là tuế dịch hay saieki), người dân phải lên làm việc ở kinh đô 10 ngày một năm
Tuy nhiên thời đó, giao thông còn khó khăn, không phải cứ muốn đi đâu thì
đi Từ địa phương ra đến kinh đô, hành trình đã dài lại cực khổ Do đó có lệnh cứ nạp 2 jô 6 shaku (8m) vải là coi như đóng đủ thuế dung (yô) Chỉ còn đặt ra vấn đề
là làm thế nào chuyển vận sản phẩm lấy từ thuế điệu và thuế dung lên đến kinh đô Người ta phải cậy vào tay nông dân và loại lao động phụ trách chuyên chở này gọi
là unkyaku (vận cước) Ngoài ra, còn phải nhắc đến một hình thức lao động khác gọi tạp dao (zôyô) là một loại lao động cưỡng bách theo mệnh lệnh của quan cai trị (như các gunji) trong một khoảng thời gian có giới hạn để đi làm các việc liên quan đến thủy lợi và kiến thiết hoặc lao dịch tạp nhạp ở các nha sở
1.2.2 Nông nghiệp, nông thôn hiện đại Nhật Bản
Tình hình nông nghiệp nông thôn của Nhật Bản có sự thay đổi trong nhiều lĩnh vực:
1.2.2.1 Thay đổi về chính sách
Giai đoạn đầu, Nhật Bản với tinh thần “Thoát Á Nhập Âu” đã áp dụng một cách máy móc mô hình phát triển nông nghiệp của các nước Phương Tây: các trang trại có quy mô rộng lớn, nhập các nông cụ động cơ hơi nước, động cơ nổ, máy bơm
Trang 26hơi, máy xay xát gạo… để tiết kiệm lao động, thi hành chính sách cơ khí nông nghiệp trong nước, thành lập các xưởng cơ khí chế tạo nông cụ, các ruộng thí nghiệm ươm giống…Tuy nhiên mô hình của Phương Tây đã không thành công tại Nhật Bản do điều kiện tự nhiên của Nhật Bản không phù hợp: các trang trại không
có diện tích đủ rộng lớn, đất chật người đông, quy mô canh tác nhỏ…Chính vì thất bại trong việc áp dụng một cách vội vã đã giúp cho Nhật Bản nhanh chóng thay đổi các chính sách: Nhật Bản áp dụng chính sách “tiết kiệm đất đai”, sử dụng nhiều lao động, cải thiện hệ thống thuỷ lợi, nhân rộng giống cây tốt, sử dụng phân bón hoá học và phát triển các kỹ thuật canh tác phù hợp với quy mô nhỏ… mà chủ yếu là các thành tựu khoa học từ Đức Năm 1887, chính sách nông nghiệp mới có 3 yếu tố
cơ bản là:
Chọn lọc và phổ biến các giống lúa sản lượng cao
Hình thành một nền nông nghiệp sử dụng phân bón
Giới thiệu và phổ biến các tập quán và hình thức văn hoá mới
Quá trình này được tiến hành chậm rãi nhưng phát huy hiệu quả cao Cả 3 yếu tố này có mối quan hệ tương tác lẫn nhau: các giống lúa mới phải thích ứng tốt với phân nitơ Các tập quán như: cày sâu, trồng hai vụ, trồng thẳng hàng, cách bố trị đồng ruộng, tưới tiêu, thoát nước… được sử dụng ngày càng gia tăng
1.2.2.2 Thay đổi về cơ cấu lao động
Trước chiến tranh, nhân dân lao động nông nghiệp Nhật Bản chiếm con số 5 triệu 50 vạn hộ Đây là một con số tương đối lớn đối với lực lượng lao động của một loại ngành nghề Điều này cho thấy đất nước Nhật Bản vẫn là nền kinh tế vẫn dựa vào nông nghiệp là chính
Tuy nhiên trong thời kỳ này, bắt đầu xuất hiện tình trạng nông dân rời bỏ nông thôn lên các khu thành thị Nguyên nhân là do nông nghiệp không giúp người dân có cuộc sống ổn định và có thể làm giàu Theo thống kê cho thấy vào thời kỳ trước chiến tranh, gần 70% gia đình kinh doanh dưới 1ha Trong thời Minh Trị, số nông dân lĩnh canh chiếm số lượng khá đông Khoảng 40% nông dân vừa lĩnh canh vừa tự canh, 30% dân lĩnh canh và số canh chiếm tỷ lệ chỉ 1/3 Từ đó chúng ta thấy
Trang 27rằng khoảng 70% người dân phải chịu nộp tô, thuế cao Chính vì vậy, người nông dân dù cực khổ lao động nhưng vẫn không thể nào thoát ra khỏi sự bần cùng
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, hàng loạt cải cách được thực hiện giúp giải phóng người dân khỏi chế độ tô thuế nặng nề, có thể tự do canh tác trên đất của chính mình mà như thế sản lượng nông sản có được ngày càng nhiều, năng suất sản xuất tăng lên một cách rõ rệt qua các thời kỳ Nền nông nghiệp của Nhật Bản sau chiến tranh đã tăng đáng kể về năng suất trồng lúa của những hộ nông dân Không chỉ vậy, năng suất sản xuất hoa màu cũng có những phát triển đáng kể Bên cạnh đó, máy móc cũng được người nông dân bắt đầu sử dụng vào công việc sản xuất Tuy nhiên do tình trạng kinh doanh nhỏ lẻ nên những người nông dân phải chi tiêu rất nhiều để áp dụng những biện pháp khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên dù sản lượng
có tăng cao nhưng thu nhập của họ cũng khá hạn chế Lúc này tổng sản phẩm quốc dân của Nhật Bản tăng lên 10%, mức tăng trưởng khá cao nhưng sản lượng nông nghiệp chỉ tăng ở mức 3 – 4% mà thôi Năm 1955 nông nghiệp chiếm gần 20% trong tổng thu nhập quốc dân
Tuy nhiên khi Nhật Bản bước vào thời kỳ tăng trưởng nhanh trở thành một nước công nghiệp và số lượng lao động bị thu hút vào các ngành công nghiệp tăng lên, người nông dân rời bỏ những khu vực nông nghiệp để làm việc trong những khu vực công nghiệp Dù trước đây đã có tình trạng như vậy xảy ra nhưng nó chỉ ở một mức độ nào đó nhưng trong thời kỳ kinh tế phát triển cao sau chiến tranh thì số nông dân di chuyển qua các khu lao động công nghiệp là rất lớn Chính vì vậy, tỷ lệ nhân khẩu nông nghiệp cũng giảm dưới 10% Trong suốt 7 năm từ năm 1958 đến
1964, sự giao động của lực lượng nông nghiệp vào khoảng 3,3% và đó là sự giao động theo khuynh hướng giảm đi 3,3%, số người di chuyển ra và số người từ bỏ làm nông nghiệp vì một số nguyên nhân khác nhau đã lớn hơn số người bắt đầu làm nông nghiệp hoặc chuyển sang làm nông nghiệp Số lượng gia đình không có người làm nông nghiệp lên đến 60% và số gia đình không có con trai làm nông nghiệp cũng lên tới 90%
Trang 28Nông nghiệp Nhật Bản xảy ra tình trạng khủng hoảng: gạo quá thừa trong khi nguồn cung các lương thực khác giảm xuống một cách đáng sợ Nhu cầu ngũ cốc là 69% nhưng khả năng tự cấp chỉ khoảng 2% và các thực phẩm khác cũng không vượt quá 32%
Theo dõi sự tiến triển của nông nghiệp từ giai đoạn trước chiến tranh, sau chiến tranh và đến thời kỳ tăng trưởng cao, chúng ta thấy rất hợp lý với quá trình phát triển kinh tế của đất nước Trước chiến tranh, kỹ thuật còn thô sơ nên sản lượng thấp và vì thế thu nhập của những cư dân nông nghiệp không được bằng các
hộ công nhân nhưng sau khi chiến tranh kết thúc, nền công nghiệp hóa còn non trẻ của Nhật Bản đã sụp đỗ dẫn đến tình trạng không cung cấp thu nhập cao cho người công nhân Trong tình cảnh đó, nông nghiệp là nguồn thu chủ yếu và số người lao động tập trung về nông thôn cũng đông nên dẫn đến sử phát triển của nông nghiệp trong thu nhập cá nhân Nhưng dần dần nền công nghiệp hóa được phục hồi và số người lao động lại bắt đầu rời bỏ nông nghiệp và nền nông nghiệp không thể so sánh được với công nghiệp vào thời kỳ tăng trưởng cao, khoa học kỹ thuật được áp dụng rộng rãi Năng suất lao động tăng nhanh và vì thế những người lao động nông nghiệp có thu nhập hơn những người công nhân là điều dễ hiểu
1.2.2.3 Thay đổi về cơ cấu làng xã
Làng xã của Nhật Bản dưới ảnh hưởng của sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp, sự sụt giảm của lực lượng lao động, sự phát triển của các thành thị và các khu đô thị bao quanh các thành thị đã làm phá vỡ kết cấu của làng xã
Quá trình công nghiệp hóa làm cho đô thị phát triển, nhưng số dân làm nông nghiệp vẫn chiếm 80% và nhân khẩu đô thị chỉ có 10% Đến 1940 thì nhân khẩu của thành thị đạt đến con số 40% biến Nhật Bản trở thành nước đầu tiên của Châu
Á là nước công nghiệp Con số này tuy chỉ chiếm ¼ dân số Nhật Bản nhưng ½ trong số đó là các thợ thủ công trong gia đình nhỏ và những người kinh doanh tự do Tuy nhiên Nhật Bản vẫn là xã hội mang bản chất nông nghiệp và toàn thể xã hội Nhật Bản là xã hội nông nghiệp Tại sao lại nói như vậy vì đại bộ phận đều là những nông dân làm kinh doanh theo hộ gia đình, nông nghiệp chuyển biến mang
Trang 29tính chất thương mại, người nông dân vừa là công nhân vừa là nông dân nhờ công nghiệp cơ khí hóa trong nông nghiệp được đẩy mạnh
Đối với những nông dân thì gia đình vừa là tập thể sinh sống vừa là tập thể sản xuất, là gia nghiệp của họ Gia nghiệp này do trưởng nam thừa kế theo nguyên tắc của chế độ “Nhà” và chế độ đó rất được coi trọng trong xã hội Nhật Bản
Cho đến đầu thời thiên hoàng Showa phần lớn những người nông dân vẫn sống trong các xóm nông nghiệp nhỏ, cày cấy trên đất nông nghiệp của tổ tiên để lại Làng xã hoạt động theo nguyên tắc, quy ước của cộng đồng, do những người được bầu ra làm đại diện cho làng điều khiển hoạt động Sau khi cải cách Minh Trị Duy Tân thì làng cũng hòa nhập với xã hội hiện đại, bị chi phối bởi tiền tệ và làn sóng kinh tế hàng hóa bao trùm nhưng cách thức hoạt động vẫn còn theo lề thói cũ
Trong thời Tokugawa, làng xã được tập hợp từ các thôn nhỏ Ngay ở miền núi thì các thôn phân tán cũng được tập hợp thành một làng Nhìn chung cho mọi làng, thuế đất được quy định theo diện tích, chất lượng đất được canh tác Thuế này hàng năm phải nộp thông qua những người quản lý trong làng Phạm vi đất của làng cũng được phân chia rạch ròi, trường hợp nếu canh tác trên đất của làng thì phải nộp thuế thông qua làng đó Hiện tại, ý thức ranh giới vẫn còn tồn tại ở một số địa phương, vì thế cũng có người coi làng như một lãnh thổ riêng Làng xã giữ vai trò chủ đạo trong các công việc sử dụng nhiều lao động của nền sản xuất trồng lúa, ví
dụ như công tác thủy lợi Ngoài ra trong thời kỳ này, phân bón canh tác lúa nước chủ yếu được khai thác ở núi đồi và đồng hoang, đồng thời núi đồi cũng là nơi cung cấp nhiên liệu cho cư dân nên làng đóng vai trò điều phối trong việc phân chia sử dụng núi đồi đó Tầm quan trọng của đồi núi sau này đã có sự thay đổi do việc sử dụng phân hóa học vào sản xuất nông nghiệp nên việc quản lý và phân chia không còn quan trọng nữa Dù sao về thủy lợi, các kênh dẫn nước tuy đã được hoàn thiện nhưng vẫn cần có sử quản lý chung của dân làng Sản xuất cá thể tuy vẫn là hình thức chủ đạo nhưng nếu không có sự hỗ trợ trên cơ sở sở hữu chung đó thì không tiến hành được Nói tóm lại, làng trong thời Minh Trị đến trước chiến tranh vẫn được coi là một cộng đồng chặt chẽ
Trang 30Cùng với quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng sau chiến tranh, sự phát triển của đô thị… cộng đồng làng xã cũng đã hoàn toàn thay đổi bộ mặt của nó Giai đoạn này xảy ra nhiều hiện tượng như: sự trống rỗng của khu vực, sự tan rã hoặc giải thể của cộng đồng… Các vấn đề này đều thể hiện ở xã hội làng xóm Nông thôn được chia thành hai bộ phận: thiểu số nông dân chuyên nghiệp và đại đa
số nông dân kiêm nghiệp Thêm vào đó những gia đình không phải nông dân nhưng sống ở nông thôn cũng nhiều lên Có không ít những trường hợp làng xóm của những gia đình không phải là nông dân, trong đó gia đình nông dân chiếm thiểu số
Xã hội nông thôn trở thành một xã hội hỗn cư vì lý do đó Vấn đề này thể hiện rõ qua kết quả điều tra làng xóm được tiến hành cũng với điều tra dân số nông lâm nghiệp Năm 1960 cấu tạo bình quân có 39 hộ nông dân và 25 hộ không phải là nông dân (tổng cộng là 64 hộ) thì đến năm 1970 kết quả là 37 và 44 (tổng cộng là
81 hộ) [4,tr 96]
Chúng ta có thể thấy rõ những làng “nông dân thuần túy” đã giảm cùng với
sự gia tăng của số hộ không phải là nông dân Nguyên do là do những người dân không làm nông nghiệp nhưng cũng không có khả năng tìm được chỗ ở trong các khu đô thị nên di cư ra các vùng nông thôn tiệp cận các đô thị để có thể dễ dàng làm việc trong các khu đô thị Dần dần những làng nông nghiệp có số nông dân ít hơn một nửa dân số trong làng Chính điều này đã khiến cho sự tan rã trong cơ cấu của làng xóm nông thôn Nhật Bản bắt đầu phát triển
So với trước chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra, làng xóm là một hệ thống từ trên xuống dưới gồm những người nông dân chuyên nghiệp, những người nông dân kiêm nghiệp và chịu sự quản lý của giai cấp địa chủ Tuy ở nông thôn lúc bấy giờ các tầng lớp nông dân có khác nhau về phương thức tổ chức kinh tế, sản xuất gia đình nhưng nói chung vẫn là nông dân làm nông nghiệp Khi bước vào thời kỳ phát triển kinh tế “thần kỳ” đã biến đổi gây nên một sự hỗn độn về việc phân biệt các tầng lớp nông dân Xuất hiện những hộ gia đình trên danh nghĩa là nông dân nhưng không hề làm nông nghiệp, những nông dân kiêm nghiệp mà nguồn nhu nhập chủ yếu không xuất phát từ nông nghiệp, những người sống ở nông thôn nhưng làm việc
Trang 31ở khu công nghiệp đô thị… Tất cả làm tan rã cộng đồng làng xã bởi sự phân hóa khá phức tạp và khó quản lý
Sự phát triển của kinh tế, du nhập các kỹ thuật và phát triển của kinh tế thị trường đã làm tan rã làng xã cũng như thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo con đường công nghiệp hóa – hiện đại hóa chuyên nghiệp Làng xã và sự ràng buộc của truyền thống suy yếu
và sửa đổi về mặt ngôn từ và độc lập riêng rẽ với từ ngữ hay hình ảnh mà thành ngữ
sử dụng, thành ngữ thường được sử dụng trong việc tạo thành những câu nói hoàn chỉnh”
Còn theo đại từ điển Tiếng Việt, thành ngữ được hiểu như sau: “Thành ngữ (danh từ) là một tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó.”
Ví dụ: Một nắng hai sương
Rán sành ra mỡ
Ăn trắng, mặc trơn Đứng ngồi không yên
Hay theo như Nguyễn Thiện Giáp thì “thành ngữ là đơn vị định danh biểu thị khái niệm nào đó dựa trên những hình ảnh, những biểu tượng cụ thể”[16, tr 43 - 52]
Phạm Tất Thắng thì “Thành ngữ là những cụm từ cố định có sẵn trong ngôn ngữ mang chức năng định danh như từ dung để gọi tên sự vật, hiện tượng, trạng thái, hành động, tính chất…và có tính hình tượng” [5]
Theo như các định nghĩa trên có thể thấy thành ngữ là một tập hợp có kết cấu chặt chẽ ổn định Thành ngữ là những đơn vị có sẵn trong vốn từ vựng của từng
Trang 32ngôn ngữ của các nước và mỗi câu thành ngữ mang trong nó những cấu trúc nhất định nên khi cần sử dụng nó, người ta chỉ việc lấy ra và sử dụng nó chứ không hề có những đặc trưng cấu tạo ngữ pháp riêng nào trong văn nói và văn viết Do đó thành ngữ là những đơn vị mang ý nghĩa được xuất hiện trong các hoạt động giao tiếp
Thành ngữ có các đặc điểm như:
Thành ngữ là công cụ của giao tiếp và tư duy
Mang tính biểu trưng về mặt ngữ nghĩa, luôn xác định về mặt ý nghĩa
và luôn mang một nội dung biểu hiện nào đó
Là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh, chỉ ra các sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất, trạng thái
Thành ngữ còn là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh Nó chỉ ra các sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất, trạng thái Các từ cùng giữ chức năng định danh nhưng chức năng của chúng không hoàn toàn giống nhau Chức năng định danh của thành ngữ là một trong những nét cơ bản để phân biệt nó với các đơn vị ngôn ngữ khác chẳng hạn như tục ngữ, ca dao
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, tục ngữ được hiểu như sau:
“Tục ngữ (danh từ) là các câu ngắn gọn, thường có vần điệu, đúc kết tri thức kinh nghiệm sống và đạo đức trong thực tiễn của nhân dân”
Ví dụ: Đói cho sạch, rách cho thơm
Tục ngữ theo như GSVS Nguyễn Lân thì : “Tục ngữ là lời nói của dân gian
từ xưa truyền lại, thường nêu lên những kinh nghiệm trong cuộc sống.” [13, tr 1237]
Còn theo như Phạm Văn Bình thì “Tục ngữ là một câu nói hoàn chỉnh diễn đạt đầy đủ một ý Ý đó có thể là một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý hay là một lời khuyên hoặc phê phán được rút ra từ trong thực tế của con người Vì vậy bản thân “tục ngữ” là “một tác phẩm văn học hoàn chỉnh” chứ không phải là một bộ phận của ngôn ngữ [28, tr 9-20]
Ví dụ: Trăng rằm thì hạn, trăng tán thì mưa
Cha mẹ sinh con, trời sinh tính
Trang 33Có thể hiểu: Tục ngữ là những câu dễ hiểu, đúc kết trí tuệ của người xưa truyền lại cho đời sau, nên tục ngữ thường có xu hướng dùng hình ảnh cụ thể để biểu hiện những nội dung khái quát Nó thường mang đặc điểm là ngắn gọn, súc tích và có tính bền vựng lâu dài Ta có thể thấy tục ngữ loại chi bốn hoặc năm tiếng chiếm rất nhiều Tuy ngắn gọn nhưng tục ngữ lại mang những ý nghĩa vô cùng phong phú và đa dạng gồm cả nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hẹp, nghĩa rộng Những tục ngữ ngắn gọn nhưng diễn tả ý nghĩa tương phản và ảnh hưởng của sự vật bằng những hình ảnh rất đẹp như “nước chảy đá mòn”, “xuôi chèo mát mái”… Hình thức ngắn gọn của tục ngữ là do nó được lưu hành bởi truyền miệng cần có tác dụng dễ nhớ dễ thuộc dễ lan truyền trong dân gian
Tục ngữ có nhiều đặc điểm riêng biệt như:
Tục ngữ vô cùng bóng bẩy sinh động, mang nhiều hình tượng đẹp đẽ với nhiều lời ví von Ta thường bắt gặp phương pháp nhân cách hoá trong tục ngữ, giúp cho tục ngữ càng thêm sâu sắc hơn trong tâm trí của người sử dụng nó
Tục ngữ là câu nói truyền miệng từ người này sang người khác nên tự thân mang trong mình lối diễn đạt vô cùng độc đáo: đó chính là vần điệu Vần điệu giúp cho tục ngữ thêm phần biểu cảm, dễ phát âm và
có giá trị về nhạc lý nhờ các nhịp điệu của câu
Thường sử dụng cách nói đối: đối thanh và đối ý
Trong Tiếng Nhật, có các khái niệm là “Kotowaza” (諺), “Kanyouku”(慣用句), “Iinarawashi”(言い習わし), “Yojijukugo” (四字熟語 Theo như đại từ điển tiếng Nhật Koujien (広辞苑) của nhà xuất bản Iwanami (岩波書店) thì
có thể hiệu 4 từ ngữ trên như sau:
Kotowaza: là những từ ngữ được mọi người sử dụng quen thuộc từ xa xưa Những câu nói ngắn gọn hoặc bóng bẩy hàm ý răn dạy hoặc châm biếm
Kanyouku: là những cách biểu hiện mang tính tập quán, được tạo thành bởi hai từ trở lên, nhưng ý nghĩa của chúng không đơn thuần là
Trang 34tổng hợp ý nghĩa của các yếu tố thành phần
Iinarawashi: là những sự việc, từ ngữ được nói một cách phổ biến từ
1.3.2 Nguồn gốc thành ngữ, tục ngữ Nhật Bản
1.3.2.1 Nguồn gốc Nhật Bản
Thành ngữ, tục ngữ Nhật Bản được bắt nguồn từ chính những kinh nghiệm đúc kết ra từ cuộc sống cũng như các hoạt động sản xuất lâu đời cụ thể là nền nông nghiệp lâu năm của đất nước “mặt trời mọc” Đó chính là các lễ hội văn hoá, lễ hội nông nghiệp dân gian, kinh nghiệm nông nghiệp, quy định, phong tục tập quán
Xuất phát từ các kinh nghiệm cuộc sống
Hayaoki wa sanmon no toku
Dịch nghĩa: Thức dậy sớm có lợi 3 phân tiền
Câu này Từ ‘MON” – “Văn” ý chỉ đơn vị tiền nhỏ nhất của tiền Nhật ngày xưa Về cách sử dụng từ “三文” có cùng nghĩa trong câu thành ngữ này, NB cũng
có câu thành ngữ khác nữa là “二束三文” – có nghĩa là “Hai bó lúa, 3 phân tiền” nhằm ý chỉ là rất rẻ mạt Từ 2 câu thành ngữ trên, ta có thể thấy cách sử dụng “三文” nhằm nghĩa chỉ một lượng tiền rất nhỏ Từ đó suy ra ý nghĩa của câu thành ngữ “早起きは三文の特” là: cho dù có dậy sớm chăng nữa thì thực sự cũng chỉ có được 1 chút xíu lợi ích thôi Tuy nhiên vấn đề là: tại sao dậy sớm thì sẽ có lợi
Để lý giải câu thành ngữ, tục ngữ này, chúng ta sẽ quay trở ngược lại cuộc sống ngày xưa của người dân Nhật Bản Ngày xưa, vào lúc cuộc sống của người
Trang 35Nhật vẫn chưa có ánh điện thì vào buổi tối, người dân sẽ thắp sang bằng lửa, bằng nến Tất nhiên độ sáng thì không thể so sánh với ánh sáng của đèn điện Do vậy, người dân Nhật Bản lúc bấy giờ luôn bắt đầu một ngày của mình khi mặt trời bắt đầu mọc và kết thúc công việc của mình khi mặt trời lặn Đối với cuộc sống như vậy thì việc việc dậy sớm cũng đồng nghĩa với việc có thể bắt đầu công việc sớm và hoàn thành công việc sớm hơn so với những người khác Câu thành ngữ dạy cho ta: dậy sớm, làm việc một cách nghiêm túc thì chúng ta thực sự sẽ có lợi được rất nhiều – mà đối với người dân ngày xưa chinh là 3 phân tiền Mặt khác, dậy sớm cũng sẽ giúp cho con người có thể điều chỉnh cuộc sống, giữ gìn sức khoẻ
Ngoài ra còn rất nhiều thành ngữ nhấn mạnh tầm quan trọng của vệc dậy sớm như: “朝起きの家に福来る” – “Dậy sớm nhà có phúc” Ngoài ra, ở nước ngoài cũng có rất nhiều câu thành ngữ có cùng ý nghĩa, ví dụ như là: “Chim dậy sớm có thể bắt được sâu” – “早起きをした鳥は虫をとらえる”
Isogaba maware
Dịch nghĩa: Khi gấp thì nên đi đường vòng
Câu thành ngữ này được sử dụng rất phổ biến trong cuộc sống hàng ngày Câu này có nghĩa là: khi đang gấp, đang vội thì có thể hãy thử đi đường vòng, đường an toàn như 1 liều thuốc an thần cho chính bản thân mình Nói xa hơn, câu nói nhắc nhở mọi người nên chuẩn bị cẩn thẩn, đầy đủ để không bị gấp rút
Thực sự thì nó cũng có liên quan đến một bài hát có vào thời Makura Bài hát đó là: 「もののふの矢ばせの船ははやくとも急がば回れ瀬田の長橋」
“矢ばせ” là tên vùng đất nằm bên cạnh Hồ Biwa Từ xa xưa đây là vùng có rất nhiều tàu thuyền qua lại Con đường đi qua Hồ Biwa là con đường ngắn nhất nhưng đồng thời khi có bão, có gió mạnh thì đồng thời cũng sẽ xảy ra những tai nạn như chìm tàu Mặt khác, còn có một con đường đi qua Hồ Biwa bằng cây cầu SETA Đây là cây cầu dài, một con đường vòng nên tốn thời gian hơn là đi thuyền Tuy nhiên đây là cầu nên sẽ không xảy ra những tai nạn như chìm thuyền Ý nghĩa của bài hát là: “Qua hồ bằng thuyền thì nhanh nhưng cũng sẽ có nguy hiểm Chính
Trang 36những lúc vội vàng, khẩn cấp thì xin hãy sử dụng cầu tuy rằng đó là con đường vòng.” Qua bài hát phần nào giúp người nghe hiểu hơn về văn hóa nông nghiệp Nhật Bản thời bấy giờ
Đồng thờ giúp ta hiểu sâu hơn ý nghĩa của câu thành ngữ: “So với việc vội vàng thì nên chọn lựa phương pháp, con đường an toàn, chắc chắn”
Xuất phát từ các kinh nghiệm làm nông
Do đời sống của người Nhật xuất phát điểm từ nông nghiệp nên không thiếu những câu thành ngữ, tục ngữ liên quan đến kinh nghiệm nhìn thời tiết Ngày nay chúng ta có những dự báo thời tiết nên dễ dàng biết được sự chuyển đổi của thời tiết
để làm việc hay mặc đồ phù hợp Tuy nhiên ngày xưa trong thời đại chưa có dự báo thời tiết thì con người làm nghề nông nghiệp, ngư nghiệp chỉ có thể dựa vào những kinh nghiệm ông cha ngày xưa truyền lại để dự đoán thời tiết
o “夕焼けは晴れ、朝焼けは雨” – “Yuuyake wa hare, asayake wa ame” - “Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa” Khi cuối ngày mà bầu trời phía tây chuyển sang màu đỏ thì ngày hôm sau trời sẽ nắng Còn vào đầu ngày, nếu bầu trời phía đông có màu đỏ thì ngày hôm đó trời sẽ mưa Thực tế câu thành ngữ này không chỉ có ở Nhật mà nhiều nước trên thế giới cũng có câu thành ngữ tương tự
o “三寒四温” – “Sankanshion” - “Ba lạnh bốn ấm” – Ngày xưa có kinh nghiệm nhìn thời tiết Nếu ba ngày liên tục lạnh kéo dài thì sau
đó sẽ ấm lên Còn nếu trong vòng bốn ngày liên tục thời tiết ấm áp thì sau đó thời tiết sẽ chuyển sang lạnh Dựa vào kinh nghiệm của những người nông dân, vào thời đại xa xưa chưa hề có dự báo thời tiết hay các thiết bị hiện đại thì chính những kinh nghiệm dân gian truyền lại cho đời sau giúp cho người dân có thể chăm lo cho cây trồng của mình Bên cạnh đó, câu thành ngữ này còn nhằm ám chỉ sự chuyển đổi của thời tiết một cách nhẹ nhàng Chính nhờ kinh nghiệm nhìn trời, đoán thời tiết và trải qua nhiều năm tháng, nhiều thế kỷ người dân đã đúc rút được kinh nghiệm cho mình Có thể kể thêm một số
Trang 37câu thành ngữ, tục ngữ về kinh nghiệm của người nông dân về thời tiết như:
“朝雨にかさいらず” – “Asa ame ni kasa irazu” - “Mưa sáng không cần dù” Những cơn mưa vào buổi sáng thì luôn nhẹ, kết thúc sớm Đôi khi nó cũng chưa đủ làm ướt vai áo của người đi
Vì vậy mới hình thành nên câu thành ngữ tục ngữ này Tuy nhiên ẩn hiện sâu xa đằng sau là những suy nghĩ sâu xa của ngươi dân Nhật khi suy ngẫm về sự chuyển đổi của thời gian,
sự sâu lắng của cuộc sống lên trầm xuống bổng, về đời người vụt qua trong thoáng chốc với buồn vui xen lẫn Tất cả đều như cái thở khẽ khàng của vị thần thời gian, một cơn mưa sáng đặc trưng của tiết trời vào xuân – nhẹ nhàng khe khẽ báo hiệu cho chúng ta thời khắc giao mùa đã đến, năm cũ đã qua, đời người lại rút ngắn thêm một “cơn mưa” nữa Tương tự như vậy cũng
có câu nói “冬来たりなば春遠からじ” – “Fuyukitarinaba haru tōkaraji “ - “Mùa đông không đến, mùa xuân sẽ còn xa”
“つばめ(鳥の一種)が高く飛べば晴れ、低く飛べば雨” – “Tsubame (Tori no isshu) ga tataku tobeba, hikuku tobeba ame” - “Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng bay vừa thì râm.” Ngày xưa người dân chưa có dự báo thời tiết, nhiệt kế hay bất cứ một phương tiện nào để có thể dự báo thời tiết Tuy nhiên chính cách nhìn trời, nhìn đất, nhìn động vật đã mang cho con người kinh nghiệm chuẩn xác Từ phản ứng của các loại động vật sẽ cho người dân câu trả lời chính xác cho sự biến đổi của thời tiết
Xuất phát từ phong tục tập quán, văn hoá dân gian
Nhật Bản là một đảo quốc nằm trong vùng khí hậu ôn đới tuy rằng chịu ảnh hưởng của gió mùa, của biển và của kết cấu địa tầng nên hàng năm đều chịu nhiều thiên tai, động đất, sóng thần Tuy nhiên chính do những ảnh hưởng của tự nhiên đã
Trang 38khiến cho Nhật có khí hậu bốn mùa xuân hạ thu đông rõ rệt, cảnh thiên nhiên tươi đẹp luôn biến đổi không ngừng Chính sự chuyển động của bốn mùa cùng với những yếu tố lịch sử, tôn giáo và nguồn gốc là một xã hội nông nghiệp cộng thêm với tín ngưỡng thờ các vị thần tự nhiên trong thần đạo – tất cả đã hoà quyện thành một trong những nguồn cảm hứng, chất liệu cho việc tạo nên những thành ngữ, tục ngữ
目に青葉、山時鳥、初鰹
めにあおば、やまときとり、はつがつお
Meniaoba, yamatokitori, hatsugatsuo
Dịch nghĩa: Trước mắt lá xanh, trên núi chim hót, nếm miếng cá thu đầu tiên Khi thời tiết biến đổi, người Nhật có thói quen cũng thay đổi cuộc sống của mình Quần áo, thức ăn, lễ hội, cây cối, trang trí nhà cửa tất cả đều chuyển mình cho phù hợp với tiết trời lúc đó Câu thành ngữ này bắt nguồn từ câu thơ haiku của một nhà thơ nổi tiếng thời Eido là nhà thơ Yamaguchi Sodou (1642 – 1716) viết về thời khắc giao mùa Với cảm nhận tinh tế của thị giác, thính giác, vị giác đã nói lên khoảnh khắc mùa hè đã đến
Một trong những khoảnh khắc quan trọng của người Nhật chính là thời khắc đầu năm mới Tất nhiên không chỉ Nhật Bản mà bất cứ quốc gia nào đều rất coi trọng thời khắc giao mùa lễ đầu năm Và một việc quan trọng trong thời điểm này không gì khác hơn là việc trang trí nhà cửa đón lộc đầu năm
門松一夜飾りはいけない かどまついちやかざりへいけない
Kadomatsu ichiya kazarihaikenai
Dịch nghĩa: Trong một đêm phải trang trí cho xong Kadomatsu
Câu này ám chỉ tầm quan trọng của việc chào đón năm mới là phải trang trí cho xong “Kadomatsu” dù là đến ngày cuối cùng của năm 31/12 thì cũng phải làm xong để chào đón năm mới an lành, thịnh vượng, may mắn Từ “Kadomatsu” xuất phát từ thời Heian, là một bộ trang trí treo trước của ra vào hay để ở hành lang trước nhà Các quý tộc thường mang về nhà những cây thông còn nhỏ, mới nhú mầm mà chưa thành những cây to với ý muốn cầu mong trường phúc trường thọ an lành vì
Trang 39cây thông là loại cây sinh trưởng tại vùng băng giá khắc nghiệt, sống lâu năm và rất hiên ngang trước giá rét Dần dần phong tục này lan truyền đến người dân trong cả nước, hình dáng cũng được sửa đổi và đến thời Muromachi thì chỉ còn lại là những biểu tượng trang trí trước cửa mang ý nghĩa biểu trưng và lưu truyền cho đến ngày nay
Tuỳ theo từng địa phương mà cách trang trí khác nhau, chủ yếu bao gồm 3 cây tre ở giữa với chiều cao khác nhau tượng trưng cho ba yếu tố: trời, đất và con người, được buộc lại với nhau bằng dây thừng hoặc dây bằng rơm rạ tuỳ Xung quanh sẽ cắm lá của cây tre, lá trúc, đôi khi sẽ có những dải giấy trắng
Sau mùa đông lạnh giá với cái tết năm mới thì một trong những thời khắc quan trọng chính là thời điểm chuyển giao giữa mùa đông lạnh giá sang màu xuân mát mẻ thì việc ngắm hoa anh đào uống rượu Sochu, hay vừa ngắm pháo hoa vừa uống bia chính là một trong những tập quán lâu đời của người Nhật Bản Nó không phải là những quy định thành văn bản, những luật lệ bắt buộc nhưng nếu bạn ngắm hoa mà uống bia, ngắm pháo hoa uống rượu sẽ không thể cảm nhận hết cái thi vị lãng mạn của văn hoá Phong cảnh hữu tình, thức ăn đồ uống hợp thời tiết, lòng người thoải mái tất cả hoà hợp thành một bản hợp tấu
3Nguồn : http://blog.jwork.vn/vi/archives/2784.html
4Nguồn: http://deens-japan.com/archives/43.html
Trang 40酒なくて何の己が桜かな
さけなくてなんのおのれがさくらかな
Sakenakute nannoore ga sakura kana
Dịch nghĩa: Không có rượu thì việc ngắm hoa anh đào sẽ rất buồn chán Tìm hiểu về một đất nước, một con người, một nền văn hoá có rất nhiều con đường, nhiều phương pháp mà một trong những phương pháp đó là thông qua con đường tìm hiểu ngôn ngữ nói chung, sâu xa hơn chính là thông qua thành ngữ tục ngữ - cách nói ngắn gọn, súc tích, cô đọng Thành ngữ tục ngữ là một thế giới phong phú, mang trong mình đầy đủ cung bậc màu sắc: tâm trạng tình cảm con người, triết lý nhân sinh, kinh nghiệm cuộc sống, văn hoá truyền thống dân tộc Việc tìm hiểu về nguồn gốc hình thành sẽ giúp hiểu rõ hơn nguồn gốc văn hoá của dân tộc, con người Nhật Bản từ xưa đến nay
Ngoài ra, có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh những loài động vật gắn liền với đời sống của người dân lao động xuất hiện trong thành ngữ, tục ngữ…
Tatsu tori ato wo nigosazu
Dịch nghĩa: Chim bay đi không làm vấy đục nước
Đây là câu thành ngữ bắt nguồn từ sự tích một chú chim đang đậu thì bay lên Chú chim này, sau khi bay lên từ ao hồ hay đầm lầy thì nước tại nơi chú bay đi không hề bị làm vẩn đục mà vẫn cứ sạch đẹp như khi chú chim còn đậu lại đó Chính từ sau khi nhìn thấy cảnh như vậy mà xuất hiện câu thành ngữ này Từ câu thành ngữ này, về sau còn được sử dụng nhắc nhở con người trong công việc, trong cuộc sống: người ra đi, thôi việc thì phải dọn dẹp sạch sẽ chỉnh chu công việc của mình, chỗ làm việc của mình để dành cho người đến sau
捕らぬ狸の皮算用
とらぬたぬきのかわさんよう
Toranu tanuki no kawasanyou
Dịch nghĩa: Tính toán sử dụng da con lửng trước khi bắt được lửng Hay còn
có câu khác theo cách dịch của Việt Nam là: Đếm cua trong hang