BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT TRẦN PHI LONG NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀO SẢN XUẤT THEO CHƯƠNG TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
TRẦN PHI LONG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀO SẢN XUẤT THEO CHƯƠNG TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG THÔN TẠI THÀNH PHỐ UÔNG BÍ GIAI ĐOẠN 2013 - 2020
Chuyên ngành: Kinh tế Công nghiệp
Mã số: 63.31.09
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Lê Hùng Sơn
HÀ NỘI - 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin, tài liệu trích dẫn nêu trong Luận văn này có nguồn gốc rõ ràng, trên cơ sở phát huy và kết thừa các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
Kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào trước đó./
Hà Nội, ngày 10 tháng 3 năm 2013
Tác giả Luận văn
Trần Phi Long
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện Luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ của các thầy, cô Trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội
và các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, lãnh đạo UBND thành phố Uông Bí
Em xin trân trọng cảm ơn thầy PGS-TS Lê Hùng Sơn, người đã tận tình, chỉ bảo, hướng dẫn em thực hiện Luận văn khoa học này
Xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Khoa sau đại học Trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội đã giúp đỡ em hoàn thành Luận văn
Xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô trong Hội đồng chấm luận văn đã có những góp ý về những vấn đề thiếu sót và chưa sâu trong luận văn, để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn các cơ quan, đơn vị doanh nghiệp và UBND thành phố Uông Bí đã cung cấp thông tin, tài liệu và hợp tác tốt với tôi trong quá trình thực hiện Luận văn
Để có được những kiến thức quý báu như ngày hôm nay có thể ứng dụng vào công tác chuyên môn và phục vụ xã hội; Em xin được gửi tới các thầy, cô Trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội, thầy PGS-TS Lê Hùng Sơn cùng toàn thể các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và UBND thành phố Uông
Bí, tỉnh Quảng Ninh lời biết ơn và ghi nhớ./
Xin trân trọng cảm ơn!
Trần Phi Long
Trang 4MỤC LỤC Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng biểu, sơ đồ
Mở đầu 1
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về ứng dụng khoa học công nghệ vào phát triển sản xuấ theo chương trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông thôn 5
1.1 Một số nội dung cơ bản của Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa 5
1.1.1 Các khái niệm về Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa 5
1.1.2 Đặc điểm Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa 7
1.1.3 Nội dung Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa 17
1.2 Chương trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa 22
1.2.1 Một số vấn đề cơ bản về chương trình CNH - HĐH nông thôn 22
1.3 Ứng dụng Khoa học công nghệ 26
1.3.1 Các quan niệm về khoa học, công nghệ 26
1.3.2 Tiến bộ khoa học, công nghệ 31
1.4 Một số kinh nghiệm ứng dụng KHCN vào nông nghiệp của một số nước trên thế giới 43
1.4.1 Trung Quốc 43
1.4.2 Thái Lan 45
1.5 Quan điểm của tác giả 46
Chương 2: Thực trạng ứng dụng khoa học công nghệ vào phát triển sản xuất theo chương trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông thôn tại Thành phố Uông Bí 48
2.1 Khái quát về thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh 48
2.2 Khái quát về CNH - HĐH nông thôn tại thành phố Uông Bí 50
Trang 52.2.1 Về mặt tích cực 52
2.2.2 Về mặt tiêu cực: 53
2.3 Thực trạng ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp tại thành phố Uông Bí 54
2.3.1 Trong lĩnh vực công nghiệp 55
2.3.2 Trong lĩnh vực nông nghiệp: 56
2.3.3 Mô hình sản xuất rượu mơ Yên Tử (theo dây truyền công nghệ của Pháp tại nhà máy rượu bia Thăng Long – KORUNA thành phố Uông Bí ) 58
2.3.4 Mô hình sản xuất Bia đen đóng chai (theo dây truyền công nghệ của Đức tại nhà máy rượu bia Thăng Long – KORUNA thành phố Uông Bí ) 62
2.3.5 Mô hình trồng cây thanh long ruột đỏ Uông Bí 76
2.3.6 Mô hình cây Mai vàng Yên Tử 78
2.3.7 Mô hình nuôi chim bồ câu pháp 92
2.4 Đánh giá về ứng dụng KHCN vào sản xuất nông thôn 94
2.4.1 Ảnh hưởng của tài nguyên, khí hậu và mùa vụ đến sinh trưởng của cây trồng và vật nuôi 97
2.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 98
Chương 3: Một số giải pháp tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào phát triển sản xuất theo chương trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông thôn tại Thành phố Uông Bí giai đoạn 2013 - 2020 104
3.1 Định hướng phát triển kinh tế, xã hội thành phố Uông Bí giai đoạn 2013 - 2020 104
3.1.1 Mục tiêu tổng quát: 104
3.1.2 Chỉ tiêu chủ yếu: 104
3.1.3 Nhiệm vụ cụ thể 105
3.2 Một số giải pháp tăng cường ứng dụng KHCN vào sản xuất theo chương trình CNH - HĐH nông thôn tại thành phố Uông Bí giai đoạn 2013 - 2020 112
3.2.1 Giải pháp nghiên cứu ứng dụng KHCN vào cây trồng 112
3.2.2 Giải pháp nghiên cứu ứng dụng KHCN vào chăn nuôi 115
Trang 63.2.3 Giải pháp ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ sau thu hoạch 117
3.2.4 Giải pháp về cơ sở hạ tầng 118
3.2.5 Giải pháp về chính sách 119
3.2.6 Giải pháp về vốn 120
3.2.7 Giải pháp về cán bộ 121
3.2.8 Giải pháp về thị trường 122
Kết luận 124 Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 7HĐH Hiện đại hóa
SXNN Sản xuất nông nghiệp
NQ/TW Nghị quyết trung ương
ODA Vốn viện trợ phát triển chính thức
FDI Vốn đầu tư trực tiếp
CDCCKT Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
UNIDO Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc ESCAP Ủy ban kinh tế xã hội Châu á – Thái bình dương
NĐC Nồng độ cồn
Trang 8SPKPH Sản phẩm không phù hợp
CLSP Chất lượng sản phẩm
QLCL Quản lý chất lượng
NC&PT Nghiên cứu và phát triển
CN-TTCN Công nghiệp – Tiểu thu công nghiệp
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1 Một số vị chính của bia 67
Bảng 2.2 Thành phần đường sót của một số loại bia 67
Bảng 2.3 Thành phần và giá trị dinh dưỡng của một số loại bia 67
Bảng 2.4 Hàm lượng Diaxetyl và 2,3 pentanedione của một số loại bia (mg/l) 68
Bảng 2.5 Diện tích rừng và các loại đất đai 79
Bảng 2.6 Các hạng mục cần đầu tư xây dựng trong vườn ươm 82
Bảng 2.7 Tiến độ thực hiện 85
Bảng 2.8 Sản phẩm đạt được của dự án 89
Biểu đồ 2.1 Sự thay đổi trong quá trình lên men của Bia đen 65
Biểu đồ 2.2 Thời gian đường hóa của bia đen 66
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Hệ thống hoạt động mô hình sản xuất rượu mơ: 59
Sơ đồ 2.2 Quy trình sản xuất rượu mơ: 61
Sơ đồ 2.3 Quy trình sản xuất bia đen đóng chai tại nhà máy bia Thăng Long 62
Sơ đồ 2.4 Quá trình định danh và truy xét nguồn gốc sản phẩm 69
Sơ đồ 2.5 Tiếm trình kiểm soát SPKPH 70
Sơ đồ 2.6 Đảm bảo chất lượng sản xuất 71
Sơ đồ 2.7 Tiến trình lưu kho, xếp két, bảo quản và vận chuyển hàng hoá 72
Sơ đồ 2.8 Tiến trình kiểm soát chất lượng trong sản xuất 73
Sơ đồ 2.9 Giải quyết khiếu nại của khách hàng 74
Sơ đồ 2.10 Giải quyết khiếu nại của khách hàng 75
Sơ đồ 2.11 Tổ chức sản xuất của dự án 84
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sản xuất nông nghiệp hiện nay đóng một vai trò rất quan trọng trong toàn bộ quá trình phát triển của đất nước Để có một nền nông nghiệp phát triển cao, hiệu quả, bền vững, đủ sức hội nhập với thế giới, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn, đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh, phù hợp đặc điểm từng vùng, từng địa phương, bảo đảm phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất hàng hóa lớn, đồng thời giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp Đây là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, có
ý nghĩa quyết định đối với con đường phát triển của Việt Nam nói chung, tỉnh Quảng Ninh và thành phố Uông Bí nói riêng
Thị xã Uông Bí được thành lập ngày 28/10/1961 theo Nghị định số 81-CP của Chính phủ Ngày 25/2/2011 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 12/2011/NQ-CP v/v nâng cấp thị xã Uông Bí thành phố Uông Bí, trực thuộc tỉnh Quảng Ninh Uông Bí nằm ở phía tây của tỉnh Quảng Ninh, diện tích tự nhiên 25,6 km2, địa hình dốc từ bắc xuống nam, chia thành 11 đơn vị hành chính (gồm: 9 phường và 2 xã) dân số 210 nghìn người
Cùng với cả nước bước vào thời kỳ đổi mới, những năm qua nền nông nghiệp thành phố Uông Bí, có bước phát triển đáng trân trọng góp phần giữ vững tốc độ tăng trưởng bền vững của nền kinh tế Thành phố, đáp ứng được yêu cầu là đơn vị tự chủ về ngân sách, không còn là đơn vị trông chờ vào trợ cấp ngân sách của tỉnh Quảng Ninh (Năm 2012, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố đạt 2.300 tỷ đồng) Đó là thành tựu bước đầu của việc ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ (KHCN) vào sản xuất, nhất là công nghệ sinh học (CNSH) Do vậy, Thành phố đã tập trung đầu tư, chuyển giao tiến bộ KHCN cho nông dân trong phát triển nông nghiệp, mà cụ thể là ngành trồng trọt và chăn nuôi, từng bước cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho người dân
Trang 12Tuy nhiên, so với tốc độ phát triển của KHCN và tiềm năng của địa phương, việc ứng dụng tiến bộ của KHCN vào sản xuất nông nghiệp để khai thác, phát huy tiềm năng thế mạnh của Uông Bí những năm qua còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ và rộng khắp Nhiều nơi còn sử dụng kinh nghiệm sản xuất truyền thống và công nghệ lạc hậu, năng suất kém Việc chuyển giao KHCN cho nông dân ứng dụng vào sản xuất gặp nhiều khó khăn, chưa tương xứng với trình
độ tay nghề của họ, chưa phù hợp từng vùng, từng lĩnh vực Do đó, đã triệt tiêu ít nhiều vai trò, động lực của KHCN đối với phát triển nông nghiệp
Qua nghiên cứu, em thấy có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, bài viết xoay quanh về vấn đề ứng dụng tiến bộ KHCN vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội ở những góc độ khác nhau, phần lớn đi vào nghiên cứu mặt kinh tế - kỹ thuật Tuy có nhiều đề tài nghiên cứu trong quản lý nông nghiệp, nhưng việc nghiên cứu lý luận
để góp phần thúc đẩy ứng dụng tiến bộ KHCN vào phát triển nông nghiệp tại một thành phố công nghiệp và du lịch như Uông Bí là rất cần thiết Xuất phát từ tình hình
trên, em quyết định chọn đề tài: "Nghiên cứu một số giải pháp ứng dụng khoa học công nghệ vào phát triển sản xuất theo chương Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá nông thôn tại thành phố Uông Bí giai đoạn 2013 - 2020" Luận văn thạc sỹ này với
mong muốn đóng góp chút công sức nhỏ bé vào việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn làm cơ sở cho việc đề xuất phương hướng, giải pháp đẩy nhanh tiến bộ KHCN vào sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Uông Bí; góp phần khai thác, phát huy vai trò, động lực của KHCN, khơi dậy tiềm năng, thế mạnh của địa phương; từng bước góp phần đưa Thành phố của công nghiệp, du lịch, dịch vụ như Uông Bí,
có nền nông nghiệp phát triển mạnh, đảm bảo an ninh lương thực trong lộ trình
nâng cấp lên đô thị loại 2
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
2.1 Mục đích của luận văn
Đề tài có mục đích nghiên cứu xây dựng một số giải pháp ứng dụng khoa học công nghệ vào phát triển sản xuất theo chương Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá nông thôn tại thành phố Uông Bí giai đoạn 2013 - 2020 Đồng thời làm rõ mối
Trang 13quan hệ giữa cơ sở lý luận và thực tiễn của ứng dụng KHCN với sản xuất nông nghiệp Qua đó, đánh giá đúng những nấc thang của ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp, nhằm đạt được những mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong kế hoạch, chiến lược của thành phố đã đề ra giai đoạn 2013 - 2020
2.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, Luận văn sẽ thực hiện một số nhiệm vụ sau:
+ Khái quát về ứng dụng KHCN vào sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay + Làm rõ thực trạng của việc ứng dụng KHCN vào sản xuất nông nghiệp ở thành phố Uông Bí hiện nay
+ Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm thúc đẩy nhanh quá trình ứng dụng KHCN vào sản xuất nông nghiệp ở thành phố Uông Bí góp phần phát triển nền sản xuất nông nghiệp công nghệ cao
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là: Ứng dụng khoa học công nghệ vào phát triển sản xuất theo chương Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá nông thôn mà cụ thể là đối với cây trồng và vật nuôi
3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu ứng dụng tiến bộ KHCN vào
sản xuất nông nghiệp tại thành phố Uông Bí, đưa tiến bộ KHCN vào lĩnh vực sản xuất cây
trồng và vật nuôi trên địa bàn thành phố hiện nay
+ Về thời gian: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá những
ứng dụng tiến bộ KHCN vào sản xuất ngành trồng trọt và chăn nuôi ở thành phố từ
năm 2008 đến 2012 và định hướng giai đoạn 2013 - 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu: phân tích, tổng hợp - thống kê, so sánh, tư duy lô gic… để chứng minh và rút ra kết luận khoa học cho luận án
Trang 145 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
a) Ý nghĩa khoa học: Cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách
đầu tư nghiên cứu, phát triển, ứng dụng KHCN có hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp của thành phố Uông Bí
b) Ý nghĩa thực tiễn: Nâng cao nhận thức, góp phần đẩy nhanh việc nghiên
cứu, ứng dụng tiến bộ KHCN vào quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp ở thành phố Uông Bí, cho bản thân tác giả và công tác chỉ đạo điều hành của UBND thành phố Uông Bí
6 Kết cấu của đề tài: Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và 3 chương luận văn được kết cấu 119 trang, 08 bảng, 11 sơ đồ, 02 biểu, 14 phụ lục
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về ứng dụng khoa học công nghệ vào phát
triển sản xuất theo chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn
Chương 2: Thực trạng ứng dụng khoa học công nghệ vào phát triển sản xuất
theo chương trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông thôn tại thành phố Uông Bí
Chương 3: Một số giải pháp tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào phát triển sản xuất theo chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn tại thành phố Uông Bí giai đoạn 2013 - 2020
Trang 15CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ỨNG DỤNG KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ VÀO PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT THEO CHƯƠNG TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG THÔN
1.1 Một số nội dung cơ bản của Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
1.1.1 Các khái niệm về Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
Để tìm hiểu quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì trước hết khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần được làm rõ Công nghiệp hoá và hiện đại hoá là hai quá trình luôn đi kèm và hiện đại hoá là hệ quả của quá trình công nghiệp hoá thành công
Thực tiễn lịch sử đã chỉ rõ để thủ tiêu tình trạng lạc hậu về kinh tế và xã hội, khai thác tối ưu các nguồn lực và lợi thế, bảo đảm nhịp độ tăng trưởng nhanh và ổn định, mỗi nước phải xác định cơ cấu kinh tế hợp lý, trang bị kĩ thuật ngày càng hiện đại cho các ngành kinh tế Ở các nước đang phát triển quá trình ấy gắn liền với quá trình công nghiệp hoá Trong thực tiễn đến nay vẫn còn tồn tài nhiều quan điểm khác nhau về phạm trù “Công nghiệp hoá”
Theo khái niệm truyền thống, công nghiệp hóa là quá trình cải biến kỹ thuật nền kinh tế lạc hậu sang nền kinh tế sản xuất trên nền đại công nghiệp cơ khí (sử
dụng máy móc, cơ khí hoá)
Theo định nghĩa của Liên hợp quốc, Công nghiệp hóa (CNH) là quá trình, phát triển kinh tế trong đó một bộ phận nguồn lực quốc gia ngày càng lớn được huy động
để xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều ngành với công nghệ hiện đại để chế tạo ra tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng có khả năng đảm bảo một nhịp độ tăng trưởng cao trong
toàn bộ nền kinh tế và đảm bảo lợi ích toàn xã hội
Quan điểm đơn giản nhất về công nghiệp hoá cho rằng “Công nghiệp hoá là đưa đặc tính công nghiệp cho một hoạt động: Trang bị (cho một vùng, một nước) các nhà máy, các ngành công nghiệp ” Quan điểm mang tính “triệt tự” này được
Trang 16hình thành trên cơ sở khái quát quá trình công nghiệp hoá ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ Trong quá trình dài thực hiện công nghiệp hoá, các nước này chủ yếu tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp, sự chuyển biến của các hoạt động kinh
tế - xã hội khác chỉ là một hệ quả của quá trình công nghiệp hoá chứ không phải là đối tượng trực tiếp của công nghiệp hoá Quan điểm đơn giản này có những mặt chưa hợp lí cũng như nó chỉ được sử dụng rất hạn chế trong thực tiễn Có như vậy
là bởi vì quan điểm này không thấy mục tiêu của quá trình thực hiện, nó đồng nhất quá trình công nghiệp hoá với quá trình phát triển công nghệ và đồng thời nó cũng không thể hiện được tính lịch sử của quá trình công nghiệp hoá
Ngoài ra trong sách báo Liên Xô (trước đây) tồn tại một định nghĩa phổ biến cho rằng “công nghiệp hoá là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp Đó là sự phát triển công nghiệp nặng với ngành trung tâm là chế tạo máy” Quan điểm này xuất phát từ thực tiễn: khi công nghiệp hoá đã phát triển đến một trình độ nhất định thì dù bị đế quốc bao vây, nội chiến thì thị trường trong nước là nền tảng cho phát triển kinh tế Hơn nữa quan điểm này chỉ được cho là hợp lý trong điều kiện Liên Xô thời kì đó Nhưng sẽ là sai nếu coi đó là quan điểm phổ biến để áp dụng cho tất cả các nước trong điều kiện hiện nay
Trên thế giới, có nhiều chiến lược công nghiệp hoá khác nhau phụ thuộc vào hoàn cảnh và mức độ phát triển của mỗi nước những định nghĩa chung được thể hiện như sau: Công nghiệp hoá là một quá trình chuyển dịch xã hội và kinh tế trong
đó xã hội thay đổi từ một nước tiền công nghiệp sang công nghiệp Sự chuyển dịch
xã hội và kinh tế ấy gắn liền chặt chẽ với sáng tạo công nghệ, đặc biệt với phát triển năng lượng quy mô lớn và luyện kim (Dictionary LaborLawTalk.com, 2005)
Như vậy công nghiệp hoá gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tăng tỷ trọng công nghiệp, giảm nông nghiệp Kinh nghiệm của việc công nghiệp hoá của nhiều nước cho thấy không có một sơ đồ công nghiệp hoá duy nhất có thể
áp dụng ở các nước Công nghiệp hoá phụ thuộc vào nhiều yếu tố dẫn đến thành hay bại Có nhiều kiểu công nghiệp hoá khác nhau Nhiều nước đã thất bại do đã áp dụng các chiến lược công nghiệp hoá sai như chiến lược dựa chủ yếu vào công
Trang 17nghiệp nặng, chiến lược thay thế nhập khẩu Các công trình đầu tiên nghiên cứu về công nghiệp hoá thường lấy nước Anh làm mô hình của cuộc cách mạng công nghệ
và của công nghiệp hoá vì nước này là nước đi tiên phong trong quá trình này Tuy vậy các công trình nghiên cứu về lịch sử kinh tế gần đây (Kemp, 1988) lại cho thấy
sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Anh không phải là trường hợp điển hình của châu Âu và của thế giới
1.1.2 Đặc điểm Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
Thực tiễn lịch sử đã chỉ rõ để thủ tiêu tình trạng lạc hậu về kinh tế và xã hội, khai thác tối ưu các nguồn lực và lợi thế, bảo đảm nhịp độ tăng trưởng nhanh và ổn định, mỗi nước phải xác định cơ cấu kinh tế hợp lý, trang bị kĩ thuật ngày càng hiện đại cho các ngành kinh tế Ở các nước đang phát triển quá trình ấy gắn liền với quá trình công nghiệp hoá Trong thực tiễn đến nay vẫn còn tồn tài nhiều quan điểm khác nhau về phạm trù “công nghiệp hoá”
Quan điểm đơn giản nhất về công nghiệp hoá cho rằng “công nghiệp hoá là đưa đặc tính công nghiệp cho một hoạt động: Trang bị (cho một vùng, một nước) các nhà máy, các ngành công nghiệp ” Quan điểm mang tính “triệt tự” này được hình thành trên cơ sở khái quát quá trình công nghiệp hoá ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ Trong quá trình dài thực hiện công nghiệp hoá, các nước này chủ yếu tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp, sự chuyển biến của các hoạt động kinh
tế - xã hội khác chỉ là một hệ quả của quá trình công nghiệp hoá chứ không phải là đối tượng trực tiếp của công nghiệp hoá Quan điểm đơn giản này có những mặt chưa hợp lí cũng như nó chỉ được sử dụng rất hạn chế trong thực tiễn Có như vậy
là bởi vì quan điểm này không thấy mục tiêu của quá trình thực hiện, nó đồng nhất quá trình công nghiệp hoá với quá trình phát triển công nghệ và đồng thời nó cũng không thể hiện được tính lịch sử của quá trình công nghiệp hoá
Ngoài ra trong sách báo Liên Xô (trước đây) tồn tại một định nghĩa phổ biến cho rằng “công nghiệp hoá là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp Đó là sự phát triển công nghiệp nặng với ngành trung tâm là chế tạo máy” Quan điểm này xuất phát từ thực tiễn: khi công nghiệp hoá đã
Trang 18phát triển đến một trình độ nhất định thì dù bị đế quốc bao vây, nội chiến thì thị trường trong nước là nền tảng cho phát triển kinh tế Hơn nữa quan điểm này chỉ được cho là hợp lý trong điều kiện Liên Xô thời kì đó Nhưng sẽ là bất cập nếu coi
đó là quan điểm phổ biến để áp dụng cho tất cả các nước trong điều kiện hiện nay; như vậy Công nghiệp hóa, hiện đại hóa về logic cũng như về lịch sử là một quá trình tất yêu mà mọi quốc gia trên thế giới đều phải trải qua, đây là điều kiện đầu tiên đối với hầu hết các quốc gia muốn vươn lên hàng các quốc gia phát triển có thu nhập đầu người cao
1.1.2.1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình rộng lớn, phức tạp
Trong điều kiện kinh tế hiện nay, quan niệm về CNH - HĐH dù trên góc độ nào cũng không đồng nhất với quá trình phát triển công nghiệp Tuy quá trình CNH
có những nét riêng đối với từng nước nhưng đó chỉ là sự vận dụng một quy trình có tính chất phổ biến cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước mà thôi CNH là quá trình rộng lớn, phức tạp, thực chất của quá trình này bao gồm các mặt đó là: a) Công nghiệp hóa là quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân, đặc biệt là ngành chiếm vị trí trọng yếu Thực hiện CNH trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật ngày nay, trang bị và trang
bị lại công nghệ cho các ngành phải gắn liền với quá HĐH ở cả phần cứng và phần mềm Điều đó cũng có nghĩa là xây dựng xã hội công bằng văn minh, cải biến các ngành kinh tế, các hoạt động theo phong cách của nền công nghiệp lớn hiện đại làm tăng tốc đọ tăng trưởng kinh tế xã hội cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của dân cư Xét trên góc độ KT-KT, HĐH là cái đích cần vươn tới trong quá trình CNH Nhưng sự vươn lên về trình độ công nghệ lại bị ràng buộc bởi yêu cầu bảo đảm hiệu quả KT-XH Nếu xét toàn cục, HĐH chỉ là phương tiện, điều kiện để đạt tới mục tiêu của quá trình CNH mà thôi
b) Quá trình CNH là quá trình bao trùm tất cã các ngành, các lực lượng hoạt động của một nước: Đó là lẽ tất yếu vì nền kinh tế của mỗi nước là một hệ thống thống nhất, các ngành các lĩnh vực hoạt động có quan hệ tương đối với nhau Bởi vậy quá trình CNH cũng gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu nền KTQD và cơ cấu
Trang 19các ngành kinh tế Xét tổng thể, cơ cấu kinh tế mỗi nước được cấu thành bởi 3 loại hình tổng hợp: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ nà sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mỗi nước trong quá trình CNH - HĐH sẽ trải qua 2 giai đoạn: từ cơ cấu nông nghiệp
- công nghiệp - dịch vụ sang cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ
c) Quá trình CNH trong bất kì giai đoạn nào cũng vừa là quá trình KT - KT vừa là quá trình KT - XH: Thực hiện CNH - HĐH có kết quả sẽ thủ tiêu tình trạng lạc hậu, thấp kém về kinh tế đưa đất nước thoát khỏi “vòng luẩn quẩn “đòng thời cũng sẽ thủ tiêu tình trạng lạc hậu về xã hội, nâng cao dân trí, mức sống của dân cư đưa xã hội đến trình độ văn minh công nghiệp
d) Quá trình CNH cũng đồng thời là quá trình mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế: Trong điều kiện ngày nay, mở rộng phân công lao động quốc tế và quốc tế hoá đời sống kinh tế trở thành xu thế phát triển ngày càng mạnh mẽ Việc xây dựng mục tiêu phương thức CNH ở mỗi nước cần phải phân tích và dự đoán được những biến động kinh tế xã hội chung của thế giới đặc biệt là các nước trong khu vực Điều đáng lưu ý ở đây là thực hiện quá trình CNH phải dựa vào các phải dựa vào các nguồn lực trong nước là chủ yếu Song việc khai thác các nguồn lực tự nhiên, phát huy các lợi thế tự nhiên để tham gia vào các quan hệ kinh tế quốc tế cần kết hợp với việc tái tạo và bảo tồn các nguồn lực ấy bởi mọi sự lạm dụng “Sức mạnh của con người “để chinh phục tự nhiên theo kiểu bóc lột, huỷ hoại môi trường, tài nguyên sẽ dẫn con người đến chỗ tàn phá ngay môi trường tồn tại của chính mình
đ) CNH không phải là một mục đích tự thân mà là một phương thức có tính chất phổ biến để thực hiện mục tiêu của mỗi nước: Không thể thực hiện có hiệu quả quá trình CNH khi hệ thống chính trị xã hội không ổn định và không được đổi mới Ngược lại cũng không thể giữ được ổn định về chính trị xã hội, chủ quyền của đất nước nếu không thưc hiện có hiệu quả quá trình CNH Từ toàn bộ những vấn đề đã phân tích trên đây, có thể nói thực chất của CNH là sự phát triển công nghệ, là quá trình chuyển nền sản xuất xã hội (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ) từ trình độ cong nghệ thấp lên trình độ công nghệ hiện đại Lực lượng lao động sẽ chuyển dịch thích ứng về cơ cấu ngành nghề, về trình độ tay nghề và học vấn
Trang 201.1.2.2 Công nghiệp hóa từ xây dựng các xí nghiệp sử dụng nhiều lao động đến sử dụng nhiều chất xám và công nghệ hiện đại
Có thể nói, muốn tiến hành công nghiệp hoá điều thuận lợi, đầu tiên mà chúng
ta nghĩ đến đó là thật nhiều vốn (bằng tiền, bằng nguyên vật liệu ), nhân lực với kỹ năng cao, công nghệ hiện đại, sự ủng hộ nhiều mặt từ bên ngoài Nhưng từ thực tế chúng ta đã thấy xuất phát điểm chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp lạc hậu, điều đó giải thích cho sự yếu kém về vốn, nhân lực, công nghệ cũng như không có sự giúp
đỡ ủng hộ của các nước phương tây sau ngày được độc lập Vì vậy, tiến hành công nghiệp hoá đều bắt đầu đi từ xây dựng các xí nghiệp sử dụng nhiều lao động, với công nghệ đơn giản Trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa, các chủ trương xây dựng các xí nghiệp vừa và nhỏ nhằm thu hút nhiều lao động có kỹ năng thấp, vốn đầu tư
ít, kỹ thuật đơn giản, nhưng nhanh thu hồi vốn, cũng như nhanh có sản phẩm cung cấp cho thị trường nội địa, đó chủ yếu là các mặt hàng công nghiệp thực phẩm, vải sợi, may mặc, sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ gia dụng và một vài mặt hàng cơ khí điện gia dụng phổ thông Vào thời điểm những thập niên 70, 80 và đầu 90 của thế kỷ XX, bằng chiến lược phát triển này, nạn thất nghiệp cơ bản đã thực sự được đẩy lùi
Nhưng dưới tác động của xu thế phát triển đang diễn ra mãnh mẽ trên thế giới,
từ những năm 70, đã bắt đầu chú trọng đến những ngành công nghiệp sử dụng nhiều vốn hơn, với kỹ thuật đòi hỏi hiện đại hơn, đó là các ngành: lọc hóa dầu, luyện thép, chế tạo máy và các thiết bị chính xác, điện tử, thiết bị bán dẫn… Nhưng các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, chất lượng tốt, giá thành không cao này lại chỉ phục vụ chủ yếu cho chiến lược công nghiệp hướng về xuất khẩu bởi nó không phù hợp với túi tiền và yêu cầu của người tiêu dùng nội địa, những người vừa không lâu trước đó còn là nô lệ của chế độ thực dân và phong kiến
1.1.2.3 Từ chiến lược CNH thay thế nhập khẩu đến hướng vào xuất khẩu
Nói đến con đường CNH một đặc trưng mà chúng ta không thể không nhắc đến đó là áp dụng hai chiến lược CNH, từ thay thế nhập khẩu đến hướng về xuất khẩu Chiến lược CNH thay thế nhập khẩu của nhà kinh tế học Raun Prebish ra đời
Trang 21vào thập niên 50 của thế kỷ XX, chiến lược này với mục tiêu giảm sự phụ thuộc vào thị trường bên ngoài, xây dựng nền kinh tế tự chủ Nhìn chung, trong giai đoạn sau chiến tranh, khi thoát khỏi ách đô hộ thì chiến lược này lại càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Nội dung chủ yếu của chiến lược này là hạn chế nhập khẩu hàng thành phẩm công nghiệp, nhất là hàng tiêu dùng từ bên ngoài, thực hiện bảo hộ mậu dịch, tập trung phát triển một số ngành công nghiệp trong nước để thay thế hàng nhập khẩu, mở rộng thị trường nội địa, tận dụng tối đa nguồn vốn đầu tư từ trong nước Chiến lược ISI được áp dụng rất phổ biến trong giai đoạn đầu của quá trình CNH Trong những năm đầu, chiến lược này đã có một số tác động tích cực: giúp xây dựng cơ sở công nghiệp then chốt chủ yếu dựa vào nguồn lực trong nước, tăng cường vị trí của tư sản trong nước và khu vực kinh tế nhà nước Những sản phẩm hữu ích, thiết thực, và hiện đại như xe máy, đồ điện gia dụng… được sản xuất ngày càng nhiều, thêm vào đó những ngành sản xuất sử dụng nhiều tư bản và công nghệ cao như lọc dầu, sản xuất thép tổng hợp…cũng bắt đầu được chuyên môn hoá
Từ thực tiễn của nhiêu nước đang phát triển, để thực hiện thành công quá trình CNH, người ta đã khái quát thành 3 loại mô hình chiến lược CNH theo nội dung trọng tâm của mỗi mô hình đó là:
a) Chiến lược thay thế nhập khẩu: Lịch sử cho thấy chiến lược này đã được các nước đi tiên phong trong CNH thực hiện từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX thông qua việc lập hàng rào bảo hộ sản xuất trong nước chống lại sự cạnh tranh hàng ngoại nhập
Tư tưởng cơ bản của chiến lược này là mỗi nước đang phát triển cần phát triển mạnh mẽ sản xuất hàng hoá nhất là hàng tiêu dùng để thay thế các hàng hoá phải nhập khẩu từ các nước tư bản phát triển Thực hiện có hiệu quả tư tưởng này không những có thể khai thác được nguồn lực sẵn có đáp ứng các nhu cầu cơ bản, cấp thiết trong nước mà còn mở rộng thị trường phát triển sản xuất hàng hoá, tạo thêm việc làm, góp phần giải quyết các vấn đề về xã hội, tiết kiệm ngoại tệ
Thực hiện nội dung chiến lược này cần chú ý một số điểm cơ bản:
Trang 22+ Phải xác định được tổng cầu của mỗi loại hàng hoá trong nước qua phân tích
và tính toán lượng hàng hoá thực tế phải nhập khẩu, tổng số và cơ cấu dân cư + Khuyến khích các nhà sản xuất trong nước đầu tư để có thể làm chủ kỹ thuật sản xuất, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tham gia sản xuất hoặc cung cấp công nghệ, vốn kỹ năng quản lý
+ Lập hàng rào bảo hộ sản xuất trong nước thông qua các chính sách kinh tế vĩ
mô để trợ giúp sản xuất trong nước tồn tại và phát triển, kích thích đầu tư vào các ngành thuộc mục tiêu ưu tiên
Chiến lược hướng nội lấy trọng tâm là thị trường trong nước để phát triển sản xuất và lưu thông hàng hoá Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện mô hình này các quan hệ kinh tế đối ngoại vẫn được chú ý: nhập khẩu các điều kiện cơ bản để sản xuất hàng thay thế nhập khẩu, kêu gọi đầu tư nước ngoài vào các mục tiêu thay thế nhập khẩu lấy thị trường quốc tế làm hướng phấn đấu
b) Chiến lược hướng về xuất khẩu: Trong điều kiện thế giới ngày nay, tất cả các nước ở những mức độ khác nhau, đều bị cuốn hút vào quá trình phân công lao động quốc tế và tham gia vào các hoạt động thương mại quốc tế Để thực hiện CNH với quy mô lớn và nhịp độ nhanh nhất thiết phải mở rộng thị trường ra ngoài nước Song ở những nước đang phát triển, trình độ kinh tế, kĩ thuật còn thấp kém, thiếu vốn, thiếu kĩ năng quản lý cũng như kinh ngiệm thương mại quốc tế ít ỏi Do đó để thực hiện hướng ngoại, lấy thị trường quốc tế làm trọng tâm, phải phát huy được lợi thế so sánh của đất nước so với nước bạn
Tư tưởng cơ bản của chiến lược này là phát triển các ngành sản xuất sản phẩm chủ yếu phục vụ cho xuất khẩu, trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh của đất nước Thời gian đầu các nước phát triển tập trung vào phát triển các ngành khai thác
và sản xuất sản phẩm thô (công nghiệp khai khoáng và nông lâm ngư nghiệp), xuất khẩu sang các nước công nghiệp phát triển nhằm phát huy lợi thế về tài nguyên phong phú, nguồn nhân công dồi dào và rẻ Mặc dù cũng đã tạo được một số điều kiện phát triển kinh tế nhưng việc tập trung các ngành này lại gặp một số trở ngại: cầu sản phẩm thô trên thị trường quốc tế tăng chậm, điều kiện mậu dịch bất lợi, sự
Trang 23phát triển các ngành này đôi khi phụ thuộc vào sự đầu tư của các nước công nghiệp phát triển Điều đó cho thấy sự thành công của mô hình chiến lược hướng ngoại phụ thuộc vào một loạt các chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ:
+ Chính sách tỉ giá hối đoái linh hoạt bám sát sự biến động của tỉ giá trên thị trường quốc tế và thị trường các nước bạn
+ Chính sách khuyến khích và trợ giúp xuất khẩu
+ Chính sách khuyến khích và bảo hộ đầu tư nước ngoài
+ Thành lập và quản lý các khu chế xuất, phát triển tập trung các cơ sở sản xuất, dịch vụ nhằm phục vụ cho xuất khẩu
Mô hình chiến lược này ngày càng có sức hấp dẫn cao với nhiều nước đang phát triển
1.1.2.4 Vốn và công nghệ của nước ngoài là yếu tố then chốt thực hiện công nghiệp hóa
Vừa thoát ra khỏi chế độ áp bức bóc lột của chủ nghĩa thực dân, phong kiến, nguồn vốn tích luỹ từ các hoạt động đầu tư trong nước, cũng như các nguồn công nghệ quốc gia còn rất hạn chế Trong khi đó, yêu cầu về vốn và công nghệ để đẩy nhanh tiến trình CNH lại rất cấp thiết, và cần một khối lượng lớn với trình độ cao Chính vì thế, một trong những yêu cầu đặt ra, cũng đồng thời là đặc điểm phát triển kinh tế của đất nước trong 20 năm qua đó là huy động và cố gắng sử dụng hiệu quả nguồn vốn, cũng như công nghệ của nước ngoài trong quá trình CNH - HĐH đất nước Trong quá trình xây dựng và phát triển, các nước đã thực thi nhiều biện pháp nhằm tăng cường khả năng vốn cho đầu tư phát triển Nó bao gồm hai nguồn chủ yếu, là Vốn trong nước, Vốn nước ngoài
Bài học để lại từ các quốc gia đi trước đã khẳng định tầm quan trọng cũng như vai trò của huy động vốn nội địa, theo đó nó là nền tảng vững chắc của sự phát triển bền vững Hơn nữa, giữa sự tăng trưởng kinh tế và huy động vốn này lại có một quan hệ hữu cơ rất chặt chẽ Sự tăng trưởng vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của của quá trình tích luỹ vốn Kinh nghiệm cho thấy, các quốc gia muốn đẩy nhanh tốc
độ tặng trưởng kinh tế thì tỷ lệ tích luỹ vốn nội địa phải chiếm từ 30% GDP trở lên
Trang 24Nhưng yếu tố quan trọng nhất là phải kể đến đó là nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài
Nó cùng với nguồn vốn nội địa là những yếu tố quan trọng tạo ra những tích luỹ ban đầu, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh chóng và là điều kiện vô cùng quan trọng
để hoàn thành mục tiêu kinh tế - xã hội dài hạn, trung hạn và ngắn hạn bao gồm: Viện trợ phát triển chính thức ODA, vốn vay tín dụng ngắn hạn, và vốn đầu tư trực tiếp FDI, trong đó đầu tư trực tiếp FDI là một yếu tố then chốt để tiến hành CNH - HĐH FDI không những đem lại nguồn vốn cung cấp công nghệ và kinh nghiệm quản lý, phát triển đất nước Có thể khẳng định được rằng, việc sử dụng hiệu quả được nguồn vốn này chính là nguyên nhân dẫn đến tốc độ tăng trưởng cao và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu một cách nhanh chóng Một yếu tố nữa cần nhắc đến ở đây, đó là sự chuyển giao công nghệ Từ lâu đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về yếu tố này Có người cho rằng, chuyển giao công nghệ là chuyển giao trọn gói công nghệ, nhưng thực ra thì chỉ cần chuyển giao nhưng công nghệ quan trọng, then chốt trong quá trình đổi mới công nghệ của nước tiếp nhận Một xu thế tiếp nhận chuyển giao công nghệ hiện đang diễn ra đó là đi tắt đón đầu, tiếp nhận những công nghệ hàng đầu, khi thực hiện nhận chuyển giao khoa học công nghệ cần phải nhập những công nghệ hiện đại nhất để tránh tình trạng tự biến mình thành bãi thải công nghệ của thế giới Tình hình chuyển giao công nghệ
đã và đang diễn ra nước ta có rất nhiều biến động, và bất cập Hầu như các nước tư bản khi đầu tư đều không muốn cho những công nghệ mới nhất
1.1.2.5 Thực hiện CNH - HĐH dưới sự điều tiết của nhà nước và gắn liền với tăng cường mở cửa, hội nhập quốc tế
Sau những hạn chế của việc thực hiện đơn thuần hai mô hình CNH, vai trò của nhà nước đã được chính phủ nhìn nhận một cách tích cực, đề cao vai trò của nhà nước vì rất nhiều lý do, trước tiên vì các cơ sở kinh tế quốc doanh sẽ giúp nhà nước củng cố địa vị chính trị; hơn nữa sử dụng các cơ sở kinh tế trên như một công cụ giúp phân phối lại xã hội và giảm bớt sự căng thẳng và cũng nhận ra rằng chỉ có chính phủ mới có khả năng để thúc đẩy và định hướng quá trình CNH phát triển; bên cạnh đó, nhà nước cũng làm giúp vai trò của tư bản tư nhân nội địa
Trang 25trong các công trình đòi hỏi đầu tư lớn, thời gian hoàn thiện dài, thời gian thu hồi vốn lâu, lợi nhuận không rõ ràng; trên hết, chính phủ sẽ giúp nền kinh tế thị trường yếu kém có thể huy động được vốn trong nước cũng như nước ngoài Có thể gọi tên cho nền kinh tế thị trường này là có thị trường có điều tiết Trong mô hình này, thị trường và chính phủ là hai bộ phận tác động trực tiếp lẫn nhau Có hai mô hình nhỏ của mô hình kinh tế lớn này là: Nhà nước kiểm soát chặt chẽ các hoạt động kinh doanh, kể cả thành phần kinh tế tư nhân, nhưng không can thiệp vào các hoạt động kinh doanh sinh lời, kể cả các doanh nghiệp nhà nước Nhà nước can thiệp khá sâu vào cả mặt hành chính cũng như tài chính của các doanh nghiệp nhà nước, còn các doanh nghiệp tư nhân sẽ không nhận được sự đối đãi như vậy, chính phủ để chúng cho quy luật tự do cạnh tranh chi phối
Tăng cường mở rộng hợp tác, hội nhập quốc tế và khu vực là một trong những tiêu chí được quan tâm Trên thực tế, đã đạt được một số thành công quan trọng trên các lĩnh vực hợp tác về thương mại, công nghiệp, đầu tư phát triển, lương thực, nông nghiệp, lâm nghiệp, giao thông vận tải và thông tin liên lạc
1.1.2.6 Kết hợp giữa CNH với HĐH, thực hiện đi tắt đón đầu, tiếp nhận công nghệ mới tiên tiến
CNH - HĐH vốn là hai quá trình tách rời, CNH có trước, HĐH có sau, các nước tây âu tiến hành CNH từ hơn 300 năm trước, ban đầu chỉ đơn thuần là việc
sử dụng máy móc vào sản xuất, rồi sau đó để đáp ứng yêu cầu của xã hội, nâng cao năng xuất cũng như chất lượng, các nhà tư bản tiến hành cải tiến máy móc, đổi mới công nghệ sản xuất Còn ngày nay, nếu ta tiến hành CNH trước thì sẽ mất rất nhiều thời gian, hơn nữa, sản phẩm sản xuất ra sẽ không đủ sức cạnh tranh vì ta sử dụng công cụ lạc hậu, chính vì vậy phải áp dụng ngay máy móc hiện đại Gắn liền quá trình CNH với HĐH, có nghĩa là vai trò của khoa học công nghệ sẽ được đề cao Trong điều kiện yếu kém, lạc hậu thì nếu không áp dụng đồng thời CNH - HĐH thì tình trạng tụt hậu sẽ bị kéo dài, và sẽ còn rất lâu nữa chúng ta mới thực
sự thoát khỏi được tình trạng nước nghèo, yếu kém
Trang 26Công nghệ nói chung còn thấp kém, hơn nữa trong quá trình chuyển giao công nghệ, tâm lý của các nước chuyển giao chỉ muốn bán đi nhưng công nghệ mà mình không dùng nữa, nó đã thực sự lạc hậu Chính vì vậy chúng ta không nên vì cái lợi giá cả trước mắt mà đánh mất đi cơ hội phát triển, cũng như tự biến mình thành bãi rác công nghệ của thế giới Hơn nữa, khi nhập công nghệ hiện đại, chúng ta sẽ không chỉ tiếp nhận được một cái dây chuyền tốt nhất, mà còn là kinh nghiệm quản
lý, sử dụng hiệu quả công nghệ, tiếp sau đó, là một loạt các sản phẩm với số lượng lớn và chất lượng tốt sẽ ra đời, nó có tác dụng khẳng định được vị trí của quốc gia, bên cạnh như thu nhập kếch xù đạt được
1.1.2.7 Kết hợp hiện đại hóa kinh tế với hiện đại hóa xã hội
Con người vừa là động lực vừa là mục tiêu của quá trình CNH - HĐH Con người trực tiếp thực hiện CNH, trực tiếp tác động làm nền kinh tế phát triển, chỉ với mục tiêu cải thiện cuộc sống, nâng cao chất lượng cuộc sống cả về vật chất và tinh thần Chính vì vậy, bên cạnh thực hiện HĐH kinh tế cần chú trọng đến cả mặt xã hội, xem những sản phẩm hiện đại làm ra có được người tiêu dùng tiếp nhận và hài lòng hay không, muốn như vậy, thì con người cũng cần hiện đại theo nền kinh tế, đó
là hai mặt của một vấn đề, nó liên quan chặt chẽ đến nhau Hơn nữa, hiện đại hoá xã hội còn bao gồm các thủ tục, các cơ sở vật chất, cũng như các hoạt hàng ngày của
xã hội, nó cũng cần phải hiện đại, như là một yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, ví dụ như thủ tục hành chính cần gọn nhẹ, hiện đại, tránh phiền phức,…cơ sở vật chất hạ tầng cũng cần hiện đại để đáp ứng kịp sự phát triển của nhân tố kinh tế Đồng thời, sự phát triển kinh tế tự nó sẽ mang đến sự hiện đại cho xã hội như là một tác động tất yếu
1.1.2.8 Kết hợp hiện đại hóa kinh tế với ổn định chính trị
Chính trị và kinh tế bấy lâu nay vốn có một mối quan hệ chặt chẽ Chính trị bao gồm nhiều mặt của quan hệ xã hội, trong các quan hệ ấy, chính sách kinh tế là quan trọng hơn cả Tính chính trị trong các hoạt động kinh tế, đó là sự tính toán một cách toàn diện các yếu tố đã hình thành và xu hướng phát triển của nền kinh
tế, tình hình chính trị quốc gia và quốc tế Hơn nữa, tính chính trị trong lĩnh vực
Trang 27kinh tế còn có ý nghĩa là tuân theo sự quản lý thống nhất của nhà nước về các hoạt động này Tính thống nhất trong quản lý đối với hoạt động kinh tế được thể hiện ở chỗ, chính phủ là người duy nhất được ban hành các chính sách để định hướng phát triển nền kinh tế, chính phủ thực hiện các chức năng của mình qua các cơ quan chủ quản Như vậy, chính trị có ổn định, có hoàn thiện thì nền kinh tế mới vận hành một cách hoàn hảo, hoạt động hợp tác đầu tư mới diễn ra thuận lợi Trong các hoạt động kinh tế, chính phủ cũng như các doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến kết quả kinh tế mà cả các kết quả chính trị Ví dụ như trong hoạt động đầu tư, nếu một quốc gia có chế độ chính tri ít biến động, có những chính sách thuận lợi, thì tất nhiên các nhà đầu tư sẽ có thiện cảm hơn trong quyết định đầu tư của mình
Tính thống nhất giữa kinh tế và chính trị còn được thể hiện ở chỗ giữa những chính sách và các hoạt động kinh tế trong thực tiễn phải vận động cùng chiều, điều
đó sẽ tạo sức mạnh cho cả hai, đưa quốc gia phát triển và tham gia tích cực hơn một cách có hiệu quả vào nền kinh tế thế giới Bởi lợi ích lâu dài và cơ bản của các nước đòi hỏi chúng ta phải mở rộng quan hệ thân thiện với các nước Và đến lượt nó, sức mạnh của sự phát triển kinh tế là vấn đề cốt lõi của sự vận động về chính trị, an ninh quốc gia Có thể nói, phát triển kinh tế, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân là điều kiện quan trọng nhất của ổn định chính trị
1.1.3 Nội dung Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
Công nghiệp hoá là bước đi tất yếu mà các quốc gia sớm muộn cũng phải vượt qua Trong thời đại ngày nay, dưới tác động của cách mạng khoa học – công nghệ, công nghiệp hoá không thể không gắn liền với hiện đại hoá Nội dung chủ yếu của công nghiệp hoá là trang bị kỹ thuật mới hiện đại, là xây dựng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn liền với việc tổ chức phân công lại lao động và đổi mới chính sách đầu tư đưa nước nhà từ kém phát triển thành quốc gia có nền kinh tế phát triển
Trang 281.1.3.1 Trang bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại cho nền kinh tế
Lịch sử và kinh nghiệm công nghiệp hoá trên thế giới cho thấy việc trang bị công nghệ cho các ngành trong nền kinh tế quốc dân diễn ra qua 2 con đường: Công nghiệp hoá cổ điển (tự trang bị, tự xây dựng) và công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá và mở cửa thông qua chuyển giao công nghệ Lịch sử cũng cho thấy rằng công nghiệp hoá theo kiểu cổ điển chỉ thích ứng với thời kỳ đầu của các nước đầu tiên làm công nghiệp hoá (nước Anh) gắn liền với kinh tế đóng kín về mặt hàng và
công nghệ
Tiến trình cách mạng công nghệ và công nghiệp hoá diễn ra theo trật tự từ công thủ công đến nửa cơ khí, từ công nghiệp nhẹ lần lượt từng bước sang công nghiệp nặng Việc sản xuất máy móc lúc đầu do những người thợ có tay nghề cao, chế tạo bằng phương pháp thủ công và kéo dài cho tới khi xuất hiện công xưởng với những máy công cụ và ngành chế tạo công cụ ra đời Từ kinh nghiệm của nước Anh, các nước tư bản đi sau đã rút ngắn được thời gian phát triển nhờ giảm bớt được thời kỳ mò mẫm, nhưng họ chưa có điều kiện rút ngắn đáng kể thời gian và
trình độ do quy luật phát triển tuần tự đang còn ngự trị
Các nước chọn con đường xã hội chủ nghĩa nói chung tiến hành công nghiệp hoá theo mô hình cuả Liên Xô, nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên Thực chất đây là công nghiệp hoá theo kiểu cổ điển nhưng theo hướng khác và có sự cải biến nhất định đó là không đi từ công nghiệp nhẹ mà lại đi từ công nghiệp nặng Điều này có nguyên nhân khách quan: là nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên nên Liên Xô không có cách nào khác là phải nhanh chóng tạo ra cho mình cơ sở vật chất kỹ thuật đủ mạnh
để có thể tồn tại và phát triển trong vòng vây của chủ nghĩa tư bản Sau chiến tranh thế giới thứ hai, dưới tác động của quy luật phát triển không đều và cuộc cách mạng
và công nghệ mô hình công nghiệp hoá của các nước đi theo con đường chủ nghĩa
xã hội bắt đầu có sự thay đổi Các nước đó không thể không tính đến bối cảnh lịch
sử mới và tính đến cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại Song do nhiều nguyên nhân, nhất là do mô hình kinh tế chỉ huy, do cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp Do những khó khăn về vốn và đổi mới công nghệ, các nước đó
Trang 29đã không đổi mới được bao nhiêu mô hình công nghiệp hoá của mình và kết quả
đều lâm vào tình trạng khủng hoảng đổ vỡ
Mô hình công nghiệp hoá của nước ta chịu ảnh hưởng không nhỏ của mô hình công nghiệp hoá của Liên Xô nên cũng không tránh khỏi tình trạng trên, đặc biệt là giai đoạn 1960 –1986 nền kinh tế nước ta trì trệ và hầu như không phát triển Thực
tế cho thấy con đường công nghiệp hoá cổ điển nói chung và mô hình công nghiệp hoá ở các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa (trong đó có nước ta) nói riêng
có những hạn chế nhất định Với mô hình đó sẽ không tránh khỏi tình trạng:
- Lạc hậu về thế hệ công nghệ, do đó khó đuổi kịp các nước có trình độ cao về phát triển kinh tế và văn minh xã hội
- Không tận dụng được các nguồn lực, các lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh,
các sản phẩm làm ra không có khả năng cạnh tranh, do đó khó hội nhập với thị
trường thế giới
Vì vậy, nếu cứ giữ mô hình đó sẽ không tránh khỏi lạc hậu, lạc điệu và lạc
lõng trước bước tiến như vũ bão của thế giới
Ngày nay, nền kinh tế trên thế giới là nền kinh tế mở, khả năng tận dụng, tranh thủ công nghệ tiên tiến của các nước phát triển là dễ dàng do đó có thể rút ngắn thời gian cần thiết để từ một nước chậm phát triển thành một nước có nền kinh tế phát triển, điều mà nếu áp dụng mô hình công nghiệp hoá cổ điển không thể đạt được
Do đó con đường sẽ được chọn đối với các nước tiến hành công nghiệp hoá muộn
sẽ là con đường “Công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá và quốc tế hoá qua chuyển giao công nghệ” và đó là con đường mà chúng ta đã, đang và sẽ thực hiện để trang
bị cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại cho nền kinh tế
1.1.3.2 Xây dựng cơ cấu kinh tế mới hợp lý
Nói đến cơ cấu kinh tế là muốn nói trong nền kinh tế có bao nhiêu ngành (bộ phận) hợp thành và mối liên quan giữa các ngành đó như thế nào Cơ cấu kinh tế hợp lý là cơ cấu kinh tế cho phép ta khai thác được mọi tiềm năng bên trong và các lợi thế so sánh bên ngoài của đất nước Sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái, phát huy được thế mạnh về lao động, đất đai
Trang 30truyền thống ngành nghề, tạo một thế đứng cho nước ta trong tương lai trên thị trường thế giới, tham gia có hiệu quả vào việc phân công lao động và hợp tác quốc
tế, bảo đảm sự phát triển có hiệu quả với năng suất cao cho toàn bộ nền kinh tế
Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý là yêu cầu tất yếu trong quá trình công nghiệp
hoá, cơ cấu kinh tế đó phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Phản ánh đúng đắn các yêu cầu của các quy luật khách quan, đặc biệt là các
quy luật kinh tế
- Phù hợp với xu thế phát triển của khoa học – kỹ thuật và công nghệ hiện đại
trên thế giới hiện nay
- Phù hợp với sự phân công và hợp tác quốc tế ngày càng phát triển
- Tính hợp lý của cơ cấu còn phải đảm bảo cho phép tối ưu hoá việc sử dụng lợi thế so sánh về tài nguyên lao động của nước phát triển muộn về công nghiệp Chỉ có như vậy mới cho phép khai thác tối đa và có hiệu quả những tiềm năng vốn
có của các ngành, các địa phương, và các đơn vị kinh tế cơ sở
Từ những yêu cầu đó, Đảng ta đề ra mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là chủ yếu sang nền kinh tế có cơ cấu công nông nghiệp và dịch vụ hợp lý theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Từ một nền kinh tế tự nhiên (tự cung, tự cấp) sang nền kinh tế hàng hoá tương đối phát triển với thị trường nội địa thống nhất toàn quốc và mở rộng giao lưu trên thị trường thế giới Kết hợp cơ cấu hướng ngoại và hướng nội để giảm nhẹ các chấn
động có hại của thị trường thế giới
Phải tăng nhanh khu vực công nghiệp chế biến và dịch vụ, thực hiện công nghiệp hoá theo nghĩa xây dựng một cơ cấu kinh tế đa ngành đảm bảo nhịp độ tăng
trưởng kinh tế cao
Để cơ cấu kinh tế có thể chuyển dịch một cách linh hoạt, theo kịp với đà tiến
bộ của kỹ thuật và công nghệ cần hạn chế các công trình có quy mô lớn, hết sức coi trọng các công trình có quy mô vừa và nhỏ vốn đầu tư ban đầu đòi hỏi còn ít, thời
gian xây dựng ngắn và hệ số hoàn vốn cao
Trang 31Chủ trương công nghiệp hoá nước ta mấy thập kỷ trước đây (cụ thể từ năm
1986 trở về trước) thực hiện chưa được thành công là do:
- Chưa hiểu đúng nội dung, bước đi của công nghiệp hoá phù hợp với điều
kiện hoàn cảnh của nước ta cộng thêm với tư tưởng chủ quan, nóng vội
- Xuất phát điểm của nước ta từ một nền kinh tế kém phát triển: sản xuất không đủ tiêu dùng, xuất không đủ nhập, thu không đủ chi … nên không có tích luỹ
từ nội bộ nền kinh tế quốc dân
- Có thiếu sót trong việc chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư nên mang lại hiệu quả thấp
- Cơ chế quản lý kinh tế theo kiểu bao cấp làm triệt tiêu động lực phát triển sản xuất Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh đạt thấp, nhất là khu vực kinh
lực mới cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Tài nguyên phong phú, nguồn lao động dồi dào và có tri thức văn hoá chuyên môn khá Công suất máy móc sử dụng chưa được 90% Đó là những tiềm năng
quan trọng mà ta có khả năng khai thác được trong thời gian tới
- Xu thế mở rộng quan hệ hợp tác và phát triển trên thế giới và trong khu vực… tạo điều kiện thuận lợi cho ta tiếp nhận vốn, kỹ thuật và công nghệ, kinh
nghiệm quản lý của các nước
- Ta có lợi thế so sánh với các nước trong khu vực về vị trí địa lý, bờ biển để xây dựng các sân bay, bến cảng lớn, lập các khu chế xuất dọc bờ biển, lập các trạm,
kho trung chuyển, hàng hoá cho các nước trong khu vực
Trang 32Với các thuận lợi cơ bản nói trên, trong một thời gian không lâu chúng ta nhất định thực hiện được nhiệm vụ thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.2 Chương trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
1.2.1 Một số vấn đề cơ bản về chương trình CNH - HĐH nông thôn
Công nghiệp hoá nông nghiệp có nghĩa là đưa máy móc, thiết bị, ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ và các phương pháp sản xuất, các hình thức tổ chức kiểu công nghiệp Tiến bộ khoa học công nghệ nông nghiệp đã thúc đẩy mạnh
mẽ sản xuất nông nghiệp phát triển và cũng là động lực cơ bản, là nhân tố quyết định trong quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp Nội dung chủ yếu của tiến bộ khoa học công nghệ trong nông nghiệp là các phương thức tiến hành như thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, điện khí hoá, hoá học hoá và sinh học hoá
Thuỷ lợi hoá: đây chính là quá trình thực hiện tổng thể các biện pháp sử dụng các nguồn nước trên mặt đất và dưới mặt đất để phục vụ sản xuất và sinh hoạt trong nông nghiệp, nông thôn đồng thời hạn chế các tác hại của nước gây ra cho sản xuất và đời sống
Cơ giới hoá: đây là quá trình thay thế công cụ thô sơ bằng công cụ cơ giới, lao động thủ công bằng lao động cơ giới, thay thế phương pháp sản xuất lạc hậu bằng phương pháp khoa học
Điện khí hoá: đây là quá trình sử dụng năng lượng điện và sản xuất nông nghiệp và mọi hoạt động phục vụ đời sống nông thôn
Hoá học hoá: đây là quá trình sử dụng các phương tiện hoá học do công nghiệp hoá chất vào sản xuất nông nghiệp Hoá học hoá có tác dụng rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất cây trồng, năng suất sản phẩm gia súc và đưa lại hiệu quả kinh tế cao
Sinh học hoá: đây là quá trình áp dụng những thành tựu mới về khoa học sinh vật
và khoa học sinh thái vào nông nghiệp, tiến hành cách mạng về giống, cách mạng về
cơ cấu cây trồng, cơ cấu vật nuôi và cách mạng về quy trình kỹ thuật nông nghiệp
Trang 33Như vậy, công nghiệp hoá nông nghiệp còn bao hàm cả việc tạo sự gắn bó chặt chẽ giữa phương thức sản xuất công nghiệp với sản xuất nông nghiệp nhằm khai thác triệt để lợi thế của nông nghiệp nâng cao hàm lượng chế biến sản phẩm của nông nghiệp để tăng giá trị của chúng, mở rộng thị trường cho chúng Còn hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình không ngừng nâng cao trình độ khoa học - kỹ thuật
- công nghệ, trình độ tổ chức sản xuất và quản lý sản xuất nông nghiệp Đây là quá trình cần được thực hiện một cách liên tục vì luôn có những tiến bộ kỹ thuật mới xuất hiện và được ứng dụng trong sản xuất
Xuất phát từ nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế nông nghiệp phổ biến sản xuất nhỏ, lạc hậu và đang ở trình độ thấp, đó là cơ sở vật chất, kỹ thuật còn lạc hậu, lao động xã hội đại bộ phận tập trung trong nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp còn mang nặng tính tự cấp, tự túc và thu nhập của nông dân thấp, đời sống mọi mặt của
họ còn hết sức khó khăn Trong khi đó đến nay nhiều nước trên thế giới đã có nền nông nghiệp phát triển ở trình độ cao, mọi hoạt động sản xuất nông nghiệp đã được
cơ giới hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, hoá học hoá Nhờ đó năng suất ruộng đất, năng xuất lao động của họ đạt rất cao, tạo sự phân công lao động sâu sắc trong nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Mặt khác do yêu cầu về phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nhu cầu về nâng cao đời sống con người đó là xã hội càng phát triển, đời sống con người càng được nâng cao thì nhu cầu của con người về lương thực và thực phẩm cũng ngày càng tăng cả về số lượng, chất lượng và chủng loại Như vậy chỉ có một nền nông nghiệp phát triển ở trình độ cao mới hy vọng đáp ứng được nhu cầu tăng lên thường xuyên đó
Xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, trước hết là quá trình quốc tế hoá, khu vực hoá các quan hệ kinh tế thế giới, các hoạt động sản xuất thương mại, trao đổi thông tin khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ buộc chúng ta phải đẩy nhanh việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp để chúng ta có thể tận dụng vốn, khoa học, kỹ thuật kinh nghiệm quản lý nước ngoài vào trong hoàn cảnh thực tiễn vận dụng vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước ta nhằm để tránh
Trang 34nguy cơ tụt hậu về kinh tế, rơi vào tình trạng "bãi rác công nghiệp" của thế giới, dẫn đến cuộc sống đói nghèo, lệ thuộc kinh tế nước ngoài
Như vậy đứng trước những yêu cầu đổi mới đang diễn ra trước mắt ta cần khẳng định trong bối cảnh quốc tế hiện nay, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xu hướng phát triển chung của thế giới Trình độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá biểu hiện trình độ phát triển của xã hội Vì vậy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung và công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nói riêng là con đường đúng đắn mà Đảng ta đã lựa chọn trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội của mình, nó
là "nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội", nó là con đường tất yếu để đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và "nguy cơ tụt hậu" xa hơn so với các nước trong khu vực
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là một quá trình lâu dài cần được tiến hành theo cách tuần tự, không thể nóng vội, không thể tuỳ tiện Để thực hiện được quá trình này cần có và thực hiện tốt những chương trình mục tiêu, giải quyết từng vấn đề có liên quan sau:
Trước tiên, đó là những chương trình với mục tiêu cụ thể là thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá một cách có trọng điểm ở một số vùng Tinh thần chung là việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở mỗi vùng trước hết phải do dân cư các vùng đó chủ động thực hiện theo hướng của nhà nước Nhà nước có thể hỗ trợ nhưng không làm thay, và cũng chỉ hỗ trợ trên cơ sở năng lực nội sinh của mỗi vùng Các địa phương, dù là vùng trọng điểm, cũng không thể trông chờ vào nguồn tài trợ của nhà nước, không thể cố gắng "xin" của nhà nước càng nhiều càng tốt như trước kia Hơn nữa, các khoản hỗ trợ của nhà nước cũng phải được tính toán, quyết định trên cơ sở hiệu quả cụ thể, rõ ràng cuối cùng của mỗi dự án Như vậy, các dự
án thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá không thể không gắn với lợi ích của các chủ thể có liên quan tới việc thực hiện nó Tuy nhiên công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp không chỉ là sự nghiệp của riêng dân cư nông thôn và nhà nước, mà mỗi ngành đều có trách nhiệm nhận thức rõ sự cần thiết của nó để có các chương trình hành động cụ thể, thích hợp Họ cần nhận thức rõ rằng tham gia thực hiện
Trang 35công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp không phải là để "giúp nông thôn phát triển" mà cũng chính là vì lợi ích của họ Chương trình phục vụ công nghiệp hoá nông nghiệp của mỗi ngành, mỗi đơn vị phải phù hợp với khả năng của ngành, đơn
vị, phải phục vụ những nhu cầu cụ thể của nông nghiệp và nông thôn, đồng thời cố gắng có những địa chỉ áp dụng thu hưởng cụ thể Chẳng hạn, các viện nghiên cứu, thiết kế và sản xuất đưa ra các thiết bị phục vụ nông nghiệp (làm đất, chăm sóc hoa màu, thu hoạch, bảo quản, chế biến nông sản) Các cơ quan nghiên cứu, chuyển giao công nghệ có thể nghiên cứu, ứng dụng, giới thiệu, chuyển giao các công nghệ mới, kể cả công nghệ sinh học, cây con, công nghệ chế biến, bảo quản nông sản
và thực hiện các dịch vụ kỹ thuật - công nghệ phục vụ nông thôn Các cơ sở đào tạo các cấp cũng có thể tham gia vào quá trình này vừa bằng cách đào tạo nguồn nhân lực thích hợp cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp vừa hoạt động như một cơ sở tư vấn, phổ biến kiến thức về các lĩnh vực có liên quan tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá thuộc chuyên ngành của mình
Nhà nước, với chức năng điều phối các hoạt động của toàn xã hội, cần tăng cường hơn nữa các hoạt động riêng rẽ của các ngành, các địa phương, biến các chương trình mục tiêu riêng rẽ thành chương trình mục tiêu liên ngành, đồng bộ, hướng tới những kết quả thiết thực cuối cùng, có khả năng giải quyết vấn đề một cách bền vững, tránh sự mất cân đối không cần thiết Chẳng hạn trong thời gian qua, khi đưa máy móc vào nông nghiệp, vấn đề tạo việc làm chưa được giải quyết tốt, dẫn đến khó khăn trong việc duy trì các hoạt động đó Hoặc khi đã tạm giải quyết được vấn đề việc làm, các loại máy móc lại chưa được thiết kế một cách thích hợp; trong khi ruộng đất bị chia ngày càng nhỏ, các loại máy nông nghiệp (làm đất, bơm nước) lại chưa đựơc thiết kế thích hợp Tương tự, khi vận động nông dân trồng các loại cây chuyên canh, công nghiệp chế biến lại chưa được xây dựng kịp thời, dẫn đến sự thua thiệt hoặc kinh doanh kém hiệu quả (ví dụ các vùng trồng dưa, vải, mận, mía đường mà chúng ta đã thấy đề cập nhiều trên báo) Ngược lại, có nơi chủ động xây dựng trước các cơ sở chế biến thì hoặc nguyên liệu không đủ, hoặc
Trang 36nguyên liệu không đồng nhất, hoặc không đáp ứng nhu cầu về chất lượng làm chúng không hoạt động được
Tóm lại, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là nhiệm vụ to lớn, cấp bách lâu dài và gian khó Việc thực hiện nó đòi hỏi những nỗ lực chung của toàn xã hội Sự nghiệp này đòi hỏi chúng ta phải có bước đi, biện pháp và chính sách hợp lý
để thực hiện Năm 2009, Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số TTg ngày 16/4/2009 về ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng Nông thôn mới
491/QĐ-1.3 Ứng dụng Khoa học công nghệ
1.3.1 Các quan niệm về khoa học, công nghệ
Ngày nay, khi khoa học, công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, năng suất lao động không ngừng được nâng cao, cơ cấu kinh tế của các quốc gia
có sự chuyển biến mạnh mẽ, mọi mặt của đời sống xã hội loài người thay đổi sâu sắc Tuy nhiên, khi bàn về thuật ngữ khoa học công nghệ, vẫn còn có nhiều quan niệm khác nhau: Khoa học, tiếng Latin là “Scientia”, có nghĩa là “kiến thức” hoặc
“hiểu biết”, là các nỗ lực thực hiện phát minh, và tăng lượng tri thức hiểu biết của con người về cách thức hoạt động của thế giới vật chất xung quanh Thông qua các phương pháp kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật chất và bất thường của tự nhiên nhằm thu thập dữ liệu, phân tích thông tin để giải thích cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật, hiện tượng Một trong những cách thức đó là phương pháp thử nghiệm bằng mô phỏng hiện tượng tự nhiên dưới điều kiện kiểm soát được và các ý tưởng thử nghiệm Tri thức trong khoa học là toàn bộ lượng thông tin mà các nghiên cứu đã tích luỹ được Định nghĩa về khoa học được chấp nhận phổ biến đó là khoa học là tri thức
tích cực đã được hệ thống hoá
Theo Luật Khoa học và công nghệ năm 2000 “Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy” [28, tr.8]
Viện Ngôn ngữ học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội cho rằng: Khoa học là
hệ thống tri thức tích luỹ trong quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh những quy luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như các hoạt
Trang 37động tinh thần của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực [56, tr.526]
Theo ý kiến của các nhà triết học: Khoa học (Science) là hệ thống tri thức gồm những quy luật về tự nhiên, xã hội và tư duy, được tích lũy trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết
Những quan niệm trên cho thấy, bản chất của khoa học là hệ thống tri thức mang tính quy luật Nó có vai trò đặc biệt quan trọng: nhận thức và cải tạo thế giới tự nhiên, phục vụ nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người
Bên cạnh đó, cũng có những quan niệm nhấn mạnh về mặt cơ cấu – chức năng của khoa học, xem xét nó như là một hình thái ý thức xã hội Có quan niệm khác chú trọng tới những yếu tố sản xuất của nó, chẳng hạn: Khoa học là một lĩnh vực nghiên cứu nhằm mục đích sản xuất ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội
và tư duy Trong đó bao gồm tất cả những yếu tố của sự sản xuất: các nhà khoa học, năng lực, trình độ, kinh nghiệm của họ; sự phân công và hợp tác lao động khoa học; những cơ quan khoa học; những trang thiết bị phục vụ công tác nghiên cứu khoa học; những phương pháp nghiên cứu khoa học; hệ thống các khái niệm, phạm trù,
hệ thống thông tin khoa học cũng như toàn bộ những tri thức hiện có với tư cách là tiền đề hoặc kết quả của lao động khoa học
Như vậy, về thực chất khoa học là một dạng hoạt động đặc biệt của đời sống
xã hội, là sự khám phá của con người đối với các hiện tượng và thuộc tính vốn tồn tại một cách khách quan, từ đó làm thay đổi nhận thức của con người và biến chúng thành hiện thực Phạm vi ảnh huởng của khoa học rất lớn, cả bề rộng lẫn bề sâu Xã hội loài người càng phát triển thì khoa học cũng ngày càng phát triển và phân ngành của khoa học càng chi tiết hóa và phức tạp hóa hơn Hiện nay phổ biến có ba cách phân loại cơ bản:
Theo đối tượng nghiên cứu: Khoa học tự nhiên, nghiên cứu các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên Khoa học xã hội và nhân văn, nghiên cứu hiện tượng, quá trình, quy luật vận động, phát triển của xã hội và bản thân của con người
Trang 38Theo mục tiêu nghiên cứu: Có khoa học cơ bản; khoa học ứng dụng
Theo phân loại của UNESCO: Thì bao gồm khoa học tự nhiên; khoa học kinh tế; khoa học nông nghiệp; khoa học y học; khoa học kỹ thuật; khoa học xã hội và nhân văn
Tóm lại, khoa học là một hình thái ý thức xã hội phản ánh một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp xã hội có tính đặc thù nhằm tìm kiếm, sắp xếp một cách có hệ thống các tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy trên cơ sở tổng hợp, khái quát những tri thức kinh nghiệm đã được tích lũy trong quá trình lịch sử, từ thực tiễn hoạt động sản xuất và đời sống để định hướng, dẫn dắt hoạt động thực tiễn của con người Công nghệ: Thuật ngữ Công nghệ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp
“Technologia” hay “vexvonopơ” “Techne” có nghĩa là “thủ công” và “logia” là
“châm ngôn”; “Technologia” là một thuật ngữ rộng ám chỉ đến các công cụ và mưu mẹo của con người Trong tiếng Anh, công nghệ là “Technology” có nghĩa là “tài nghệ học”, sự tinh xảo của tay nghề, một nghệ thuật hay một kỹ năng, bí quyết… để đạt tới sản phẩm chất lượng cao của nghề thủ công trước đó Tùy theo ngữ cảnh và góc độ nghiên cứu mà thuật ngữ công nghệ có thể được hiểu:
Công cụ hoặc máy móc giúp con người giải quyết các vấn đề
Các kỹ thuật bao gồm các phương pháp, vật liệu, công cụ và các tiến trình để giải quyết một vấn đề
Các sản phẩm được tạo ra phải hàng loạt và giống nhau
Thuật ngữ công nghệ vì vậy thông thường đặc trưng bởi các phát minh và cải tiến sử dụng các nguyên lý và quy trình đã được khoa học phát hiện ra gần đây nhất Tuy nhiên, thậm chí cả phát minh cổ nhất như bánh xe cũng là một minh họa cho công nghệ
Các nhà kinh tế học thì xem công nghệ như là trạng thái hiện tại kiến thức của con người trong việc kết hợp các nguồn lực để sản xuất ra các sản phẩm mong muốn (và kiến thức của con người về sản xuất như thế nào?) Như vậy, công nghệ
có thể thay đổi khi kiến thức kỹ thuật của con người tăng lên
Trang 39Theo Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (UNIDO): “Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp, bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý một cách có hệ thống và có phương pháp” [26, tr.43] Định nghĩa này chỉ xét ở một khía cạnh nào đó của khoa học trong việc sử dụng nó một cách có hiệu quả (như trong lĩnh vực công nghiệp mà thôi)
Tổ chức Uỷ ban kinh tế - xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) thì đưa
ra định nghĩa: “Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin” Sau đó định nghĩa được mở rộng, “nó bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong chế tạo, dịch vụ, quản lý thông tin”[26, tr.43] Định nghĩa này được mở rộng hơn trên các lĩnh vực chế tạo, dịch vụ, quản lý thông tin và đã đi sâu nghiên cứu khía cạnh công nghệ thực thụ
Theo khoa học luận: Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ và phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm Đây là khái niệm mang tính khái quát tương đối đầy đủ
Viện Ngôn ngữ học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội cho rằng: Công nghệ là tổng thể nói chung các phương tiện kỹ thuật, các phương pháp tổ chức, quản lý được sử dụng vào quy trình sản xuất để tạo ra các sản phẩm vật chất và dịch vụ [56, tr.270]
Nhìn chung các quan niệm đều đi vào làm rõ công nghệ là môn khoa học ứng dụng nhằm vận dụng các quy luật tự nhiên và các nguyên lý khoa học bao gồm các phương tiện kỹ thuật, công cụ, kỹ năng, bí quyết, phương pháp… sử dụng trong quá trình sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người
Ngày nay, công nghệ về mặt nội dung gồm bốn bộ phận hợp thành được gọi là bốn thành phần công nghệ:
Một là, phần kỹ thuật là phần công nghệ được hàm chứa ở trong các phương
tiện kỹ thuật; bao gồm: các công cụ, thiết bị máy móc, phương tiện và các cấu trúc
hạ tầng khác Trong công nghệ, các thành phần này thường làm thành dây chuyền
để thực hiện quá trình biến đổi, ứng với một quy trình công nghệ nhất định, đảm
Trang 40bảo tính liên tục của quá trình công nghệ Các phần kỹ thuật của công nghệ chính là
“phần cứng”
Hai là, phần con người là phần công nghệ hàm chứa trong kỹ năng con người
trong quá trình hoạt động công nghệ bao gồm: kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo, tay nghề, khả năng học hỏi và các tố chất của con người
Ba là, phần thông tin là phần công nghệ được hàm chứa trong các dữ liệu và
nhờ đó con người có thể sử dụng, thực hiện nó một cách hiệu quả các hoạt động công nghệ, bao gồm bí quyết, quy trình, phương pháp, dữ liệu, bản thiết kế… nó được bảo vệ theo Luật Bản quyền sở hữu công nghiệp
Bốn là, phần tổ chức, quản lý là phần công nghệ hàm chứa trong khung của thể
chế, xây dựng cấu trúc của tổ chức bao gồm các quy định về trách nhiệm, quyền hạn, mối quan hệ, sự phối hợp giữa các cá nhân và các bộ phận trong hoạt động khoa học, công nghệ Kích thích người lao động làm việc để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Các thành phần của một công nghệ có quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau Bất kỳ quá trình sản xuất nào đều phải đảm bảo bốn thành phần trên Mỗi thành phần đều đảm nhiệm những chức năng nhất định Sự kết hợp chặt chẽ bốn thành phần trên là điều kiện để đảm bảo cho hoạt động sản xuất đạt hiệu quả cao
Do đó, khi muốn đổi mới công nghệ phải đồng thời nâng cấp cả bốn thành phần công nghệ một cách tương thích
Trong thế giới công nghệ đứng ở giữa một bên là con người và một bên là giới tự nhiên Công nghệ là bàn tay của con người được nối dài ra trong quá trình cải tạo tự nhiên
Tóm lại, công nghệ là toàn bộ hệ thống các công cụ, phương tiện kỹ thuật, bí quyết, phương pháp tổ chức, quản lý nhằm khai thác, biến đổi nguồn lực tự nhiên thành các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, nhằm đáp ứng nhu cầu của con người