Đồng thời, người bệnh trong giai đoạn hồi phục và di chứng cũng cần tự tạo cho mình một một chế độ sinh hoạt hợp lý, giữ tinh thần thoải mái không giận dữ, kích động hay cáu gắt, ăn uống[r]
Trang 1ĐIỀU TRỊ ĐỘT QUỴ NÃO BẰNG YHCT
ThsBS.CK1 Trần Minh Quang
I.Mục Tiêu:
1 Hiểu được bệnh danh đột quỵ não theo YHCT
2 Kể được các nguyên nhân đột quỵ não theo YHCT
3 Kể được các thể bệnh đột quỵ não trong các giai đoạn cấp, giai đoạn hồi phục, giai đoạn di chứng theo YHCT
4 Kể được các pháp trị, và tên bài thuốc theo các thể bệnh YHCT tương ứng
5 Kể được các huyệt thường dùng trong điều trị người bệnh đột quỵ não
II Đại cương đột quỵ não the YHHĐ
1 Định nghĩa:
Đột quỵ (ĐQ) là bệnh lý xảy ra đột ngột với các triệu chứng khiếm khuyết thần kinh, tiến triển nhanh trong vòng 24 giờ và không thoái lui [24] Một cơn đột quỵ xảy ra khi cung cấp máu cho một phần của bộ não bị gián đoạn hoặc suy giảm nghiêm trọng, làm mất oxy và dinh dưỡng của mô não Trong vòng vài phút, các tế bào não bắt đầu chết Đột quỵ là một bệnh lý cấp cứu cần điều trị ngay Xử lý sớm kịp thời có thể giảm thiểu tổn thương não và các biến chứng tiềm năng, cũng như hạn chế các di chứng về sau “Tai biến mạch máu não” và “Đột quỵ não” là 2 tên gọi tương đương nhau
2 Phân Loại:
Phân loại theo hội nghị quốc tế châu Âu (4/1984):
a ĐQ nhồi máu (huyết khối, nghẽn mạch, thiếu máu não cục bộ): chiếm 75-80% số
bệnh nhân ĐQ não và gồm có:
Huyết khối động mạch não
Tắc mạch não
Hội chứng lỗ khuyết
b ĐQ xuất huyết: chiếm 20-25% số bệnh nhân ĐQ não và gồm có:
Xuất huyết não
Trang 2Xuất huyết dưới nhện.
3.Chẩn đoán:
Triệu chứng cơ năng khởi phát
Theo tác giả Virginia J.Howard, Lesli A.MC Clure và cộng sự, nghiên cứu tỉ
lệ những người có triệu chứng như đột quỵ nhưng chưa được chẩn đoán đột quỵ hoặc cơn thoáng thiếu máu não trong cộng đồng dân số với sự tham gia 18.642 người, kết quả, 5.8% có đột ngột đau yếu 1.2 người, 8.5% đột ngột tê ½ người, 4.6
% đột ngột nhìn mờ 1 hoặc 2 mắt, 2.7% đột ngột không hiểu lời nói, 3.8% đột ngột mất khả năng diễn đạt, tổng tỉ lệ hiện mắc 1 hoặc nhiều triệu chứng trên chiếm 17.8%
Người bệnh đột ngột có các dấu hiệu như sau:
Khó khăn với đi bộ, có thể vấp ngã hoặc chóng mặt, mất cân bằng hoặc mất phối hợp, cảm giác yếu tay chân, mức độ có thể từ nhẹ tới nặng
Khó khăn với việc nói và hiểu, có thể nói ngọng hoặc không thể tìm thấy những từ giải thích những gì đang xảy ra (mất ngôn ngữ) Cố gắng lặp lại một câu đơn giản
Tê liệt một bên của cơ thể hoặc mặt Có thể phát triển đột ngột tê, yếu hoặc liệt ở một bên của cơ thể Miệng có thể méo khi cố gắng mỉm cười, uống nước chảy bên khoé miệng
Vấn đề tầm nhìn một hoặc cả hai mắt: đột nhiên nhìn mờ hoặc đen, hoặc có thể nhìn thấy đôi
Đau đầu bất ngờ nghiêm trọng, có thể kèm theo nôn mửa, chóng mặt hoặc bị thay đổi ý thức, có thể cho thấy đang bị đột quỵ
Triệu chứng thực thể
Khám tri giác và nhận thức của người bệnh
Khám cảm giác
Khám vận động
Khám sức cơ
Bảng Đánh giá sức cơ của bệnh nhân
Trang 3Mức độ Sức cơ Mô tả
Rất yếu 1 Không có cử động của chi hoặc khớp nhưng có biểu
hiện co cơ qua quan sát hoặc cảm nhận Yếu 2 Có thể thực hiện được hết tầm vận động trên mặt
phẳng ngang, không thắng được trọng lực Trung bình 3 Cơ không thể vận động cản lại sức cản nhưng có thể
thực hiện hết tầm vận động, có thể kháng trọng lực Tốt 4 Có thể thực hiện hết tầm vận động khi có kháng cản Bình thường 5 Vận động bình thường
Sau đột quỵ là sự suy giảm chức năng vận động, thường là liệt nửa người kèm theo các rối loạn khác như:
Liệt nửa người đơn thuần đồng đều hoặc không đồng đều
Liệt nửa người kèm thất ngôn vận động, nhận thức hoặc cả hai
Liệt nửa người kèm rối loạn cơ vòng
Liệt nửa người kèm rối loạn cảm giác
Liệt nửa người kèm liệt dây thần kinh sọ não
Liệt nửa người kèm thất điều vận động
Liệt nửa người kèm rối loạn tâm thần
Liệt nửa người kèm rối loạn giác quan
Trong giai đoạn đầu, liệt nửa người thường ở trạng thái liệt mềm, nghĩa là chi liệt của bệnh nhân không ở trạng thái tăng trương lực cơ, và tăng phản xạ gân xương Sau một thời gian, nếu bệnh nhân không tự phục hồi, hoặc không điều trị sớm và liên tục, tình trạng liệt mềm sẽ chuyển sang liệt cứng với những biểu hiện gồng cứng và co rút các chi liệt, tăng phản xạ gân xương sẽ làm hạn chế rất nhiều sự vận động của bệnh nhân
4 Điều trị:
Mục tiêu điều trị
- Hồi sức cấp cứu ở giai đoạn cấp
- Phục hồi chức năng sớm cho người bệnh, hạn chế tối đa di chứng về sau
Trang 4- Kiểm soát các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được như: hút thuốc lá, ăn nhiều mỡ động vật, ít vận động, bệnh lý kèm theo đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu,
- Phòng ngừa tái phát ĐQ
Phục hồi chức năng sau đột quỵ
Theo Y học hiện đại, bộ não ngay sau khi bị thiếu máu não hay xuất huyết sẽ hình thành hai vùng: vùng nhân hoại tử và vùng tranh tối tranh sáng Trên cơ sở đó, YHHĐ cho rằng, giải quyết tốt tình trạng tưới máu tranh tối tranh sáng là có thể phục hồi di chứng sau đột quỵ và bệnh nhân sống sót sau đột quỵ cấp có khả năng
tự phục hồi ở một mức độ nào đó Sự phục hồi diễn ra với mức độ và thời gian rất khác nhau trên mỗi bệnh nhân Vấn đề đặt ra, liệu sẽ có bao nhiêu bệnh nhân đột quỵ được đưa vào các trung tâm, đơn vị đột quỵ đúng tiêu chuẩn trong 6 giờ vàng
để tái tưới máu kịp thời? Như vậy, thực tế cho thấy đa số bệnh nhân đến bệnh viện trong tình trạng diễn tiến đã bệnh đã trễ hơn giờ vàng, khi đó tế bào vùng não tổn thương đã chết Trên lý thuyết những bệnh nhân đó, sẽ mang di chứng sau đột quỵ suốt đời Tuy nhiên, trên lâm sàng ghi nhận sau một thời gian điều trị tích cực bằng vật lý trị liệu, phục hồi chức năng, một số bệnh nhân bắt đầu hồi phục vận động
5 Phòng ngừa tái phát sau đột quỵ:
Phòng ngừa tái phát đột quỵ não
Việc phòng bệnh nên tập trung vào điều chỉnh các yếu tố nguy cơ Chiến lược điều trị phải kết hợp với các yếu tố văn hóa, xã hội có liên hệ đến việc chăm sóc sức khỏe và thay đổi hành vi Đặc biệt chú ý những trường hợp có nguy cơ tái phát cao như: Rung nhĩ, hẹp nặng động mạch cảnh, trình độ học vấn thấp, tiền sử đột quỵ, cơn thoáng thiếu máu não…
Kiểm soát tăng huyết áp: Có thể giúp ngăn ngừa thoáng thiếu máu não cục bộ hoặc ĐQ tái phát Huyết áp được duy trì <140/90 mmHg hoặc dưới 130/80 mmHg nếu người bệnh có ĐTĐ týp 2 hay bệnh thận mạn Có thể kết hợp nhiều nhóm thuốc điều trị huyết áp Hiện nay các khuyến cáo thuốc hạ áp theo mức độ ưu tiên thuốc lợi tiểu, ức chế men chuyển (ACE); các chất ức chế thụ thể angiotensin II, thuốc
Trang 5chẹn kênh canxi và thuốc chẹn beta nếu có kèm bệnh lý mạch vành Tập thể dục, quản lý căng thẳng, duy trì cân nặng lý tưởng và hạn chế lượng muối và rượu và thức uống là những cách để giữ cho huyết áp ổn định Thêm kali nhiều hơn trong chế độ ăn uống cũng có thể giúp đỡ ổn định huyết áp, đặc biệt ở những người bệnh
có dùng thuốc lợi tiểu
Kiểm soát đái tháo đường: Có thể quản lý cùng với chế độ ăn uống, tập thể dục, kiểm soát trọng lượng và kết hợp thuốc hạ đường huyết, duy trì mức HbA1c < 6.5%
Ổn định Lipid máu: Hạ thấp lượng cholesterol và chất béo bão hòa trong chế
độ ăn Ăn ít cholesterol và chất béo, đặc biệt là chất béo bão hòa, có thể làm giảm các mảng xơ vữa trong động mạch Có thể kết hợp nhóm statin như simvastatin (Zocor) hoặc atorvastatin (Lipitor), hoặc loại khác làm giảm cholesterol Ăn chế độ
ăn nhiều trái cây và rau quả có thể giảm nguy cơ ĐQ
Không hút thuốc: Hút thuốc làm tăng nguy cơ ĐQ cho người hút thuốc và cả người không hút thuốc tiếp xúc với khói thuốc
Tập vật lý trị liệu: Luyện tập làm giảm nguy cơ tái phát bằng nhiều cách Tập thể dục có thể làm ổn định huyết áp, tăng mức lipoprotein tỉ trọng cao (HDL) và cải thiện sức khỏe tổng thể của các mạch máu và tim Nó cũng giúp giảm cân, kiểm soát bệnh đái tháo đường đường và giảm bớt căng thẳng
III.Theo Y học cổ truyền
1 Bệnh danh
YHCT không có danh từ “tai biến mạch máu não” hay “đột quỵ não” Những triệu chứng trong đột quỵ não thường gặp như đột ngột té ngã, hôn mê, liệt nửa người, liệt mặt, có khi chỉ tê bì, hoa mắt chóng mặt, …được YHCT miêu tả trong chứng Trúng phong
Sách “Kim quỹ yếu lược” của Trương Trọng Cảnh đời Hán đã đề cập đến chứng “Trúng phong” và mô tả các triệu chứng như sau: bán thân bất toại, mồm méo, nói khó, nặng thì bất tỉnh nhân sự
Trang 6Trúng phong được phân loại “trúng kinh lạc” và “trúng tạng phủ” cũng chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng nặng nhẹ
Triệu chứng trúng phong kinh lạc thường là nhẹ: chân tay tê dại, mồm méo, hoặc nói khó, bán thân bất toại nhưng không có hôn mê
Triệu chứng trúng phong tạng phủ thì bệnh nặng mê man hoặc hôn mê bất tỉnh, các triệu chứng lâm sàng nặng hơn
2 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
Sách đời Đường (701-704) và đời Tống (973-1093) nhận thức về nguyên nhân bệnh là do tích tuổi hư tổn Y gia các thời đại sau bổ sung thêm nhiều luận thuyết về nguyên nhân như Lưu Hà Gian cho là do “hỏa”, Lý Đông Viên cho là “lý hư”, Chu Đan Khê cho là “đàm nhiệt” Các học gia sau này như Trương Giới Tân (đời Minh), Diệp Thiên Sỹ (đời Thanh) đều cho rằng là do “nội thương” “tích tổn”
mà thành chứ không phải do phong tà bên ngoài xâm nhập cơ thể Về tạng phủ mắc bệnh, sách “Nội kinh” nói: “Đại nộ tắc hình khí tuyệt mà huyết tràn lên trên”, và
“huyết khí cùng thượng nghịch”, phía trên là chỉ não là một trong những phủ kỳ hằng, là bể của tủy, khí của não, là thông với thận Ngoài mặt nhận thức bệnh biến
là ở não, YHCT cũng chỉ ra bệnh có liên quan đến nhiều tạng phủ khác như Can, Thận, Tâm, Tỳ, Vị
Tóm lại theo YHCT, sự hình thành bệnh có liên quan đến các yếu tố bệnh lý sau:
- Ngoại nhân: Chủ yếu phải hóa nhiệt và sinh phong Linh khu nội kinh ghi
rằng: “hư tà xâm nhập vào nửa thân người, nếu vào sâu thì cư trú trong dinh vệ, dinh vệ suy yếu thì chân khí tán, chỉ còn tà khí lưu lại; vì thế thành bệnh Thiên khô Thiên khô chính là bệnh bán thân bất toại” Hoàng đế bội kinh tố vấn lại ghi:
“Phong tà trúng vào huyệt du của ngũ tạng lục phủ, phong trúng chỗ nào thì gây bệnh Thiên khô chỗ đó” Trương Trọng Cảnh cho rằng: “phàm là phong mà gây bệnh, sẽ khiến chi người ta bệnh bán thân bất toại” Như vậy, cả ba bộ sách trên đề ghi nhận bệnh bán thân bất toại do phong gây ra
Trang 7- Can phong nội động: Lưu Hà Giang cho rằng bệnh bán thân bất toại do Hỏa
và phát biểu: “bệnh trúng phong không phải thực sự do Can phong nội động, mà cũng không phải trúng phong do ngoại tà, mà do điều dưỡng và nghỉ ngơi không điều độ, nội hỏa bốc lên, chân thủy khô kiệt, không chế được hỏa nên tâm thần hôn
mê, bởi thế đột quỵ ngã xuống”
- Khí hư: Lý Đông Viên cho rằng Trúng phong vốn do khí hư lại cảm phong tà.
- Bất nội ngoại nhân: Thấp đàm nội trở Do sinh hoạt bất thường, ăn uống vô
độ, ăn nhiều đồ béo ngọt, uống nhiều rượu, lao lực quá sức lâu ngày khiến Tỳ tổn thương không vận hóa, tụ thấp sinh đờm, đờm uất hóa nhiệt Can phong cùng đờm quấy nhiễu bên trên gây che lấp thanh khiếu, xuyên vào kinh lạc khiến dương không vận hành mà sinh bệnh Chu Đan Khê cho rằng “thấp sinh đàm, đàm sinh nhiệt, nhiệt sinh phong”
Một trong các nguyên nhân gây nên chứng Trúng phong được các nhà nghiên cứu YHCT hiện nay tán thành, đó là học thuyết của Vương Thanh Nhậm về sự mất cân bằng của nguyên khí trong cơ thể và thiếu hụt nguyên khí trong các đường kinh lạc Trong tác phẩm Y lâm cải thác, ông nói: “bệnh bán thân bất toại không phải do phong, hỏa, đàm, thấp gây ra Bán thân bất toại nếu do phong, rồi phong lại trúng vào người, thì tất từ bì phu mà vào kinh lạc, tức là từ biểu nhập lý Nhưng khám hoàn toàn không thấy bệnh nhân có các biểu chứng như phát sốt, sợ lạnh, đầu đau, nhức mình mẩy Nếu bệnh phong, hỏa, đờm, thấp gây ra thì không cần bàn phong
do bên ngoài lấn vào hay bên trong phát ra, tất sẽ vào kinh lạc Trong kinh lạc tất phải có khí và huyết Một khi, khí và huyết bị phong, hỏa, thấp, đàm ngăn trở sẽ bị
bế tắc không thông, như thế dứt khoát phải có triệu chứng đau đớn, đó là tý chứng chứ không phải bán thân bất toại, vì thường bệnh nhân bán thân bất toại không ai có triệu chứng đau mình cả” Và ông cho rằng “bệnh bán thân bất toại chính do nguyên khí hư tổn mà phát ra”
3 Chẩn đoán và điều trị YHCT
Biện chứng luận trị chủ yếu theo 3 giai đoạn lâm sàng:
Giai đoạn cấp tính:
Trang 8Thường trong thời gian 1-2 tuần đầu của bệnh mà triệu chứng chủ yếu là hôn
mê Thời gian hôn mê càng dài, càng sâu thì tiên lượng bệnh càng kém Do thể chất người bệnh, tình hình bệnh lý khác nhau mà biểu hiện lâm sàng khác nhau, có thể chia làm 2 thể bệnh: Chứng bế và chứng thoát
- Chứng bế:[6]
+ Dương bế: hôn mê, liệt nửa người, méo mồm, mắt trợn ngược, mặt đỏ, người nóng sốt, hàm răng nghiến chặt, đờm nước rãi nhiều, họng khò khè, thở thô, mũi ngáy, tay chân co cứng, tiêu tiểu không thông, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền hoạt sác
+ Âm bế: bất tỉnh nhân sự yên tĩnh, thở khò khè, mạch trầm hoãn, rêu lưỡi trắng nhờn
Phép chữa: khai bế tỉnh não, hoạt huyết chỉ huyết
Châm cứu: chích huyết các huyệt: Trung xung, Bách hội, Tứ thần thông (hoặc dùng 12 huyệt tĩnh) kết hợp chích Nhân trung, Thừa tương, Phong trì, Phong phủ, Hợp cốc, Lao cung, Thái xung, Dũng tuyền Hoặc dùng Nội quan, Nhân trung, Tam
âm giao, Hợp cốc, Ủy trung Chủ yếu dùng phép tả, ngày 1 đến 2 lần, không lưu kim cho đến khi tỉnh và tùy tình hình bệnh thay đổi chọn huyệt
Đối với chứng dương bế (nhiệt bế) có thể dùng bài thuốc sau có tác dụng thanh nhiệt giải độc, bình can tức phong, an thần hoạt huyết: Sinh địa 10-15g, Chi tử 10g, Hoàng cầm 10g, Toàn qua lâu 15-20g, Mang tiêu 10g, Bột sừng trâu 15-25g, Thạch quyết minh 15g, Câu đằng 15g, Xích thược 15g, Đơn sâm 15g, Tam thất bột 6g, Chích thảo 3g, Trúc lịch (nước) 30ml Ngày sắc uống thang, tùy chứng gia giảm
Đối với chứng âm bế (thường gặp ở bệnh nhân vốn dương hư đàm thịnh hàn đàm làm bế tắc thanh khiếu) dùng phép chữa: Ôn thông khai khiếu Bài thuốc: “Tô hợp hương hoàn” mỗi lần uống 2-4 g, 1-2 lần uống với nước Tế tân 3g, Gừng tươi 3-5 lát Trường hợp triệu chứng dương hư nặng (sắc mặt tái nhợt, tự ra mồ hôi, chân tay lạnh, mạch vị hoặc phù tế mà huyền) gia Phụ tử, Hoàng kỳ, gia thêm Xuyên khung, Tô mộc, Đương quy, Bạch cương tàm, Ngưu tất, Tế tân để hoạt huyết thông lạc Trường hợp hôn mê cấm khẩu, đờm thịnh, chính khí dục thoát cần dùng bài
Trang 9“Tam sinh ẩm” (Sinh nam tinh, Sinh bán hạ, Sinh phụ tử mỗi thứ 10g) gia Nhân âm 15-30g, sắc uống cấp, chống hư thoát Lúc này châm thêm Nhân trung, Hợp cốc, Túc tam lý, Dũng tuyền để hồi dương cứu nghịch
- Chứng thoát:
Triệu chứng chủ yếu: Đột nhiên ngã quỵ hoặc do chứng bế chuyển thành, có triệu chứng hôn mê bất tỉnh, sắc mặt tái nhợt, mắt nhắm, mồm há, hơi thở ngắn gấp hoặc có lúc ngưng thở, tay buông thõng, tứ chi lạnh, toàn thân ướt lạnh, tiêu tiểu không tự chủ, chân tay liệt mềm, lưỡi rút ngắn, mạch vi dục tuyệt hoặc hư đại vô căn, huyết áp hạ Thường chứng thoát là âm dương, khí huyết đều hư hoặc do bệnh nhân nguyên khí vốn rất hư ĐQ là xuất hiện chứng thoát, hoặc là diễn tiến xấu đi của chứng bế, cho nên trong quá trình cấp cứu chứng bế nếu phát hiện 1, 2 triệu chứng của chứng thoát, cần chuyển hướng chữa cấp cứu kịp thời mới hy vọng cứu sống bệnh nhân
Phép chữa chủ yếu: Hồi dương cứu thoát
Bài thuốc cơ bản: “Sâm phụ thang” (Nhân sâm, Phụ tử mỗi thứ 15-30 g) Trường hợp ra mồ hôi không dứt gia Long cốt, Mẫu lệ mỗi thứ 30-60 g
Âm dương đều thoát, dùng “Sinh mạch âm hợp sâm phụ thang” gia Sơn thù, Bạch thược, Long cốt, Mẫu lệ Đây là trường hợp cấp cứu trụy tim mạch, không thể dùng thuốc uống được mà phải tiêm truyền bằng đường tĩnh mạch Ở Trung quốc dùng thuốc chích Sâm mạch (Nhân sâm, Mạch môn) mỗi lần 4-10 ml gia vào dung dịch Glucose 5% 20 ml chích tĩnh mạch 2-3 lần, sau đó tiếp tục dùng dịch Sâm mạch 10-20 ml cho vào dung dịch Glucose 10% 250-500 ml nhỏ giọt tĩnh mạch cho đến khi trạng thái choáng được cải thiện, huyết áp ổn định Và sau đó tiếp tục dung dịch Sâm phụ mỗi lần 40-100 ml gia vào 10% Glucose 250-500 ml nhỏ giọt tĩnh mạch ngày 2 lần tùy tình hình bệnh mà duy trì dùng trong 7-10 ngày
Châm cứu: Chủ yếu cứu các huyệt Khí hải, Quan nguyên, Thần khuyết, Dũng tuyền
Giai đoạn hồi phục:
Trang 10Sau thời gian cấp tính khoảng 1-2 tuần và kinh qua điều trị tích cực chứng bế hoặc chứng thoát, bệnh nhân qua cơn nguy kịch chuyển sang giai đoạn hồi phục Bệnh lý chủ yếu ở giai đoạn này là chứng hư kiêm huyết ứ đàm trệ ở kinh lạc mà phần lớn là thể khí trệ huyết ứ Theo ghi nhận y văn, ở giai đoạn này có thể gặp 4 thể bệnh sau đây: Khí hư huyết ứ, đàm thấp, can thận âm hư, thận âm dương lưỡng hư
* Khí hư huyết ứ: Là thể bệnh thường hay gặp Triệu chứng chủ yếu là thể
chất khí hư, sắc mặt tái nhợt, hơi ngắn, dễ mệt, ra nhiều mồ hôi, tiêu phân lỏng, chất lưỡi nhợt, rìa lưỡi có dấu răng, trên mặt hoặc dưới lưỡi có điểm hoặc nốt ứ huyết, một bộ phận chân tay tê dại, liệt nửa người hoàn toàn hoặc yếu, mồm méo, nói khó hoặc không nói được, mạch vi tế hoặc hư đại, tinh thần tỉnh táo
Phép chữa: Bổ khí, hóa ứ, thông lạc
Bài thuốc: “Bổ dương hoàn ngũ thang”
* Đờm thấp: Người béo, thừa cân Lưỡi dày, to Bệnh nhân thường ít than
phiền về triệu chứng đau đầu (nếu có, thường là cảm giác nặng đầu) nhưng dễ than phiền về tê nặng các chi Thường hay kèm tăng Cholesterol máu Mạch hoạt
Phép chữa: Hóa đờm, thông lạc
Bài thuốc: Nhị trần thang gia giảm (xuất xứ Thiên gia diệu phương) gồm Bạch truật 40g, Cam thảo 4g, Phục linh 12g, Bán hạ 12g, Nhân sâm 4g, Trần bì 4g
* Can thận âm hư: Triệu chứng chủ yếu là da khô nóng, thường hay hoa mắt
váng đầu, tim hồi hộp, mất ngủ, bứt rứt, lưng đau gối mỏi, tiêu bón, bàn chân tay tê dại, thân lưỡi thon, rìa lưỡi đỏ, rêu dày nhớt, liệt nửa người, mồm méo, tiếng nói không rõ, mạch huyền tế sác hoặc huyền hoạt Huyết áp cao hoặc bình thường Phép trị: Tư âm tức phong, hóa đờm tán ứ, thông kinh hoạt lạc
Bài thuốc: Bài thuốc Lục vị địa hoàng hoàn gia Quy thược gồm Thục địa 32g, Hoài sơn 16g, Sơn thù 8g, Đơn bì 12g, Phục linh 12g, Trạch tả 6g, Đương quy 12g, Bạch thược 8g Sắc uống mỗi ngày 1 thang
* Thận âm dương lưỡng hư: Sắc mặt tái xanh hoặc xạm đen Răng khô, móng
khô, gân gồng cứng co rút lại Đau nơi eo lưng Tiểu đêm Ngủ kém Không khát, ít uống nước, sợ lạnh Lưỡi nhợt, bệu Mạch trầm nhược