Tuy vâ ̣y, bên ca ̣nh những tiến bô ̣ đa ̣t được , chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng còn gă ̣p không ít khó khăn , đă ̣c biê ̣t là vấn đề dịch bệnh, nhất là đối
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NHÂM DUY HẢI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo :Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y Lớp : K45 – CNTY – N02 Khoa : Chăn nuôi thú y Khóa học : 2013 – 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NHÂM DUY HẢI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo :Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y Lớp : K45 – CNTY – N02 Khoa : Chăn nuôi thú y Khóa học : 2013 – 2017
Giảng viên hướng dẫn: TS Lê Minh
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lý thuyết, kiến thức trên sách vở chưa đủ để sinh viên khi tốt nghiệp ra trường có thể đi làm trong các công ty, nhà máy hay các trang trại, mà những kiến thức đó cần được vận dụng vào chính thực tiễn trong đời sống,sản xuất của
xã hội Xuất phát từ lý do đó mà ban giám hiệu nhà trường, cùng các thầy cô trong khoa CNTY đã tạo điều kiện cho sinh viên khoa CNTY nói chung và bản thân em nói riêng được tham gia học tập và rèn luyện kĩ năng tay nghề tại cơ sở thực tập
Để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này trước hết em xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm học vừa qua
Em xinchân thành cảm ơn sâu sắc tới TS Lê Minh đã tận tình giúp đỡ và
hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y, đã giúp đỡ em hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn ông Đặng Đình Dũng cùng toàn thể anh em
kỹ thuật, công nhân trong trang traị đã tạo điều kiện giúp đỡ cho em trong suốt quá trình thực tập
Trong quá trình thực tập vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, chỉ dựa vào kiến thức đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên báo cáo không tránh khỏi sai sót
Kính mong được sự góp ý nhận xét của quý thầy cô để giúp cho kiến thức của em ngày càng hoàn thiện và có nhiều kinh nghiệm bổ ích cho công việc sau này
Em xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, ngàythángnăm 2017
Sinh viên Nhâm Duy Hải
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu trại đạt được từ năm 2014 đến năm 2016……… 5
Bảng 3.1 Lịch sát trùng 26
Bảng 3.2: Lịch phòng bệnh cho lợn con 27
Bảng 4.1: Quy trình phòng bệnh cho các loại lợn 32
Bảng 4.2 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 42
Bảng 4.3 Kết quả áp dụng quy trình phòng bệnh bằng vắc xin cho lợn con 43
Bảng 4.4: Kết quả chẩn đoán và phát hiện một số bệnh thường gặp ở lợn con theo mẹ 44
Bảng 4.5 Kết quả điều trị một số bệnh ở lợn con theo mẹ 45
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cở sở tại trạiĐặng Đình Dũng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3
2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở 4
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến nội dung của đề tài 6
2.2.1 Tổng quan tài liệu 6
2.2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 19
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 24
3.1 Đối tượng 24
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 24
3.3 Nội dung thực hiện 24
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 25
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 25
3.4.2 Phương pháp theo dõi 25
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 31
Trang 74.2 Kết quả nghiên cứu 42
4.2.1 Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại 42
4.2.2 Kết quả áp dụng quy trình phòng bệnh bằng vắc xin cho lợn con 43
4.2.3 Chẩn đoán và phát hiện một số bệnh thường gặp ở lợn con theo mẹ 44
4.2.4 Kết quả điều trị một số bệnh ở lợn con theo mẹ 45
Phần 5.KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Đề nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 8Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Ở Việt Nam, trồng tro ̣t và chăn nuôi là hai thành phần quan tro ̣ng trong cơ cấu sản xuất nông nghiê ̣p, trong đó chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng luôn đóng góp mô ̣t phần lớn vào thu nhâ ̣p của người dân Chăn nuôi không những cung cấp mô ̣t lượng lớn sản phẩm cho nhu cầu tiêu thu ̣ trong nước mà còn cung cấp cho xuất khẩu Vì thế, chăn nuôi ngày càng có vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu của ngành nông nghiệp Sản phẩm của ngành chăn nuôi là nguồn thực phẩm không thể thiếu được đối với nhu cầu đời sống con người Chủ trương hiện nay của Nhà nước là phát triển ngành chăn nuôi thành ngành sản xuất hàng hóa thực sự nhằm tạo ra sản phẩm chăn nuôi có chất lượng cao phục
vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và một phần cho xuất khẩu
Nói đến ngành chăn nuôi phải kể đến chăn nuôi lợn bởi tầm quan trọng
và ý nghĩa thiết thực của nó đối với đời sống kinh tế xã hội của nhân dân Chăn nuôi lợn đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập và là cơ hội làm giàu cho nông dân
Những năm gần đây, ngành chăn nuôi lợn nước ta đã và đan g từng bước đưa các tiến bô ̣ khoa ho ̣c kỹ thuâ ̣t vào thực tế sản xuất , từ khâu cải ta ̣o con giống, nâng cao chất lượng thức ăn đến viê ̣c hoàn thiê ̣n quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng Tuy vâ ̣y, bên ca ̣nh những tiến bô ̣ đa ̣t được , chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng còn gă ̣p không ít khó khăn , đă ̣c biê ̣t là vấn
đề dịch bệnh, nhất là đối với các trang trại quy mô nhỏ và những hộ dân chăn nuôi: còn thiếu những tiêu chuẩn kỹ thuật về chuồng trại; kỹ thuậtchăm sóc lợn, quản lý còn chưa phù hợp; hiểu biết về một số bệnh còn thiếu hụt Vậy nên công tác phòng bệnh,chẩn đoán và điều trị gặp rất hiều khó khăn làm điều kiện cho mần bệnh phát triển nhanh, đặc biệt là những bệnh ở trên lợn con
Trang 9gây thiệt hại cho các trang trại và hộ gia đình tạo thành dịch bệnh ảnh hưởng đến kinh tế và sức khỏe người dân
Xuất phát từ vấn đề trên, để nhằm hạn chế những thiệt hại đối với người dân và nâng cao sự hiểu biết về một số bệnh phổ biến trên lợn giúp công tác phòng,chẩn đoán và điều trị một số bệnh đạt hiệu quả tốt nhất, tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài:“Công tác phòng bệnh, chẩn đoán và điều trị một số bệnh trên đàn lợn con theo mẹ nuôi tại trang trại ông Đặng Đình Dũng, huyện Lương Sơn – tỉnh Hòa Bình”
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cở sở tại trạiĐặng Đình Dũng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chấtcủa cơ sở thực tập
Lạc Thủy là một huyện trung du ở phía Đông Nam tỉnh Hòa Bình, Việt Nam với diện tích 320 km², địa hình đồi gò lượn sóng, nhiều núi đá vôi Các đơn vị hành chính của huyện gồm có 2 thị trấn Chi Nê và Thanh Hà cùng
13 xã: An Bình, An Lạc, Cố Nghĩa, Đồng Môn, Đồng Tâm, Hưng Thi, Khoan
Dụ, Lạc Long, Liên Hòa, Phú Lão, Phú Thành, Thanh Nông, Yên Bồng.Lạc Thủy có 60.624 người (7/2009), gồm các dân tộc: Mường, Dao, Kinh.Phía
đông giáp 2 huyện Kim Bảng và Thanh Liêm của tỉnh Hà Nam.Phía tây giáp huyện Yên Thủy của tỉnh Hòa Bình Phía nam giáp 2 huyện Gia Viễn và Nho Quan của tỉnh Ninh Bình Phía bắc giáp huyện Kim Bôi của tỉnh Hòa Bình và huyện Mỹ Đức của Hà Nội
Trại chăn nuôi của ông Đặng Đình Dũng nằm trên một quả đồi, cách xa khu dân cư, thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Đây là một trong những trại có quy mô lớn Trại có tổng diện tích khoảng hơn 2 ha, trong diện tích hơn 1 ha là khu chăn nuôi tập trung cùng các công trình phụ cận và gần 1 ha trồng cây xanh và ao hồ xung quanh
Được thành lập và đi vào sản xuất từ năm 2005 với số vốn đầu tư lên tới gần 40 tỷ đồng, trại chuyên nuôi lợn sinh sản do Công ty Cổ phần thức ăn chăn nuôi Việt Nam (một chi nhánh của Tập đoàn CP Thái Lan) cung cấp 3 giống lợn Landrace – yorshire và Duroc Khu sản xuất gồm 6 dãy chuồng đẻ
và 2 dãy chuồng bầu, 2 chuồng cách ly nuôi 1.200 lợn nái, 30 lợn đực, 120 lợn hậu bị cùng 2.500 lợn con đã tách mẹ Lợn sau khi sinh 19 đến 23 ngày
Trang 11thì được xuất chuồng Mỗi năm trang trại xuất ra thị trường khoảng 20.000 - 25.000 con lợn giống
Trại áp dụng quy trình nuôi lợn theo kỹ thuật cao từ khâu chọn giống đến kỹ thuật chăn nuôi Khu sản xuất được phân ra nhiều phân khu chuồng trại liên hoàn nhau để nuôi lợn theo từng giai đoạn riêng và áp dụng chế độ nuôi dưỡng phù hợp cho từng loại lợn Thức ăn cho mỗi loại lợn cũng có chế
độ dinh dưỡng khác nhau Lợn được nuôi trong chuồng kín có hệ thống quạt thông gió, hệ thống giàn mát tự động và sưởi ấm đủ yêu cầu về nhiệt độ
Đội ngũ cán bộ kỹ thuật và nhân viên của trại gồm 2 kỹ sư chính, 1 quản lý, 4 tổ trưởng và 14 công nhân phụ trách, trại đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong vùng còn nhiều khó khăn này
Với việc chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi của trại được thực hiện chủ động và tích cực Trại đã chủ động liên hệ với cơ sở thú y địa phương tổ chức tiêm phòng đầy đủ cho đàn lợn Mỗi con lợn đều có một hồ sơ riêng cho việc phối tinh,
đẻ, xuất chuồng, nhập chuồng… chính xác tới từng ngày Để phòng tránh dịch bệnh, khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt Muốn vào chuồng lợn đều phải đi qua hệ thống sát trùng, tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo, đeo khẩu trang và đi ủng chuyên dụng Xung quanh trại được trồng cây xanh, đào những hồ sinh học để tạo môi trường tự nhiên thông thoáng cho lợn sinh trưởng và phát triển tốt nhất Hàng ngày, toàn bộ lượng phân mà đàn lợn thải
ra đều được đóng bao, chuyển ra khu tập trung cách xa khu sản xuất và bán lại cho nhân dân trồng rau màu xung quanh vùng Nguồn nước thải rửa chuồng được thu gom và xử lý tại các khu dành riêng cho chất thải
2.1.2.Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở
2.1.2.1 Đối tượng sản xuất
Trại chuyên nuôi lợn sinh sản, cung cấp 3 giống lợn là Landrace – yorshire và Duroc Lợn sau khi sinh 20 - 23 ngày thì được xuất chuồng
Trang 122.1.2.2 Kết quả sản xuất của cơ sở trong những năm gần đây
Trại chăn nuôi của ông Đặng Đình Dũng là một trong những trại có quy
mô lớn Với số vốn đầu tư lớn, áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, trại luôn đạt kết quả sản xuất cao Dưới đây là một số chỉ tiêu mà trại đã đạt được trong 3 năm gần đây:
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu trại đạt đƣợc từ năm 2014 đến năm 2016
Chỉ tiêu
Số lợn qua các năm Năm
2014
Năm
2015
Năm 2016 (từ tháng 6 đến tháng 10)
Tổng số lợn con sinh ra (con) 22.727 23,615 12,324
Tổng số lợn con sinh sống (con) 21,958 22,886 11,944
Số lợn con chết, loại sau sinh (con) 767 729 380
Số lợn con cai sữa/nái/năm (con) 21,151 22,096 11,489
Qua bảng trên ta có thể thấy, kết quả sản xuất của trại tăng lên theo từng năm: Số heo nái hậu bị từ năm 2014 là 120 nái, tới năm 2015 tăng lên
130 nái, tăng 108% Tỷ lệ phối đậu thai từ 88,50% (năm 2014) tăng lên 90,70% (năm 2016) Số heo con sinh ra, sống tới lúc cai sữa tăng lên, từ năm
2014 là 21,959 con tới năm 2015 là 22,886 con
Để đạt được những kết quả như trên, ngoài việc áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên có tay nghề cao…, trại đã tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về vệ sinh thú y, với phương châm “phòng dịch hơn dập dịch” Trại chăn nuôi của ông Đặng Đình Dũng là một gương sáng điển hình về mô hình chăn nuôi gia công theo hướng công nghiệp hóa hiện nay
Trang 132.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến nội dung của đề tài
2.2.1 Tổng quan tài liệu
2.2.1.1 Đặc điểm sinh lí ở lợn con
Sinh lý của lợn con theo mẹ là khả năng thích ứng của cơ thể từ môi trường trong bụng mẹ có nhiệt độ từ 37– 400C ra môi trường bên ngoài có nhiệt độ thấp hơn, làm ảnh hưởng đến sự thành thục và hoàn thiện về chức năng của các cơ quan bên trong cơ thể lợn sơ sinh
* Sinh trưởng ở lợn con
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [16]: Lợn con ở giai đoạn này có khả năng sinh trưởng, phát dục rất nhanh So với khối lượng lúc sinh thì khối lượng 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, 21 ngày tuổi gấp 4 lần, 30 ngày tuổi gấp 5-
6 lần, 60 ngày tuổi gấp 12-14 lần
Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất cao, nên nếu sữa mẹ không đảm bảo chất lượng hoặc khẩu phần ăn thiếu đạm sẽ làm sinh trưởng chậm lại và tăng trọng theo khối lượng giảm xuống, làm giảm khả năng chống đỡ bệnh tật (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2003) [11]
* Đặc điểm tiêu hóa của lợn con
Sau khi sinh ra, chức năng của các cơ quan trong cơ thể lợn con nhất là
cơ quan tiêu hoá chưa thành thục Hàm lượng HCl và các men tiêu hoá chưa hoàn thiện Thời gian đầu, dịch tiêu hoá ở lợn con thiếu cả về chất và lượng Lợn con trước một tháng tuổi hoàn toàn không có HCl tự do vì lúc này lượng HCl tiết ra rất ít và nhanh, chúng liên kết với niêm dịch
* Điều tiết thân nhiệt
- Điều tiết thân nhiệt của lợn con còn kém do:
+ Hệ thần kinh của lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh Trung khu điều tiết thân nhiệt ở vỏ não mà não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhất ở
cả hai giai đoạn trong và ngoài thai
Trang 14+ Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng cơ thể cao hơn lợn trưởng thành nên lợn con dễ bị nhiễm lạnh (Đào Trọng Đạt và cs,1996) [7]
- Nhiệt độ chuồng nuôi:
Nhiệt độ của chuồng nuôi ảnh hưởng đến nhiệt độ thân nhiệt của lợn con Nếu nhiệt độ của chuồng nuôi là 180C thì thân nhiệt của lợn con bị giảm xuống 20
C so với ban đầu Nếu nhiệt độ chuồng nuôi là 00C thì thân nhiệt của lợn con bị giảm xuống 40
C
* Hệ miễn dịch của lợn con
Ở cơ thể lợn con, hệ thống miễn dịch chưa hoàn thiện, chúng chưa có khả năng tạo kháng thể chủ động mà chỉ có được kháng thể từ mẹ truyền sang qua nhau thai hay sữa đầu Bộ máy tiêu hóa và các dịch tiêu hóa ở gia súc non hoạt động rất yếu Lượng enzyme tiêu hóa và HCl tiết ra chưa đủ nên dễ gây
rối loạn tiêu hóa, vì vậy mầm bệnh (Salmonella, E coli, Cl.perfringens…) dễ
dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa
Theo Trần Thị Dân (2008) [5]: lợn con mới đẻ trong máu không có globulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ sang qua sữa đầu Lượng globulin sẽ giảm sau 3 - 4 tuần, rồi đến tuần thứ 5 -
6 lại tăng lên và đạt giá trị bình thường 65mg/100ml máu Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu… được tổng hợp còn ít, khả năng miễn dịch đặc hiệu của lợn con kém Vì vậy, cho lợn con bú sữa đầu rất cần thiết để tăng khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh
Theo Chu Đức Thắng (2008) [22] : nhất thiết phải cho lợn con bú sữa đầu để có sức đề kháng chống lại bệnh Trong sữa đầu có hàm lượng albumin
và γ - globulin cao hơn sữa bình thường, đây là chất chủ yếu cho lợn con có sức đề kháng vì thế cần chú ý cho lợn con sơ sinh bú sữa trong 3 ngày đầu đảm bảo toàn bộ số con trong ổ được bú hết lượng sữa đầu của mẹ
* Hệ vi sinh vật đường ruột
Trang 15Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2004) [20], hệ vi sinh vật đường ruột
gồm hai nhóm:
- Nhóm vi khuẩn đường ruột - vi khuẩn bắt buộc gồm: E coli,
Salmonella, Shigella, Klesiella, Proteus… Trong nhóm vi khuẩn này, người ta
quan tâm nhiều nhất đến trực khuẩn E coli Đây là vi khuẩn phổ biến nhất hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi và khi gặp điều kiện thuận lợi, các chủng E coli trở lên cường độc gây bệnh Cấu trúc kháng nguyên của E coli rất đa dạng
Theo Bertschinger H U (1999) [23], cho đến nay đã phát hiện có ít nhất
170 kháng nguyên O, 70 kháng nguyên K, 56 kháng nguyên H Ngoài 3 loại kháng nguyên thông thường trên, còn có thêm kháng nguyên bám dính F, yếu tố
gây bệnh không phải là độc tố của E Coli (Đặng Xuân Bình, (2010) [2] Nhóm
vi khuẩn vãng lai: chúng là bạn đồng hành của thức ăn, nước uống vào hệ tiêu
hoá gồm: Staphylococcus spp, Streptococcus spp, Bacillus subtilis… Ngoài ra,
trong đường tiêu hóa của lợn con có các trực khuẩn yếm khí gây thối
rữa:C.perfringens, Bacillus sporogenes, Bacillus fasobacterium, Bacillus
puticfus…
2.2.1.2 Quy trình vệ sinh thú y
Quy trình vệ sinh thú y rất quan trọng trong việc phòng chống các bệnh
ở lợn Quá trình thực hiện vệ sinh phải đảm bảo đúng yêu cầu kỹ thuật, thực hiên thường xuyên trong suốt quá trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn
2.2.1.3.Quy trình phòng bệnh
Theo Dr Anan Lertwilai (2016) [13]: quy trình phòng bệnh nhằm ngăn chặn mầm bệnh từ bên ngoài và bên trong trại, người chăn nuôi cần kiểm soát được các yếu tố bên ngoài mang mầm bệnh vào như phương tiện vận chuyển, dụng cụ và các yếu tố nảy sinh bệnh trong trại như vệ sinh sát trùng, xử lý nước thải và xác vật nuôi chết
Trang 16* Quy trình phòng bệnh cho vật nuôi gồm:
+ Cấm các vật nuôi như chó, gà, vịt, vào khu vực chăn nuôi
+ Nhân viên quản lý có trách nhiệm kiểm tra xe đảm bảo chúng sạch sẽ
và vô trùng
+ Khi xuất lợn phải vệ sinh sát trùng khu vực xuất lợn
+ Nghiêm cấm đem thức ăn tươi sống (thị heo, thịt gà, ) vào trại
+ Lợn đã được đưa lên xe không được chuyển trở lại trại
- Phòng bệnh bệnh trong trại:trại thực hiện nguyên tắc phòng bệnh hơn chữa bệnh
+ Trong khu vực chuồng nuôi hạn chế đi lại giữa các chuồng, hành lang các chuồng và bên ngoài lối đi phải được rắc vôi bột, định kỳ phun thuốc sát trùng trong và bên ngoài chuồng Các dụng cụ chăn nuôi và vệ sinh chỉ được dùng riêng cho từng dãy chuồng nuôi Hàng ngày phải vệ sinh, quét dọn các dãy chuồng, xung quanh khu vực chăn nuôi và lối đi
+ Rác thải ở mỗi chuồng không được vứt ra môi trường xung quang hoặc mang sang các chuồng hay khu vực khácmà phải gom lại mang đến nơi quy định để thiêu hủy
+ Tiêm vắc xin cho gia súc tạo ra trong cơ thể chúng một sức miễn dịch chủ động chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn, tăng sức đề kháng cho cơ thể
Trang 17Vì vậy mà việc tiêm phòng vắc xin được thực hiện nghiêm túc theo đúng lịch quy định nhằm giảm đáng kể thiệt hại về kinh tế khi dịch bệnh xảy ra
2.2.1.4 Các phương pháp chẩn đoán trong chăn nuôi
Chẩn đoán là phán đoán bệnh thông qua các biểu hiện, trạng thái, triệu chứng của con vật
- Theo Phạm Ngọc Thạch (2009) [21]: một chẩn đoán đầy đủ phải làm
- Căn cứ vào các phương pháp gồm:
+ Chẩn đoán trực tiếp: căn cứ vào triệu chứng chủ yếu đi đến kết luận chẩn đoán
+ Chẩn đoán phân biệt: sau thu thập các triệu chứng có trên con vật bệnh, cần liên hệ đến những bệnh có cùng triệu chứng đó, loại những bệnh không phù hợp, bệnh cuối cùng có nhiều khả năng nhất chính là bệnh con vật mắc phải
+ Chẩn đoán bệnh qua kết quả điều trị: khi chẩn đoán không đủ để kết luận chính xác bệnh thì cần phải có hướng nghi ngờ đó là bệnh gì, từ đó tiến hành điều trị Nếu điều trị khỏi thì kết luận đúng bệnh đã nghi ngờ
-Căn cứ vào thời gian chẩn đoán:
+ Chẩn đoán sớm: là chẩn đoán được kết luận ngay từ thời kỳ đầu của quá trình bệnh Chẩn đoán sớm rất có lợi cho điều trị và phòng bệnh
Trang 18+ Chẩn đoán muộn: là kết luận chẩn đoán vào thời kỳ cuối của bệnh, thậm chí gia súc chết, mổ khám mới có kết luận chẩn đoán
-Căn cứ vào mức độ chính xác:
+ Chẩn đoán sơ bộ: là chẩn đoán chưa thật chính xác Sau khám có kết luận chẩn đoán ngay làm cơ sở cho quá trình điều trị Sau đó tiếp tục theo dõi
để bổ xung cho kết luận chẩn đoán
+ Chẩn đoán cuối cùng: là kết luận chẩn đoán sau khi đã khám kỹ và phát hiện thấy triệu chứng rất đặc trưng của bệnh, hoặc sau khi dùng thuốc thì điều trị khỏi
+ Chẩn đoán nghi vấn: là trường hợp thường thấy trong chẩn đoán lâm sàng thú y khi có một triệu chứng không đặc trưng cho bệnh nào Trường hợp này cần phải tiếp tục theo dõi và thông qua kết quả điều trị để kết luận chính xác hơn
2.2.1.5.Đặc điểm một số bệnh và phác đồ điều trị bệnh cho lợn con
Trong chăn nuôi việc phòng bệnh cho vật nuôi luôn là ưu tiên hàng đầu Nhưng mầm bệnh trong môi trường chăn nuôi luôn luôn tồn tại Vì vậy chúng ta chỉ có thể hạn chế được phần nào quá trình phát sinh bệnh Dưới đây
là một số bệnh hay gặp trên đàn lợn con từ khi sinh ra đến 21 ngày tuổi
* Bệnh phân trắng
- Nguyên nhân: bệnh phân trắng lợn con là một hội chứng hoặc một
trạng thái lâm sàng rất đa dạng, do trực khuẩn E.coli thuộc họ
Enterobacteriaceace, nhiều loại Samonella (S.choleraesuis, S.typhysuis ) và
đóng vai trò phụ là: Proteus, Steptococcus Trong điều kiện bình thường vi khuẩn E.coli khu trú tự nhiên trong đường tiêu hóa của lợn, chủ yếu ở cuối
ruột non và suốt ruột già Vi khuẩn này sẵn sàng tấn công vào cơ thể lợn khi
cơ thể lợn gặp những điều kiện bất lợi (Phạm Sỹ Lăng và cs, (2003) [11]
E coli là một vi khuẩn đóng vai trò quan trọng gây tiêu chảy Vi khuẩn
Trang 19này có mặt rất sớm ở đường ruột của người và động vật E coli thường ở ruột già, ít khi ở dạ dày và ruột non Ở đường ruột động vật, E coli chiếm khoảng
80% quần thể các vi khuẩn hiếu khí
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1986) [6]: Bệnh lợn con ỉa phân trắng do
trực khuẩnE.coli gây ra là bệnh truyền nhiễm cấp tính ở dạng nhiễm trùng
huyết hoặc nhiễm độc đường ruột, viêm ruột ở lợn con, nhất là sau khi sinh, thậm chí chỉ vài giờ Có đến 48% trường hợp bị tiêu chảy ở lợn con là do
E.coli gây ra.
Do hệ thống phòng vệ của lợn con chưa hoàn chỉnh trong những ngày đầu tiên như: Lượng axit trong dạ dày lợn con rất ít nên không đủ sự ngăn cản tấn công, xâm nhập và tăng sinh của vi khuẩn vào ruột và gây bệnh
Do việc nuôi dưỡng chăm sóc lợn mẹ chưa hợp lý, chuồng trại ẩm ướt, rét mướt, vệ sinh kém, sữa mẹ kém
Theo Phan Địch Lân và cs (1997) [12] chuồng trại ẩm, lạnh tác động vào cơ thể lợn gây rối loạn thần kinh từ đó gây rối loạn tiêu hóa
Ngoài ra bệnh còn do một số nguyên nhân ngoại cảnh khác như: Điều kiện khí hậu thời tiết, do điều kiện nuôi dưỡng Qua thời gian theo dõi đàn lợn thì cán bộ thú y cho biết lợn con ỉa phân trắng nhiều nhất vào giai đoạn thời tiết có sự chuyển mùa, tỷ lệ bệnh phân trắng là rất cao từ tháng 8 đến tháng 2 năm sau, và cao hơn so với các tháng khác Khi nhiệt độ cơ thể quá lạnh, thân nhiệt giảm xuống làm mạch máu ngoại vi co lại, máu dồn vào các
cơ quan nội tạng Khi đó mạch máu thành ruột xuất huyết, làm trở ngại quá trình tiêu hóa, thức ăn bị ứ lại tạo điều kiện cho vi sinh vật thối rữa phát triển Quá trình lên men tạo nhiều sản phẩm độc gây kích thích làm tăng nhu động ruột Đồng thời tính thấm thành mạch tăng làm thức ăn liên tục tống ra ngoài nhiều gây nên hiện tượng ỉa chảy
Trang 20- Triệu chứng và bệnh tích:
Bệnh thường xảy ra ở lợn con, đặc biệt ở lợn con sơ sinh đến 21 ngày tuổi Lợn con bị nhiễm bệnh phân trắng thường yếu, chậm chạp, bỏ bú, thân nhiệt ít khi tăng cao, cá biệt có trường hợp nhiệt độ 40,5 – 410
C nhưng sau một ngày lại hạ xuống ngay, lợn đi ỉa nhiều lần trong mộtngày, phân lỏng màu trắng như vôi, trắng xám, màu xi măng hoặc màu nâu hơi vàng, phân có mùi tanh, đặc biệt bụng tóp lại, da nhăn nheo, lông xù, phân dính bết quanh hậu môn, hai chân sau dúm lại
Bệnh này xảy ra quanh năm nhưng nhiều nhất khi thời tiết thay đổi đột ngột, nóng lạnh bất thường, mưa nhiều, độ ẩm cao bệnh có thể mắc một vài con hoặc cả đàn
Bệnh thường diễn ra chủ yếu ở 2 thể: Thể cấp tính và thể kéo dài
+Thể cấp tính: bệnh gặp nhiều ở lợn sơ sinh đến 21 ngày tuổi, lợn kém ăn, ủ rũ, đi đứng siêu vẹo, lợn đi ỉa, da nhăn nheo, đầu to, bụng tóp, lợn gầy sút nhanh, hậu môn thường dính bết phân Niêm mạc mắt nhợt nhạt, bốn chân lạnh, thở nhanh Màu phân lúc đầu xanh đen sau đó chuyển sang màu xám như phân cò, có mùi tanh, khắm đặc trưng Phân vào đất, lợn con bị bệnh thường hay khát nước, nên tìm nước bẩn trong chuồng uống, làm bệnh nặng thêm Đôi khi lợn có nôn ra sữa chưa tiêu hoá nên có mùi chua Bệnh kéo dài 2 - 4 ngày, lợn suy nhược nhanh, co giật, run rẩy và chết
+ Thể kéo dài: thường gặp ở lợn từ 22 ngày tuổi Bệnh có thể kéo dài 7 - 10 ngày tuổi, lợn con vẫn bú nhưng giảm dần đi Mắt có dử và vàng thâm xung quanh Lợn suy dinh dưỡng, niêm mạc nhợt nhạt, nếu chữa trị không kịp thời thường chết sau một tuần bị bệnh Lợn con từ 45 -
50 ngày tuổi vẫn còn bú mẹ nhưng bị phân trắng với các triệu chứng nhẹ hơn, lợn có ỉa phân trắng nhưng hoạt động vẫn bình thường, ăn, đi lại
Trang 21nhanh nhẹn, phân thường đặc hoặc nát với màu xám Lợn có thể khỏi, tỷ
lệ chết thấp, nếu kéo dài lợn gầy sút, còi cọc chậm lớn
Bệnh tích chủ yếu ở xoang bụng Ruột non bị viêm cata, kèm xuất huyết mạch máu màng treo ruột sưng, mềm đỏ, tấy do dung huyết Niêm mạc ruột non và dạ dày sưng phủ một lớp nhầy, có nhiều dạng xuất huyết khác nhau Trong dạ dày chứa những cục sữa chưa tiêu và những nốt đen trên thành do những đám nhồi máu, ruột chứa một số chất lỏng trắng đặc biệt vàng nhạt có mùi chua Ruột căng phồng đầy hơi, ruột non trương giãn to và xuất huyết, niêm mạc ruột bị hoại tử từng đám
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1986) [6], mổ khám thấy lợn con gầy, vùng đuôi bê bết phân Niêm mạc mắt, mồm nhợt nhạt Trong dạ dày chứa đầy hơi hoặc sữa chưa tiêu, mùi khó ngửi Trong ruột rỗng, chứa đầy hơi, gan bình thường đôi khi hơi sưng Túi mật chứa đầy mật Phổi thường ứ máu, đôi khi có hội chứng sưng phổi nhẹ Cơ tim nhão, lách không sưng nhưng có thể bị teo
- Phòng và điều trị:
+ Phòng bệnh: do các nguyên nhân gây bệnh khác nhau, nên việc phòng trị bệnh phân trắng lợn con hiện nay còn là một vấn đề nan giải, phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau để phòng bệnh Phòng bệnh là cách chủ động để giảm thiệt hại về kinh tế do bệnh về phân trắng gây ra Các biện pháp phòng xoay quanh các vấn đề môi trường, vật chủ và mầm bệnh
Phòng bằng thuốc uống: ampicilin + colistin 10%, liều 1gam/1 lít nước,
sử dụng 3-5 ngày Nova amoxicol liều 1g/2 lít nước, sử dụng 3-5 ngày
+ Điều trị: sử dụng chủ yếu 2 loại là Nova – amcoli và nor100 để trị bệnh Nova - amcoli: Với liều dùng 1 ml/10 kgTT/ngày, tiêm bắp
MD Nor 100: Với liều dùng 1 ml/10 kgTT/ ngày, tiêm bắp
* Bệnhsuyễn lợn ( Bệnh viêm phổi do Mycoplasma hyopneumoniae )
Trang 22Bệnh viêm phổi hay bệnh suyễn lợn hay bệnh viêm phổi địa phương đều chỉ bệnh trên đường hô hấp hay gặp trên heo trại nuôi tập trung Bệnh gây giảm tăng trọng,lợn kém phát triển, dễ mắc các bệnh khác do sức đề kháng yếu, bệnh nặng lợn con có thể chết (theo Pham Đình Đỗ và cs, 1958) [8]
- Nguyên nhân: nguyên nhân chính là do Mycoplasma hyponeumoniae
gây ra, kết hợp với nhiều loại vi trùng giúp cho bệnh duy trì và phát triển
như:Pasteurella, Streptococcus, E coli, Samonella…Vi khẩn này cư trú ở
hoạch amidal hoặc xâm nhập từ môi trường ngoài vào cơ thể yếu, chúng tăng cường độc lực chui vào phế quản, phế nang, ký sinh và gây bệnh ở đó
Bệnh suyễn phát sinh luôn kèm theo những điều kiện như: Tiểu khí hậu chuồng nuôi kém, hàm lượng amoniac trong không khí cao (> 50ppm), biên độ nhiệt trong ngày thay đổi lớn, bụi bặm và các stress do chăn nuôi, quản lý kém…
Mầm bệnh phát triển rất tốt trong môi trường ẩm ướt, vệ sinh kém và trên những cơ thể có sức đề kháng thấp nên tỷ lệ bệnh thường cao hơn vào mùa xuân và mùa đông, vào lúc thời tiết thay đổi.Mầm bệnh có thể di chuyển trong không khí với khoảng cách 3 – 3,5 km
- Triệu chứng:lợn con sau khi sinh ra có thể mắc ngay Lợn gầy còm, lông xù, chậm lớn Lợn ho và thở khó thường thở thể bụng, có khi ngồi thở kiểu chó ngồi Lợn bệnh bú kém, không tranh bú với con khác nên yếu, dễ mắc các bệnh kế phát như tiêu chảy, viêm khớp dẫn đến chết Bệnh có tỷ lệ chết cao nếu không điều trị kịp thời
Bệnh thường biểu hiện dưới 4 thể:
+ Thể cấp tính:ban đầu con vật sốt cao, ăn ít hoặc bỏ ăn Lợn ốm
thường chui vào 1 xó chuồng nằm tách biệt với đàn
Triệu chứng trên đường hô hấp:hắt hơi từng hồi dài do dịch tiết trong khí quản.Thở thể bụng, tư thế ngồi thở như chó ngồi.Ho: thường ho vào sáng
Trang 23sớm hay chiều tối muộn (nếu bệnh nặng, ho liên tục cả ngày) Ban đầu ho khan, ho từng tiếng một Sau đó ho liên tục từng chuỗi, từng hồi dài Lúc ho, heo thóp bụng để thở (vừa thở khò khè, vừa ho từng tràng dài)
+ Thể thứ cấp tính:ban đầu con vật có thể bỏ ăn, ăn ít hoặc bỏ ăn
Triệu chứng trên đường hô hấp:Khó thở, thở khò khè, há miệng thở.Ho từng hồi dài
+ Thể mạn tính: ban đầu con vật ăn ít, hoặc bỏ ăn Thân nhiệt bình
thường Lợn con có tăng trọng kém, da khô
Triệu chứng trên đường hô hấp:Tần số hô hấp tăng cao (40-100 lần/phút).Hắt hơi, thở khò khè, khó thở, há miệng thở.Ho: thường ho vào sáng sớm hoặc chiều tối muộn Ban đầu ho khan từng tiếng một, sau đó ho liên tục từng tràng dài và ho cả ngày
+ Thể ẩn tính: vẫn ăn như bình thường, rất khó nhận biết lợn bệnh vì
Vệ sinh chuồng trại và khu vực quanh trại sạch sẽ, thoáng mát vào mùa
hè và ấm kín vào mùa đông
Heo nhập vào trại phải có nguồn gốc sạch bệnh và phải được nuôi cách
ly theo dõi kỹ trước khi nhập đàn
Áp dụng biện pháp cùng nhập cùng xuất
Trang 24Định kỳ kiểm tra huyết thanh học nhằm nắm bắt tình hình dịch bệnh trong trại để có biện pháp khắc phục kịp thời.
Tiêm phòng vắc xin phòng bệnh suyễn lợn cho lợn con và hậu bị trước khi phối giống Thời gian tiêm tùy thuộc vào đặc điểm dịch tễ cũng như điều kiện khí hậu của từng địa phương cụ thể
+ Điều trị:
Hitamox LA 1,5ml/10 kgTT,tiêm bắp 1 lần/ngày
Anflox - TTS 1 ml/10 kgTT, tiêm bắp, 2 lần/ngày
Kết hợp dung thêm cafein, vitamin C và B.complex
Điều trị liên tục trong 3 - 5 ngày
Ngoài ra có thể sửa dụng: tylogeta 1,5ml/10 kgTT,tiêm bắp lần/ngày Nếu ho nhiều thở gấp sử dụng thêmbromhexine 2ml/10 kgTT
Điều trị 3-5 ngày
* Bệnh viêm bao khớp doStreptococcus (Streptococcosis)
-Nguyên nhân: do một loại vi khuẩn có tên Streptococcus suis gây ra
Vi khuẩn tồn tại rất lâu trên lợn nái ở hạch amidan và cơ quan hô hấp, ngoài
ra còn trên da và âm đạo Đây là nguồn lây bệnh quan trọng cho lợn con khi đang theo mẹ Lợn con bị nhiễm bệnh khi cắt rốn, cắt đuôi, bấm nanh không tốt hoặc bị trầy xước đầu gối trong quá trình vận động Vi khuẩn này tồn tại ở những cơ quan lây nhiễm và khi lợn con bị stress làm giảm sức đề kháng thì
vi khuẩn này xâm nhập vào đường máu gây nhiễm trùng huyết, viêm khớp, viêm màng não
- Triệu chứng:
Lợn đi khập khiếng, run rẩy sau đó khớp chân sưng to lên và bị viêm.Vi khuẩn tấn công rất nhanh, lợn con thường biểu hiện nằm úp bụng, rụng lông Lợn bị viêm kém ăn, hơi sốt chân có hiện tượng què, chỗ viêm
Trang 25sưng tẫy đỏ, khi sờ nắm có phản ứng đau Khi lợn con bị nhiễm trùng nặng gây viêm màng não làm sưng mắt, run rẩy, bơi trèo và bị co giật
+ Thể quá cấp tính: gây chết lợn rất nhanh, lợn sốt rất cao, bỏ ăn, lờ đờ,
suy yếu Lợn thể hiện triệu chứng thần kinh như mất thăng bằng, liệt, đi lại khập khiểng, uốn người ra sau, run rẩy, co giật, què Lợn có thể bị mù, điếc
+ Thể cấp tính: đặc trưng bởi sốt, lông da sởn lên, suy nhược và què
Khi bệnh tiến triển, lợn bệnh có thể sút cân, các khớp bị nhiễm sưng to Một hoặc vài khớp có thể bị tổn thương, các khớp chân trước và sau, mắt cá chân thường sưng phồng lên Bệnh làm cho lợn đau đớn không thể di chuyển được, hạn chế khả năng đi lại để bú của lợn con
+ Thể mãn tính: lợn bệnh còi cọc và bị viêm khớp mãn tính suốt đời
Khi bệnh trở thành mãn tính có thể làm tổn thương sụn khớp
- Phòng và điều trị:
+ Phòng bệnh: vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, định kỳ phun thuốc sát
trùng để diệt mầm bệnh trong môi trường chăn nuôi, có thể sử dụng: vimekon (pha 100gr với 20 lít nước) hay vime- iodine (pha 15 – 20 ml/4 lít nước) phun khắp chuồng, định kỳ 3 – 4 tuần sử dụng 1 lần Hạn chế tối đa các yếu tố làm giảm sức đề kháng của lợn: thay đổi thức ăn, môi trường nuôi đột ngột, chuyển đàn, nuôi nhốt quá chật, điều kiện vệ sinh thông thoáng kém…
Cho lợn ăn đầy đủ dưỡng chất, thường xuyên cung cấp vào thức ăn các dưỡng chất giúp cân bằng khẩu phần, hạn chế suy dinh dưỡng
+ Trị bệnh: trong bệnh viêm khớp do Streptococcus suis ở lợn con,
điều trị sớm sẽ rất hiệu quả Điều trị đúng liệu trình giúp heo hồi phục tốt hơn
Procainpenicillin: 1ml/10kgTT Điều trị 2 – 5 ngày
Ngoài ra có thể sử dụng một trong các loại thuốc sau liên tục 3 – 5 ngày: kampico: 1ml/4kgTT; colamp: 1ml/10kgTT Kết hợp ketovet: 1ml/15kgTT/ngày nhằm giảm đau, hạ sốt cho lợn Nên bổ sung tiêm vimekat:
Trang 261ml/5kgTT, lặp lại sau 4 – 5 ngày giúp tăng cường trao đổi chất giúp heo mau hồi phục sau bệnh
2.2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.2.1.Tình hình nghiên cứu trong nước
Việc nghiên cứu về sinh trưởng, phát triển, cũng như công tác phòng và điều trị bệnh giai đoạn lợn con theo mẹ được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm Đặc điểm của giai đoạn này là lợn con sinh ra không được cung cấp nguồn dinh dưỡng trực tiếp như khi còn trong bào thai, bộ máy tiêu hóa lợn con chưa hoàn thiện, môi trường sống thay đổi, lượng sắt do mẹ cung cấp giảm dần, lợn con dễ mắc bệnh đặc biệt là bệnh đường tiêu hóa
Theo Nguyễn Quang Linh (2005) [14], lợn con trong giai đoạn bú sữa
có khả năng sinh trưởng và phát dục rất nhanh Từ lúc sơ sinh đến khi cai sữa trọng lượng của lợn con tăng 10 - 12 lần So với các gia súc khác thì tốc độ sinh trưởng của lợn con tăng nhanh hơn gấp nhiều lần
Tốc độ sinh trưởng của lợn con là không đồng đều Lợn sinh trưởng nhanh nhất trong 21 ngày đầu sau đó tốc độ sinh trưởng giảm dần Sở dĩ như vậy là do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do lượng sữa của lợn mẹ bắt đầu giảm Sản lượng sữa mẹ tăng dần từ khi mới đẻ ra cho tới khi lợn con 15 ngày tuổi, lúc này hàm lượng sữa mẹ đạt cao nhất và ổn định cho tới ngày thứ
20, sau đó thì giảm dần Lợn con trong giai đoạn này sinh trưởng và phát dục nhanh nhất do đó nhu cầu dinh dưỡng yêu cầu ngày càng cao trong khi hàm lượng sữa mẹ thì giảm dần dẫn tới lợn con thiếu dinh dưỡng nếu không có thức ăn bổ sung
Theo Trần Cừ (1992) [3], sự phát triển của cơ thể thì các cơ quan bộ phận, hàm lượng các chất dinh dưỡng, các thành phần của cơ thể cũng có sự thay đổi nhanh chóng Hàm lượng nước trong cơ thể giảm dần, biểu thị bằng
tỷ lệ giữa nước so với trọng lượng sống như sau: Lúc sơ sinh tỷ lệ này là
Trang 2777,88%, lúc 7 ngày tuổi là 68,52%, lúc 14 ngày tuổi là 63,94% Tỷ lệ nước giảm nhưng tỷ lệ các chất dinh dưỡng so với trọng lượng cơ thể lại tăng Tỷ lệ
Pr với trọng lượng cơ thể sống lúc mới sinh là 11,2%, đến lúc 7 ngày tuổi là 13,57%, đến 14 ngày tuổi là 14,37%
Theo Trần Cừ (1996) [4], cần tập cho lợn con ăn sớm, vừa bổ sung thêm chất dinh dưỡng, vừa có tác dụng bổ sung thêm chất tiết dịch vị, tăng hàm lượng HCL và enzyme, vừa kích thích sự phát triển của dạ dày và ruột để thích ứng kịp thời với chế độ ăn sau cai sữa
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [16], lợn con cho bú sữa có tốc độ sinh trưởng phát triển nhanh nhưng không đều qua các giai đoạn, tốc độ nhanh nhất là 21 ngày đầu, sau 21 ngày tốc độ giảm xuống có sự giảm này là
do nhiều nguyên nhân song chủ yếu là do lượng sữa của lợn mẹ bắt đầu giảm xuống, hàm lượng trong máu của lợn con bị giảm Bị giảm tốc độ phát triển thường kéo dài 2 tuần và còn là giai đoạn khủng hoảng của lợn con tập ăn sớm để bổ sung thức ăn cho lợn con trong 9giai đoạn này
Theo Đặng Minh Phước và cs (2006) [17], bổ sung chế phẩm axit hữu
cơ có thành phần axit lactic, formic, photphoric với tỷ lệ 0,3 – 0,5% vào thức
ăn lợn con sau cai sữa ở giai đoạn 42 – 56 ngày tuổi đã có tác dụng cải thiện tăng khối lượng từ 4,75% - 10,29% Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng giảm
từ 7,57% - 8,11% Tỷ lệ tiêu chảy giảm từ 33,78% - 49,23% so với đối chứng
Công ty Pig Việt Nam đã khẳng định rằng: Dù cho lợn nái ăn tốt và nhiều sữa vẫn nên cho lợn con dùng cám tập ăn sớm để tăng khối lượng sau cai sữa, thêm vào đó giúp lợn con làm quen với cám khô sau khi cai sữa 3 - 4 tần tuổi, cho lợn con tập ăn sớm ở 7 ngày tuổi, dùng loại máng ăn nhỏ, nhẹ,
dễ cọ rửa, cho lợn con ăn bằng cách rải một ít cám phía trước, tạo cho chúng niềm vui thích và mong muốn được ăn, không để máng ăn trực tiếp dưới bóng đèn sưởi và gần vòi uống
Trang 28Cho lợn tập ăn 3 - 4 lần/ ngày, dần tăng lượng cám lên, cung cấp nước uống thường xuyên cho lợn con
Công ty Cargill tại Việt Nam đưa ra lý do mà các nhà chăn nuôi cần phải cho lợn tập ăn sớm từ 7 - 10 ngày là:
+ Sau 21 ngày tiết sữa, lượng sữa mẹ bắt đầu giảm dần Nên chỉ đáp ứng được 95% nhu cầu dinh dưỡng cho lợn con
+ Cho lợn tập ăn sớm, thức ăn tập ăn sớm sẽ kích thích hệ tiêu hóa lợn con sớm phát triển Điều đó giúp lợn con khi cai sữa sẽ ăn, tiêu hóa và hấp thu tốt thức ăn và làm giảm được sự hao hụt lợn mẹ
+ Tránh được nguy cơ lợn mẹ bị yếu chân, bại liệt và giảm số con đẻ ở những lứa đẻ tiếp theo
+ Rút ngắn được thời gian chờ phối của lợn nái, làm giảm chi phí thức
ăn cho lợn nái trong thời gian này
+ Tăng nhanh lứa đẻ, số lợn con thu được của một nái trên năm
Công ty liên doanh Việt Pháp Guyo mare (2003) [1], đã đưa ra những lời khuyến cáo: Sự tiết sữa của lợn nái chỉ tăng lên đến ngày thứ 21 kể từ khi sinh, sau đó giảm dần Ngược lại, khối lượng lợn con tăng dần theo thời gian
Vì vậy, trong thời gian lợn con theo mẹ cần phải tập ăn sớm cho chúng trước khi lượng sữa của lợn mẹ cung cấp thiếu bằng cách cho lợn tập ăn sớm
từ 7 ngày tuổi
Phạm Thế Sơn và cs (2008) [19], đã nghiên cứu đặc tính của vi khuẩn
E coli, Salmonella ssp, Cl perfringensgây bệnh lợn con tiêu chảy
Nguyễn Bá Hiên (2001) [9] nghiên cứu biến đô ̣ng của vi khuẩn đường ruô ̣t thường gă ̣p ở gia súc khoẻ ma ̣nh và bi ̣ tiêu chảy đã chỉ ra rằng: Khi lợn bi ̣
tiêu chảy , số lượng vi khuẩn E coli trung bình tăng 1,90 lần, số lượng vi khuẩn Cl perfringenstăng 100 lần so với lợn khoẻ ma ̣nh
Trang 29Lê Văn Phước (1997) [18] cho biết, ảnh hưởng của nhiệt độ đến căn bệnh là rất lớn, bệnh có thể biến thiên theo mùa, có thể phụ thuộc vào nhiệt độ
và độ ẩm Do vậy yếu tố chăm sóc nuôi dưỡng, yếu tố môi trường cũng rất quan trọng
Từ Quang Hiển và cs (2001) [10] cho biết, đối với lợn con dưới 1 tháng tuổi trong dịch vị phân tiết HCl tự do rất ít nên vi sinh vật có điều kiện phát triển mạnh và gây bệnh ở đường tiêu hoá
2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Tác giả Lutter (1983) [15] cho biết, Ogramin liều 15gam/con cho uống
có tác dụng tốt 95,61% trong hiệu quả điều trị E coli Tác giả lưu ý rằng khi
sử dụng kháng sinh cho lợn con phân trắng phải thường xuyên có kế hoạch chặt chẽ, có kháng sinh dự trữ liên tục
Theo Purvis G M và cs (1985) [24] cho rằng, phương thức cho ăn không phù hợp là nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy ở lợn
Sokol (1981)[26], cho rằng , vi khuẩn E.coli cộng sinh có mă ̣t thường trực trong đường ruô ̣t của người và đô ̣ng vâ ̣t, trong quá trình sống vi khuẩn có khả năng tiếp nhận các yếu tố gây bệnh như: yếu tố bám dính (K88, K99), yếu tố dung huyết (Hly), yếu tố ca ̣nh tranh (Colv), yếu tố kháng kháng sinh (R) và các
đô ̣c tố đường ruô ̣t Các yếu tố gây bệnh này không được di truyền qua DNA
của chromosome mà được di truyền qua DNA nằm ngoài chromosome gọi là
plasmid Như ̃ng yếu tố gây bê ̣nh này đã giúp cho vi khuẩn E.coli bám dính vào
nhung mao ruô ̣t non, xâm nhâ ̣p vào thành ruô ̣t, phát triển với số lượng lớn Sau đó vi khuẩn thực hiê ̣n quá trình gây bê ̣nh của mình bằng cách sản sinh đô ̣c tố , gây hội chứng tiêu chảy, phá huỷ tế bào niêm mạc ruột