Hóa học là một bộ môn khoa học vừa trừu tượng vừa mang tính thực nghiệm, là một bộ môn tương đối mới và khó đối với học sinh, đến năm lớp 8 bộ môn Hóa học mới được đưa vào giảng dạy tron[r]
Trang 1A/ Phần mở đầu:
I/ Lý do chọn đề tài :
Hóa học là một bộ môn khoa học vừa trừu tượng vừa mang tính thựcnghiệm, là một bộ môn tương đối mới và khó đối với học sinh, đến năm lớp 8 bộmôn Hóa học mới được đưa vào giảng dạy trong chương trình muộn nhất so vớicác bộ môn khác Tuy ở bậc THCS Hóa học chỉ được học trong 2 năm lớp 8 vàlớp 9 nhưng đó lại là những hệ thống hình thức cơ bản nhất mang tính chất lànền móng cho học sinh tiếp tục học bộ môn này ở bậc PTTH và cao hơn Vì vậy,
nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng, quyết định cho sự thành công của việc học bộmôn Hóa học ở bậc cao hơn, đặc biệt là môn Hóa học lớp 8 có ý nghĩa khởi đầumang tính chất đại cương, cung cấp cho học sinh những khai niệm, định luật vànhững bài toán hóa cơ bản nhất, làm quen với những thí nghiệm Hóa học, hìnhthành các thao tác tư duy Hóa học Học bộ môn Hóa học lớp 8 có tính chất quyếtđịnh đế sự thành đạt của việc học bộ môn này ở lớp 9 và bậc PTTH Nếu các emnắm bắt và vận dụng thành thạo các kiến thức Hóa học năm lớp 8 thì việc họctập và phát triển tư duy của bộ môn này ở lớp 9 và bậc PTTH có nhiều thuận lợi,thu được nhiều kết quả cao hơn và ngược lại Để giúp các em có được kiến thứcHóa học cơ bản, vững vàng và ham mê học tập nghiên cứu bộ môn Hóa học,chính vì vậy tôi đã tìm tòi, đúc kết kinh nghiệm qua nhiều năm dạy bộ môn Hóahọc lớp 8 đó chính là lý do tôi chọn đề tài này
Trang 2II/ Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của đề tài này là nghiên cứu phương pháp giảng dạy bộ mônHóa học lớp 8 từ nội dung của chương trình Hóa học 8, đồng thời đúc kết nhữngphương pháp giảng dạy phù hợp với thực tế đặc điểm trình độ của học sinh đểđưa ra những phương pháp giảng dạy phù hợp nhất đối với nội dung của từngchương, bài và đối tượng học sinh nhằm giúp học sinh có thể học bộ môn Hóahọc một cách tốt nhất
III/ Đối tượng và khách thể nghiên cứu :
1) Đối tượng nghiên cứu :
Đề tài này nghiên cứu các phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quảgiảng dạy bộ môn Hóa học lớp 8 Với các nội dung chuyên sâu sẽ trình bày cụthể ở phần sau :
2) Khách thể nghiên cứu :
Khách thể nghiên cứu là học sinh lớp 8
IV/ Nhiệm vụ nghiên cứu :
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này nhằm giải quyết một số vấn đề sau:Phân loại dạng bài dựa vào nội dung kiến thức, từ đó đưa ra nhữngphương pháp dạy học cụ thể cho từng bài
Áp dụng tổng hợp các phương pháp dạy học theo hướng tích cực Thầyđóng vai trò tổ chức, điều khiển hướng dẫn lớp học và học sinh đóng vai trò chủthể tích cực chủ động tìm tòi kiến thức dưới sự hướng dẫn của thầy
Tăng cường đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh, dặcbiệt sửdụng hình thức trắc nghiệm khách quan để mở rộng phạm vi nội dung đánh giá
Trang 3Từ việc nghiên cứu vận dụng đề tài, rút ra bài học kinh nghiệm đóng gópnâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Hóa học lớp 8.
V/Phạm vi nghiên cứu :
Chương trình Hóa học lớp 8 - THCS
VI/ Phương pháp nghiên cứu :
Sử dụng phương pháp tổng kết kinh nghiệm từ thực tiễn giảng dạy, rútkinh nghiệm từ đồng nghiệp, từ thực tế việc học Hóa học của học sinh
Trang 4B/ Nội dung và phương pháp thực hiện :
I/ Cơ sở lý luận :
Như trên dã trình bày chương trình Hóa học lớp 8 là chương trình cơ sởmang tính đại cương Vì vậy giáo viên phải nắm vững cấu trúc nội dung chươngtrình, phân loại các dạng bài dạy cụ thể để sử dụng những phương pháp dạy họchợp lý, giúp học sinh nắm bắt kiến thức một cách dễ dàng và chắc chắn hơn.Bên cạnh đó, việc xây dựng đưa hệ thống câu hỏi trắc nghiệm, bài tập phiếu họctập vừa để học sinh nắm bắt nội dung kiến thức, đồng thời kiểm tra đánh giá họcsinh trong từng nội dung bài học, từng tiết học sẽ giúp giáo viên đánh giá đượchiệu qủa giảng dạy sau mỗi tiết học, đồng thời học sinh cũng tự đánh giá được sựlĩnh hội kiến thức của minh đề điều chỉnh kịp thời
II/ Cơ sở thực tiễn :
Trong thực tế dạy học đã số các em học sinh thường thấy rằng Hóa học làmột bộ môn khó so với các bộ môn khác, có em cho rằng Hóa học còn khó hơn cả
bộ môn Toán Tỷ lệ học sinh đạt điểm trên trung bình, tỷ lệ khá giỏi bộ môn Hóahọc thường thấp Đối với giáo viên bộ môn, trên thực tế nhiều thầy cô thích dạymôn Hóa học 9 hơn dạy môn Hóa học 8, bởi vì sự truyền đạt kiến thức bộ môn lớp
9 dễ dàng với học sinh hơn, đối với lớp 8 là năm đầu tiên học sinh tiếp cận vớikiến thức trừu tượng, mang tính đại cương, việc truyền tải kiến thức cho các emhiểu và vận dụng còn nhiều điều đáng bàn, rút kinh nghiệm đối với thầy cô
III/ Kinh nghiệm vận dụng đề tài vào thực tiễn :
Trên cơ sở vừa trình bày tôi đã nghiên cứu về nội dung, cấu trúc chươngtrình và dựa vào thực tiễn của quá trình dạy học, đúc rút kinh nghiệm từ đồngnghiệp để nghiên cứu những phương pháp dạy học trên cơ sở phân loại các dạngbài dựa vào nội dung kiến thức dể có phương pháp dạy học phù hợp, đồng thờikết hợp các phương pháp dạy học tích cực: Phương pháp nêu vấn đề, đàm thoại
Trang 5trực quan, thảo luận nhóm tùy theo từng nội dung, đơn vị kiến thức, kết hợp với
hệ thống câu hỏi, bài tập trắc nghiệm để dẫn dắt học sinh chủ động tìm hiểu pháthiện ra kiến thức Sau đây tôi sẽ trình bày cụ thể nhưng giải pháp mà bản thân đãnghiên cứu và thực hiện khá thành công trong những năm vừa qua
Phân loại nhóm bài dạy dựa vào nội dung bài học :
Trong chương trình Hóa học lớp 8 có tất cả 45 bài học; trong đó có cácbài thực hành và bài luyện tập phải dạy theo một phương pháp riêng biệt khácvới các bài học khác Tuy nhiên đối với các bài học cũng cần phải dược phânloại để có những phương pháp dạy học phù hợp với từng nhóm bài
1) Dạng bài nghiên cứu về khái niệm, định luật Hóa học cơ bản :
Ví dụ : Các bài : Chất, Nguyên tử, Nguyên tố hóa học, Đơn chất, Hợpchất, Phân tử, Hóa trị, Phản ứng hóa học, Định luật bảo toàn khối lượng
a Đối với dạng bài này giáo viên sử dụng vào phương pháp :
- Nêu vấn đề
- Hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề bằng cách :
+ Nghiên cứu thông tin trong bài học
+ Sử dụng kiến thức đã biết
+ Nghiên cứu thí nghiệm
- Cuối cùng rút ra nhận xét, kết luận
- Giáo viên bổ sung, hoàn thiện
b Trong quá trình dạy học giáo viên cho học sinh làm các bài tập trắc nghiệm để củng cố lại kiến thức vừa tìm được
Ví dụ : Bài 4 : Nguyên tử
Trong bài này học sinh cần phải nắm được các khái niệm:
Trang 6- Nguyên tử là gì?
- Nguyên tử có cấu tạo như thế nào?
Đây là một bài có nội dung rất trừu tượng đối với học sinh Để học sinhhiểu và nắm được kiến thức, giáo viên phải áp dụng các phương pháp dạy họcmột cách linh hoạt
- Trước hết, giáo viên áp dụng phương pháp nêu vấn đề, cho học sinhthấy rằng, mọi vật thể tự nhiên cũng như nhân tạo đều được tạo ra từ chất Thếcác chất được tạo ra từ đâu? từ những hạt vô cùng nhỏ, trung hòa về điện gọi lànguyên tử
(H) Vậy nguyên tử là gì ?
Trên cơ sở thông tin mà giáo viên vừa cung cấp học sinh sẽ rút ra câu trảlời cần thiết:
- Nguyên tử là hạt vô cùng nhỏ, trung hòa về điện
- Giáo viên tiếp tục dùng phương pháp nêu vấn đề, cung cấp cho học sinhmột số thông tin về nguyên tử:
+ Kích thước
+ Cấu tạo : -> Gồm hạt nhân mang điện tích +
> Lớp vỏ e mang điện tích + Cấu tạo của hạt nhân nguyên tử và lớp vỏ e
Giáo viên hướng dẫn học sinh về sơ đồ cấu tạo nguyên tử
- Cuối buổi học, giáo viên cho học sinh làm các bài tập củng cố về nguyêntử
Ví dụ:
Trang 71) Dùng những từ (cụm từ) thích hợp đièn vào chỗ trống trong các câu hỏisau :
a Các (1) đều tạo nên từ những hạt vô cùng nhỏ, trung hòa
e Proton và (9) có cùng khối lượng, còn (10)
có khối lượng rất bé, không đáng kể
Đáp án :
(1) chất; (2) Nguyên tử; (3)Hạt nhân; (4) Vỏ e; (5) Proton; (6) Nơtron; (7)
Số Proton; (8) số e; (9) nơtron; (10) electron
2) Viết nguyên tử Al có số Proton là 13 hãy vẽ sở đồ cấu tạo nguyên tử Al,cho biết số lớp e và số e lớp ngoài cùng
Như vậy từ một bài học tương đối trừu tượng, bằng phương pháp nêu vấn
đề, sử dụng các bài tập củng cố hợp lý, học sinh có thể nắm bắt kiến thức mộtcách dễ dàng và hiệu quả hơn
Lưu ý: Ngoài phương pháp truyền đạt hợp lý việc trình bày bảng ngắngọn, rõ ràng cũng góp phần làm cho tiết học đạt hiệu quả cao
Ví dụ 2: Bài 10: Hóa trị
Đây cũng là một trong những bài khó đối với học sinh
Trang 8- Giáo viên nêu vấn đề : Ta biết nguyên tử có khả năng liên kết với nhau,hóa trị là con số biểu thị khả năng đó Biết được hóa trị ta viết đúng công thứcHóa học của hợp chất.
Vậy:
I/ Hóa trị của một nguyên tố được xác định bằng cách nào?
- Giáo viên nêu vấn đề tiếp : Muốn so sánh khả năng liên kết giữa nguyên
tử và nguyên tố này với nguyên tử và nguyên tố kia, phải chọn một đơn vị để sosánh:
Người ta quy ước : Nguyên tố H có hóa trị I và dựa vào số nguyên tử Hliên kết với một nguyên tử của nguyên tố khác để xác định hóa trị của cácnguyên tố
- Giáo viên cho học sinh hoàn thành bảng sau :
Hợp chất Số nguyên tử H Hóa trị của nguyên tố
- Giáo viên dùng phương pháp đàm thoại cho học sinh thấy được mối liên
hệ giữa, số nguyên từ H và hóa trị của nguyên tố hoặc nhóm nguyên tử Mà nóliên kết
Từ đó cho học sinh rút ra kết luận:
Trang 91) Quy tắc : Học sinh biết quy tắc về hóa trị của hợp chất hai nguyên tố.Công thức tổng quát :
AxBy, với A,B : ký hiệu hóa học của nguyên tố
a.x = b.y -> x,y : chỉ số
-> a,b : hóa trị của a và b(H) Phát biểu quy tắc về hóa trị?
Học sinh : Tích của hóa trị và chỉ số của nguyên tố này bằng tích của hóatrị và chỉ số của nguyên tố kia
2) Vận dụng :
a Tích hóa trị của một nguyên tố
Ví dụ : Tích hóa trị của Ca trong hợp chất CaCl2, biết Cl có hóa trị I Giáoviên hướng dẫn học sinh cùng làm : Gọi x là hóa trị của Ca CaCl2.
Ta có : x.1 = I.2
=> x = II Vậy: Ca có hóa trị II
b Tập công thức hóa học của hợp chất dựa vào hóa trị
Ví dụ 1 : Tập công thức hóa học của hợp chất tạo bởi :
Al (III) và O :
Giáo viên hướng dẫn học sinh bước lập công thức hóa học:
B1 : Viết công thức dạng chung : Alx Oy
B2: áp dụng quy tắc hóa trị III.x = II.y
B3: Rút ra tỷ lệ : x y= II
III
Trang 10B4 : Chọn x = 2, y =3 viết lại công thức : Al2O3
Giáo viên rèn luyện cho học sinh cách tính hóa trị của một nguyên tố vàcách dựa vào hóa trị dể xác định công thức hóa học
Bên cạnh đó giáo viên hướng dẫn học sinh tính nhẩm hóa trị dựa vào bội
số chung nhỏ nhất của 2 chỉ số hoặc xác định CTHH nhẩm dựa vào BSCNN của
c) Al (III) và nhóm OH (I) d) Zn (II) và nhóm NO3 (I)
Như vây, đối với loại bài cung cấp kiến thức về khái niệm, định luật tươngđối khó và trừu tượng đối với các em, giáo viên cần sử dụng phương pháp nêuvấn đề, dẫn dắt học sinh từng bước giải quyết vấn đề, từ đó học sinh dễ dàng rút
ra những nhận xét, kết luận cần thiết
2) Dạng bài liên quan đến công thức, tính toán hóa học.
Trong chương trình giáo khoa lớp 8, có một số bài liên quan đến côngthức, tính toán hóa học như bài : Chuyển đổi giữa khối lượng, thể tích và lượngchất, bài tỷ khối của chất khí, bài tích theo công thức hóa học và phương trìnhhóa học, nồng độ dung dịch và pha chế dung dịch
Đối với loại bài này, để học sinh có thể tiếp thu và vận dụng một cáchchắc chắn, giáo viên có thể dạy theo hai phương pháp : Quy nạp và diễn dịch.Tức là có thể đưa ra một ví dụ đầu tiên, giải bài tập đó, sau đó rút ra phương
Trang 11pháp giải hoặc công thức toán học Hoặc đưa ra công thức toán học ngay từ banđầu, sau đó hướng dẫn học sinh giải bài tập theo công thức
Ví dụ 1: Bài 19: Chuyển đổi giữa khối lượng thể tích và lượng chất:
i/ Chuyển đổi giữa lượng chất và khối lượng chất như thế nào?
- Giáo viên nêu vấn đề :
1) Em hãy cho biết 0,5 mol khí CO2 có khối lượng là bao nhiêu?
Giáo viên hướng dãn học sinh các bước giải:
+ B1: Tìm khối lượng của 1 mol CO2 = 12 + 16 x 2=44g
+ B2: Tìm khối lượng của 1 mol CO2 = 44 + 0,5 = 22g
* Nhận xét : Nếu đặt M là khối lượng 1 mol (khối lượng mol phân tử haynguyên tử)
n là số mol m là khối lượng chất ta có công thức chuyển đổi sau :
Tương tự vậy ở mục II:
II/ Chuyển đổi giữa lượng chất và thể tích của chất khí
- Giáo viên cũng áp dụng phương pháp quy nạp: Đưa ra một ví dụ cụ thểthướng dẫn học sinh giải, trên cơ sở đó xây dựng công thức toán học
Ví dụ : Em hãy cho biết 0,5mol khí N2 ở đktc có thể tích là bao nhiêu?giáo viên hướng dẫn học sinh các bước giải:
Trang 12m ->n N2 sau đó từ n N2 mới tính được V N2
Ví dụ : Bài 20 : tỉ khối của chất khí:
Đây cũng là một bài có liên quan đén công thức, tính toán hóa học, giáoviên có thể dùng phương pháp dạy học khác, đó là phương pháp diễn dịch tức làđưa ra công thức toán học ngay từ ban đầu, sau đó áp dụng để giải bài tập
1) Bằng cách nào có thể biết được khí A nặng hay nhẹ hơn khí B baonhiêu lần giáo viên cho học sinh biết:
Để biết được khí A nặng hay nhẹ hơn khí B bao nhiêu lần, ta so sánh khốilượng mol của khí A (MA) với khối lượng mol của khí B (MB):
dA/B là tỉ khối của khí A đối với khí B
Ví dụ : Hãy cho biết khí oxi nặng hay nhẹ hơn khí ni tơ bao nhiêu lần?
22 , 4 (mol)
M B
Trang 13Giáo viên hướng dẫn học sinh giải:
2 / 2
O N
2 2
O N
M
M =
32
28=1, 14Vậy, khí oxi nặng hơn khí nitơ 1,14 lần
- Giáo viên cho học sinh thảo luận, làm vào phiếu học tập :
Hãy cho biết khí CO2 nặng hay nhẹ hơn khí oxi bao nhiêu lần?
2) Bằng cách nào biết được khí A nặng hay nhẹ hơn không khí bao nhiêulần? Tương tự như vậy, giáo viên cho học sinh biết:
Để biết được khí A nặng hay nhẹ hơn không khí bao nhiêu lần, ta so sánhkhối lượng mol của khí A (MA) với khối lượng mol của không khí (M K2=29):
Ví dụ : Hãy cho biết khí nitơ (N2) nặng hay nhẹ hơn không khí bao nhiêulần?
- Giáo viên gọi học sinh lên bảng giảng
dN /KK = M N
29 =
28
29 ≈ 0 , 97Vậy khí N2 nhẹ hơn không khí 0,97 lần
- Giáo viên cho học sinh thảo luận nhóm làm vào phiếu họctập
1) Hãy cho biết :a) Khí CO2 nặng hay nhẹ hơn khí CO bao nhiêu lần?
b) Khí oxi nặng nhẹ hơn khí không khí bao nhiêu lần?
29
Trang 143) Dạng bài nghiên cứu về tính chất hóa học như oxi, hidro, nước:
Đối với dạng bài này, giáo viên yêu cầu học sinh dự đoán một số tính chất
cụ thể của chất
- Học sinh kiểm tra dự đoán bằng cách :
+ Nghiên cứu thí nghiệm
+ Sử dụng kiến thức đã biết
+ Nghiên cứu thông tin sách giáo khoa
+ Đưa ra những nhận xét, kết luận cần thiết
- Giáo viên hoàn thiện, bổ sung
Ví dụ : Bài 24 : Tính chất của ôxi
- Giáo viên dung phương pháp đàm thoại cho học sinh hoàn thành cácthông tin:
+ Tính tan trong nước
+ Nặng hay nhẹ hơn so với không khí
- Học sinh trả lời :
Trang 15Giáo viên cho học sinh quan sát lọ đựng khí oxi và bổ sung, hoàn thiệnkiến thức.
II/ Tính chất hóa học :
1) Tác dụng với phi kim: ( Lưu huỳnh, photpho)
2) Tác dụng với kim loại: (sắt)
- Giáo viên biểu diễn thí nghiệm Học sinh quan sát, nhận xét hiện tượng
- Giáo viên bổ sung hoàn thiện kiến thức
- Học sinh viết phương trình hóa học
- Giáo viên nhận xét, bổ sung
Trang 16+ Đọc thông tin trong bài học, chú ý quan sát trên hình, sơ đồ, rút ra nhậnxét.
+ Tóm tắt thông tin về nguyên liệu, nguyên tắc các giai đoạn chủ yếu, biệnpháp kỹ thuật
+ Thảo luận nhóm để hoàn thiện kết luận
- Giáo viên hoàn thiện, bổ sung
Ví dụ : Bài 27 : điều chế oxi Phản ứng phân hủy
(H) Nguyên liệu để điều chế oxi trong phòng thí nghiệm?
Học sinh : Đó là những hợp chất giàu oxi và dễ phân hủy ở nhiệt độ caonhư : KMn04, KCl03
(H) Biện pháp kỹ thuật để điều chế ô xi từ những hợp chất trên?
- Đun nóng
(H) Thu khí oxi bằng cách nào?
- Đẩy nước hoặc đẩy không khí ra khỏi lọ (ống nghiệm)
- Từ nội dung khảo luận trên, giáo viên yêu cầu học sinh nêu kết luận vềđiều chế khí oxi trong phòng thí nghiệm
II/ Sản xuất khí oxi trong công nghiệp :
- Giáo viên nêu vấn đề cần tìm hiểu, yêu cầu học sinh đọc thông tin sáchgiáo khoa, thảo luận nhóm, hoàn thành các thông tin