Cá Chép Cyprinus carpio là loài được nuôi đầu tiên; hình thức sơ khai của nuôi thủy sản là thu giống từ sông để ương và nuôi thành cá thương phẩm trong các ao vùng nước ngọt.. Sự phát t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
TÀI LIỆU GIẢNG DẠY
KỸ THUẬT NUÔI CÁ NƯỚC NGỌT
ThS VÕ THANH TÂN
AN GIANG, THÁNG 05 NĂM 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
TÀI LIỆU GIẢNG DẠY
KỸ THUẬT NUÔI CÁ NƯỚC NGỌT
ThS VÕ THANH TÂN
Trang 3AN GIANG, THÁNG 05 NĂM 2016
Trang 4i
CHẤP NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG
Tài liệu giảng dạy “Kỹ thuật nuôi cá nước ngọt”, do tác giả Võ Thanh Tân, công tác tại Khoa Nông nghiệp - Tài nguyên Thiên nhiên thực hiện Tác giả đã báo cáo nội dung và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Khoa Nông nghiệp - Tài nguyên Thiên nhiên, Trường Đại học An Giang thông qua ngày ………
Trang 5ii
LỜI CẢM TẠ
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa Nông nghiệp - Tài nguyên Thiên nhiên, Phòng Quản lý Khoa học và Hợp tác Quốc tế và Bộ môn Nuôi trồng thủy sản Trường Đại học An Giang đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành biên soạn Tài liệu giảng dạy trong thời gian qua
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các tác giả đã công bố công trình nghiên cứu, báo cáo, sách và giáo trình có liên quan đến kỹ thuật nuôi thủy sản, làm cơ sở cho tôi biên soạn Tài liệu giảng dạy này
Xin chân thành cảm ơn!
An Giang, ngày 09 tháng 05 năm 2016
Người thực hiện
Võ Thanh Tân
Trang 7
iv
LỜI GIỚI THIỆU
Học phần “Kỹ thuật nuôi cá nước ngọt” là một trong những học phần quan trọng trong Chương trình đào tạo của Ngành Nuôi trồng thủy sản Ở Trường Đại học
An Giang, học phần này càng quan trọng do tiềm năng của nghề nuôi cá nước ngọt rất lớn của tỉnh An Giang, cũng như vai trò của nghề nuôi cá nước ngọt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Tài liệu giảng dạy “Kỹ thuật nuôi cá nước ngọt” trang bị cho sinh viên Nuôi trồng thủy sản những cơ sở khoa học và những biện pháp kỹ thuật của nghề nuôi cá nước ngọt Với tổng thể về tình hình nuôi thủy sản thế giới và Việt Nam, tài liệu còn tập trung giới thiệu về đặc điểm sinh học các loài cá nước ngọt có giá trị kinh tế cao hiện nay Bên cạnh tính thực tiễn khi giới thiệu các mô hình nuôi cá phổ biến ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tài liệu còn hướng sinh viên đến những vấn đề bảo vệ môi trường, an toàn - vệ sinh thực phẩm và phát triển nuôi bền vững…
Nội dung Tài liệu giảng dạy Kỹ thuật nuôi cá nước ngọt bao gồm 7 chương:
- Chương 1 Tổng quan nuôi thủy sản thế giới và Việt Nam
- Chương 2 Kỹ thuật nuôi cá thâm canh
- Chương 3 Kỹ thuật nuôi cá thương phẩm
- Chương 4 Kỹ thuật nuôi cá kết hợp
- Chương 5 Nuôi cá hồ chứa
- Chương 6 Ứng dụng quy phạm thực hành nuôi tốt trong nuôi thủy sản
- Chương 7 Một số bệnh thường gặp trên cá nuôi và biện pháp phòng trị Tác giả hy vọng rằng Tài liệu giảng dạy này sẽ là tài liệu học tập hữu ích cho sinh viên chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản trình độ Đại học và Cao đẳng
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
ThS Võ Thanh Tân
Trang 8v
MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NUÔI THỦY SẢN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM .1
1.1 Lịch sử phát triển và hiện trạng nuôi thủy sản thế giới .1
1.1.1 Lịch sử phát triển nuôi thủy sản thế giới 1
1.1.2 Hiện trạng nuôi thủy sản thế giới 2
1.2 Lịch sử phát triển và hiện trạng nuôi thủy sản Việt Nam 8
1.2.1 Lịch sử phát triển nuôi thủy sản Việt Nam 8
1.2.2 Hiện trạng nuôi thủy sản Việt Nam 10
CHƯƠNG 2 KỸ THUẬT NUÔI CÁ THÂM CANH .20
2.1 Nguyên lý nuôi cá nước ngọt 20
2.1.1 Chọn địa điểm xây dựng mô hình nuôi 20
2.1.2 Khái niệm về phương thức nuôi 21
2.1.3 Chọn loài cá thả nuôi 21
2.1.4 Kỹ thuật ứng dụng nuôi 22
2.1.5 Mùa vụ nuôi 23
2.1.6 Chọn giống thả nuôi 23
2.1.7 Mật độ thả nuôi 25
2.1.8 Chuẩn bị hệ thống nuôi 25
2.1.9 Kỹ thuật vận chuyển và thả cá giống 27
2.1.10 Quản lý và chăm sóc hệ thống nuôi 27
2.1.11 Kỹ thuật thu hoạch cá thương phẩm 29
2.1.12 Hiệu quả tài chính của mô hình 30
2.1.13 Quản lý bệnh cho cá nuôi 30
2.1.14 Quản lý nước và chất thải từ hệ thống nuôi ra môi trường ngoài 31
2.2 Các mô hình nuôi cá thâm canh 31
2.2.1 Mô hình nuôi cá thâm canh trong ao đất 31
2.2.2 Mô hình nuôi cá thâm canh trong bè 35
2.2.3 Mô hình nuôi cá thâm canh trong bể 41
2.2.4 Mô hình nuôi cá thâm canh trong đăng quầng 43
2.2.5 Mô hình nuôi cá thâm canh trong giai lưới (vèo lưới) 45
2.2.6 Mô hình nuôi cá thâm canh trong hệ thống tuần hoàn 47
CHƯƠNG 3 KỸ THUẬT NUÔI CÁ THƯƠNG PHẨM .50
3.1 Kỹ thuật nuôi cá Tra thâm canh 50
Trang 9vi
3.1.1 Đặc điểm sinh học của cá Tra 50
3.1.2 Kỹ thuật nuôi cá Tra thương phẩm 53
3.2 Kỹ thuật nuôi cá Ba sa thương phẩm trong bè 59
3.2.1 Đặc điểm sinh học của cá Ba sa 59
3.2.2 Kỹ thuật nuôi cá Ba sa thương phẩm trong bè 62
3.3 Kỹ thuật nuôi cá Hú thương phẩm 65
3.3.1 Đặc điểm sinh học của cá Hú 65
3.3.2 Kỹ thuật nuôi cá Hú thương phẩm trong bè 68
3.4 Kỹ thuật nuôi cá Lóc Đen thương phẩm 70
3.4.1 Đặc điểm sinh học của cá Lóc Đen 70
3.4.2 Kỹ thuật nuôi cá Lóc Đen thương phẩm 72
3.5 Kỹ thuật nuôi cá Lóc Bông thương phẩm 77
3.5.1 Đặc điểm sinh học của cá Lóc Bông 77
3.5.2 Kỹ thuật nuôi cá Lóc Bông thương phẩm .78
3.6 Kỹ thuật nuôi cá Rô Phi thương phẩm 81
3.6.1 Đặc điểm sinh học của cá Rô Phi 81
3.6.2 Kỹ thuật nuôi cá Rô Phi thương phẩm 84
3.7 Kỹ thuật nuôi cá Rô Đồng thương phẩm 88
3.7.1 Đặc điểm sinh học của cá Rô Đồng 88
3.7.2 Kỹ thuật nuôi cá Rô Đồng thương phẩm trong ao 91
3.8 Kỹ thuật nuôi cá Bống Tượng thương phẩm 92
3.8.1 Đặc điểm sinh học của cá Bống Tượng 92
3.8.2 Kỹ thuật nuôi cá Bống Tượng thương phẩm 94
3.9 Kỹ thuật nuôi cá Trê thương phẩm 97
3.9.1 Đặc điểm sinh học của cá Trê .97
3.9.2 Kỹ thuật nuôi cá Trê Vàng lai thương phẩm 99
3.10 Kỹ thuật nuôi cá Thát Lát cườm thương phẩm 101
3.10.1 Đặc điểm sinh học của cá Thát Lát cườm 101
3.10.2 Kỹ thuật nuôi cá Thát Lát cườm thương phẩm 103
3.11 Kỹ thuật nuôi cá Sặc Rằn thương phẩm 105
3.11.1 Đặc điểm sinh học của cá Sặc Rằn 105
3.11.2 Kỹ thuật nuôi cá Sặc Rằn thương phẩm 107
3.12 Kỹ thuật nuôi cá Tai Tượng thương phẩm 108
3.12.1 Đặc điểm sinh học của cá Tai Tượng 108
3.12.2 Kỹ thuật nuôi cá Tai Tượng thương phẩm 110
Trang 10vii
3.13 Kỹ thuật nuôi cá Mè Vinh thương phẩm 111
3.13.1 Đặc điểm sinh học của cá Mè Vinh 111
3.13.2 Kỹ thuật nuôi cá Mè Vinh thương phẩm 113
3.14 Kỹ thuật nuôi cá Chép thương phẩm 113
3.14.1 Đặc điểm sinh học của cá Chép 113
3.14.3 Kỹ thuật nuôi cá Chép thương phẩm trong ao 115
3.15 Kỹ thuật nuôi cá Hường thương phẩm 118
3.15.1 Đặc điểm sinh học của cá Hường 118
3.15.2 Kỹ thuật nuôi cá Hường thương phẩm trong ao 119
3.16 Kỹ thuật nuôi cá Mè Trắng Trung Quốc thương phẩm 119
3.16.1 Đặc điểm sinh học của cá Mè Trắng Trung Quốc 119
3.16.2 Kỹ thuật nuôi cá Mè Trắng Trung Quốc 120
3.17 Kỹ thuật nuôi thương phẩm cá Trôi Ấn Độ 121
3.17.1 Đặc điểm sinh học của cá Trôi Ấn Độ 121
3.17.2 Kỹ thuật nuôi cá Trôi Ấn Độ thương phẩm 122
CHƯƠNG 4 KỸ THUẬT NUÔI CÁ KẾT HỢP .124
4.1 Kỹ thuật nuôi cá trên ruộng lúa 124
4.1.1 Cơ sở khoa học của nuôi cá trên ruộng 124
4.1.2 Chọn lựa địa điểm 124
4.1.3 Các biện pháp kỹ thuật vận hành mô hình kết hợp lúa-cá 128
4.2 Kỹ thuật nuôi cá kết hợp gia súc, gia cầm 134
4.2.1 Mô hình nuôi kết hợp cá - heo - biogas 134
4.2.2 Mô hình nuôi kết hợp cá - vịt 137
4.2.3 Mô hình nuôi kết hợp cá - gà 138
4.3 Kỹ thuật nuôi cá trong mương vườn 139
4.3.1 Khái niệm 139
4.3.2 Các biện pháp kỹ thuật tác động 141
CHƯƠNG 5 NUÔI CÁ HỒ CHỨA 143
5.1 Khái niệm 143
5.2 Các giải pháp kỹ thuật 144
5.2.1 Khảo sát các điều kiện cần thiết của hồ chứa cho nuôi cá .144
5.2.2 Giải pháp kỹ thuật tác động vào hệ thống nuôi 147
CHƯƠNG 6 ỨNG DỤNG QUY PHẠM THỰC HÀNH NUÔI TỐT TRONG NUÔI THỦY SẢN .150
6.1 Tổng quan về quy phạm thực hành nuôi tốt 150
Trang 11viii
6.2 Các quy phạm thực hành nuôi tốt thực hiện ở Việt Nam 151
6.2.1 Nuôi cá theo quy phạm thực hành nuôi tốt (GAP) 151
6.2.2 Nuôi cá theo quy phạm thực hành nuôi tốt hơn (BMP) 157
6.2.3 Nuôi cá theo tiêu chuẩn chứng nhận ASC 162
6.2.4 Nuôi cá theo tiêu chuẩn SQF 163
Chương 7 MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP TRÊN CÁ NUÔI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ .166
7.1 Bệnh do vi khuẩn 166
7.1.1 Bệnh nhiễm khuẩn huyết 166
7.1.2 Bệnh nhiễm khuẩn do Edwardsiella (Edwardsiellosis) 168
7.1.3 Bệnh trắng đuôi 169
7.1.4 Hội chứng lở loét (Bệnh ghẻ) 171
7.2 Bệnh nấm thủy mi 172
7.2.1 Tác nhân gây bệnh 172
7.2.2 Đối tượng nhiễm bệnh 172
7.2.3 Dấu hiệu bệnh lý 172
7.2.4 Phòng trị bệnh 173
7.3 Bệnh ký sinh trùng 174
7.3.1 Bệnh trùng bánh xe 174
7.3.2 Bệnh trùng mỏ neo 175
7.3.3 Bệnh rận cá 176
7.3.6 Bệnh do sán lá đơn chủ (Monogenea) 176 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 12ix
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 1: Thống kê 10 quốc gia có sản lượng nuôi thủy sản cao nhất thế giới 2012 5
Bảng 2: Danh sách một số loài thủy sản quan trọng được nuôi trên thế giới 5
Bảng 3: Diện tích nuôi trồng thủy sản của Việt Nam từ 2000-2012 10
Bảng 4: Giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha đất trồng trọt và mặt nước nuôi TS 11
Bảng 5: Sản lượng thủy sản nuôi trồng của Việt Nam từ 2000-2012 12
Bảng 6: Sản lượng nuôi trồng thủy sản của Đồng bằng sông Cửu Long từ 2000-201214 Bảng 7: Diện tích và sản lượng cá Tra từ 2008-2013 15
Bảng 8: Yêu cầu kỹ thuật đối với cá giống cá Lóc, Lóc Bông, Rô Đồng và Sặc Rằn 24
Bảng 9: Yêu cầu kỹ thuật đối với cá giống Tai Tượng, Tra và Ba sa 24
Bảng 10: Chất lượng nước thải từ ao nuôi trước khi thải ra môi trường 31
Bảng 11: Chất lượng nước - chất lượng nước ngọt bảo vệ đời sống thủy sinh 32
Bảng 12: Các yếu tố môi trường nước nuôi cá 35
Bảng 13: Quy mô và kích thước bè nuôi cá 38
Bảng 14: Kích cỡ cá giống và mật độ một số loài cá thả nuôi trong bè 39
Bảng 15: Các yếu tố môi trường nước nơi đặt bè nuôi cá 40
Bảng 16: Kích cỡ cá giống và mật độ một số loài cá thả nuôi trong bể 42
Bảng 17: Điểm khác biệt giữa phương thức nuôi cá ở giai lưới và đăng quầng 46
Bảng 18: Kích cỡ và mật độ cá giống thả nuôi trong hệ thống tuần hoàn 48
Bảng 19: Khẩu phần cung cấp thức ăn cho cá Tra nuôi 57
Bảng 20: Công thức thức ăn tự chế biến cho cá Ba sa nuôi bè 63
Bảng 21: Công thức thức ăn tự chế biến cho cá Hú nuôi bè 69
Bảng 22: Khẩu phần ăn của cá Lóc Đen theo kích cỡ 73
Bảng 23: Một số thông tin về thu hoạch và hiệu quả nuôi cá Rô Phi trong bè 86
Bảng 24: Thức ăn và khẩu phần cho cá Rô Phi theo từng giai đoạn nuôi 87
Bảng 25: Chế độ thay nước cho ao nuôi thâm canh cá Rô Phi 88
Bảng 26: Kích cỡ cá giống và mật độ thả cá Trê Vàng lai nuôi thương phẩm 99
Bảng 27: Mật độ nuôi và tỷ lệ ghép cá Mè Vinh với một số loài cá khác 113
Bảng 28: Các công thức nuôi ghép một số loài cá với cá Chép 116
Bảng 29: Bón phân cho ao nuôi cá Chép 116
Bảng 30: Công thức ghép các loài cá khác nhau thả nuôi trong mô hình cá-lúa 130
Bảng 31: Cơ cấu và tỷ lệ các loài cá thả nuôi trong mô hình cá-heo-biogas 136
Bảng 32: Ý nghĩa của màu nước ao trong mô hình nuôi 137
Trang 13x Bảng 33: Công thức ghép những loài cá khác nhau thả nuôi trong mương vườn 141 Bảng 34: Yêu cầu về chất lượng nước ở hồ chứa sử dụng nuôi cá 145
Trang 14xi
DANH SÁCH HÌNH
Trang Hình 1: Tỷ trọng sản lượng và giá trị nuôi trồng thủy sản trên thế giới năm 2012
theo môi trường 3
Hình 2: Cơ cấu sản lượng và giá trị các nhóm loài thủy sản nuôi trên thế giới năm 2012 3
Hình 3: Sản lượng thủy sản nuôi thế giới theo vùng năm 2012 4
Hình 4: Sản lượng nuôi trồng thủy sản thế giới qua các năm 4
Hình 5: Sản lượng các loài cá nuôi chủ yếu trên thế giới 7
Hình 6: Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản Việt Nam từ 2000-2012 12
Hình 7: Tỷ trọng sản lượng nuôi trồng thủy sản Việt Nam năm 2012 phân theo vùng13 Hình 8: Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản của Đồng bằng sông Cửu Long từ 2000-2012 14
Hình 9: Các tỉnh có sản lượng cá Tra lớn nhất trong năm 2014 15
Hình 10: Phần đầu của bè nuôi 36
Hình 11: Phần xung quanh của bè nuôi 37
Hình 12: Phần trên của bè nuôi 37
Hình 13: Bộ phận làm nổi của bè nuôi 37
Hình 14: Bộ phận cố định của bè nuôi 37
Hình 15: Kết cấu lồng nuôi cá Rô Phi đỏ (Điêu Hồng) 38
Hình 16: Đăng quầng nuôi cá Tra ở An Giang 43
Hình 17: Giai lưới nuôi cá Lóc ven sông ở tỉnh An Giang 45
Hình 18: Sơ đồ hệ thống tuần hoàn 48
Hình 19: Cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus) 50
Hình 20: Bản đồ phân bố của cá Tra ở sông Mekong 51
Hình 21: Các mô hình nuôi cá Tra ở Đồng bằng sông Cửu Long 54
Hình 22: Xây dựng ao nuôi cá Tra 55
Hình 23: Máy phối trộn, ép viên và cho cá Tra ăn thức ăn viên tự chế 57
Hình 24: Thức ăn và cho cá Tra ăn thức ăn viên công nghiệp 57
Hình 25: Thu hoạch và vận chuyển cá Tra thương phẩm 59
Hình 26: Cá Ba sa (Pangasius bocourti) 59
Hình 27: Bản đồ phân bố của cá Ba sa ở sông Mekong 60
Hình 28: Hình dạng bè và cách đặt bè nuôi cá trên sông 62
Hình 29: Cá Hú (Pangassius conchophilus) 66
Hình 30: Bản đồ phân bố của cá Hú ở sông Mekong 66
Hình 31: Cá Lóc Đen (Channa striata) 70
Trang 15xii
Hình 32: Các mô hình nuôi cá Lóc Đen 72
Hình 33: Thu hoạch cá Lóc Đen thương phẩm 77
Hình 34: Cá Lóc Bông (Channa micropeltes) 77
Hình 35: Cá Rô Phi đen (Oreochromis mossambicus) 82
Hình 36: Cá Rô Phi vằn (Oreochromis nilocus) 82
Hình 37: Cá Rô Phi đỏ (Red Tilapia, cá Điêu Hồng) 82
Hình 38: Bè nuôi cá Rô Phi đỏ ở Đồng Tháp và Vĩnh Long 85
Hình 39: Ao nuôi cá Rô Phi thâm canh có bố trí máy quạt nước và sục khí 86
Hình 40: Cá Rô Đồng (Anabas testudineus) 89
Hình 41: Ao nuôi cá Rô Đồng thương phẩm 91
Hình 42: Thu hoạch cá Rô Đồng thương phẩm 92
Hình 43: Cá Bống tượng (Oxyeleotris marmorata) 93
Hình 44: Các mô hình nuôi cá Bống Tượng 95
Hình 45: Cấu tạo và đặc điểm phân biệt 4 loài cá Trê 98
Hình 46: Thu hoạch cá Trê Vàng lai (Hydrid catfish) 100
Hình 47: Cá Thát Lát cườm (Chitala chitala) 101
Hình 48: Bản đồ phân bố của cá Thát Lát cườm ở sông Mekong 102
Hình 49: Thu hoạch cá Thát Lát cườm 105
Hình 50: Cá Sặc Rằn (Trichogaster pectoralis) 106
Hình 51: Cá Tai Tượng (Osphronemus gouramy) 109
Hình 52: Cá Mè Vinh (Barbodes gonionotus) 112
Hình 53: Cá Chép (Cyprinus carpio) 114
Hình 54: Cá Hường hay cá Mùi (Helostoma temmincki) 118
Hình 55: Cá Mè Trắng Trung Quốc (Hypophthalmychthys molitrix) 120
Hình 56: Các loài cá Trôi Ấn Độ ở Việt Nam 121
Hình 57: Đa dạng hóa đối tượng và phương thức canh tác trong mô hình lúa - cá
kết hợp 126
Hình 58: Mặt cắt ngang mô hình lúa - cá kết hợp 126
Hình 59: Mặt bằng mô hình lúa - cá kết hợp 127
Hình 60: Mặt bằng mô hình lúa - cá kết hợp với ao liền kề 127
Hình 61: Ruộng lúa nuôi cá được xây dựng tiêu chuẩn 127
Hình 62: Thả giống cá nuôi trong ruộng lúa 131
Hình 63: Thu hoạch cá nuôi trong ruộng lúa 133
Hình 64: Mô hình nuôi kết hợp cá - heo - biogas 134
Hình 65: Túi nhựa tổng hợp dùng để ủ gas sinh học thiết kế cho ao nuôi TS 135
Trang 16xiii
Hình 66: Mô hình nuôi kết hợp cá - vịt 138
Hình 67: Mô hình nuôi kết hợp cá - gà 139
Hình 68: Mương vườn sử dụng để nuôi cá 140
Hình 69: Bệnh nhiễm khuẩn huyết do Aeromonas trên cá nuôi 167
Hình 70: Cá Tra bị bệnh gan thận mủ 168
Hình 71: Cá da trơn bị bệnh Edwadrsiella 169
Hình 72: Cá Mè giống bị bệnh trắng đuôi 170
Hình 73: Hội chứng lở loét ở cá (Bệnh ghẻ) 171
Hình 74: Bệnh nấm thủy mi ở cá và trứng cá 173
Hình 75: Trùng bánh xe ký sinh ở da cá 174
Hình 76: Trùng mỏ neo ký sinh trên cá nuôi 175
Hình 77: Rận cá ký sinh trên cá nuôi 176
Hình 78: Bệnh sán lá đơn chủ (Monogenea) trên cá nuôi 177
Trang 17
1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NUÔI THỦY SẢN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ HIỆN TRẠNG NUÔI THỦY SẢN THẾ GIỚI
1.1.1 Lịch sử phát triển nuôi thủy sản thế giới
Nghề nuôi thủy sản ở Châu Á xuất hiện rất sớm từ Trung Quốc cách đây ít nhất
2.500 năm trước công nguyên (Pillay, 1990) Cá Chép (Cyprinus carpio) là loài được
nuôi đầu tiên; hình thức sơ khai của nuôi thủy sản là thu giống từ sông để ương và
nuôi thành cá thương phẩm trong các ao vùng nước ngọt Nghề nuôi cá Chép sau đó
được lan rộng ra nhiều nơi ở Châu Á, Trung Đông và Châu Âu do sự di dân của
người Trung Quốc Sau đó, các loài cá khác thuộc họ cá Chép (gọi là nhóm cá Chép
Trung Quốc) như cá Trắm Cỏ (Ctenopharyngodon idellus), Mè Hoa (Aristichthys
nobilis), Mè Trắng (Hypophthalmichthys molitrix), Trắm Đen (Mylopharyngodon
piceus) bắt đầu được phát triển nuôi (thế kỷ thứ 6 sau công nguyên) Ở Ấn Độ, các
loài cá Trôi được ương nuôi từ thế kỷ 11 như cá Cirrhina molitorella và Labeo
rohita Loài cá nước lợ được nuôi đầu tiên là cá Măng (Chanos chanos) vào thế kỷ
15 tại Indonesia Ở Việt Nam, nghề nuôi thủy sản bắt đầu từ thập niên 1950 (Nguyễn
Thanh Phương, Trần Ngọc Hải, Dương Nhựt Long và Võ Nam Sơn., 2012)
Ở Châu Âu, nghề nuôi thủy sản được ghi nhận có từ thời Trung cổ, với việc thả
nuôi ghép cá Chép trong các ao nước ngọt Quá trình phát triển của nghề nuôi thủy
sản còn gắn liền với hoạt động nuôi cá Rô Phi, cá Chép trong các ao nuôi nước tĩnh
của nhiều nước thuộc Châu Âu như Pháp, Đức, Na Uy, Đan Mạch và Ý Sự phát
triển nghề nuôi thủy sản các nước Châu Âu còn được ghi nhận qua hoạt động nuôi
thương phẩm cá Hồi Vân (Rainbow trout) trong thủy vực nước ngọt; đặc biệt trong
các lồng, bè nuôi cá ở các nước như Đan Mạch, Pháp, Na Uy và Ý
Nghề nuôi thủy sản ở Châu Mỹ được ghi nhận phát triển sớm nhất vào thế kỷ
18 với loài cá nuôi đặc trưng là cá Hồi Vân (Rainbow trout) Nghề nuôi thủy sản ở
Châu Mỹ chủ yếu đến từ các nước vùng Bắc Mỹ, sau đó mở rộng các nước thuộc khu
vực Trung tâm và vùng Nam Mỹ (Pillay, 1990) Hiện tại nghề nuôi thủy sản của
nhiều nước ở Châu Mỹ phát triển rất mạnh với đội ngũ cán bộ có trình độ khoa học
kỹ thuật cao
Ở Châu Phi, nghề nuôi cá được ghi nhận qua hình ảnh thể hiện trên các bức
tranh bằng đá, mô tả các các hoạt động nuôi các loài cá như Rô Phi, Trê Phi,… Nghề
nuôi thủy sản nước ngọt ở Châu Phi đã xuất hiện từ rất sớm, đặc biệt là ở Ai Cập đã
xuất hiện cách đây hơn 2.000 năm trước công nguyên Cá Rô Phi trở thành một trong
những đối tượng nuôi rất phổ biến trong các loại hình thủy vực, một số đối tượng
thủy sản khác cũng được xem như nguồn cung cấp thực phẩm phong phú (Dương
Nhựt Long, Nguyễn Anh Tuấn và Lam Mỹ Lan., 2014)
Trang 182
1.1.2 Hiện trạng nuôi thủy sản thế giới
1.1.2.1 Sản lượng nuôi thủy sản
Nghề nuôi thủy sản bắt đầu phát triển nhanh chóng từ những năm thập niên
1970 Nghề nuôi thủy sản hiện liên tục phát triển và ngày càng đa dạng về loài nuôi
và thâm canh cao hơn Năm 1970, tốc độ tăng trưởng về sản lượng nuôi là 3,9%, đến năm 2006 là 36% Sự phát triển nhanh của nghề nuôi đã góp phần tăng tỷ lệ tiêu dùng sản phẩm thủy sản của con người từ 0,7 kg/người/năm vào năm 1970 lên 22 kg/người/năm vào năm 2008, riêng Châu Á là 43 kg/người/năm Sản phẩm thủy sản nuôi chiếm 46% tổng sản phẩm con người tiêu dùng hàng năm Ở Trung Quốc, tỷ lệ này là 90% (Nguyễn Thanh Phương và cs., 2012) Hiện nay, mức tiêu dùng sản phẩm thủy sản trung bình trên thế giới ước khoảng 29 kg/người/năm, tương đương khoảng
116 triệu tấn/năm Ước tính đến năm 2020, nhu cầu sẽ tăng thêm 16-20 triệu tấn/năm
và đến năm 2030 sẽ tăng thêm 25 triệu tấn/năm Do vậy, nuôi trồng thủy sản sẽ là vấn đề được các quốc gia trong khu vực đặc biệt quan tâm (Dương Nhựt Long và cs., 2014)
Trong giai đoạn 2000-2012, sản lượng nuôi thủy sản toàn cầu có mức tăng trưởng trung bình hàng năm là 6,2%, giảm so với mức tăng trưởng trong giai đoạn 1980-1990 và giai đoạn 1990-2000 tương ứng là 10,8% và 9,5% Giai đoạn 1980-
2012, sản lượng nuôi thủy sản toàn cầu tăng trưởng ở mức 8,6%/năm Sản lượng nuôi thủy sản toàn cầu tăng gấp đôi, từ 32,42 triệu tấn trong năm 2000 (không bao gồm thực vật thủy sinh) lên mức 66,63 triệu tấn năm 2012 (FAO, 2012)
Sản lượng nuôi trồng thủy sản chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong tổng sản lượng thủy sản toàn cầu, từ 20,9% năm 1995 lên 32,4% năm 2005 và 40,3% năm
2010 và ở mức cao kỷ lục là 42,2% trong năm 2012 Theo báo cáo của FAO, năm
2012, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt mức cao kỷ lục, 90.409.702 tấn, tương đương 144.101,147 triệu USD; trong đó có khoảng 66.633.253 tấn thủy sản các loại (tương đương 137.731,508 triệu USD) và khoảng 23.776.449 tấn thực vật thủy sinh nuôi (chủ yếu là tảo biển), tương đương 6.369,639 triệu USD Các đối tượng nuôi bao gồm cá có vẩy, động vật giáp xác, động vật thân mềm, ếch, bò sát (không tính cá Sấu) và các loài thủy sản khác phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của con người (Tổng cục Thủy sản, 2015)
Theo Nguyễn Thanh Phương và cs (2012), trong tổng sản lượng thủy sản nuôi năm 2008 thì nuôi nước ngọt (nội địa) chiếm 46,3%, nuôi nước lợ chiếm 49,3% và nuôi nước mặn (nuôi biển) chiếm 4,4% Theo nhóm loài thì giáp xác đóng góp 7% sản lượng nhưng đến 24% giá trị, nhóm cá có vẩy góp 48% sản lượng và 52% giá trị;
và nhóm thực vật góp 20% sản lượng nhưng chỉ có 9% giá trị
Trong tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng năm 2012, nuôi nước ngọt (nội địa) chiếm 45,5% (41.144.589 tấn); nuôi nước lợ chiếm 6,8% (6.144.140 tấn); và nuôi nước mặn (nuôi biển) chiếm 47,7% (43.120.973 tấn) Theo nhóm loài thì nhóm giáp xác đóng góp 7,1% sản lượng nhưng đến 21,4% giá trị (30.863,769 triệu USD); cá có
Trang 193
vẩy góp 48,8% sản lượng và 60,7% giá trị (87.498,740 triệu USD); nhóm nhuyễn thể góp sản lượng 16,8% và giá trị 11% (15.857,029 triệu USD); nhóm thực vật (chủ yếu
là tảo biển) góp 26,3% sản lượng nhưng chỉ có 4,4% giá trị (6.369,639 triệu USD);
và và các loài thủy sản khác phụ vụ cho nhu cầu tiêu dùng của con người góp 1% sản lượng và 2,4% giá trị (3.511,970 triệu USD) (FAO, 2012)
Sản lượng (tổng sản lượng 90.409.702 tấn) Giá trị (tổng giá trị 144.101,147 triệu USD)
Hình 1: Tỷ trọng sản lượng và giá trị nuôi trồng thủy sản
trên thế giới năm 2012 theo môi trường (Nguồn: FAO, 2012)
Sản lượng (tổng sản lượng: 90.409.702 tấn) Giá trị (tổng giá trị 144.101,147 triệu USD)
Hình 2: Cơ cấu sản lượng và giá trị các nhóm loài thủy sản nuôi trồng
trên thế giới năm 2012 (Nguồn: FAO, 2012)
Nếu xét theo vùng, trong giai đoạn 2000-2012, Châu Phi có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất (11,7%) Tiếp theo là Mỹ La tinh và vùng Caribe, 10% Nếu không tính Trung Quốc, tốc độ tăng trưởng nuôi trồng thủy sản của Châu Á tăng 8,2%, cao hơn tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn 1980-1990 (6,8%) và 1990-2000 (4,8%) Tốc độ tăng trưởng nuôi trồng thủy sản của Trung Quốc, nhà sản xuất thủy sản lớn nhất thế giới, giảm còn 5,5%, giảm mạnh so với giai đoạn 1980-1990 (17,3%) và 1990-2000 (12,7%) Châu Âu và Châu Đại Dương có tốc độ tăng trưởng thấp nhất, tương ứng 2,9% và 3,5% Trái với xu hướng tăng trưởng tại các châu lục khác, kể từ năm 2005,
Nước ngọt 45,5%
Nước lợ 6,8%
Nước
mặn
ngọt 54,9%
Nước lợ 13,2%
Nước mặn 31,9%
Cá có vẩy 44.151.15
Cá có vẩy 87.498,74
0
Giáp xác 30.863,76
9
Nhuyễn thể 15.857,02
9
Thực vật 6.369,639
Khác 3.511,970
Trang 20Mỹ 4,8%; Châu Á 88,4%; Châu Âu 4,3% và Châu Đại Dương 0,3%
Hình 3: Sản lượng thủy sản nuôi thế giới theo vùng năm 2012
(Nguồn: FAO, 2012)
Sự phân bố sản lượng nuôi trồng thủy sản giữa các vùng và các nước có mức
độ phát triển kinh tế khác nhau vẫn còn chưa cân đối Về mặt số lượng, Châu Á có nghề nuôi thủy sản lớn nhất, chiếm 88,4% sản lượng và 87,3% giá trị sản phẩm nuôi của thế giới năm 2012
Hình 4: Sản lượng nuôi trồng thủy sản thế giới qua các năm
(Nguồn: FAO, 2012)
Năm 2012, tổng sản lượng thủy sản nuôi thế giới đạt khoảng 66.633.253 tấn (không kể thực vật thủy sinh); trong đó Trung Quốc chiếm 61,69%, Ấn Độ 6,32% và Việt Nam 4,63% Mười nước đứng đầu về sản lượng nuôi trồng thủy sản trong năm
2012 theo thứ tự là Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Indonesia, Bangladesh, Na Uy,
Trang 215
Thái Lan, Chile, Ai Cập và Myanmar Năm 2012, sản lƣợng nuôi trồng thủy sản của Việt Nam là 3.085.500 tấn (FAO, 2012)
Bảng 1: Thống kê 10 quốc gia có sản lƣợng thủy sản nuôi cao nhất thế giới 2012
2011 và hội chứng tôm chết sớm (EMS) năm 2012 Sản lƣợng nuôi của Nhật Bản, sau khi giảm còn khoảng 556.761 tấn do thảm họa động đất và sóng thần năm 2011,
đã phục hồi trở lại, với mức sản lƣợng tăng 633.047 tấn năm 2012 (Tổng cục Thủy sản, 2015)
1.1.2.2 Loài và mô hình nuôi
Loài thủy sản nuôi rất phong phú Theo Pillay and Ketty (1990) thì có 465 loài thực vật thủy sinh trong đó rong/tảo là đối tƣợng nuôi chính FAO (1996) đã liệt kê
ra 107 loài cá, 21 loài giáp xác, và 43 loài nhuyễn thể đã đƣợc nuôi vào năm 1994; số lƣợng loài chắc chắn sẽ tăng lên theo hàng năm Nhìn chung, loài thủy sản nuôi trồng rất phong phú (Bảng 2)
Bảng 2: Danh sách một số loài thủy sản quan trọng đƣợc nuôi trên thế giới
Nhóm cá
Trang 226
Giáp xác
26 Macrobrachium rosenbergii Tông Càng Xanh Giant freshwater prawn
Động vật thân mềm
Rong biển
Trang 237
(Nguồn: Nguyễn Thanh Phương và cs., 2012)
Tuy nhiên, tùy từng nơi với mục đích nuôi khác nhau mà sẽ có các đối tượng nuôi khác nhau
Theo FAO (2006) thì ở Châu Á, Trung Quốc và Nam Á nuôi chủ yếu là các loài cá Chép; Đông Á, nuôi chủ yếu các loài cá biển có giá trị cao; vùng Châu Mỹ La Tinh và Caribe, nuôi chủ yếu cá Hồi và Tôm; và vùng Bắc Mỹ nuôi chủ yếu là cá Hồi Đại Tây Dương
Trong số các nước nuôi thủy sản hàng đầu, loài nuôi và hệ thống nuôi cũng rất khác nhau Tại Ấn Độ, Bangladesh, Ai Cập, Myanmar và Brazil, nuôi trồng thủy sản nước ngọt chiếm ưu thế trong khi tiềm năng cho nuôi biển chưa được khai thác hết
Na Uy chủ yếu dựa vào nuôi biển, đặc biệt là nuôi cá Hồi Đại Tây Dương (Salmo salar), với hình thức nuôi lồng trên biển, chiếm thị phần ngày càng tăng trên thị trường quốc tế Tại Chile, sản lượng động vật thân mềm (chủ yếu là sò) và cá có vẩy (nuôi nước ngọt) chiếm ưu thế và chủ yếu phục vụ xuất khẩu Tại Nhật và Hàn Quốc, loài nuôi chính là nhuyễn thể hai mảnh vỏ và cá có vẩy (nuôi lồng trên biển) Tại Thái Lan, sản lượng nuôi giáp xác chiếm 50%, chủ yếu là tôm biển phục vụ xuất khẩu Tại Indonesia, sản lượng cá có vẩy chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản của nước này Khoảng 1/4 sản lượng cá có vẩy (nuôi biển) chủ yếu là cá Măng (Chanos chanos) được thu hoạch từ các lồng trên biển và từ các
ao nước lợ Ngoài ra, Indonesia là nước đứng thứ 4 về sản lượng tôm biển trên thế giới Tại Trung Quốc, loài nuôi và hệ thống nuôi rất đa dạng Sản lượng cá có vẩy (nuôi nước ngọt) chủ yếu cung cấp cho thị trường trong nước (Tổng cục Thủy sản, 2015)
Hình 5: Sản lượng các loài cá nuôi chủ yếu trên thế giới
Trang 248
Ở Việt Nam, nuôi chủ yếu là cá nước ngọt nhập nội (cá Rô Phi, Mè Trắng Trung Quốc, Mè Hoa, Trắm Cỏ, Trôi Ấn Độ, Chim Trắng,…), cá nước ngọt bản địa (Mè Vinh, Thát Lát, Bống Tượng, Rô Đồng, cá Lóc, Lóc Bông, Sặc Rằn, cá Tra, Ba
sa, cá Hú, cá He,…); giáp xác (Tôm Sú, Tôm Thẻ Chân trắng, Tôm Càng Xanh, Tôm Hùm, Cua Biển, ); nhuyễn thể (Nghêu, Sò, Tu Hài, Ốc Hương, Ngọc Trai, Hầu…);
và rong biển (Rong Sụn, Rong Câu,…) Hiện nay, loài nuôi và mô hình nuôi thủy sản
ở Việt Nam khá phong phú nhưng chủ lực vẫn là cá Tra nuôi thâm canh ở vùng nước ngọt và nuôi tôm Sú, tôm Thẻ Chân Trắng ở vùng nước lợ ven biển (Nguyễn Thanh Phương và cs., 2012) Tại Việt Nam, hơn một nửa sản lượng cá được thu hoạch từ nuôi nước ngọt, chủ yếu là cá Tra phục vụ cho xuất khẩu; sản lượng nuôi giáp xác (như tôm biển và tôm Càng Xanh) chỉ thấp hơn Trung Quốc và Thái Lan (Tổng cục Thủy sản, 2015)
1.1.2.3 Trở ngại và định hướng phát triển
Vai trò của nuôi trồng thủy sản là rất to lớn trong việc cung cấp thực phẩm, y học, công nghiệp, nông nghiệp hay giúp xóa đói, giảm nghèo và phát triển kinh tế -
xã hội nói chung của nhiều quốc gia Tuy nhiên, với sự thâm canh hóa ngày càng cao
độ, nghề nuôi đang đối mặt với nhiều thách thức lớn như về ô nhiễm môi trường, suy thoái nguồn lợi, dịch bệnh thủy sản, an toàn vệ sinh thực phẩm, phân cách và mâu thuẫn xã hội,
Các mô hình chiến lược sẽ được phát triển trong thời gian tới có thể gồm: Nuôi thâm canh với hệ thống hoàn chỉnh; nuôi tuần hoàn, nuôi kết hợp và nuôi lồng biển khơi,…
Bên cạnh, nhằm phát triển bền vững nghề nuôi thủy sản, hiện nay, nhiều tổ chức đã nổ lực rất lớn trong việc phát triển các phương thức - quy tắc quản lý tổng hợp đối với nghề nuôi thủy sản và đã bước đầu đã được ứng dụng ở nhiều nơi như: Nuôi tốt (GAP), Thực hành quản lý tốt hơn (BMP), và Nuôi có trách nhiệm (William, 2002; Boyd 2003; World Bank/MOF, 2006; FAO-NACA-UNEP-WB-WWF, 2006)
1.2 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ HIỆN TRẠNG NUÔI THỦY SẢN VIỆT NAM
1.2.1 Lịch sử phát triển nuôi thủy sản Việt Nam
1.2.1.1 Nuôi thủy sản Việt Nam trước năm 1954
Trước thế kỷ 20, nghề nuôi thủy sản ở Việt Nam gần như chưa phát triển Mãi đến những năm của thập niên 30, nghề nuôi thủy sản và chủ yếu là nuôi thủy sản nước ngọt mới thực sự hình thành và tập trung ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam Sự mở rộng phạm vi nuôi cá và số lượng ao hồ nuôi cá ngày càng tăng lên không ngừng có liên quan mật thiết đến một bộ phận dân cư chuyên nghiệp trong nghề thu vớt và nuôi cá giống từ tự nhiên Bên cạnh đó, nghề nuôi cá Chép trên ruộng lúa ở vùng núi phía Bắc cũng được phát triển
Trang 259
Tại miền Trung, việc nuôi cá nước ngọt không mấy phát triển, ngoại trừ một vài khu vực ở Thanh Hóa còn chịu ảnh hưởng, kinh nghiệm của nghề nuôi thủy sản ở miền Bắc Việt Nam phát triển
Riêng đối với khu vực miền Nam, sự phong phú về nguồn cá trong các khu vực nước tại chỗ, cùng sản lượng cá dồi dào từ Campuchia đổ về là nguyên nhân khiến cho nông dân không cần nghĩ đến việc đào ao, hồ để thả cá Mãi đến những năm 40, khi nguồn cá ngày càng có xu hướng giảm thấp và số lượng cư dân liên tục gia tăng,
ở đây mới bắt đầu thịnh hành với nghề nuôi cá nước ngọt Hàng năm, vào khoảng tháng 6, cá Tra bột, hương và giống từ biển Hồ Campuchia trôi về, thì cư dân ven bờ sông Mekong vùng giáp biên giới Việt Nam - Campuchia chuyên làm nghề vớt cá và nuôi cá giống bắt đầu hoạt động Lúc bấy giờ, tại các ao, hầm nuôi cá ở miền Nam, người ta cũng tiến hành những bước chuẩn bị như ở miền Bắc Thức ăn của cá Tra chủ yếu là chất thải từ chuồng heo và phân người Ngoài cá Tra, ở miền Nam lúc này còn có nuôi một số đối tượng khác như cá Ba sa, Vồ Đém, cá Chép, Rô Phi, Tai Tượng, cá Hường, cá He,…
Nhìn chung, đến giữa đầu thế kỷ 20, nghề nuôi thủy sản nước ngọt chỉ phát triển nhiều ở miền Bắc, còn ở miền Nam chỉ mới bắt đầu Trong khi đó ở khu vực miền Trung xem như vẫn chưa có sự đổi thay nào đáng kể trong tiến trình hình thành nghề nuôi cá ở Việt Nam Sự phát triển thiếu đồng bộ đó một phần do khác nhau về điều kiện địa lý, vùng sinh thái, dân số, tập quán sinh hoạt, hoạt động sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế và đời sống
1.2.1.2 Nuôi thủy sản Việt Nam từ năm 1954 đến nay
Từ ngày miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và tiến lên chủ nghĩa xã hội, nuôi trồng thủy sản đã được Đảng và Nhà nước quan tâm khuyến khích và chỉ đạo nên ngày càng phát triển với bước đi cụ thể Nghề vớt cá bột trên sông Hồng vẫn tiếp tục phát triển và cung cấp nguồn cá giống chủ yếu cho hoạt động nuôi cá ở miền Bắc Các loài cá bột chủ yếu được vớt là: cá Mè, cá Trôi, Trắm Cỏ, Trắm Đen,… Cùng với nghề vớt cá bột, nghề ương cá giống cũng không ngừng được cải tiến để nâng cao tỷ lệ sống của cá bột
Ngoài việc nghiên cứu và sản xuất thành công một số loài cá nước ngọt như cá
Mè Hoa (Aristichtys nobilis) vào năm 1963-1964 Việc di nhập, thuần hóa và lai tạo
các loài cá cũng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Loài cá đầu tiên được
nhập vào miền Bắc nước ta là cá Rô Phi đen (Oreochromis mossambicus) 1951 từ Indonesia Đến năm 1973, cá Rô Phi vằn (Oreochromis niloticus) đã được nhập từ Đài Loan Cá Mè Trắng Hoa Nam (Hypophthalmichthys molitrix) nhập từ Trung
quốc vào năm 1964 và cho sinh sản thành công cung cấp giống cho người nuôi Đến năm 1971-1972 hai dòng cá Chép được nhập từ Hungary So với cá Chép Việt Nam, cá Chép Hungary có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn (Dương Nhựt Long, 2003)
Trang 2610
Mặt khác, để nâng cao hơn nữa hiệu quả nuôi cá, các nhà khoa học trong thời
kỳ này đã có nhiều công trình nghiên cứu về cơ cấu, mật độ, tỷ lệ ghép các loài cá trong ao nuôi Các hình thức nuôi cá ao, cá ruộng, cá nước chảy, cá nước tĩnh cũng được nghiên cứu Song song đó, các vấn đề nghiên cứu về thức ăn, cải tiến kỹ thuật
để nâng cao năng suất cá nuôi, phòng trị bệnh cho cá nuôi cũng được thực hiện Trong thời kỳ này, nghề nuôi thủy sản nước ngọt ở miền Nam cũng chưa thực
sự phát triển Nguồn lợi cá nước ngọt chủ yếu vẫn là nguồn cá đồng (cá Lóc, Rô Đồng, Trê Vàng, Thát Lát, Sặc Rằn, ) Mô hình nuôi cá Tra ao vẫn là mô hình nuôi
cá nước ngọt chủ yếu Ngoài ra, năm 1960 nghề nuôi cá bè được du nhập vào miền Nam tại các vùng Châu Đốc, Châu Phú, Phú Tân, Tân Châu, Chợ Mới (An Giang), Hồng Ngự (Đồng Tháp) với các đối tượng nuôi chính là cá Ba sa, Vồ Đém, Chài, He
Vàng, Lóc Bông Cá Mùi (Cá Hường - Heslostoma temmincki) là loài cá duy nhất
được nhập vào miền Nam trước năm 1975; lúc đầu cá được nhập vào làm cá cảnh, nhưng sau đó cá sinh sản dễ dàng trong ao, mương vườn và ruộng lúa, cá lớn nhanh nên chúng chuyển thành đối tượng nuôi ở các tỉnh Nam bộ Năm 1975 đã nhập thêm
cá Trê Phi (Clarias gariepinus) (Dương Nhựt Long, 2003)
1.2.2 Hiện trạng nuôi thủy sản Việt Nam
1.2.2.1 Diện tích và sản lượng nuôi thủy sản Việt Nam
Theo tổng cục Thủy sản, nuôi trồng thủy sản từ chỗ là một nghề sản xuất phụ, mang tính chất tự cấp tự túc, đã trở thành một ngành sản xuất hàng hóa tập trung với trình độ kỹ thuật tiên tiến, phát triển ở tất cả các thủy vực nước ngọt, nước lợ và nước mặn theo hướng bền vững bảo vệ môi trường, hài hòa với các ngành kinh tế khác Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản tăng liên tục từ năm 1981 đến nay Từ 230.000 ha năm 1981, đến nay diện tích nuôi thủy sản đã đạt hơn 1.000.000 ha
Bảng 3: Diện tích nuôi trồng thủy sản (nghìn ha) của Việt Nam từ 2000-2012
Năm Tổng số
Nuôi nước lợ, mặn
Nuôi nước ngọt
Ươm, nuôi
Thủy sản khác
Giống thủy sản
Trang 2711
Năm Tổng số
Nuôi nước lợ, mặn
Nuôi nước ngọt
Ươm, nuôi giống
Thủy sản khác
Giống thủy sản
Nuôi trồng đã và đang từng bước trở thành một trong những ngành sản xuất hàng hóa chủ lực, phát triển rộng khắp và có vị trí quan trọng và đang hướng đến xây dựng các vùng sản xuất tập trung Các đối tượng có giá trị cao có khả năng xuất khẩu
đã được tập trung đầu tư, khuyến khích phát triển, hiệu quả tốt Phát huy được tiềm năng tự nhiên, nguồn vốn và sự sáng tạo trong doanh nghiệp và ngư dân, nuôi trồng thủy sản đang góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, cũng như thực hiện xóa đói giảm nghèo ở các vùng miền đất nước
Trang 2913
Hình 6: Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản Việt Nam từ 2000-2012
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2013)
Hình 7: Tỷ trọng sản lượng nuôi trồng thủy sản Việt Nam năm 2012
phân theo vùng (Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2013)
Về sản lượng thủy sản nuôi trồng thủy sản trên thế giới, năm 1997 Việt Nam
đứng hàng thứ 11 trên thế giới, sau đó không ngừng tăng lên Đến những năm 2005-2012 sản lượng nuôi trồng thủy sản Việt Nam đã vươn lên và liên tục đứng
hàng thứ 3 trên thế giới chỉ sau Trung Quốc, Ấn Độ (FAO, 2012)
1.2.2.2 Nuôi thủy sản vùng Đồng bằng sông Cửu Long
a) Diện tích và sản lượng nuôi thủy sản
Trong những năm qua, nuôi thủy sản đã trở thành thế mạnh kinh tế quan trọng
ở Đồng bằng sông Cửu Long Qua đó, diện tích mặt nước nuôi và sản lượng nuôi
0 500 1000 1500 2000 2500 3000 3500
ĐBSH 14,6%
TD & MNPB 2,6%
BTB & DHMT 6,2%
TN 0,8%
ĐNB 3,4%
ĐBSCL 72,4%
ĐBSH: Đồng bằng sông Hồng TD & MNPB: Trung du và miền núi phía Bắc
BTB & DHMT: Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung TN: Tây Nguyên
ĐNB: Đông Nam bộ ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 3014
thủy sản không ngừng gia tăng Sản lượng nuôi thủy sản của Đồng bằng sông Cửu Long gia tăng rất nhanh, điều này minh chứng là mức độ thâm canh trong nuôi thủy sản ngày càng được chú trọng và càng được nâng cao hơn
- Diện tích mặt nước nuôi thủy sản
Tổng diện tích mặt nước nuôi thủy sản của Đồng bằng sông Cửu Long từ năm 2000-2012 dao động từ 445.300 ha đến 752.200 ha Năm 2000, diện tích mặt nước nuôi thủy sản của Đồng bằng sông Cửu Long là 445.300 ha; đến năm 2008 đã tăng lên 752.200 ha, sau đó giảm xuống còn 734.100 ha vào năm 2012
- Sản lượng nuôi thủy sản
Sản lượng thủy sản nuôi của Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2003-2012 tăng trưởng rất nhanh Năm 2012 sản lượng nuôi thủy sản của Đồng bằng sông Cửu Long đạt 2.256.889 tấn so với 2003 là 634.798 tấn, đã tăng lên 1.622.091 tấn (tương ứng tăng 255,5% so với năm 2003) Sản lượng nuôi của Đồng bằng sông Cửu Long luôn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu sản lượng nuôi trồng chung của cả nước Năm
2003 tỷ trọng này là 63,2% và đến năm 2012 là 72,4%; cá biệt trong năm 2008 tỷ trọng này là 74,6%
Bảng 6: Sản lượng nuôi thủy sản của Đồng bằng sông Cửu Long từ 2000-2012
Trang 31Năm 2013, diện tích nuôi cá Tra năm là 5.556 ha, đã giảm đi 354 ha (tương ứng giảm 5,99%) so với năm 2012 Sản lượng cá Tra năm 2013 đạt 1.131.000 tấn, giảm 154.000 tấn (tương ứng giảm 11,98%) so với năm 2012 Đến tháng 12/2013, có
30 trại nuôi cá Tra (230.000 tấn, >20% sản lượng) đạt chứng nhận ASC; 103 trại nuôi cá Tra (40% sản lượng) đạt chứng nhận Global GAP/BAP (Dương Nhựt Long
(Nguồn: Dương Nhựt Long và cs., 2014)
Theo Tổng cục Thống kê, năm 2014 diện tích nuôi cá Tra ở Đồng bằng sông Cửu Long ước đạt 5.500 ha với sản lượng 1,1 triệu tấn Kim ngạch xuất khẩu đạt gần 1,77 triệu USD, tăng nhẹ 0,4% so với năm 2013 Trong năm 2014, hai tỉnh Đồng
0 500 1000 1500 2000 2500
Trang 3216
Tháp và An Giang có sản lượng cá Tra lớn nhất vùng nhưng sản lượng giảm nhẹ so
với cùng kỳ năm trước, Đồng Tháp (-2%), An Giang (-8%) Chỉ riêng Hậu Giang,
diện tích giảm 12% so với cùng kỳ, nhưng sản lượng lại tăng đáng kể, đạt 70.905 tấn,
tăng 102% so với cùng kỳ năm 2013 (Vasep, 2015)
Hình 9: Các tỉnh có sản lượng cá Tra lớn nhất trong năm 2014
(Nguồn: Vasep, 2015)
Cá Rô Phi
Cá Rô Phi đã và đang là mặt hàng được ưa chuộng trong nước và trên quốc tế;
đây là mặt hàng cá thịt trắng có chất lượng thịt cao, có thể thay thế dần các loài cá
biển đang cạn kiệt dần nguồn lợi Hiện cá Rô Phi được xuất khẩu dưới dạng phi lê
đông lạnh, cá nguyên con đông lạnh và cá tươi sống tới các thị trường Mỹ, Nhật Bản,
Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông Nhu cầu cá Rô Phi cho xuất khẩu và tiêu thụ
trong nước khá cao, nếu được phát triển có quy hoạch với quy mô lớn, mặt hàng cá
Rô Phi sẽ tham gia nhiều hơn vào thị trường xuất khẩu (Dương Nhựt Long và cs.,
2014)
Hiện nay, cá Rô Phi được nuôi trong lồng bè và trong ao, cả trong môi trường
nước ngọt và nước lợ Cá Rô Phi vằn chủ yếu được nuôi ở các tỉnh phía Bắc và cá Rô
Phi đỏ được nuôi ở các tỉnh phía Nam Theo Tổng cục Thủy sản, năm 2014 diện tích
nuôi cá Rô Phi trong ao hồ cả nước ước đạt 16.000 ha, nuôi lồng bè đạt hơn 410.000 m3; ước sản lượng đạt 125.000 tấn, tăng 25% so với cùng kỳ Cá Rô Phi
hiện đang là đối tượng nuôi có thị trường tiêu thụ tốt trong nước lẫn xuất khẩu và
cũng là một trong những đối tượng chủ lực trong kế hoạch tái cơ cấu của ngành thủy
sản Năm 2015, kế hoạch nuôi cá Rô Phi trong ao khoảng 21.000 ha, nuôi lồng bè
khoảng 1.000.000 m3, sản lượng khoảng 150.000 tấn, nhu cầu con giống khoảng 1 tỷ
con
Các loài cá truyền thống
Bao gồm cá Lóc, Lóc Bông, Rô Đồng, Sặc Rằn, Trê Vàng, Bống Tượng, Thát
Lát Cườm, cá Chép, Mè Vinh,…cũng được ương và nuôi phổ biến hiện nay
- Các mô hình nuôi cá nước ngọt
Đồng Tháp 29,1%
An Giang 24,7%
Cần Thơ 13,7%
Bến Tre 10,6%
Vĩnh Long 9,5%
Tiền Giang 3,5%
Trang 3317
Đa dạng hóa mô hình nuôi là một trong những chương trình phát triển trọng điểm của ngành thủy sản nước ta Trong suốt thời gian qua các mô hình nuôi quảng canh, quy mô nhỏ, không được đầu tư đúng mức đã được thay thế dần bằng mô hình nuôi cá thâm canh, năng suất cao đã đóng góp quan trọng vào việc làm tăng sản lượng và giá trị cá nước ngọt trong vùng và cả nước
Hiện nay, các mô hình nuôi cá nước ngọt đạt hiệu quả của vùng Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm:
Mô hình nuôi luân canh, kết hợp cá trong ruộng lúa ngập nước
Mô hình nuôi cá thâm canh trong ao đất
Mô hình nuôi cá thâm canh trong các lồng bè
Mô hình nuôi cá thâm canh trong bể (bể xi măng hay bể composite hoặc
bể lót bạt)
Mô hình nuôi cá trong đăng quầng
Mô hình nuôi cá trong giai lưới (vèo lưới)
Mô hình nuôi cá trong hệ thống tuần hoàn
c) Sản xuất giống các loài cá nước ngọt
Do diện tích nuôi thủy sản nước ngọt ngày càng gia tăng, nguồn giống khai thác từ tự nhiên giảm sút nghiêm trọng, nên việc tăng cường sản xuất nhân tạo là rất cần thiết Ngoài những thành công về sinh sản nhân tạo các loài cá nuôi truyền thống như Mè, Trắm, Chép, nhiều loài cá trước đây phải vớt giống ngoài tự nhiên đã được cho sinh sản thành công Thành công lớn nhất phải kể đến là sản xuất giống cá Tra,
Ba sa Ngoài ra, các loài cá đồng cá giá trị kinh tế cao như cá Lóc, cá Rô Đồng, Sặc Rằn, Thát Lát, Trê Vàng cũng được sinh sản nhân tạo thành công và chuyển giao đến người nuôi, nhằm tăng cường nguồn giống các loài cá đồng chất lượng cao cho các
mô hình nuôi Hoạt động sinh sản nhân tạo và ương nuôi thành công các đối tượng quý hiếm như cá Hô, cá Kết, cá Leo, cá Trèn Bầu, Lăng Vàng, Lăng Nha, cá Heo nước ngọt,…đã góp phần thúc đẩy nghề nuôi cá nước ngọt phát triển
d) Di nhập và thuần hóa các loài cá nước ngọt
Trước năm 1975, nghề nuôi cá nước ngọt miền Nam vẫn chưa thật sự phát triển, nguồn cá thực phẩm chủ yếu vẫn là cá đồng Thời kỳ này, một số loài cá được
di nhập vào nuôi ở miền Nam Việt Nam và phát triển thành các loài cá nuôi thương
phẩm Cá Mùi (cá Hường - Helostoma temmincki) là loài cá được di nhập vào miền
Nam như một loài cá cảnh, nhưng sau đó do cá sinh sản dễ dàng trong ao và ruộng,
cá lớn nhanh nên được chuyển thành đối tượng nuôi thịt ở các tỉnh Nam bộ Cá Rô
Phi vằn (Oreochromis niloticus) được nhập từ Đài Loan vào miền Nam năm 1973
sau đó chuyển ra miền Bắc
Trang 3418
Năm 1975, cá Trê Phi (Clarias gariepinus) được nhập vào miền Nam, đây là
loài cá ăn tạp, sinh trưởng rất nhanh, chịu đựng tốt với môi trường khắc nghiệt Tuy nhiên, do không thích hợp với thị hiếu của người tiêu dùng nên loài cá này không được phát triển nuôi Đến năm 1983, đã cho lai tạo thành công giữa cá Trê Phi và cá Trê Vàng tạo ra cá Trê Vàng lai, có sức lớn nhanh, ăn tạp, ít bệnh tật, là đối tượng nuôi được nhiều người ưa thích Hiện nay, cá Trê Vàng lai đang là đối tượng nuôi chính ở một số khu vực của Đồng bằng sông Cửu Long Cùng với sự di nhập các loài
cá Mè Trắng, Mè Hoa, Trắm Cỏ, cá Chép từ miền Bắc vào những năm đầu của thập niên 80, nghề nuôi cá nước ngọt bắt đầu phát triển mạnh ở Đồng bằng sông Cửu Long
Năm 1984, nhóm cá Chép Ấn Độ được di nhập vào Đồng bằng sông Cửu
Long Nhóm này gồm 3 loài: Rohu (Labeo rohita), Mri-gal (Cirrhinus mrigala) và Catla (Catla catla) Từ năm 1984 đến nay, ba loài cá này đã chiếm vị trí quan trọng
trong cơ cấu loài cá nuôi và đã có những đóng góp đáng kể làm tăng sản lượng cá nuôi, góp phần tích cực cải thiện đời sống người lao động
Trong thời gian gần đây, một vài đối tượng nuôi mới cũng được di nhập vào Đồng bằng sông Cửu Long và trở thành những loài nuôi có giá trị cao Cá Rô Phi đỏ (Red Tilapia) lần đầu tiên được Khoa Thủy sản Trường Đại học Nông Lâm và Khoa Thủy sản Trường Đại học Cần Thơ di nhập vào Đồng bằng sông Cửu Long năm
1991, nhưng mãi đến 1996, khi mang một cái tên mới là cá Điêu Hồng thì nghề nuôi
cá Rô Phi đỏ mới thật sự phát triển Năm 1999 cá Chim Trắng (Colossoma
brachypomum) cũng được nhập vào miền Nam (di giống từ miền Bắc và Trung
Quốc), đây là loài cá có phổ thức ăn rộng, dễ chuyển đổi tính ăn, dễ ương nuôi và có tốc độ tăng trưởng nhanh nên được nhiều người chọn làm đối tượng nuôi
e) Phòng trị bệnh cho các loài cá nước ngọt
Việc nuôi cá thâm canh với mật độ cao, thức ăn cung cấp nhiều nên môi trường nuôi thường bị ô nhiễm là nguyên nhân xuất hiện một số bệnh thủy sản trong các mô hình nuôi cá nước ngọt Nghiên cứu về ký sinh trùng ở cá, tôm nước ngọt vùng Đồng bằng sông Cửu Long và một số biện pháp dự phòng, nhiều nghiên cứu xác định các giải pháp kỹ thuật ứng dụng phòng và điều trị bệnh trên các đối tượng nuôi ở lồng bè như cá Tra, Ba sa, Bống Tượng, cũng như các đối tượng nuôi trong ao, giai lưới như
cá Lóc, Rô Đồng và Thát Lát cườm đã được nghiên cứu (Dương Nhựt Long và cs., 2014)
f) Sử dụng và sản xuất thức ăn cung cấp cho các mô hình nuôi
Để nâng cao hiệu quả nghề nuôi cá nước ngọt, việc khuyến khích người nuôi
sử dụng các nguồn nguyên liệu sẵn có ở các địa phương, rẻ tiền để nuôi cá cần được tiếp tục phát triển Tuy nhiên, trong mô hình nuôi thâm canh, nhằm bảo vệ môi
Trang 35g) Tiềm năng và phương hướng phát triển nuôi thủy sản nước ngọt
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích tự nhiên 39.734 km2 (3,9734 triệu ha), chiếm 12,2% diện tích tự nhiên của cả nước Đây là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, thực phẩm lớn nhất cả nước
Theo quyết định số 1445/QĐ-TTg ngày 16/8/2013 về quy hoạch tổng thể phát
triển thủy sản đến năm 2020, tầm nhìn 2030, vùng Đồng bằng sông Cửu Long tiếp
tục khai thác lợi thế hệ thống sông ngòi bãi bồi ven sông phát triển nuôi thủy sản nước ngọt với các đối tượng chủ yếu: cá Tra, cá Rô Phi, Tôm Càng Xanh, cá bản địa,…theo phương thức thâm canh, bán thâm canh hoặc kết hợp Diện tích tích nuôi thủy sản đến năm 2020 ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 805.460 ha, trong đó cá diện tích nuôi công nghiệp Tra 10.000 ha Sản lượng nuôi thủy sản vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 2.976.420 tấn, trong đó cá Tra khoảng 1,8-2 triệu tấn, tốc độ tăng trưởng bình quân 4,8%/năm; cá Rô Phi khoảng 150.000 tấn, tốc độ tăng trưởng bình quân 13,9%/năm và Tôm Càng Xanh khoảng 35.000-40.000 tấn, tốc độ tăng trưởng bình quân 15%/năm
Theo Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản (2009), cá Rô Phi sẽ trở thành đối tượng chủ lực của vùng và được nuôi ở các loại hình mặt nước ngọt và lợ theo hình thức nuôi chuyên cao sản, nuôi bán thâm canh và nuôi lồng bè Nuôi lồng bè cá Rô Phi chỉ tập trung ở các địa phương ven sông Tiền và sông Hậu, một phần lồng bè nuôi được chuyển từ lồng bè nuôi cá Tra, cá Ba sa Đến năm 2015 tổng diện tích nuôi khoảng 18.250 ha, bao gồm 1.530 ha nuôi thâm canh, 16.720 ha nuôi bán thâm canh và 5.850 lồng bè Định hướng đến năm 2020 đưa tổng diện tích nuôi cá Rô Phi khoảng 31.500 ha, trong đó nuôi thâm canh 2.030 ha, bán thâm canh 29.470 ha và 7.070 lồng bè; sản lượng nuôi đạt khoảng 295.400 tấn
Đến năm 2015 tiếp tục mở rộng diện tích nuôi Tôm Càng Xanh tới 26.900 ha, trong đó chuyên canh 6.050 ha và nuôi tôm - lúa 20.850 ha Định hướng quy hoạch đến năm 2020 lên 35.150 ha, trong đó diện tích nuôi chuyên tôm đạt 8.550 ha và nuôi tôm - lúa 26.600 ha Tổng sản lượng Tôm Càng Xanh nuôi năm 2020 đạt 49.000 tấn Diện tích nuôi cá Lóc đến năm 2015 là 2.200 ha, định hướng đến năm
Trang 36CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Phân tích sự phát triển của nuôi thủy sản thế giới và Việt Nam
2 Anh/Chị hãy phân tích vì sao Việt Nam là một trong vài nước có sản lượng nuôi trồng thủy sản lớn nhất thế giới?
3 Đánh giá hiện trạng nuôi thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long
4 Anh/Chị hãy cho biết tiềm năng và định hướng phát triển nuôi thủy sản ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long?
4 Đề xuất một số giải pháp xây dựng và phát triển hiệu quả, bền vững các mô hình nuôi thủy sản ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 3721
CHƯƠNG 2
KỸ THUẬT NUÔI CÁ THÂM CANH
2.1 NGUYÊN LÝ NUÔI CÁ NƯỚC NGỌT
2.1.1 Chọn địa điểm xây dựng mô hình nuôi
Địa điểm xây dựng mô hình nuôi phải tuân thủ theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc
gia cơ sở nuôi trồng thủy sản thương phẩm - Điều kiện vệ sinh thú y
(QCVN01-80:2011/BNNPTNT) được ban hành kèm theo thông tư số 71/2011/TT-BNNPTNT ngày 25/10/21011)
Đại điểm xây dựng phải nằm trong vùng được quy hoạch cho từng đối tượng thủy sản nuôi của địa phương hoặc của cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Gần nguồn nước, thuận lợi cho việc cấp và thoát nước dễ dàng, phải đủ nước sử dụng trong suốt quá trình nuôi Có nguồn điện ổn định, giao thông thuận lợi, tách biệt các khu công nghiệp, nhà máy hóa chất và chế biến thực phẩm,
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn địa điểm xây dựng ao/trại nuôi cá nước ngọt Có những yếu tố ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống nuôi như điều kiện khí hậu, cao trình mặt bằng, tính chất của đất, nguồn nước cho hệ thống nuôi, đường giao thông, phương tiện vận chuyển đến thị trường, sự bảo vệ trước thiên tai, nguồn lao động chuyên môn và giản đơn, an ninh khu vực, Vì vậy, cần phải chọn địa điểm thích hợp để hệ thống nuôi vận hành hiệu quả
2.1.1.1 Tính chất đất và loại đất
Tính chất đất không những ảnh hưởng đến chất lượng nước và năng suất cá nuôi mà còn thích hợp cho việc xây dựng bờ ao giúp ao có thể duy trì mực nước thích hợp Đất sét pha cát hay sét pha bùn với tỷ lệ cát và bùn thấp thích hợp để có thể đào ao nuôi cá
2.1.1.2 Nguồn nước cấp và chất lượng nước cấp
Nguồn nước cấp có chất lượng phù hợp là điều rất quan trọng cho toàn hệ thống nuôi Thông thường, nước cấp cho hệ thống nuôi cá nước ngọt thâm canh từ sông, kênh rạch Tuy nhiên, tùy từng vị trí của ao/trại nuôi và thời điểm khác nhau trong năm mà lượng nước mặt có sẵn này thay đổi theo mùa Một số ao/trại nuôi có thể cấp thoát nước dễ dàng theo thủy triều, nhưng cũng có nhiều ao/trại nuôi phải sử dụng máy bơm để cấp thoát nước (Dương Nhựt Long và cs., 2014)
Nước phải đảm bảo sạch và các yếu tố thủy lý hóa, thủy sinh phù hợp với đối tượng nuôi thâm canh Chất lượng nước ngọt để nuôi cá nước ngọt thâm canh phải đảm bảo những yêu cầu quy định
Trang 3822
2.1.1.3 Nguồn chất gây ô nhiễm
Cần phải khảo sát cẩn thận các nguồn gây ô nhiễm hoặc có nguy cơ gây ô nhiễm cũng như các chất gây ô nhiễm ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước cấp cho vùng nuôi (nước thải từ các khu công nghiệp, nước thải từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp hoặc nước thải từ các khu dân cư) Cần lưu ý nước thải từ ao nuôi thâm canh thải ra môi trường có thể ảnh hưởng đến môi trường sinh thái xung quanh, do
đó cần phải có khu vực xử lý nước thải này trước khi cho thải ra môi trường ngoài
2.1.1.4 Quy hoạch và phát triển vùng nuôi
Chọn địa điểm cho ao/trại nuôi cá thâm canh phải tuân thủ các yêu cầu, thủ tục theo quyết định của địa phương về quy hoạch sử dụng đất và nước cùng khả năng về nguồn lợi thủy sản, cũng như giá trị từ sản phẩm thủy sản mang lại thông qua xuất khẩu hoặc tiêu dùng trong nước và khu vực Mặt khác, việc quy hoạch và phát triển vùng nuôi thâm canh còn căn cứ vào vị trí địa lý kết hợp định hướng nhiệm vụ chiến lược trong phương hướng khai thác tổng thể tiềm năng ở địa phương đạt mục tiêu phát triển bền vững, đóng góp tích cực vào sự phát triển của xã hội (Dương Nhựt Long và cs., 2014)
2.1.2 Khái niệm về phương thức nuôi
2.1.2.1 Nuôi đơn (monoculture)
Nuôi đơn là nuôi một loài cá duy nhất, thường được áp dụng khi nguồn thức ăn được chủ động cung cấp cho hệ thống nuôi Nuôi đơn đầu tư và mang lợi nhuận nhiều hơn trong hệ thống nuôi thâm canh và loài cá nuôi có giá trị thương phẩm cao,
có thị trường tiêu thụ như mô hình nuôi đơn cá Tra, cá Lóc, cá Trê, Rô Đồng, Rô Phi, Bống Tượng, Thát Lát cườm,… Những loài cá này thường được nuôi đơn trong ao đất, bè và bể (bể lót bạt, bể xi măng, bể composite) Nuôi đơn thường áp dụng cho hình thức nuôi thâm canh và siêu thâm canh (Dương Nhựt Long và cs., 2014)
2.1.2.2 Nuôi ghép (polyculture)
Nuôi ghép là nuôi từ hai loài cá trở lên trong cùng một thủy vực Các loài cá tận dụng một cách hiệu quả các tầng nước và thức ăn sẵn có trong thủy vực Nuôi ghép các loài cá như cá Mè Trắng (ăn thực vật phiêu sinh), cá Trắm Cỏ (ăn thực vật bậc cao thủy sinh), cá Mè Hoa (ăn động vật phiêu sinh) và cá Chép (ăn động vật đáy) Nuôi ghép cá Lóc và cá Rô Phi trong ao đất để kiểm soát mật độ và kích cỡ cá
Rô Phi, nuôi ghép cá Sặc Rằn với cá Thát Lát cườm để tận dụng mùn bã hữu cơ sinh
ra trong quá trình nuôi cá,… Nuôi ghép thường áp dụng cho hình thức nuôi quảng canh và bán thâm canh (Dương Nhựt Long và cs., 2014)
2.1.3 Chọn loài cá thả nuôi
Sự lựa chọn loài cá thả nuôi trong mô hình nuôi cá nước ngọt tùy thuộc vào:
- Mục đích nuôi và quy mô nuôi
Trang 3923
- Nguồn giống sẵn có và tốc độ tăng trưởng của cá
- Sự lựa chọn của người nuôi và người tiêu dùng
- Một số đặc điểm sinh học của đối tượng nuôi (đặc điểm phân bố, sinh thái, dinh dưỡng, sinh trưởng, năng suất và sinh sản…)
2.1.4 Kỹ thuật ứng dụng nuôi
Trong thực tiễn sản xuất thường gặp các hình thức kỹ thuật nuôi cá như sau:
Nuôi quảng canh (extensive culture)
Nuôi quảng canh là hình thức nuôi có mức độ kiểm soát hệ thống nuôi thấp (môi trường, thức ăn, dịch bệnh…); kỹ thuật nuôi và hiệu quả sản xuất đều thấp (năng suất < 500 kg/ha/năm); phụ thuộc nhiều vào thời tiết, chất lượng nước và không chủ động được thức ăn tự nhiên cho cá; nuôi tận dụng mặt nước tự nhiên (ví dụ: nuôi đầm phá, vịnh, eo ngách, ruộng lúa mùa lũ); và không chủ động được thức
ăn tự nhiên cho cá (Nguyễn Thanh Phương và cs., 2012)
Nuôi quảng canh cải tiến (improved extensive culture)
Nuôi quảng canh cải tiến là hình thức nuôi có năng suất từ 0,5-5 tấn/ha/năm; có thể cho ăn bổ sung bằng thức ăn chất lượng thấp; giống được sản xuất từ các trại (giống nhân tạo) hay thu gom ngoài tự nhiên; bón phân vô cơ hay hữu cơ thường xuyên; quan sát một số yếu tố chất lượng nước đơn giản Tiêu biểu là nuôi trong ao, lồng đơn giản (Nguyễn Thanh Phương và cs., 2012)
Nuôi bán thâm canh (semi - inextensive culture)
Nuôi bán thâm canh là hình thức nuôi có năng suất 2-20 tấn /ha/năm; lệ thuộc nhiều vào nguồn thức ăn tự nhiên nhờ bón phân hay cho ăn bổ sung; giống được sản xuất từ các trại (giống nhân tạo); bón phân định kỳ, trao đổi nước hay sục khí định kỳ; cấp nước bằng máy bơm hay tự chảy Tiêu biểu hình thức nuôi này là nuôi ao, mương vườn và ruộng lúa luân canh (Nguyễn Thanh Phương và cs., 2012)
Nuôi thâm canh (inextensive culture)
Nuôi thâm canh là hình thức nuôi có năng suất <200 tấn /ha/năm; kiểm soát tốt các điều kiện nuôi; kỹ thuật nuôi và hiệu quả sản xuất đều cao; có xu hướng tiến tới chủ động kiểm soát tất cả các điều kiện nuôi (thức ăn và chất lượng nước); và hệ thống nuôi có tính nhân tạo cao (Nguyễn Thanh Phương và cs., 2012)
Nuôi siêu thâm canh (alternative culture)
Nuôi siêu thâm canh là hình thức nuôi năng suất cao, trung bình >200 tấn/ha/năm; sử dụng thức ăn viên công nghiệp có thành phần dinh dưỡng phù hợp nhu cầu của loài nuôi; giống được sản xuất từ các trại (giống nhân tạo); không dùng phân bón; kiểm soát hoàn toàn các điều kiện nuôi (nước tự chảy, thay nước tuần hoàn chủ động, kiểm soát chất lượng nước, sục khí…) Tiêu biểu cho hình thức nuôi
Trang 40về thị trường tiêu thụ sản phẩm và giá bán sản phẩm thường thấp
2.1.5.2 Nuôi trái vụ
Nuôi trái vụ có thể thả cá nuôi sớm từ tháng 2-3 đến tháng 6-7 hoặc nuôi trễ từ tháng 10-11 đến tháng 2-3 năm sau Nuôi trái vụ đòi hỏi người nuôi phải có kỹ thuật cao mới đảm bảo kích cỡ cá đạt thương phẩm khi thu hoạch Nuôi trái vụ phải đầu tư nhiều chi phí hơn do các yếu tố môi trường nước thường bất lợi cho cá nuôi Tuy nhiên, khi nuôi cá trái vụ thì giá bán sản phẩm sẽ cao (Dương Nhựt Long và cs., 2014)
2.1.6 Chọn giống thả nuôi
Cá giống phải khỏe mạnh, đáp ứng yêu cầu theo quy định của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn đối với từng đối tượng Cá giống phải có giấy chứng nhận kiểm dịch do cơ quan có thẩm quyền cấp (Dương Nhựt Long và cs., 2014)
Khi chọn cá giống thả nuôi có thể căn cứ theo một số tiêu chuẩn sau:
- Ngoại hình: Khỏe mạnh, cân đối, không bị thương tật
- Màu sắc: Bóng sáng, thể hiện được màu đặc trưng của loài
- Kích cỡ: Phải đồng cỡ, nhất là những loài cá ăn động vật hay ăn tạp thiên
về động vật Kích cỡ cá giống chọn thả nuôi phải đúng theo quy định của cơ quan quản lý chuyên môn
- Trạng thái hoạt động: Nhanh nhẹn Sống thầy bầy, đàn
- Tuổi của con giống: Thông thường thả cá giống 1-2 tháng tuổi để nuôi Đối
với cá Tra, chiều dài con giống thả nuôi dao động từ 8-12 cm Trong thực tiễn sản xuất, người nuôi thường ưa chuộng thả con giống có kích thước lớn, thường là sau 2 tháng ương giống, tiếp tục ương dưỡng thêm 1 tháng tuổi nữa mới đưa ra thả nuôi Kích thước con giống lúc này từ 1,5-1,7 cm chiều cao thân
- Tình trạng sức khỏe: Cá phải khỏe mạnh (thông qua hoạt động bơi lội
nhanh nhẹn, màu sắc, kích cỡ…)