Ông sáng tác thơ từ sớm và cùng với Hàn Mặc Tử , Chế Lan Viên , Quách Tấn hợp thành Bàn thành tứ hữu (bốn người bạn thơ đất Bình Định ) nổi tiếng trên thi đàn lúc đó.. Trong gia[r]
Trang 1Quách Tấn
Sinh 4 tháng 1Bình Định năm 1910
Mất 21 tháng 12Nha Trang năm 1992
Nghề nghiệp Nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu, dịch
giả
Tác phẩm chínhMột tấm lòng
Mùa cổ điển
Quách Tấn, sinh ngày 4 tháng 1 năm 1910 tại thôn Trường Định, huyện Bình Khê, nay
là xã Bình Hòa, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định Tổ tiên vốn là người Trung Hoa sang Việt Nam Thuở nhỏ, ông học chữ Hán, 12 tuổi bắt đầu học chữ quốc ngữ và chữ Pháp Năm 1929, đậu bằng Thành chung rồi lần lượt làm việc tại các Tòa Sứ Huế, Đồng Nai, Nha Trang
Biết làm thơ, viết văn sớm, từ năm 1933 ông đã có thơ đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy, và
đã được thi sĩ Tản Đà khen ngợi[2]
Năm 1939, ông tập hợp các bài thơ đã đăng báo[3], in thành tập Một tấm lòng Năm 1941,
cho xuất bản tập thơ Mùa cổ điển.
Trong khoảng thời gian từ 1945 đến 1954, Quách Tấn cùng gia đình tản cư về Bình Định, làm ủy viên Ủy ban ủng hộ kháng chiến, thủ quỹ Mặt trận Liên Việt huyện Bình Khê
Sau 1954, ông hồi cư về Nha Trang đi làm công chức tại Qui Nhơn, có lúc làm Phó tỉnh trưởng Bình Định, Công Ty du lịch Huế, Phó tỉnh trưởng Khánh Hòa
Năm 1965, Quách Tân về hưu Từ đây ông lại chuyên chú làm thơ, dịch thơ, viết thi thoại, thi pháp, địa phương chí, hồi ký danh nhân
Trang 2Những năm cuối đời, ông sống trong mù lòa Quách Tấn qua đời vào ngày 21 tháng 12 năm 1992 tại chợ Đầm, Nha Trang, hưởng thọ 82 tuổi
Tác phẩm
Tập thơ
Giàn hoa lý (viết từ 1976 đến 1979, chưa xuất bản)
Trường Xuyên thi thoại: Những bài thơ kỷ niệm (chưa có thông tin)
Bóng ngày qua (hồi kí)
Thơ dịch
Lữ Đường Thi: Thơ Thái Thuận[4], do Quách Tấn sưu tầm, khảo cứu, dịch nghĩa, dịch thơ - NXB Văn Học in năm 2001
Tố Như thi: dịch thơ chữ Hán của Nguyễn Du (1973 Nxb An Tiêm tái bản, Paris, 1995)
Khác
Trăng ma lầu Việt (1941 2003 tái bản): viết phỏng theo Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ đời Hậu Lê
Những tấm gương xưa (không rõ năm xuất bản, thể loại sách học làm người)
Thi pháp thơ Đường (1998)
Nhà Tây Sơn (1998, biên khảo)
Và hơn ngàn trang bản thảo văn, hơn mười tập thơ chưa xuất bản
Quan ni m sáng tác thệ ơ
“ Đối với thơ, tôi (Quách Tấn) không tách biệt “mới “ và “cũ” Tôi lựa thể Đường
luật vì thấy thích hợp với tâm hồn mình Vì đã lựa được con đường đi nên từ 1932 đến 1941, mặc dù phong trào Thơ Mới sôi nổi, tôi vẫn giữ thể Đường luật.[5]
Đà lạt đêm sương
Bóng trăng long lánh mặt hồ êm
Thời khắc theo nhau lải rải chìm
Đứng dựa non sao bờ suối ngọc
Hồn say dịu dịu mộng êm
Một luồng sương bạc bỗng từ mô
Lẻn cuốn vừng trăng cuốn mặt hồ
Cuốn cả non cao bờ suối ngọc:
Trang 3Người lơ lửng đứng giữa hư vô
Trời đất tan ra thành thủy tinh
Một bàn tay ngọc đẫm hương trinh
Âm thầm mơn trớn bên đôi má
Hơi mê đê mê chạy khắp mình
Yến Lan
Yến Lan
Sinh 2 tháng 3Bình Định năm 1916
Mất 5 tháng 10Bình Định năm 1998
Nghề nghiệp Nhà thơ
Tác phẩm chính Bến My Lăng (thơ)
Bóng giai nhân (kịch thơ
Yến Lan (1916-1998), tên thật là Lâm Thanh Lang, là một nhà thơ, nhà viết kịch Việt Nam Ông còn có bút danh khác là Xuân Khải.
Tiểu sử
Yến Lan sinh ngày 2 tháng 3 năm 1916, quê tại thị trấn Bình Định, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định Mồ côi mẹ năm 6 tuổi, Yến Lan sống bằng nghề dạy học tư và viết văn Ông sáng tác thơ từ sớm và cùng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Quách Tấn hợp thành Bàn thành tứ hữu (bốn người bạn thơ đất Bình Định) nổi tiếng trên thi đàn lúc đó Trong giai đoạn này, ông cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên sáng tác theo trường phái Thơ loạn (còn gọi là Thơ điên) với những trăng, xương, máu, hồn ma trong thơ Sau Cách mạng tháng Tám, ông là Uỷ viên văn hoá Cứu quốc Bình Định (1947–1949); là Uỷ viên văn hoá
kháng chiến Nam Trung Bộ, trưởng đoàn kịch Kháng chiến Từ 1950 đến 1954 ông làm công tác văn hoá văn nghệ ở Bình Định Sau 1954, Yến Lan tập kết ra Bắc, trở thành hội
Trang 4viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957, làm việc tại Nhà xuất bản Văn học và tham gia
phong trào Nhân văn - Giai phẩm Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, ông trở về công tác tại Hội văn nghệ Bình Định và mất tại đây ngày 5 tháng 10 năm 1998
Ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007
Tác phẩm
Bóng giai nhân (kịch thơ, viết chung với Nguyễn Bính)
Giữa hai chớp lửa (thơ, 1978)
Én Đào (truyện thơ, 1979)
Thơ Yến Lan (thơ, 1987)
Cầm chân hoa (thơ tứ tuyệt, 1991)
Thơ tứ tuyệt (tuyển tập, 1996)
Thành tựu nghệ thuật
Nổi tiếng từ Phong trào Thơ mới với "Bến My Lăng" bất hủ, sau này Yến Lan được đánh giá cao với thơ tứ tuyệt Nhà thơ, nhà phê bình Trúc Thông đã nhận xét: “Trong số lưa thưa bậc hảo hán của thơ tứ tuyệt Việt nam hiện đại, Yến Lan thuộc loại “bố già” Một
“bố già” hiền lành Không cân quắc, ngang tàng, vang động Nhưng vẫn đầy cốt cách trong cung cách âm thầm Trong tứ tuyệt Yến Lan thường nén lại một nông nỗi thở dài
Có khá nhiều cám cảnh Nhưng cốt cách nghệ sĩ, cốt cách tứ tuyệt đã gây cho người đọc một sự kính trọng”[1] Trích bài thơ Bến My Lăng:
Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách,
Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu.
Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách,
Ông lái buồn để gió lén mơn râu
Bến My Lăng
[ ]
Nhưng đêm kia đến một chàng kỵ mã,
Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly
Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả
Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi
Ông lão vẫn say trăng, đầu gối sách,
Để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng
Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách
Gọi đò thôi run rẩy cả ngàn trăng
Trang 5Bến My Lăng còn lạnh, bến My Lăng!
Ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng
Phạm hổ
Nhà thơ Phạm Hổ (28 tháng 11, 1926 - 4 tháng 5,
2007), bút danh Hồ Huy, sinh tại xã Thanh Liêm
(nay là xã Nhơn An), huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định Anh trai ông là nhà văn Phạm Văn Ký và
em trai là nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ Ông đỗ bằng Thành chung năm 1943 Sau Cách mạng Tháng Tám ông làm công tác tuyên truyền và tham gia hoạt động văn học nghệ thuật
Sau Hiệp định Geneva năm 1954, ông ra Bắc, tham gia sáng lập Hội Nhà Văn miền Bắc (1957) và cũng là một trong những người đầu tiên hình thành Nhà xuất bản Kim Đồng, nơi chuyên xuất bản văn hóa phẩm dành cho trẻ em
Sau ba năm làm việc tại Nhà xuất bản Kim Đồng, ông chuyển sang Nhà xuất bản Văn học rồi về báo Văn Nghệ, cơ quan ngôn luận của Hội Nhà văn Năm 1957 ông là thành viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam
Chức vụ cuối cùng của ông ở tờ báo này là chức Phó tổng biên tập Từ năm 1983, ông là Phó trưởng ban đối ngoại của Hội Nhà văn Việt Nam và là Chủ tịch Hội đồng văn học thiếu nhi của hội
Ông vừa viết văn, làm thơ, viết kịch và vẽ tranh Nổi bật trong các sáng tác của ông là dành cho thiếu nhi; nhiều tác phẩm đã được đưa vào giảng dạy trong trường phổ thông Năm 2001, ông được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, đợt 1
Một số tác phẩm
Dành cho thiếu nhi
Thơ: Chú bò tìm bạn (Tuyển tập thơ, chọn từ hơn 15 tập thơ in riêng từng
tập, in lần thứ 3, có bổ sung, Kim Đồng, 1997)
Truyện: Chuyện hoa chuyện quả (Toàn tập, Hà Nội, 1993).
Trang 6 Kịch: Mỵ Châu - Trọng Thủy (Kim Đồng, 1993)
Dành cho người lớn
Thơ: Những ngày xưa thân ái (Hội Nhà văn, 1956); Ra khơi (Hôi Nhà văn, 1960); Đi xa (Hội Nhà văn, 1973); Những ô cửa - những ngả đường (Hội
Nhà văn, 1982)
Truyện: Vườn xoan (Hội Nhà văn, 1962); Tình thương (Phụ nữ, 1973); Cây
bánh tét của người cô (Hà Nội, 1993).
Giải thưởng văn học
Chú bò tìm bạn (tập thơ): giải thưởng loại A cuộc vận động sáng tác cho
thiếu nhi do TW Đoàn Thanh niên cộng sản tổ chức năm 1957
Chú vịt bông (tập thơ) nhận giải loại A cuộc vận động sáng tác cho thiếu
nhi do TW Đoàn thanh niên cộng sản tổ chức năm 1967-1968
Những người bạn im lặng nhận giải chính thức về thơ, Hội đồng văn học
thiếu nhi Hội nhà văn tặng (1985);
Nàng tiên nhỏ thành ốc (kịch), giải thưởng về kịch cho thiếu nhi do TW
Đoàn Thanh niên cộng sản và Hội Nghệ sỹ sân khấu tặng (1986)
Chú bò tìm bạn
Mặt trời rúc bụi tre
Buổi chiều về nghe mát
Bò ra sông uống nước
Thấy bóng mình ngỡ ai
Bò chào “Kìa anh bạn
Lại gặp anh ở đây”
Nước đang nằm nhìn mây
Nghe bò cười toét miệng
Bóng bò chợt tan biến
Bò tưởng bạn đi đâu
Cứ ngoái trước nhìn sau
“Ậm ò” tìm gọi mãi
Xuân Di uệ
Trang 7Sinh 2 tháng 2 năm 1916
xã Tùng Giản , Tuy Phước , Bình Định
Nghề nghiệp nhà thơ
Tác phẩm chính Thơ thơ, Gửi hương cho gió
Xuân Diệu (2 tháng 2, 1916 - 18 tháng 12, 1985) là một trong những nhà thơ lớn của Việt Nam Ông nổi tiếng từ phong trào Thơ mới với tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió Những bài được yêu thích nhất của Xuân Diệu là thơ tình làm trong khoảng 1936 - 1944, thể hiện một triết lý bi quan, tuyệt vọng về tình ái nhưng lại có một mạch ngầm thúc giục, nhiều khi hừng hực sức sống Nhờ đó, ông được mệnh danh là "ông hoàng thơ tình" Ông từng được Hoài Thanh và Hoài Chân đưa vào cuốn Thi nhân Việt Nam (1942)
Sau khi theo đảng (1945), thơ ông chủ yếu ca ngợi đảng lao động, Hồ Chí Minh, thơ tình của ông không còn được biết đến nhiều như trước
Ngoài làm thơ, Xuân Diệu còn là một nhà văn, nhà báo, nhà bình luận văn học
Tiểu sử, sự nghiệp
Ông tên thật là Ngô Xuân Diệu, còn có bút danh là Trảo Nha, quê quán làng Trảo Nha,
huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh nhưng sinh tại Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định Cha là ông Ngô Xuân Thọ và mẹ là bà Nguyễn Thị Hiệp
Xuân Diệu lớn lên ở Qui Nhơn Sau khi tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư và làm viên chức ở Mĩ Tho (nay là Tiền Giang), sau đó ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn, là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn (1938–1940) Ông tốt nghiệp cử nhânLuật1943 và làm tham
tá thương chánh ở Mỹ Tho một thời gian trước khi chuyển về ở Hà Nội
Trang 8Bên cạnh sáng tác thơ, ông còn tham gia viết báo cho các tờ Ngày Nay và Tiên Phong
Ông là một trong những người sáng lập Đoàn báo chí Việt Nam, nay là Hội Nhà báo Việt Nam[1]
Trong sự nghiệp sáng tác thơ văn của mình, Xuân Diệu được biết đến như là một nhà thơ lãng mạn trữ tình, "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới", "ông hoàng của thơ tình" Xuân Diệu là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn và cũng đã là một trong những chủ soái của phong trào "Thơ Mới" Tác phẩm tiêu biểu của ông ở giai đoạn này: Thơ (1938), Gửi
hương cho gió (1945), truyện ngắn Phấn thông vàng (1939), Trường ca (1945)
Hai tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió được giới văn học xem như là hai kiệt tác của ông
ca ngợi tình yêu và qua các chủ đề của tình yêu là ca ngợi sự sống, niềm vui và đam mê sống Và ca ngợi tình yêu thì làm sao mà không ca ngợi tuổi trẻ, mùa xuân, ca ngợi thiên nhiên là tổ ấm và cái nôi của tình yêu Và Xuân Diệu cảm nhận sâu sắc đến đau đớn nỗi thời gian trôi chảy, sự mong manh của đời người cũng như lòng khát khao vĩnh cửu, tất
cả đã được diễn tả bằng những câu thơ xúc động, có khi đậm đà triết lý nhân sinh (Huy Cận, tháng 4 năm 2000)
Năm 1944, Xuân Diệu tham gia phong trào Việt Minh Sau Cách mạng Tháng Tám, ông
hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc, làm thư ký tạp chí Tiền phong của Hội Sau đó ông công tác trong Hội văn nghệ Việt Nam, làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ ở Việt
Bắc
Xuân Diệu tham gia ban chấp hành, nhiều năm là ủy viên thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam
Từ đó, Xuân Diệu trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu ca ngợi cách mạng, một
"dòng thơ công dân" Bút pháp của ông chuyển biến phong phú về giọng vẻ: có giọng
trầm hùng, tráng ca, có giọng chính luận, giọng thơ tự sự trữ tình Tiêu biểu là: Ngọn
quốc kỳ (1945), Một khối hồng (1964), Thanh ca (1982), Tuyển tập Xuân Diệu (1983)
Là cây đại thụ của nền thi ca hiện đại Việt Nam, Xuân Diệu đã để lại khoảng 450 bài thơ (một số lớn nằm trong di cảo chưa công bố), một số truyện ngắn, và nhiều bút ký, tiểu luận, phê bình văn học
Xuân Diệu từng là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I Ông còn được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa dân chủ Đức năm 1983
Ông đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996) Tên của ông được đặt cho một đường phố ở Hà Nội
Câu nói nổi tiếng
Trong tập Chân dung và đối thoại, Trần Đăng Khoa ghi lại câu nói của Xuân Diệu:
Trang 9"Nhà văn tồn tại ở tác phẩm Không có tác phẩm thì nhà văn ấy coi như đã chết."
Tác phẩm
Thơ
Thơ thơ (1983, 1970)
Hội nghị non sông (1946)
Hồn tôi đôi cánh (1976)
Thanh ca (1982)
Tiểu luận phê bình
Mài sắt nên kim (1977)
Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy (1978)
Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (tập I, 1981; tập II, 1982)
Tìm hiểu Tản Đà (1982).
Dịch thơ
Những nhà thơ Bungari (1978, 1985)
Nhà thơ Nicôla Ghiđen (1982)[5]
Nguyệt cầm
Trăng nhập vào đây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân
Mây vắng, trời trong, đêm thuỷ tinh
Lung linh bóng sáng bỗng rung mình
Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh
Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời
Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận:
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người…
Bốn bề ánh nhạc, biển pha lê
Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê
Trang 10Con gái cụ Đào Tấn
Là người Bình Định chắc ai cũng từng nghe và biết về cụ Đào Tấn, nhưng hai người con gái của ông là Đào Trúc Tiên và Đào Chi Tiên thì ít nghe nhắc đến Thơ ca hai bà làm rồi chỉ trao cho người quen thân đọc cho vui chứ ít phổ biến ra ngoài, tuy vậy cũng có nhiều bài được truyền đi xa Tại hạ xin mạn phép giới thiệu hai bài thơ sau :
NHỚ HUẾ ( Đào Trúc Tiên )
Cố đô còn vướng mối tình
Dòng Hương sóng nhẹ non Bình thông reo
Đò ngang xuôi ngược bóng chiều
Giọng hò mái đẩy nhịp chèo lửng lơ
Những tà áo tím phất phơ
Nghiêng nghiêng chiếc nón bài thơ ngỡ ngàng
Cung son điện ngọc huy hoàng
Nền xưa mấy lớp thời gian bụi mờ
Văm lâu bến cũ hững hờ
Bức tranh đài các bây giờ là đâu
Hè sang ve trỗi nhạc sầu
Tịnh Tâm sen nở một màu thắm tươi
Bình Hương u tịch nơi nơi
Chuông ngân chiều lắng một trời mộng mơ
Bao năm sông núi đợi chờ
Sao dời vật đổi xa mờ nước mây
Nhớ thương giọt lệ càng đầy
Lời keo sơn hẹn với ngày tha sinh
Mai Viên phong cảnh hữu tình
Lê hoa trăng lộng liễu mành gió đưa
Cảm hoài bao chuyện ngày xưa
Nhà Hương Thảo thất nắng mưa phũ phàng
Ngậm ngùi giữa bước tha hương
Tình quê gởi lại nhớ thương đôi lời
Sông Hương núi Ngự muôn đời
Thông reo vi vút sóng trôi lờ đờ
Dưới đèn mượn bút đề thơ
Hương quan hồn mộng vẩn vơ đêm dài
MƯA CHIỀU THU KỶ DẬU ( Đào Chi Tiên )
Chiều thu lác đác lệ thu rơi
Chan chứa tình thu biết hỏi ai
Hỏi nước nước đành lơ lửng chảy
Hỏi mây mây vẫn lạnh lùng trôi
Hỏi người năm trước người xa vắng
Hỏi bến đò xưa bến cách vời
Trang 11Mấy độ đi về trong lối mộng
Đêm tàn sương nhuộm bóng trăng côi
Bàn thành tứ hữu
Bàn thành tứ hữu tức Bốn người bạn ở thành Đồ Bàn[1] , hay còn gọi là Nhóm thơ Bình
Định, là một nhóm thơ đã phát sinh và tồn tại trên đất Bình Định từ năm 1936 cho đến
1945
Khởi đầu
Khởi đầu, ở Bình Định có hai đôi bạn Đôi thứ nhất gồm Quách Tấn và Hàn Mặc Tử Đôi thứ hai gồm Yến Lan và Chế Lan Viên
Đôi bạn Quách Tấn - Hàn Mặc Tử
Theo lời kể của Quách Tấn, thì vào năm 1931 [2]sau khi đọc được những bài thơ Đường luật ký trên P.T trên báo, rồi vì quá yêu thích nên ông có nhờ người quen dò tìm và tình
cờ gặp được P.T
P.T tức Phong Trần, mà Phong Trần, sau này là Hàn Mặc Tử.[3]
Kể từ đó, hai người "là một đôi tri kỷ và họ yêu nhau như tình nhân Quách Tấn bề ngoài nghiêm nghị khó gần, ít khi bộc lộ tình cảm nồng nhiệt, vậy mà với Hàn, ông đặc biệt thân ái và chiều chuộng "[4]
Khi Hàn mắc bệnh hiểm nghèo, Quách Tấn đã hết lòng tìm thầy chạy chữa và nhiều tháng đã trích tiền lương giúp bạn Bởi những chân tình đó, trước khi mất, người thi sĩ vắn số này đã giao cho Quách Tấn việc cất giữ nhiều thư từ và thơ của mình [5]
Đôi bạn Yến Lan - Chế Lan Viên
Theo hồi ký của Yến Lan thì ông lớn hơn Chế Lan Viên 4 tuổi và học trên Chế ba lớp trong Trường Tiểu học Pháp Việt ở thị trấn Bình Định Và: “Vốn thông minh và có khiếu văn chương từ nhỏ, nên những bài thơ của Chế đã làm nhiều người yêu thơ kinh ngạc vì giọng thơ già dặn và u buồn trước tuổi của một học sinh đệ tam niên Cũng như đôi bạn trên, nhờ thơ mà Yến Lan và Chế gặp nhau để rồi có cuốn sách hay, bài thơ mới đều đọc cho nhau nghe Chiều chiều cùng dạo quanh thành cổ Bình Định, trèo lên lầu Cửa Đông, ngắm những ngọn tháp Chàm cô đơn trên các đỉnh đồi quạnh quẽ mà ôm ấp mộng văn chương.”[6]