Ai khó tính và cầu kì màu sắc cứ nói gì thì nói nhưng theo tôi cái màu xanh của cốm Vòng là thứ màu xanh đẹp hơn cả cái màu xanh của ngọc thạch, cốm xanh đậm ấy mà lại là lá sen xanh p[r]
Trang 1MỘT THỨ QUÀ CỦA LÚA NON : CỐM
ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN TÌM HIỂU KHÁI NIỆM
• Tuỳ bút
Một thể thuộc loại hình kí, rất gần với bút kí, kí sự
Nét nổi bật ở tuỳ bút là qua việc ghi chép những con người và sự kiện cụ thể có thực, tác giả đặc biệt chú trọng đến việc bộc lộ cảm xúc, suy tư và nhận thức đánh giá của mình về con người và cuộc sống hiện tại
So với các tiểu loại khác của kí, tuỳ bút giàu chất trữ tình hơn cả, tuy vẫn không ít những yếu tố chính luận và chất suy tưởng triết lí
Cấu trúc của tuỳ bút, nói chung, không bị ràng buộc, câu thúc bởi một cốt truyện cụ thể, song nội dung của nó vẫn được triển khai theo một cảm hứng chủ đạo, một tư tưởng chủ đề nhất định Ngôn ngữ tuỳ bút giàu hình ảnh và chất thơ
Ở Việt Nam, Nguyễn Tuân là nhà văn viết tuỳ bút nổi tiếng Đường chúng ta đi của Nguyễn Trung Thành và Dòng kinh quê hương của Nguyễn Thi là những tuỳ bút xuất sắc của văn học Việt Nam trong thời kì chống Mĩ cứu nước
(Lê Bá Hán - Trần Đình sử - Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên), Sđd)
PHÂN TÍCH TÁC PHẨM
Bạn đã bao giờ được thưởng thức món cốm gói trong lá sen ? Được như vậy hẳn bạn sẽ rất thích thú, bởi món quà thật giản dị mà thanh khiết không ngờ !
Cốm - một thức quà đặc biệt mà tác giả Thạch Lam giới thiệu trong bài văn này được bắt đầu từ một cơn gió Thông thường, cơn gió đến rồi đi như một quy luật của tự nhiên Nhưng cơn gió trong bài văn của Thạch Lam lại như một bức thông điệp tâm hồn "Cơn gió mùa hạ lướt qua vừng sen trên hồ" - lời văn giúp ta cảm nhận được bước đi của gió dường như cũng thật nhẹ nhàng, ý vị Chính nhờ sự nhẹ nhàng, ý vị ấy, gió mới có thể "nhuần thấm cái hương thơm của lá" - và đặc biệt, gió mới có thể "như báo trước mùa về của một thức quà thanh nhã và tinh khiết" Điều này ít ai để ý Hương vị của hoa sen thì dễ thấy, bởi nó ngào ngạt, bởi nó nồng nàn Còn làn hương của lá thì dịu nhẹ, thanh tao Chính cái làn hương mỏng manh dìu dịu ấy lại chứa đựng một sức gợi, báo hiệu "mùa về của một thức quà thanh nhã và tinh khiết" đấy
Nhưng chỉ có lá sen dịu thơm làn hương lan toả thôi thì chưa đủ Đồng nội còn là một kho báu
vô tận những của cải quý giá để dâng tặng con người Hãy lắng nghe nhà văn giới thiệu : "Khi đi qua những cánh đồng xanh", bạn có "ngửi thấy cái mùi thơm mát của bông lúa non không ?" Cũng là mùi thơm, nhưng là mùi thơm mát của "giọt sữa trắng thơm, phảng phất hương vị ngàn hoa cổ" Chỉ phảng phất thôi, thế mà thành ấn tượng, thậm chí ấn tượng sâu sắc để nhận ra "giọt sữa" phía trong cái vỏ lúa đang xanh là cả một bầu hương hoa của thiên nhiên kết lắng Nhờ bàn tay con người cần cù chăm sóc, giọt sữa ấy mới dần đông lại, bông lúa nặng dần, "nặng vì cái chất quý trong sạch của Trời" Chính khi ấy, những bông lúa cong cong trĩu xuống, và dân gian
Trang 2gọi đó là lúa uốn câu (vì bông lúa có hình dáng của chiếc lưỡi câu), lúa đến thời kì "vào hạt" Khi
ấy, chỉ có những người thật thạo nghề làm cốm ở làng Vòng mới biết "cữ" vừa nhất để làm ra
"thứ cốm dẻo và thơm ấy"
Cách làm cốm được tác giả miêu tả thật trân trọng bởi trước hết không phải lúc nào cũng có thể gặt lúa về làm cốm, mà phải biết lúa lúc nào là "vừa" cữ nhất, và phải bằng "những cách thức làm truyền tự đời này sang đời khác" Làm cốm là cả "một sự bí mật trân trọng và khe khắt" - đó
là một nghề gia truyền, không phải ai cũng làm được
Sự bí mật "trân trọng và khe khắt" thể hiện những cách làm cốm riêng không phổ biến rộng rãi được Nó như quy ước lưu truyền từ nhiều đời để lại Tác giả đã khái quát : "Cốm là thức quà riêng biệt của đất nước, là thức dâng của những cánh đồng lúa bát ngát xanh, mang trong hương
vị tất cả cái mộc mạc, giản dị và thanh khiết của đồng quê nội cỏ An Nam", ở đây, tác giả không gọi cốm là "thứ quà" mà là "thức quà" "Thứ" thiên về ý nghĩa và sắc thái phân loại, đơn thuần phân biệt cốm với các loại quà khác Còn "thức" đã chuyên nghĩa diễn đạt, đưa cốm lên một phạm trù mới, trang trọng và đặc biệt Mặt khác, cốm còn là một "thức dâng" của những cánh đồng, như một sản vật quý báu bỏi cốm không chỉ là sản phẩm giản đơn lấy từ cây lúa Ngòi bút miêu tả kết hợp dòng suy tưởng thấm đẫm tình cảm trân trọng truyền thống văn hoá dân tộc của nhà văn đã giúp người đọc cảm nhận vẻ mộc mạc của lá sen, giản dị và thanh khiết của hương trời, hương đất, mùi thơm phức của lúa mới, của hoa cỏ dại ven bờ, cả mùi ngát của lá sen bọc, màu xanh của cốm, cái tươi mát của lá non, chất ngọt của cốm, cái dịu dàng thanh đạm của loài thảo mộc Chính vì thế, trong đoạn cuối của bài văn, tác giả viết : "Phải nên kính trọng cái lộc của Trời, cái khéo léo của người, và sư cố sức tiềm tàng và nhẫn nại của thần Lúa", cốm là thức
ăn vừa thực vừa ảo, thưởng thức cốm là một hành vi ẩm thực văn hoá
Bài văn được viết theo thể tuỳ bút, giàu sức gợi, thể hiện được cách cảm nhận tài hoa và tinh tế của tác giả về cốm - một thức quà thanh nhã, một quà tặng đặc sắc của quê hương
VĂN BẢN ĐỌC THÊM
CỐM
Cốm làng Vòng nổi tiếng khắp Hà Nội Trước thời kì chiến tranh tiếng thơm của cốm làng Vòng truyền đưa vào đến Thanh Nghệ, đến Huế Quảng, đưa xuống Nam Định, Hải Phòng và vào thấu đến Sài Gòn Nam Bộ Mỗi năm cứ thấy gió mùa thu nổi sóng trên đồng lúa miền Bắc là nhiều người lại nhắc đến cốm Vòng - cái món quà thổ ngơi thơm lành của ruộng lúa nếp ngoại thành thủ đô Những cây sấu đứng đường của Hà Nội mà bắt đầu lộp bộp rụng xuống những trái sấu chín cây thì trên vỉa hè Hà Nội cũng bắt đầu hiện ra cái hình ảnh người gánh cốm đi bán rong Trái với thói thường của hàng rong, gánh cốm cứ êm ả mà đi, người bán cốm không cất tiếng rao hàng Hình thù người gánh cốm cũng phần nào gợi lên cái phẩm chất như thứ quà giản dị thơm thảo hiền hậu, vừa chắc chắn vừa tinh tế Đứng trên ban công nhìn xuống, đứng trong ngõ hoặc đứng trong quầy hàng nhìn ra, mà nhận được gánh cốm thì khắc gọi lấy mà mua Cái gánh cốm Vòng cổ truyền đã quen quá đi rồi với con mắt của nhiều người đã chết đi sống lại nhiều lần với
Hà Nội Ai mà lầm được cái gánh cốm Vòng có cái đòn gánh dị thường một đầu thắng một đầu cong vút lên như cái ngọn chiếc hia tuồng Bình Đinh Cái đòn gánh cổ truyền ấy là cả một thân tre đánh cả gốc, đầu cong chính là cái phần gốc cây mà có khi phải chọn hàng chục bụi tre mới tìm đúng được một chiếc đòn gánh cốm vừa ý Cho nên đã có những cái đòn gánh cong truyền đi vai người này đến vai người khác có hàng mấy đời liền Trong thúng là cốm, trên mặt thúng là một bó cọng rơm tươi còn xanh màu mạ, và những tập lá sen Hồ Tây
Đã bao năm nay như thế Mỗi lần Hồ Tây lăn tăn ánh vàng nắng thu, mỗi lần những chòm mây mùa thu dãy Ba Vì và dãy Tam Đảo soi vào lòng sóng Hồ Tây, thì (ba mươi sáu) phố phường Hà
Trang 3Nội lại thấy xuất hiện cái bóng dáng êm ả của người gánh cốm Vòng tiến vào theo đường cửa ô Cầu Giấy Lúc này cũng là lúc khắp nơi nơi, nắng mùa thu đang vẫy những đốm trứng cuốc vào mọi trái chuối tiêu đang vuốt cong lên cái màu vàng ngọt, và nắng mùa thu cũng đang làm bóng lên cái màu đỏ hổ phách bay phấn của những quả hồng trứng cũng đang vểnh hết cả tai hồng lên Không hiểu đây là sự dàn xếp của mùa thu Việt Nam hay là sư hẹn hò của thời trân phẩm quả mà chuối tiêu trứng cuốc lại hay gặp mùa cốm và cốm lại gặp hồng trứng Chất nó ăn ý với nhau mà màu sắc nó còn gắn bó với nhau hơn nữa Đây quả là diễm phúc của người hoạ sĩ vẽ tranh tĩnh vật gửi vào vật vô tri tất cả nỗi niềm vô cùng biết ơn của mình đối với đất nước giàu tươi, đối với lượng cả của đất nước đang ban lộc ban phúc cho cuộc sống của lúa của quả của con người Ai khó tính và cầu kì màu sắc cứ nói gì thì nói nhưng theo tôi cái màu xanh của cốm Vòng là thứ màu xanh đẹp hơn cả cái màu xanh của ngọc thạch, cốm xanh đậm ấy mà lại là lá sen xanh phân làm đĩa đựng càng thây mình cùng tạo vật sao mà nó chan hoà cảm thông đến được như thế cốm rờn lên một niềm vui bất tận xanh, mả trên mặt đó lại cho chằng lên một múi lạt chữ thập nhuộm
đổ cánh sen để gửi đến ngõ nhà người yêu, để đặt trên bàn tiệc cưới, đám hỏi, thì quả cái màu xanh thật là màu của nguyện vọng hạnh phúc [ ]
( Tuyển tập Nguyễn Tuân, tập 2, Sđd)
CỐM VÒNG
Ở hậu phương, mỗi khi thấy ngọn gió vàng heo hắt trở về, người ta tuy không ai nói với ai một câu nào, nhưng đều cảm thấy cõi lòng mình se sắt
Không phải nói thế là bảo rằng ở Hà thành, mỗi độ thu về, người ta không thấy buồn đâu Ngọn gió lạ lùng ! ơ đâu cũng thế, nó làm cho lòng người nao nao nhưng ở hậu phương thì cái buồn ấy làm cho ta tê tái quá, não cả lòng cả ruột Nhớ không biết bao nhiêu ! Mà nhớ gì ? Nhớ tất cả, mà không nhớ gì rõ rệt
Bây giờ ngồi nghĩ lại tôi nhớ rằng tôi không nhớ Tết, không nhớ những ngày vui và những tình
ái đã qua bằng nhớ một ngày nào đã mờ rồi, tôi hãy còn nhỏ, sáng nào về mùa thu cũng được mẹ mua sẵn cho một mẻ cốm Vòng, để ăn lót dạ trước khi đi học
Thế thôi, nhưng nhớ lại như thế thì buồn muốn khóc Tại sao ? Chính tôi cũng không biết nữa [ ]
Ờ, mà lạ thật, chẳng riêng gì mình, sao cứ đến đầu thu thì người Hà Nội nào, ở phiêu bạt bất cứ đâu đâu cũng nhớ ngay đồn cốm Vòng ? Chưa cần phải ăn làm gì vội, cứ nghĩ đến cốm thôi, người ta cũng đã thấy ngất lên mùi thơm dịu hiền của lúa non xanh màu lưu li đặt trong những tàu lá sẻn tròn cũng xanh muôn muốt màu ngọc thạch !
Không, cốm Vòng quả là một thứ quà đặc biệt nhất trong mọi thứ quà Hà Nội - đặc biệt vì cứ mỗi khi thây gió vàng hiu hắt trở về thì lại nhớ đến cốm, mà đặc biệt hơn nữa là khắp các “nẻo đường đất nước” chỉ có Hà Nội có cốm thôi
Cốm là một thứ quà của đồng ruộng quê hương mang đến cho ta nhưng hầu hết các vùng quê lại không có cốm Tôi còn nhớ lúc tản cư ở vùng Hà Nam, mỗi khi thấy mây thu phủ ngang trời, người ta gặp nhau ở chợ vẫn thường chỉ nói một câu : “Bây giờ ở Hà Nội là mùa cốm !” Thế rồi nhìn nhau, không nói gì nữa, nhưng mà ai cũng thấy lòng ai chan chứa biết bao nhiêu buồn Thực thế cốm chỉ là một thứ lúa non, nhưng bao vùng quê bạt ngàn sơn dã lúa mà không có cốm Chỉ Hà Nội có cốm ăn Và mỗi khi tiết hoa vàng lại trở về, người ta nhớ Hà Nội là phải
Trang 4nhớ đến cốm - mà không phải chỉ nhớ cốm, nhưng nhớ biết bao nhiêu chuyện ấm lòng chung quanh mẹt cốm, bao nhiêu cảm tình xưa cũ hiu hiu buồn, nhưng thắm thiết xiết bao
(Theo Vũ Bằng, Sđd)
- Gợi dẫn
Hãy chỉ ra sự giống nhau trong tình cảm và thái độ của ba tác giả (Thạch Lam, Nguyễn Tuân và
Vũ Bằng) đối với thứ "quà của lúa non"