Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu) (tt)Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu) (tt)Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu) (tt)Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu) (tt)Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu) (tt)Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu) (tt)Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu) (tt)Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu) (tt)Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu) (tt)Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu) (tt)Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu) (tt)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỒNG HOÀNG HƢNG
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ BẢY CHỮ HIỆN ĐẠI (TRÊN TÁC PHẨM CỦA MỘT SỐ NHÀ THƠ TIÊU BIỂU)
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 62 22 02 40
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Lý Toàn Thắng
Phản biện 1: GS.TS NGUYỄN THIỆN GIÁP
Phản biện 2: GS.TS BÙI MINH TOÁN
Phản biện 3: PGS.TS TẠ VĂN THÔNG
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại vào hồi……… ….giờ…………phút, ngày………tháng……….năm………
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Thơ Việt Nam thế kỷ XX đã có nhiều cách tân, đổi mới sáng tạo so với thơ truyền thống Sự biến động của xã hội Việt Nam ở thế kỷ XX, sự phát triển về tư tưởng ảnh hưởng đến nghệ thuật, làm cho văn bản thơ đã có nhiều biến động, phá vỡ những khuôn hình thơ truyền thống ở các thể loại, trong đó có thơ bảy chữ
1.2 Mỗi một dân tộc đều có một nền thi ca đặc trưng gắn liền với những thể loại văn học nhất định Thể thơ không phải là kết quả của một tác động cơ học mà là một sự chọn lọc tự nhiên của cảm xúc con người trước hiện thực Đối với người Việt Nam, bên cạnh thơ lục bát, thơ bảy chữ cũng có một vị trí quan trọng trong đời sống văn học 1.3 Thể thơ bảy chữ trong thơ ca hiện đại có dáng dấp từ thơ Đường luật thất ngôn,
có quy định khắt khe về niêm, luật Sang thế kỷ XX, dưới ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, nhiều khuôn vần, nhịp, thanh của thơ thất ngôn được phá vỡ, thơ bảy chữ trở thành một thể loại phổ biến được giới trí thức Tây học dùng để sáng tác một cách linh hoạt đầy sáng tạo Đến nay, thơ bảy chữ đã trở nên phong phú và đa dạng nhờ những đóng góp của các tác giả tên tuổi như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Tố Hữu,…
1.4 Khi một thể loại thơ đã có chỗ đứng trong dòng chảy của văn hóa dân tộc, với tên tuổi của những nhà thơ nổi tiếng, nó trở thành đối tượng hấp dẫn nhiều nhà nghiên cứu Cho đến nay, chưa có một chuyên luận nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ học về thơ bảy chữ hiện đại
Với những lý do trên chúng tôi lựa chọn đề tài "Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ
hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu)"
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Chỉ ra những đặc điểm chính của ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại dưới góc độ thi
học và thi luật về mặt cơ cấu/tổ chức ngữ âm ở 3 phương diện: vần (thi vận), nhịp (thi
điệu), hài thanh (thi tiết)
- Góp phần làm sáng tỏ những cách tân, sáng tạo, những đóng góp về mặt cơ cấu/
tổ chức ngữ âm của thơ bảy chữ trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại thế kỉ XX
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số khái niệm có liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại dưới góc độ thi học và thi luật (cơ cấu/tổ chức ngữ âm), bao gồm: Thơ, ngôn ngữ thơ, thi học, thi luật, vần (thi vận), nhịp (thi điệu), hài thanh (thi tiết)
- Miêu tả những đặc điểm ngôn ngữ về mặt cơ cấu/tổ chức ngữ âm của thơ bảy chữ hiện đại trên cứ liệu các tập thơ cụ thể của 4 nhà thơ: Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Tố Hữu, Chế Lan Viên Trên cơ sở ấy, luận án sẽ nghiên cứu chi tiết đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại ở 3 phương diện: vần (thi vận), nhịp (thi điệu), hài thanh (thi tiết)
- Khái quát nên những đặc điểm về mặt cơ cấu/tổ chức ngữ âm của thơ bảy chữ hiện đại, thấy được sự cách tân sáng tạo, sự biến đổi của ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại
so với thơ thất ngôn Đường luật
Thơ bảy chữ Việt Nam chịu ảnh hưởng của thơ thất ngôn Đường luật Trung Quốc vốn có kết cấu chặt chẽ, không thay đổi về mặt hình thức Khi vào Việt Nam, thơ bảy chữ đã được vận dụng và biến đổi theo lịch sử Bên cạnh đó, đặc điểm ngôn ngữ của một thể thơ tập trung ở vần, nhịp, sự hài thanh Do vậy, luận án chỉ tập trung nghiên cứu thơ
Trang 4bảy chữ Việt Nam thế kỷ XX nhằm chỉ rõ những đặc điểm về mặt hình thức của thơ bảy chữ thông qua sự biến đổi về vần, nhịp, hài thanh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại Việt Nam ở thế kỉ XX trên cơ sở tư liệu của bốn tác giả là Xuân Diệu, Chế Lan Viên,
Hàn Mặc Tử, Tố Hữu
Nói đến ngôn ngữ thơ, người ta thường đề cấp đến 3 bình diện: Ngữ âm, ngữ pháp
và ngữ nghĩa Trong khuôn khổ luận án này, chúng tôi nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ
thơ bảy chữ hiện đại dưới góc độ thi học và thi luật về mặt cơ cấu/tổ chức ngữ âm ở 3
phương diện: vần (thi vận), nhịp (thi điệu), hài thanh (thi tiết) Đây chính là 3 đặc điểm
quan trọng nhất tạo nên cái chất riêng của thơ bảy chữ hiện đại
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Xuất phát từ mục đích cũng như đối tượng nghiên cứu, trên nguyên lý chung là quy nạp, chúng tôi sử dụng các phương pháp và các thao tác nghiên cứu: Phương pháp mô tả; Phương pháp thống kê; Phương pháp so sánh
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Lý thuyết về việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ dưới góc độ thi học và thi luật
- Sự cách tân về hình thức của thơ bảy chữ hiện đại nhằm đáp ứng sự phát triển về
tư tưởng và sự đổi mới về nội dung
- Đóng góp mới vào việc nghiên cứu ngôn ngữ văn học Việt Nam, hướng hẳn vào
việc nghiên cứu chuyên sâu về mặt cơ cấu/tổ chức ngữ âm của thơ (thi học và thi luật)
- Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần việc đổi mới cách dạy môn Ngữ văn trong trường học ở các bậc học khác nhau
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Các tư liệu cùng với những nhận xét đánh giá của luận án giúp người đọc nhận biết khá đầy đủ những nét đặc sắc về ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại về mặt vần, nhịp và hài thanh Sự đổi mới về hình thức của thơ bảy chữ hiện đại là một sự vận động tất yếu để phù hợp xu hướng phát triển của thời đại, đáp ứng nhu cầu về tư tưởng và sự đổi mới về nội dung của thơ Việt Nam thế kỷ XX
Các kết quả của luận án còn giúp người đọc thấy được những đóng góp của thơ bảy chữ hiện đại trên con đường tự do hoá ngôn ngữ thơ thế kỷ XX
Các kết quả của luận án đã giúp người đọc thấy được những đóng góp của thơ bảy chữ hiện đại trong việc làm phong phú thêm các thể loại thơ Việt Nam ở thế kỷ XX Qua đây, chúng ta khẳng định thể thơ bảy chữ hiện đại sẽ trường tồn, không ngừng phát triển
và được làm mới vì nó đã được minh chứng bởi các nhà thơ có tên tuổi trong thế kỷ XX
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, nội dung luận án được triển khai trong 4 chương: Chương 1: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài; Chương 2: Hiệp vần trong thơ bảy chữ hiện đại; Chương 3: Ngắt nhịp trong thơ bảy chữ hiện đại; Chương 4: Hài thanh trong thơ bảy chữ hiện đại
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Từ góc độ lí luận phê bình văn học
Có thể khẳng định rằng Arixtote và Lưu Hiệp đã đặt những viên gạch đầu tiên cho việc xây dựng những nguyên lí khám phá thơ ca như một nghệ thuật trong đời sống tinh thần Tiếp đến là nghiên cứu của Dương Quảng Hàm, Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức Việc nghiên cứu của Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức được xem như là một bước tiến quan trọng đặt nền tảng cho vấn đề nghiên cứu thể loại thơ ca nói chung, ngôn ngữ thi ca nói riêng, như là cái gạch nối giữa hai xu hướng lí luận phê bình và ngôn ngữ học
Một số công trình nghiên cứu của các tác giả như Trần Đình Sử, Phan Cự Đệ, Lý Hoài Thu, Lê Lưu Oanh, Mã Giang Lân, Trần Khánh Thành, Bùi Công Hùng đều hướng tới một, hoặc một vài tác giả, tác phẩm (có cả trung đại và hiện đại) với một số nội dung chính như: (i) tiến trình văn học, (ii) phê bình lí luận văn học, (iii) sự cách tân thơ văn, (iv) nghiên cứu thơ theo hướng thi pháp học văn học
Nhìn chung trên bình diện lí luận phê bình đã có một số thành tựu được ghi nhận về
sự đóng góp công lao to lớn trong công cuộc khám phá thi ca nước nhà
1.1.2 Từ góc độ ngôn ngữ học
Vào đầu thế kỉ XX, trường phái hình thức Nga đã đưa ra những cách tiệp cận mới về nghệ thuật thi ca Con đường khám phá của họ là dựa vào kết cấu hình thức để lí giải nội dung ý nghĩa
Ở Việt Nam, cũng có một số công trình nghiên cứu về thi ca tiếng Việt (trong đó có thơ bảy chữ) từ góc độ ngôn ngữ, với các tên tuổi tiêu biểu như: Phan Ngọc, Nguyễn Phan Cảnh, Hữu Đạt, Mai Ngọc Chừ, Bùi Công Hùng, Lý Toàn Thắng
Gần đây có một loạt các bài báo, các công trình nghiên cứu chuyên sâu của tác giả
Lý Toàn Thắng về vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ thơ Nhiều khái niệm đã được tác giả làm sáng tỏ như: thi học, thi luật, thi vận, thi điệu, thi tiết
Ngoài ra phải kể đến chuyên luận của Nguyễn Thị Phương Thùy đã nghiên cứu về ngôn ngữ thơ theo hướng thi pháp học; một số Luận văn thạc sỹ Ngôn ngữ học của Trường Đại học Vinh có quan tâm đến việc tìm hiểu về nhịp điệu của thơ bảy chữ trong Phong trào Thơ Mới
1.2 Thơ và ngôn ngữ thơ
1.2.1 Thơ là gì?
Xung quanh khái niệm về thơ, từ trước tới nay đã có nhiều cách lý giải khác nhau, nhiều quan niệm khác nhau, trong đó nổi lên ba khuynh hướng sau: Khuynh hướng thần thánh hóa thơ ca; khuynh hướng cho rằng thơ gắn liền với cuộc sống, với thời đại; khuynh hướng hình thức hóa thơ ca Mỗi khuynh hướng chọn cho mình con đường đi riêng nhưng tất cả đều nỗ lực kiếm tìm lời giải về bản chất của thơ ca và vai trò của người sáng tác trong quá trình sáng tạo nghệ thuật Trong số các cách hiểu về thơ, có những cách hiểu quá coi trọng về mặt hình thức của thơ, có những cách hiểu chỉ quan tâm đến nội dung của thơ Luận án đồng tình với định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi: "Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ, bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và có nhịp điệu"
1.2.2 Ngôn ngữ thơ là gì?
Trang 6Trong một phạm vi hẹp của thể loại, ngôn ngữ thơ được hiểu là một chùm đặc trưng ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu trưng hóa, khái quát hóa hiện thực khách quan theo tổ chức riêng của thơ ca Và lâu nay, việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ thường được đi theo lối này, vì vậy việc tiếp cận thơ dưới góc độ ngôn ngữ học hay lý luận phê bình văn học thường không có ranh giới rõ ràng, thường bị đan xen, hòa vào nhau Ở luận án này, chúng tôi nghiên cứu ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại dưới góc độ thi học tức
là chuyên sâu về mặt cơ cấu/tổ chức ngữ âm của thơ
1.3 Thi học
Mục đích đầu tiên của thi học là dạy cho người ta biết cách làm thơ như thế nào Sang đến thế kỷ XIX, thi học mới trở thành một khoa học (một phân môn của thi pháp), nghiên cứu xem thơ ca được sáng tác ra như thế nào với mục đích cuối cùng là xác lập vị trí của cấu trúc âm thanh trong cấu trúc chung của cả thi phẩm, cũng như xác lập mối liên hệ của cấu trúc đó với các cấu trúc ngôn ngữ và hình tượng "Với thi học hiện đại, thơ là một thứ ngôn ngữ nghệ thuật, có tổ chức nhất về phương diện âm thanh, được tạo thành từ những tiết đoạn liên quan với nhau, tương đương với nhau, thông ước với nhau
và có thể so sánh được với nhau thông qua nhịp điệu" (Lý Toàn Thắng)
1.4 Thi luật
Sự khác biệt cơ bản giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi - đó chính là ở mặt tổ chức
âm thanh (ngữ âm) của chúng Chính vì vậy, thi học phải tập trung nghiên cứu những đặc trưng âm thanh/ngữ âm của thơ Các đặc trưng ngữ âm có một vai trò, chức năng quan trọng trong việc tạo dựng nên cấu trúc, tổ chức âm thanh của một bài thơ Chính vì lẽ đó, khi nghiên cứu chúng ta không thể tách rời, riêng lẻ từng đặc trưng; chúng cần phải được kết nối lại, tập hợp lại trong những khái niệm, những phạm trù chung nào đấy Tức là, chúng ta cần tìm ra các quy tắc, các kỹ thuật, các luật lệ ngữ âm khi sử dụng Nói như tác
giả Lý Toàn Thắng đó "là các luật lệ ngữ âm hay thi luật - mà nhà thơ phải tuân theo khi
sáng tác ra đứa con ngôn từ nghệ thuật của mình"
1.5 Đặc điểm của ngữ âm tiếng Việt
Khi nói đến đặc điểm cơ bản nhất của ngữ âm tiếng Việt, người ta phải nói đến đặc
điểm âm tiết tính hay nói một cách khác là khi giao tiếp người nói tiếng Việt phải nói từng
âm tiết (hay còn gọi là tiếng) Đặc điểm cơ bản và quan trọng này là cơ sở để xếp tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn tiết mang thanh điệu Có thể khẳng định, âm tiết với tư
cách là đơn vị ngữ âm, có vai trò đặc biệt, chi phối tất cả các đặc điểm khác về từ vựng, ngữ pháp, dụng học của tiếng Việt
1.6 Thi vận, thi tiết, thi điệu
1.6.1 Thi vận
Vần được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhất của thi ca, là yếu tố xây dựng nên sự hòa âm giữa các câu thơ góp phần tạo nên tính nhạc của thơ Trong thi luật đại cương, khi định nghĩa về sự hiệp vần giữa hai từ hay hai âm tiết, người ta thường hay nói đến sự tương hợp, sự tương đồng, sự cộng hưởng, sự hài hoà và sự lặp lại của các đặc trưng về nguyên âm, phụ âm, trọng âm, thanh điệu v.v của hai từ hay hai âm tiết được hiệp vần Sự hiệp vần giữa hai từ hay hai âm tiết, theo các nhà thi học, phải tuân thủ một nguyên lí chung, một cơ chế hiệp vần nhất định, cơ chế nhị nguyên “đồng - dị” (tương đồng - tương dị): giữa hai âm tiết vừa phải có chỗ giống nhau vừa phải có chỗ khác nhau Tương đồng chủ yếu là để có được sự hài hòa, cộng hưởng về âm thanh; tương dị chủ yếu là để đa dạng, tránh lặp vần, đơn điệu
Trang 71.6.2 Thi tiết (tiết điệu)
Từ lâu, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, thuật ngữ "tiết điệu" đã được nói đến như là sự luân phiên Bằng - Trắc trong câu thơ Theo tác giả Lý Toàn Thắng: "Nói đến tiết điệu trước hết là nói đến cái cấu trúc tiết điệu của dòng thơ, đến sự trắc lượng dòng thơ theo thời gian" Trong thi học hiện đại có nhiều quan niệm khác nhau về tiết điệu Sự khác biệt này là vì các nền thi ca trên thế giới có nhiều hệ thống thi luật khác nhau và tùy theo các đặc trưng ngữ âm của ngôn ngữ đó mà nổi trội một kiểu loại thi điệu nào đó Tiếng Việt là một ngôn ngữ có thanh điệu Xét về mặt ngữ âm, thanh điệu là một trong những đặc trưng quan trọng nhất của tiếng Việt Thi luật và tiết điệu của tiếng Việt thuộc loại "âm tiết - thanh điệu", tức là bao gồm cả hai phương diện, đó là: Số lượng âm tiết và sự bố trí, sắp xếp các âm tiết mang thanh điệu là thanh bằng hay thanh trắc
1.6.3 Thi điệu - Nhịp điệu
Khi quan niệm về nhịp, các nhà thi học quan tâm đến sự "lặp đi lặp lại có trật tự đều đặn" và "tính chu kì" của "các yếu tố tương đồng" Trong bất cứ nền thi ca nào, câu thơ bao giờ cũng có cấu trúc nhịp điệu Tuy nhiên, do ở mỗi ngôn ngữ có những cơ sở ngữ âm khác nhau nên nhịp điệu không hoàn toàn giống nhau
Tiếng Việt là một ngôn ngữ có thanh điệu Một điều dễ nhận thấy rằng, thơ tiếng Việt là sự phối điệu các âm tiết mang thanh điệu Bằng và thanh điệu Trắc, do vậy nhịp
thơ Việt có thể gọi là "nhịp thanh điệu" Thơ hay nhịp điệu phải đa dạng, nghĩa là phải
có sự thay đổi, biến hóa trong cách ngắt nhịp
1.7 Thơ thất ngôn và thơ bảy chữ hiện đại
1.7.1 Thơ thất ngôn
Thơ thất ngôn hay còn gọi là thơ thất ngôn Đường luật là thể thơ được ra đời từ đời Đường ở Trung Quốc (618 - 907), phải theo một hệ thống niêm, luật chặt chẽ Thơ thất ngôn Đường luật thường tồn tại ở hai dạng chính, đó là: thất ngôn tứ tuyệt và thất ngôn bát cú Về bố cục, một bài bát cú gồm bốn phần: đề, thực, luận, kết Thơ thất ngôn có hai thể: thể bằng (từ thứ hai của câu đầu là thanh bằng) - biến thể, thể trắc (từ thứ hai của câu đầu là thanh trắc) - chính thể Thơ Đường áp dụng ở Việt Nam không quá phức tạp
mà chỉ tuân thủ một số nguyên tắc nhất định
1.7.2 Thơ bảy chữ hiện đại
Thơ bảy chữ xuất hiện từ đầu thế kỷ XX, đỉnh cao là Phong trào Thơ mới (1932 - 1945) Trên cơ sở tiếp thu truyền thống của thơ thất ngôn đã có những cách tân sáng tạo
về ngôn ngữ: vần điệu, thanh điệu, nhịp điệu
Về thanh điệu, vẫn dựa vào hai khuôn thanh cơ bản của thất ngôn truyền thống Có điều, khác với thơ thất ngôn truyền thống, thơ bảy chữ hiện đại được chia thành khổ Thơ bảy chữ hiện đại, ngoài việc ngắt nhịp theo thơ thất ngôn truyền thống là 4/3 thì còn
có nhiều cách ngắt nhịp khác như: 2/5, 2/2/3, 1/2/2/3
1.8 Thống nhất cách hiểu về một số khái niệm trong luận án
1.8.1 Hiện đại và văn học hiện đại
Khái niệm “hiện đại” theo nghĩa là nói đến tính chất của nền văn học đã đi theo quy luật chung của thế giới Văn học Việt Nam hiện đại, đó là văn học thế kỷ XX Luận án thống nhất cách hiểu thơ bảy chữ hiện đại là thơ bảy chữ thế kỷ XX
1.8.2 Câu thơ
Có nhiều cách hiểu, quan niệm khác nhau về câu thơ Mỗi câu thơ được biểu hiện bằng một dòng thơ chứ không được đánh dấu bằng dấu chấm câu như ở câu văn xuôi
Trang 8Luận án lấy quan niệm mỗi câu thơ là một dòng thơ để khảo sát và xử lý tư liệu về vấn
đề câu thơ
1.8.3 Khổ thơ
Khổ thơ là một số câu thơ, dòng thơ được sắp xếp thành một đơn vị có quy cách nhất định về vần luật, âm thanh, nhịp điệu, cú pháp, biểu thị ý nghĩa tương đối hoàn chỉnh Mỗi khổ thơ được kết thúc bằng một khoảng nghỉ dài Luận án khảo sát dừng lại ở khổ 4 câu/khổ
1.8.4 Bài thơ
Có nhiều cách hiểu, quan niệm khác nhau về bài thơ Luận án quan niệm: Bài thơ là công trình sáng tác được tạo thành từ những câu thơ, khổ thơ, rất chặt chẽ về cấu trúc hình thức, có nội dung tương đối hoàn chỉnh nhưng không dài mà cô đọng, ngắn gọn, là
"những ngôn từ sáng giá đứng trong những trật tự hoàn hảo"
1.9 Tiểu kết
- Việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại một cách quy mô, hệ thống và
chuyên sâu hẳn về mặt cơ cấu/tổ chức ngữ âm (thi học) là một việc làm cần thiết và có
ý nghĩa lớn lao
- Các cơ sở lí thuyết về thi học, thi luật, thi vận, thi điệu, thi tiết giúp cho việc miêu
tả đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại về mặt vần, nhịp, hài thanh
- Những đặc trưng thể loại về thể thơ thất ngôn và thơ bảy chữ hiện đại là cơ sở, là nền tảng vững chắc để tác giả lí giải những vấn đề liên quan đến thơ bảy chữ hiện đại của 4 tác giả: Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Tố Hữu, Chế Lan Viên
- Luận án đã thống nhất về cách hiểu một số khái niệm: Hiện đại và văn học hiện đại, câu thơ, bài thơ, khổ thơ
Chương 2 HIỆP VẦN TRONG THƠ BẢY CHỮ HIỆN ĐẠI
2.1 Vị trí hiệp vần trong thơ bảy chữ hiện đại
Dựa vào vị trí của tiếng gieo vần ở dòng thơ, truyền thống nghiên cứu ở ta thường
chia vần trong thơ nói chung làm hai loại: vần chân và vần lưng Luận án tập trung vào
tìm hiểu vần chân Khảo sát vị trí gieo vần ở 1358 khổ thơ (ở các khổ thơ 4 dòng)/361 bài thơ của 4 tác giả cho kết quả như sau:
Bảng 2.1: Thống kê vị trí hiệp vần trong thơ bảy chữ hiện đại Bảng 2.1a: Các cách gieo 01 vần (a)
Vị trí hiệp
vần
Tác giả
T.số khổ thơ
Trang 9Vị trí hiệp
vần
Tác giả
T.số khổ thơ
Vị trí hiệp vần của thơ bảy chữ hiện đại khá phong phú và đa dạng, có tổng cộng
11 cách gieo vần Trong đó có 3 cách gieo vần trùng với thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (aa-a, a-a-, -a-a), 8 cách gieo vần còn lại là sự cách tân của các nhà thơ Phổ biến nhất là những khổ thơ 01 vần với 3 vị trí gieo vần Tiếp đến là những khổ thơ có 2 vần Trong nhiều trường hợp, khổ thơ tứ tuyệt có thể có tới 4 vị trí gieo vần vần, tức là dòng nào cũng có một vần
2.2 Các kiểu loại vần trong thơ bảy chữ hiện đại
Dựa vào mức mức độ hòa âm, luận án khảo sát các kiểu loại vần trong thơ bảy chữ
hiện đại, bao gồm: Vần chính (ký hiệu: C), Vần thông (ký hiệu: T), Vần ép (ký hiệu: E)
và có tính đến trường hợp Điệp vận Cơ sở phân loại vần được dựa vào hai phương diện:
tương đồng và tương dị của các yếu tố cấu thành âm tiết
Trang 10SL TL (%) SL
TL (%) SL
TL (%) SL
TL (%) SL
TL (%) SL
TL (%)
SL TL (%) SL
TL (%) SL
TL (%) SL
TL (%) SL
TL (%) SL
TL (%)
SL TL (%) SL
TL (%) SL
TL (%) SL
TL (%) SL
TL (%) SL
TL (%)
Trang 11loại vần thông Loại T7 xuất hiện nhiều nhất (45,1%), tiếp đến loại T5 (29,8%), ít nhất là loại T9, T12 (0,2%) Cũng như vần chính, vần thông đã phát huy tác dụng rất lớn trong thơ bảy chữ hiện đại
2.2.1.3 Vần ép
Trong 2869 trường hợp được khảo sát, số lượng vần ép không nhiều chỉ có 124 cặp vần, chiếm 4,3% Tuy không xây dựng hài hòa nhiều cho ngôn ngữ thơ bảy chữ, nhưng vần ép cũng tạo nên một hiệu quả nhất định trong việc tạo ra sự hòa âm cho vần thơ
2.2.1.4 Về trường hợp điệp vận
Điệp vận là trường hợp khi hai âm tiết gieo vần trùng nhau hoàn toàn Trong 2869 trường hợp thấy xuất hiện 14 trường hợp điệp vận, tỉ lệ 0,5% Ở đây xuất hiện hai trường hợp: (i) Những trường hợp đích thực là một âm tiết/từ bị lặp lại, tạm gọi là "đồng âm - đồng nghĩa"; tức là có hiện tượng đồng nhất về vần, có 6/14 trường hợp; (ii) Những trường hợp là vần "đồng âm - dị nghĩa”, có 8/14 trường hợp
2.2.2 Nhận xét
Một mặt, thơ bảy chữ hiện đại duy trì cái chuẩn mực “vần chính”, đảm bảo cho câu thơ có âm hưởng hay, đẹp, dồi dào Mặt khác, thơ bảy chữ hiện đại mở rộng khá mạnh sang “vần thông” để câu thơ thêm phong phú, đa dạng, tránh sự đơn điệu, nhàm chán về
âm hưởng Gần hết các kiểu loại vần chính (5/7 loại) và trên 70% kiểu loại vần thông (14/18 loại) và tổng cộng 19/25 các kiểu loại vần chính và vần thông đều đã xuất hiện, điều này cho thấy sự dụng công rất rõ của các nhà thơ bảy chữ hiện đại
2.3 Chức năng tạo vần của các yếu tố cấu thành âm tiết
2.3.1 Kết quả khảo sát về các kiểu âm tiết
Khảo sát 4603 âm tiết tham gia hiệp vần trong thơ bảy chữ hiện đại, kết quả cho thấy sự xuất hiện của bốn loại âm tiết Mở, Nửa mở, Nửa khép, Khép với tỷ lệ như sau:
Bảng 2.5: Sự xuất hiện của các kiểu âm tiết trong thơ bảy chữ hiện đại
TL (%) SL
TL (%) SL
TL (%)
Từ bảng số liệu trên có thể rút ra một số nhận xét như sau:
- Kiểu âm tiết được phân bố trong thơ bảy chữ hiện đại giống như trong thơ Việt (và tiếng Việt nói chung), trong đó có số lượng nhiều nhất là các âm tiết nửa khép Thứ
tự trước sau về tần số xuất hiện của các kiểu loại âm tiết ở phần vần như sau:
(1) Nửa Khép > (2) Nửa Mở > (3) Mở > (4) Khép
- Bên cạnh việc dùng một kiểu âm tiết, thơ bảy chữ đã tạo được sự đa dạng về vần, không dùng một kiểu âm tiết nào đó liên tục, tránh được sự đơn điệu, nhàm chán, mà luôn có sự đan xen để tạo ra sự phong phú, đa dạng
2.3.2 Sự phân bố của các âm cuối trong hiệp vần
Bảng 2.6: Bảng thống kê tình hình phân bố của các âm cuối
Trang 12TL (%) SL
TL (%) SL
TL (%)
S
L
TL (%) SL
TL (%)
Chế Lan Viên 271 15 5,5 14 5,2 6 2,2 2 0,7 0 0,0 0 0,0
Hàn Mặc Tử 312 14 4,5 6 1,9 0 0,0 0 0,0 0 0,0 0 0,0
Xuân Diệu 1708 23 1,3 20 1,2 7 0,4 24 1,4 2 0,1 4 0,2 Tổng 2841 52 1,8 44 1,5 15 0,5 27 1,0 2 0,07 4 0,14
- Trong nhóm phụ âm vang, thứ tự xuất hiện từ cao xuống thấp của các cặp âm cuối là: /n-ng,nh/, /m-n/, /ng,nh-m/
- Trong nhóm phụ âm vô thanh, thứ tự xuất hiện từ cao xuống thấp của các cặp âm cuối là: /k(c,ch)-t/, /p- k (c/ch)/, /p-t/
2.3.3 Sự phân bố của nguyên âm trong hiệp vần
Bảng 2.8: Bảng thống kê các nguyên âm làm âm chính
Cùng âm lượng
Ngoài quy luật
SL TL (%) SL
TL (%) SL
TL (%) SL
TL (%)
Sự đồng nhất nguyên âm ở các hàng cũng có một sự phân biệt rất rõ rệt:
Bảng 2.9: Bảng thống kê sự tham gia hiệp vần của các nguyên âm Bảng 2.9a: Các nguyên âm bổng (hàng trước)
Trang 13TL (%) SL
TL (%) SL
TL (%)
TL (%) SL
TL (%) SL
TL (%) SL
TL (%)
Biểu hiện cụ thể của số lượng các nguyên âm cùng hàng tham gia hiệp vần với nhau được thể hiện như sau:
Bảng 2.10: Bảng thống kê số lượng các nguyên âm cùng hàng tham gia hiệp vần
Loại
Tác giả
Tổng số Bổng với bổng
Trầm vừa với trầm vừa
Cực trầm với cực trầm
TL (%)