1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biểu tượng nghệ thuật trong thơ nguyễn bính

177 214 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biểu Tượng Nghệ Thuật Trong Thơ Nguyễn Bính
Tác giả Đỗ Đức Duy
Người hướng dẫn P.GS. TS. Nguyễn Hữu Hiếu
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn Học Việt Nam
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Ngữ Văn
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những sáng tác của mình, Nguyễn Bính đã xây dựng được một hệ thống biểu tượng nghệ thuật đa dạng, phong phú, đặc sắc, qua đó người đọc có thể cảm nhận được những nét độc đáo, thi v

Trang 2

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

P.GS TS NGUYỄN HỮU HIẾU

Thành phố Hồ Chí Minh – 2018

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng bản thân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Hữu Hiếu

Các tham khảo, trích dẫn sử dụng trong luận văn có ghi nguồn gốc cụ thể (tên tác giả, tên công trình, thời gian, hình thức công bố)

Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm nguyên tắc nghiên cứu khoa học, quy chế đào tạo, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Trang 4

Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của quý thầy cô, gia đình, anh chị và bạn bè Với lòng kính trọng sâu sắc, tôi chân thành cảm ơn:

Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học và thầy cô khoa Văn học của Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong học tập và nghiên cứu

Đặc biệt PGS TS Nguyễn Hữu Hiếu, người thầy đã hướng dẫn rất tận tình, chu đáo và luôn khích lệ, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn tốt nghiệp Ban Giám hiệu, Tổ Ngữ văn Trường THPT Phan Bội Châu, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương – nơi tôi công tác, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình tôi học tập và thực hiện luận văn này

Gia đình, bạn bè, người thân – những người đã luôn kịp thời động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

2.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 3

2.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

3 Lịch sử vấn đề 4

4 Mục đích – ý nghĩa và đóng góp của đề tài 9

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 9

5.1 Phương pháp tiếp cận hệ thống 9

5.2 Phương pháp so sánh 10

5.3 Phương pháp thống kê 10

6 Cấu trúc của luận văn 10

CHƯƠNG 1 11

KHÁI QUÁT VỀ BIỂU TƯỢNG VÀ TÁC GIA NGUYỄN BÍNH 11

1.1 Khái niệm biểu tượng 11

1.2 Bản chất, ý nghĩa và giá trị của biểu tượng: 21

1.3 Vai trò và chức năng của biểu tượng 26

1.3.1 Vai trò của biểu tượng 26

1.3.2 Chức năng của biểu tượng 27

1.4 Phân loại biểu tượng 28

1.4.1 Biểu tượng văn hoá 29

1.4.2 Biểu tượng xã hội 32

1.4.3 Biểu tượng nghệ thuật 35

1.5 Tác gia Nguyễn Bính 41

1.5.1 Cuộc đời 41

1.5.2 Sự nghiệp sáng tác 44

1.5.3 Vị trí của Nguyễn Bính trên thi đàn dân tộc 48

CHƯƠNG 2 BIỂU TƯỢNG TỰ NHIÊN TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH 50

2.1 Biểu tượng mưa 50

2.2 Biểu tượng mùa xuân 57

2.3 Biểu tượng Hoa “đồng nội” 69

2.4 Biểu tượng Vườn 78

CHƯƠNG 3 BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH 91

3.1 Biểu tượng trầu cau 91

3.2 Không gian mộng mơ 100

3.3 Biểu tượng 307 108

3.4 Biểu tượng người Mẹ 116

3.5 Biểu tượng Hồ Chí Minh 126

Trang 6

KẾT LUẬN 136

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 138

I Tài liệu in 138

II Tài liệu internet 143

PHỤ LỤC 144

Phần 1: Khảo sát hệ thống biểu tượng tự nhiên trong thơ Nguyễn Bính (cấp độ tác phẩm) 144

Phần 2: Khảo sát hệ thống biểu tượng văn hóa trong thơ Nguyễn Bính (cấp độ tác phẩm) 161

Phần 3: Bảng thống kế tần số xuất hiện của hệ thống biểu tượng nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính (cấp độ chi tiết nghệ thuật) 171

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nguyễn Bính một nhà thơ của hồn quê, chân quê Ông là trong những thi sĩ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới (1932 – 1945) Trong khi hầu hết các nhà thơ trong phong trào này đều hướng đến nền văn học Phương Tây để làm mới thơ của họ thì

ngược lại nhà thơ Nguyễn Bính chọn cho mình một hướng đi rất riêng, cố gắng “giữ

yên quê mùa”, chủ động trở về với những giá trị truyền thống quý báu nhằm kế thừa và

phát huy “chất ngọc” của văn hóa, văn học dân tộc

Trong những sáng tác của mình, Nguyễn Bính đã xây dựng được một hệ thống biểu tượng nghệ thuật đa dạng, phong phú, đặc sắc, qua đó người đọc có thể cảm nhận được những nét độc đáo, thi vị của làng quê Việt Nam, văn hóa và con người Việt Nam

Chọn đề tài “Biểu tượng nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính”, chúng tôi mong

muốn khảo sát trọn vẹn và có hệ thống các dạng biểu tượng nghệ thuật đã góp phần định hình phong cách thơ Nguyễn Bính

2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài

Là việc xác định một cách đầy đủ và toàn diện hệ thống biểu tượng nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính

2.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Những sáng tác của Nguyễn Bính trước và sau Cách mạng tháng Tám được khảo

sát qua Tuyển tập Nguyễn Bính (NXB Văn học, 1986), Nguyễn Bính toàn tập (NXB

Hội Nhà văn, 2017)

Trang 8

3 Lịch sử vấn đề

Nguyễn Bính là một trong những tác giả tiêu biểu trong phong trào Thơ Mới nhận được sự quan tâm rất lớn của giới lí luận, phê bình văn học qua nhiều thời kỳ

Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh và Hoài Chân

(2006) Hà Nội: Văn học) là công trình nghiên cứu về phong trào Thơ Mới (1932 - 1945) tạo được ấn tượng sâu đậm trong lòng bạn đọc, với lối phê bình trực cảm, nhẹ nhàng, tinh tế dường như đã chạm đến được nơi sâu nhất trong tâm hồn của các nhà Thơ Mới trong đó có Nguyễn Bính Người được mệnh danh là “thi sĩ của đồng quê” với những vần thơ mộc mạc, giản dị đã “đánh thức người nhà quê luôn ẩn náu trong lòng ta” (Hoài Thanh và Hoài Chân (2006), tr.334) Những tác phẩm của Nguyễn Bính rất gần với ca dao và phảng phất “hồn xưa của đất nước” (Hoài Thanh và Hoài Chân (2006), tr.334) Nhà phê bình Hoài Thanh chỉ “trách” Nguyễn Bính “giữa những bài giống hệt ca dao người bỗng chen vào một đôi lời quá mới”, “cái lối gặp gỡ ấy của hai thời đại rất dễ trở nên lố lăng” (Hoài Thanh và Hoài Chân (2006), tr.370) Nhưng theo người viết, chính sự kết hợp, đan cài thậm chí là xung đột giữa cái cũ và cái mới, giữa truyền thống và hiện đại trong thi giới Nguyễn Bính là một “đặc sản” riêng có của thi nhân Nó phản ánh chân thực và sinh động bức tranh giao thời của xã hội Việt Nam

Sau cách mạng cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước năm 1975, ở miền Bắc,

thơ Nguyễn Bính ít được quan tâm, nhất là sau việc báo Trăm hoa bị đả kích dẫn đến

phải đình bản (một tờ báo mà Nguyễn Bính giữ vai trò chủ bút) Ở miền Nam, tình

hình có khả quan hơn Trong giáo trình Thế hệ 1932 của Đại học Văn khoa Sài Gòn, tác giả Nguyễn Bính vẫn được đề cập, nhưng đáng chú nhất là hai công trình Lƣợc sử

văn nghệ Việt Nam: Nhà văn tiền chiến (Thế Phong (1959) NXB Vàng Son) và Việt Nam thi nhân tiền chiến (Nguyễn Tấn Long & Nguyễn Hữu Trọng (1968) NXB Sống

Mới), Nguyễn Bính được đánh giá là một trong những tác giả tiêu biểu của phong trào

Trang 9

Thơ Mới Nhưng cả hai công trình nêu trên chỉ mới là những nét phác họa ban đầu, chưa thật sự xác định một cách rõ ràng được phong cách sáng tác của Nguyễn Bính

Sau 1975 việc tiếp cận và nghiên cứu thơ Nguyễn Bính được chú trọng nhiều

hơn và có những bước tiến hết sức mạnh mẽ Trong công trình Nguyễn Bính thi sĩ của

đồng quê, Hà Minh Đức đã khẳng định: “Nguyễn Bính không trở về với ca dao theo lối

mô phỏng, viết những cái giống như ca dao mà quan trọng hơn là tìm được sự hòa hợp giữa hồn quê hương trong ca dao với những ý tưởng và tình cảm của cuộc đời mới”

(Thao Nguyễn (Tuyển chọn, 2013), tr.93) Trong Nguyễn Bính, nhà thơ chân quê,

Đoàn Thị Đặng Hương cũng có nhận định tương đồng với Hà Minh Đức: “Viết như dân gian mà vẫn là thơ, thơ của một nhà Thơ Mới” (Thao Nguyễn (Tuyển chọn, 2013), tr.26) Sức hấp dẫn của thơ Nguyễn Bính đâu chỉ dừng lại ở việc rất giống với ca dao

mà còn chất chứa trong đó hơi thở của thời đại mới Thậm chí trong Đường về chân

quê của Nguyễn Bính, Đỗ Lai Thúy cho rằng thơ Nguyễn Bính có “sự cọ xát cũ mới”,

“bộc lộ những sâu sắc trong tâm hồn không chỉ của một cá nhân, mà cả của một dân tộc” (Thao Nguyễn (Tuyển chọn, 2013), tr.48) Nhìn chung, ba tác giả nêu trên đều cho

rằng: Nguyễn Bính là thi sĩ của đồng quê, của chân quê Những hình ảnh đặc trưng

của quê hương trong thơ Nguyễn Bính được các nhà nghiên cứu đề cập rất độc đáo và đặc sắc Nhưng những hình ảnh ấy vẫn còn mang tính đơn lẻ, chưa tạo thành một hệ thống biểu tượng nghệ thuật chủ đạo trong thơ Nguyễn Bính Và trong hệ thống ấy, những thực thể biểu tượng chính yếu phải được đặt trong trạng thái động, trong sự tương tác qua lại thành một chỉnh thể nghệ thuật “thống nhất trong đa dạng” Ở đó, vườn trở thành không gian biểu tượng nghệ thuật trung tâm trong thi giới Nguyễn Bính

và những loài hoa “hương đồng gió nội” trở thành hạt nhân của khu vườn nghệ thuật

ấy, tạo nên vẻ đẹp của đồng quê, chân quê, hồn quê

Trong Ba đỉnh cao Thơ mới: Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Chu Văn

Sơn đã có nhận xét rất tinh tường về nhà thơ Nguyễn Bính: “Ông sinh ra dường như để

Trang 10

dành cho sự lỡ dở Trời đầy ông để ông phải làm tròn cái sứ mệnh oái oăn đó” (Chu Văn Sơn (2003), tr.133) Tác giả đã gói gọn một cách tài tình cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Bính bằng hai chữ “lỡ dở” Và chính sự “lỡ dở” làm cho Nguyễn Bính thấm thía hơn những “vị đắng” của cuộc đời và vì thế nhà thơ đã có những tiếng nói đồng điệu với nỗi lòng của những “con người bất hạnh”, những “thân phận bẽ bàng”, luôn “ngổn ngang tâm sự” Trong phần lời tựa của bộ tiểu thuyết nổi tiếng

Tiếng chim hót trong bụi mận gai của nữ văn sĩ Colleen McCullough, xuất bản (1977),

tác giả đã khẳng định một chân lý: “Những gì tốt đẹp nhất chỉ có thể có được khi ta chịu trả giá bằng nỗi đau khổ vĩ đại” Khẳng định ấy rất đúng trong trường hợp của Nguyễn Bính Nhà thơ trong suốt hành trình sáng tạo của mình luôn trong tâm thế sẵn sàng “dấn thân”, sẵn sàng đương đầu với “bão táp của cuộc đời” để dệt nên những vần thơ có thể chạm đến tầng sâu nhất của những tâm hồn bị tổn thương Đồng cảm với

những chia sẻ ấy có thể kể đến bài viết Khối tình lỡ của người chân quê của nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp (Nguyễn Bính toàn tập (Nguyễn Bính Hồng Cầu (Sưu tầm,

biên soạn, 2017), tr.722-732) Có lẽ, hai tác giả đã bắt trúng “bệnh” của nhà thơ Nguyễn Bính nhưng nguyên nhân sâu xa vì sao văn nghiệp của ông luôn trong tình

trạng “lỡ bước sang ngang” thì chưa thật sự quan tâm đúng mức Phải chăng, tuổi thơ

của Nguyễn Bính gắn liền với những năm tháng bất hạnh (mẹ mất sớm khi mới vài tháng tuổi), lại không được học hành đến nơi đến chốn ở trường Tây như một số nhà thơ tiêu biểu trong phong trào Thơ Mới Thi nhân đành “nhúng” đời mình vào “gió bụi trần ai”, nếm trải biết bao nhiêu cung bậc cảm xúc trong cuộc đời Thơ là đời được

“chưng cất”, đời có thơ để tỏ bày Vì “cuộc đời là một chuyến đi, gặp nhau thì ít chia li thì nhiều” nên Nguyễn Bính mới khát khao có một mái nhà ấm áp tình yêu thương, mới

“hoài niệm cố hương”, mới “vấn vương tình cũ”, mới “ủ rủ tâm can”, mới “tan nát cõi lòng”, và như một lẽ tất yếu “người ta thường hướng đến những gì họ còn thiếu” nên

dễ hiểu vì sao trong không gian tâm tưởng của thi nhân thường ngập tràn những cánh bướm và những giấc mơ bất tận về một thế giới thần tiên Điều này được khắc họa khá

Trang 11

rõ trong Cánh bướm và đóa hướng dương của Vương Trí Nhàn (Thao Nguyễn (Tuyển

chọn, 2013), tr.157-168) khi tác giả khẳng định: Nguyễn Bính đã tạo dựng cho mình

“một cõi tâm linh riêng, đó là cái thế giới mộng mơ với bao điều tốt đẹp” (Thao Nguyễn (Tuyển chọn, 2013), tr.168) Thế giới ấy theo ông được dệt nên bởi những cánh bướm và đóa hướng dương nhưng theo chúng tôi nhận định ấy chưa tạo dựng

được trọn vẹn không gian mộng mơ trong thơ Nguyễn Bính vì còn có những dạng thức

khác nhau của giấc mơ (những ước, những mơ) trong thơ ông, còn có những hình ảnh

biểu trưng cho thế giới mộng mị như thuyền mơ, bến mơ, phường mơ, mùa mơ Ngoài

ra Vương Trí Nhàn còn cho rằng: Thơ Nguyễn Bính hay đề cập “đến cánh bướm là không được đàng hoàng, là thiếu khí cốt, là nhảm” (Thao Nguyễn (Tuyển chọn, 2013),

tr.158) là có phần nặng lời vì xét đến cùng cánh bướm chỉ là một mã nghệ thuật để

Nguyễn Bính kí thác lòng mình Bên cạnh đó, tác giả còn nhận định Nguyễn Bính là

“một thi sĩ hồn nhiên và nông nổi”, “gặp đâu hay đấy”, “không thuộc dạng người hành động kiên nghị, suy tính trong từng bước đi” (Thao Nguyễn (Tuyển chọn, 2013), tr.160) là chưa hợp lý vì nếu tính cách của Nguyễn Bính mà như vậy thì làm sao thơ ông có thể khơi gợi “hồn xưa” của dân tộc Nếu Nguyễn Bính thật sự là một người thiếu kiên định thì lý giải thế nào về những sáng tác sau cách mạng tháng 8 năm 1945

của ông mà tiêu biểu nhất là tác phẩm Cửu Long Giang sau này được nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí phổ thành bài hát Tiểu Đoàn 307 được bao thế hệ quân nhân yêu thích Ở đó, chúng ta thấy được sự hòa quyện trọn vẹn giữa thi ca và âm nhạc để tạo nên một Biểu

tượng 307 Một biểu tượng nghệ thuật sinh động và chân thực về chủ nghĩa anh hùng

cách mạng

Không chỉ những học giả trong nước mới quan tâm đến thơ Nguyễn Bính mà còn có một nhà thơ người Nga tên là Ilia Phônhiacôp cũng cho rằng: “hiện tượng nổi bật nhất là sự trở về của Nguyễn Bính” Sự trở về “hồn xưa” của dân tộc làm cho thơ Nguyễn Bính thấm đẫm giá trị truyền thống

Trang 12

Sẽ thật là thiếu sót nếu không nhắc đến những công trình nghiên cứu về thơ

Nguyễn Bính ở hải ngoại của nhà văn Thụy Khuê như Nguyễn Bính đời thơ, bạc mệnh,

Thi pháp Nguyễn Bính Ấn tượng nhất là những cảm nhận lắng sâu đến tận cùng của

Thụy Khuê khi viết về tác phẩm Lỡ bước sang ngang Với lối phê bình đẩy cảm xúc

đến những thang bậc cao nhất, tác giả đôi lúc đã chạm đến “địa hạt sâu nhất” của thế giới tâm hồn, lúc đó bạn đọc có thể rơi vào trạng thái “ám ảnh” về những khổ đau, bất hạnh mà Nguyễn Bính đã trải qua và thầm cảm ơn nhà thơ vì đã nói hộ cả thế giới đàn

bà ở Á Đông về nỗi đau khổ tột cùng khi phải chấp nhận “ăn đời ở kiếp” với người mà mình không yêu Quả thật, Thụy Khuê đã có những đóng góp đáng kể trong việc áp dụng lý thuyết hiện đại Phương Tây vào việc tiếp cận thi giới Nguyễn Bính nhưng chúng ta có cảm giác tác giả đã để cảm xúc của mình chi phối quá nhiều vào quá trình nghiên cứu nên đôi lúc đã chạm đến sự cực đoan Vẫn biết thơ Nguyễn Bính trước cách mạng tháng 8 năm 1945 thấm đẫm nỗi buồn “nhân tình thế thái” nhưng đâu đến mức

ủy mị, bi thảm như nhận xét của Thụy Khuê “Bao nỗi buồn trên thế gian đều theo nhau vào thơ Nguyễn Bính” Thậm chí, trong nhãn quan của tác giả, những sáng tác của Nguyễn Bính sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 là “gượng gạo”, thiếu sức sống vì cho rằng “tạng” của ông không hợp với thơ tuyên truyền Nhưng không biết nhà văn Thụy Khuê sẽ lí giải như thế nào khi có đến 19 tác phẩm của Nguyễn Bính chủ yếu được nhà thơ sáng tác sau Cách mạng tháng 8 có đề cập đến hình tượng Hồ Chí Minh như một biểu tượng nghệ thuật chói ngời cho tinh thần đấu tranh bất khuất của dân tộc Việt

Nam Có một sự thật không thể phủ nhận là nhà thơ Nguyễn Bính đã tạo dựng nên Biểu

tượng Hồ Chí Minh với một tấm lòng thành kính, “trước sau như một” đối với vị lãnh

tụ kính yêu của dân tộc

Đặc biệt, nhân kỷ niệm 100 năm sinh nhà thơ Nguyễn Bính (1917 – 2017), bộ

sách Nguyễn Bính toàn tập (gồm 2 tập dày gần 1500 trang - NXB Hội Nhà Văn ấn

hành vào tháng 3 năm 2017) do chính Nguyễn Bính Hồng Cầu (con gái của thi sĩ

Trang 13

Nguyễn Bính) dành nhiều tâm huyết sưu tầm, biên soạn đã ra đời trong sự đón đợi nhiệt thành của bạn đọc gần xa

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập hầu hết mọi phương diện nội dung và nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính, còn việc khảo sát một số biểu tượng nghệ thuật trong thơ ông vẫn còn khá đơn lẻ, thật sự chưa có công trình nghiên cứu nào có cái nhìn toàn diện và có hệ thống về thế giới biểu tượng trong thơ Nguyễn Bính Đó là khoảng không gian trong nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính cần được bổ sung, chính vì thế, chúng tôi đã mạnh dạn, với tinh thần cầu thị, dành trọn tâm huyết của mình những mong có thể tiếp bước các bậc thức giả đi tiếp con đường đến với thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Bính vốn rất gần gũi, dung dị nhưng chất chứa những dư vị ngọt ngào và sâu lắng làm say đắm lòng người

4 Mục đích – ý nghĩa và đóng góp của đề tài

- Nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống những biểu tượng nghệ thuật tiêu biểu trong thơ Nguyễn Bính, qua đó thấy được sự độc đáo và sáng tạo trong thế giới thơ của ông

- Khẳng định vị trí, tài năng và những đóng góp của nhà thơ Nguyễn Bính trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam nói chung và thơ nói riêng

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Xuất phát từ đặc điểm nghiên cứu, mục đích và ý nghĩa nghiên cứu, chúng tôi kết hợp sử dụng một số phương pháp cơ bản sau:

5.1 Phương pháp tiếp cận hệ thống

Đây là phương pháp giữ vai trò khung, nền, làm cơ sở quan trọng để người viết tiếp cận hệ thống biểu tượng nghệ thuật thơ Nguyễn Bính một cách khoa học, logic, chặt chẽ

Trang 14

5.2 Phương pháp so sánh

Sử dụng phương pháp này giúp chúng tôi có thể so sánh hệ thống biểu tượng nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính so với một số biểu tượng trong sáng tác của các nhà thơ cùng thời Qua đó, chúng ta sẽ thấy được những dấu ấn riêng, độc đáo, đặc sắc

trong thơ Nguyễn Bính

5.3 Phương pháp thống kê

Phương pháp này giúp chúng tôi thống kê tần số xuất hiện của những biểu tượng chính trong thơ Nguyễn Bính

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục nội

dung nghiên cứu của luận văn gồm 3 chương :

Chương 1 Khái quát về biểu tượng và thi giới Nguyễn Bính

Trang 15

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT VỀ BIỂU TƯỢNG VÀ TÁC GIA NGUYỄN BÍNH

Trong đời sống văn hóa tinh thần của xã hội loài người, dù ý thức hay không, chúng ta sống trong một “mạng lưới” dày đặc các biểu tượng Nó có tác động và có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong nhiều lĩnh vực của đời sống con người Hiện nay, con

người cố gắng “giải mã” ngôn ngữ biểu tượng, vì qua việc bóc tách các lớp nghĩa của

biểu tượng trong suốt chiều dài hình thành và phát triển của nó, chúng ta sẽ thấy được chiều sâu và bề rộng văn hóa của biểu tượng, tìm lại được những giá trị văn hoá truyền thống còn chìm khuất trong sâu thẳm đời sống cộng đồng - xã hội

1.1 Khái niệm biểu tượng

Biểu tượng là gì? Khái niệm biểu tượng (symbol trong tiếng Anh, symbole trong tiếng Pháp) bắt nguồn từ ngôn ngữ cổ Châu Âu (symbolus trong tiếng La Mã, symbolon trong tiếng Hy Lạp), symbolon có nghĩa là ký hiệu (sign), dấu hiệu, lời nói, tín hiệu, triệu chứng, hợp đồng v.v Cũng có giả thuyết cho rằng chữ symbol bắt nguồn

từ động từ “symballa” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “ném vào một vị trí”, “liên kết”,

“suy nghĩ về”, “thoả thuận”, “ước hẹn” v.v Trong tiếng Hoa: Biểu có nghĩa là “bày

ra”, “trình bày”, “dấu hiệu”, để người ta dễ dàng nhận biết và nắm bắt một vấn đề nào

đó; Tượng có nghĩa là “hình tượng” Biểu tượng là một hình tượng nào đó được phô

bày ra trở thành một dấu hiệu, ký hiệu tượng trưng, nhằm để diễn đạt về một ý nghĩa mang tính trừu tượng Tương truyền, biểu tượng bắt nguồn từ một tập quán Hy Lạp cổ đại, nói về một phiến đá bị đập vỡ ra thành nhiều mảnh và chia đều cho mỗi thành viên trong một bộ tộc nào đó, trước sự phân tán của họ, sau này khi được triệu tập trở lại thì những mảnh đá vỡ đó được ghép lại (Sumballein) nhằm xác nhận sự hiện diện trở lại của toàn thể thành viên trong cộng đồng

Trang 16

Chu Hy đời Tống trong Dịch thuyết cương lĩnh khi bàn về biểu tượng đã viết:

“Tượng là lấy hình này để tỏ nghĩa kia” (Đoàn Văn Chức (1997), tr.58) Như hình bát quái đã lấy 8 quẻ trong Kinh Dịch làm đồ hình, mỗi quẻ là một tượng lớn, được cấu

thành bởi hai tượng nhỏ cơ bản: Một vạch liền (-) là tượng của nguyên lý dương, một vạch đứt ( ) là tượng của nguyên lý âm Về mặt ý nghĩa của biểu tượng, còn cho phép

đọc: vạch liền là tượng của giống đực, đàn ông, mặt trời, ánh sáng, sự sống, tiến lên,

cái thiện, hạnh phúc, hoà bình v.v , vạch đứt là tượng của giống cái, đàn bà, mặt trăng, bóng tối, cái chết, thoái lui, cái ác, đau khổ, chiến tranh v.v Biểu tượng luôn

mở rộng sự liên tưởng để trí tuệ có thể truy tìm, phân tích, khám phá ra những ý nghĩa còn chìm khuất trong chiều sâu nhận thức của con người Biểu tượng thể hiện năng khiếu tinh thần đặc biệt chỉ có ở con người - năng lực “biểu tượng hoá” Biểu tượng được hiểu là một sự vật, hiện tượng nào đó, nhờ thể hiện trong nó một nội dung cụ thể, cảm tính, mà hiện tượng này biểu hiện, trình ra những ý nghĩa, mang giá trị trừu tượng

Trong nhân sinh quan của người nguyên thuỷ, mọi vật thể từ viên sỏi nhỏ nhắn bên đường đến con suối, dòng sông hay cả đến bầu trời đêm lấp lánh ánh sao cũng đều

có sự sống, có linh hồn Hầu hết những sự vật, hiện tượng trong thế giới tự nhiên đều hàm chứa trong nó một ý nghĩa sâu xa, thầm kín Năng lực khái quát hóa, tượng trưng

hoá đã giúp con người dần hoàn thiện mình Thế giới biểu tượng là thế giới của bí ẩn

chất chứa nhiều tầng ý nghĩa, mang đậm giá trị nhân bản Một số nhà nhân học đã gọi con người là một động vật sử dụng biểu tượng (Homo - Symbolling)

Biểu tượng là một trong những “đơn vị cơ bản” của mọi cử chỉ, thái độ, hành vi

giao tiếp ứng xử và văn hoá của nhân loại Dựa vào năng lực tượng trưng hoá của con người, biểu tượng được coi như là một hình thái biểu hiện đặc trưng của văn hoá Toàn

thư quốc tế về văn hoá (The Encyclopedia of International Cultural Development) của

UNESCO đã đưa ra một định nghĩa văn hoá như sau:

Trang 17

“Văn hoá là tập hợp các hệ thống biểu tượng, quy định thế ứng xử của con người và làm cho một số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ lại thành một cộng đồng riêng biệt” (Nguyễn Đăng Mạnh (1994), tr.164)

Từ quan niệm về văn hoá nêu trên, ta thấy yếu tố cực kỳ quan trong mang tính

cốt lõi của văn hoá chính là hệ thống các biểu tượng, nó thật sự là “tế bào” của văn

hoá Cách tiếp cận văn hoá bằng các hình thái biểu tượng không có sự đối lập hoàn toàn với các cách tiếp cận văn hoá khác Bởi ở góc độ nào đó để nghiên cứu về văn hoá

đi chăng nữa thì văn hoá không có gì khác là toàn bộ sự hiểu biết của con người tích

luỹ được trong quá trình hoạt động thực tiễn - lịch sử xã hội được đúc kết thành các giá

trị và chuẩn mực xã hội Biểu tượng chính là sự cô đúc kinh nghiệm, tri thức sống của

con người Biểu tượng có mặt hầu hết trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ những

vật thể cụ thể trong kiến trúc, hội hoạ, điêu khắc, đảng kỳ, quốc kỳ, quốc huy, huân

huy chương, cho đến các hình tượng trong tác phẩm nghệ thuật như: thơ ca, âm nhạc, điện ảnh, sân khấu v.v , trong đó có cả các khuôn mẫu giao tiếp ứng xử trong đời

sống hằng ngày hoặc trong các nghi thức lễ hội truyền thống

Con người ngoài nhận thức thế giới bằng tư duy lý tính, đề cao tính logic, tính khoa học, còn có biết bao điều khó có thể diễn đạt một cách tường minh được, để giải

quyết vấn đề khó khăn này con người đã dùng một “vật trung gian” làm chiếc cầu nối

diệu kỳ để con người có thể chạm đến những điều bí ẩn vượt ra khỏi giới hạn của sự nhận thức thông thường Hệ thống các biểu tượng chính là vật trung gian, như: hình

ảnh “Hoa cúc” tượng trưng cho sự chung thuỷ; “Rùa” tượng trưng cho sự trường tồn;

“Hoa sen” tượng trưng cho sự thanh cao; “Nụ hôn” tượng trưng cho tình yêu; “Cái bắt

tay” tượng trưng cho tình hữu nghị, “Chim bồ câu” tượng trưng cho hòa bình v.v

Khái niệm biểu tượng được các nhà nghiên cứu lí giải rất đa chiều: Nhà tâm

phân học C G Jung nói về biểu tượng như sau: “Cái mà chúng ta gọi là biểu tượng là

Trang 18

một từ ngữ, một danh từ hay một hình ảnh, ngay cả khi chúng là quen thuộc trong đời sống hàng ngày vẫn chứa đựng những ý nghĩa khác” (Jean Chevalier & A Gheerbrant

(2002)

TS Nguyễn Văn Hậu, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội cho rằng: “Biểu tượng

được xem là “tế bào” cuả văn hóa và là hạt nhân “di truyền xã hội” đầu tiên của nhân loại Nó quy định mọi hành vi ứng xử và giao tiếp của con người” (Nhận định này ở

phần kết bài viết “Biểu tượng như là “đơn vị cơ bản” của văn hóa” của Nguyễn Văn Hậu, ngày đăng : 19/4/2009, www.vanhoahoc.vn) Theo Từ điển Tâm lý học (Vũ Dũng (2000), NXB Khoa học xã hội), “Biểu tượng là hình ảnh các vật thể, cảnh tượng và sự

kiện xuất hiện trên cơ sở nhớ lại hay tưởng tượng Khác với tri giác, biểu tượng có thể

mang tính khái quát.” Trong Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê (2007), NXB Đà Nẵng):

“Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng, là hình ảnh của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại” Henry Corbin thì nhận định: “Biểu tượng báo hiệu một bình diện ý thức khác với cái hiển nhiên lý tính; nó là "mật mã" của một bí

ẩn, là cách duy nhất để nói ra được cái không thể nắm bắt bằng cách nào khác” (Jean

Chevalier & A Gheerbrant (2002), tr.XVIII) Biểu tượng thật sự đã, đang và sẽ trở thành một phần quan trọng không thể thiếu trong đời sống tinh thần của nhân loại Nó vừa chứa đựng những nét đặc trưng văn hóa chung của mỗi nền văn minh, tôn giáo, vừa bao hàm những sắc thái riêng biệt của mỗi quốc gia, dân tộc

Trong văn học, do đặc trưng của nó là phản ánh cuộc sống bằng hình tượng

nghệ thuật nên “biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại

hình nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn” (Đinh Hồng Hải (2014), tr.24),

kiểu như hình tượng “cây sồi” trong “Chiến tranh và hòa bình” của Lev Tolstoy, , hình

tượng “chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, hình tượng “mưa” trong thơ Nguyễn Bính Biểu tượng là hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học thể hiện tập

Trang 19

trung nguyên tắc phản ánh đời sống, đồng thời chứa đựng trong ấy cả cảm xúc và quan niệm về đời sống của người nghệ sĩ

Vì biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói nên nó có quan hệ gần gũi với ẩn dụ, hoán dụ Biểu tượng có nét tương đồng với hoán dụ và ẩn dụ ở chỗ cũng được hình thành trên cơ sở đối chiếu, so sánh các sự việc, hiện tượng, đối tượng

có những phương diện, những giác độ, những đặc điểm gần gũi nhau, nhằm bộc lộ bản chất của các sự vật, hiện tượng hay đối tượng đó Các biểu tượng như “bến nước – con đò”, bướm và hoa (ẩn ý chỉ người con trai, người con gái), “mùa xuân” (sức sống mãnh liệt của tuổi trẻ) là những hình thức chuyển nghĩa được hình thành trên cơ sở như thế Nhưng xét đến cùng, biểu tượng vẫn có những khác biệt căn bản so với hoán dụ và ẩn dụ: thứ nhất, nếu hoán dụ, ẩn dụ được dùng hết sức quen thuộc trong đời sống xã hội đến mức khi nói đến vật đó thì người nghe, người đọc có thể suy ra ngay được điều nói đến và chúng ít nhiều mang ý nghĩa biểu tượng thì có một điều cần lưu tâm, biểu tượng không phải bao giờ cũng là những hoán dụ, ẩn dụ Ví như, từ “màu trắng” (tinh khiết),

“màu xanh” (hòa bình), “màu tím” (thủy chung) dẫu không được sử dụng như những

ẩn dụ thì chúng vẫn có thể là những biểu tượng Thứ hai, ẩn dụ và hoán dụ còn có xu hướng làm mờ dần ý nghĩa biểu thị sự vật, hiện tượng một cách trực quan, nhưng biểu tượng không hề loại bỏ ý nghĩa cụ thể, cảm tính của hình tượng nghệ thuật Điều này thể hiện khá rõ trong thơ lãng mạn và thơ tượng trưng Việt Nam, do hầu hết các hình ảnh mang tính ẩn dụ nhất là dạng ẩn dụ có sự chuyển đổi cảm giác được sử dụng với tần suất rất lớn nên người đọc càng khó nhận ra ý nghĩa biểu vật của hệ thống ngôn ngữ thơ Thứ ba, vì một hình ảnh ẩn dụ vẫn có thể sử dụng cho nhiều đối tượng khác nhau và mỗi một đối tượng cũng có thể diễn đạt bằng nhiều ẩn dụ, hoán dụ khác nhau

(“Thuyền về có nhớ bến chăng/ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” (ca dao),

“Chỉ có thuyền mới hiểu/ Biển mênh mông dường nào” (Thuyền và biển – Xuân

Quỳnh), hình ảnh “Biển khát bờ” trong bài hát “Biển cạn”) nên người đọc, người nghe

Trang 20

muốn cảm nhận được ý nghĩa sâu xa của chúng, không có cách nào khác là phải bám sát vào ngữ cảnh cụ thể trong từng văn bản Ý nghĩa biểu tượng không chỉ dừng lại ở văn bản như khi tìm hiểu các hình ảnh ẩn dụ mà còn cả một “chân trời” rộng lớn ngoài văn bản vì quá trình tạo nghĩa của mỗi biểu tượng thường được hình thành và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử của loài người, gắn liền với quá trình nhận thức và kinh nghiệm văn hóa của con người Từ buổi bình minh của nhân loại, cùng với sự xuất hiện của lời ăn, tiếng nói hằng ngày, các từ như trời, đất, nước, ngày, đêm, xuân, hạ, mưa, gió, lửa, sấm, chớp, cầu vồng, …dường như đã hằn sâu vào trong tâm thức của con người như những biểu tượng khởi nguyên

Để rõ hơn, chúng ta cũng cần phân biệt biểu tƣợng với mẫu gốc và hình tƣợng

Biểu tƣợng với mẫu gốc: Theo C.G.Jung: “Các mẫu gốc giống nhƣ những nguyên

mẫu của các tập hợp biểu tƣợng ăn sâu vào trong vô thức đến nỗi chúng trở thành nhƣ một cấu trúc, nhƣ những kỳ tích” (Jean Chevalier & A Gheerbrant (2002), tr.XXI)

Mẫu gốc thuộc cấp độ bản thể, liên quan đến bình diện văn hóa, là những tín hiệu thẩm mỹ đầu tiên mà con người nhận thức được trong buổi bình minh của xã hội loài người, có tính phổi quát cho toàn nhân loại Mẫu gốc là sợi dây liên kết con người hiện đại với tổ tiên xa xưa của chính mình, “một bản nguyên sống động vĩnh cửu”, những “mô hình ứng xử vĩnh cửu của cá nhân và xã hội” Mẫu gốc được khẳng định và nhấn mạnh ở tính nhân loại, tuy có nhiều nét nghĩa khởi nguyên của nó trở nên hết sức

mờ nhạt, rất khó nắm bắt do sự chênh lệch quá lớn giữa điều kiện, hoàn cảnh, thời đại của xã hội văn minh với nhân loại cổ xưa

Các mẫu gốc khi đi vào các nền văn hóa khác nhau sản sinh ra các biến thể khác nhau Vấn đề quan trọng ở chỗ: dân tộc nào sẽ lựa chọn nó thì còn phụ thuộc vào những điều kiện tự nhiên xã hội Do đó, biểu tượng vừa là biến thể của cái biểu đạt, cái được biểu đạt và được nhấn mạnh ở tính dân tộc trong khi mẫu gốc nhấn mạnh đến tính nhân loại Một điều cần lưu ý: biểu tượng và mẫu gốc không tồn tại một cách khô cứng

Trang 21

mà luôn đi vào tác phẩm nghệ thuật, chịu sự tác động, chi phối của yếu tố chủ thể sáng tạo làm biến đổi nó đi thành các hình tượng

Biểu tƣợng với hình tƣợng: Các biểu tượng khi thâm nhập vào trong thế giới văn học

nghệ thuật sẽ chịu sự tác động, chi phối trực tiếp của chủ thể sáng tạo Nhìn chung, nó vẫn mang trong mình tâm thức chung của dân tộc, thời đại sản sinh ra nó nhưng được nhấn mạnh ở tính riêng, độc đáo của từng tác giả

Ví dụ như biểu tượng Nước là một cổ mẫu trong văn hóa toàn nhân loại, các dân tộc đều xuất hiện biểu tượng này: Trong thần thoại Hy Lạp, Nước gắn bó mật thiết với biểu tượng Biển, ngọn nguồn khởi phát tình yêu, sắc đẹp, nghệ thuật, nơi sinh ra

nàng Aphrodite: “Máu của Uranox từ trời cao nhỏ xuống vùng biển Síp hòa tan vào

những con sóng bạc đầu Và từ một đám bọt sóng trong nhƣ ngọc nhƣ ngà …sinh ra

nữ thần Aphrodite…” Trong tâm thức Trung Hoa, Nước là trạng thái vô cực, không có

đỉnh, hỗn mang, gợi lên sự biến hóa khôn lường, luôn trôi chảy, trái đất của chúng ta ¾ đều chìm trong nước

Từ mẫu gốc, biểu tượng này, khi hòa mình vào tác phẩm văn học cụ thể lại có nhiều biến thể trở thành các hình tượng nghệ thuật sinh động, vừa chứa đựng thuộc tính

cổ mẫu Nước, vừa mang dấu ấn đậm nét của chủ thể sáng tạo, làm cho biểu tượng truyền thống mang hơi thở của thời đại mới

Biểu tượng và hình tượng là hai mặt biểu hiện tồn tại trong cùng một tác phẩm văn học nghệ thuật Chúng có mối liên hệ và gắn bó mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo nghệ thuật Hai khái niệm này trong thực tế chưa được phân định một cách rõ ràng, rành mạch, nên đôi khi vẫn có những trường hợp sử dùng lẫn lộn với nhau, mặc

dù bản chất của chúng là khác nhau Nhìn từ góc độ ngôn ngữ học, biểu tượng (symbol) và hình tượng (image) không phải là những từ đồng nghĩa, giữa chúng cũng

có sự phân biệt đáng kể Điều khác biệt cơ bản giữa hình tượng và biểu tượng chính là

ở cấu trúc ý nghĩa của chúng

Trang 22

Bất kỳ một sự vật, hiện tượng khách quan nào có trong đời sống xã hội, nếu được mô phỏng lại theo một phương thức sáng tạo rất biệt, độc đáo, đặc sắc chỉ có trong thế giới nghệ thuật đều trở thành hình tượng nghệ thuật Nhìn chung, hình tượng thường được hình thành trong mối quan hệ giữa thế giới hiện thực khách quan với nhận thức chủ quan của con người Song, hình tượng không “bê nguyên xi” những nguyên mẫu có trong đời thực, vì nó thuộc về thế giới tinh thần – thế giới của sự sáng tạo không ngừng Hình tượng không chỉ phản ánh đời sống hiện thực mà còn có thể khái quát hóa, điển hình hóa toàn bộ thế giới hiện tại, nhằm tìm ra được những yếu tố mấu chốt nhất, cốt lõi nhất của hiện thực khách quan Nhưng, hình tượng không giống với các khái niệm mang tính trừu tượng, mà nó thiên về cảm tính, biểu hiện hết sức sinh động, sáng tạo và độc đáo để dệt nên những tác phẩm văn học nghệ thuật để đời Sự biểu hiện của đời sống văn hoá luôn được đo bằng khả năng “tượng trưng hoá” của con người trong quá trình nhận thức và sáng tạo ra các hệ thống biểu tượng Sự phong phú,

đa dạng của các loại hình văn hoá nghệ thuật, biểu hiện tính đa diện, đa thanh của thế giới biểu tượng Biểu tượng luôn có sự liên hệ, tương tác với hình tượng nhưng không bao giờ đồng nhất hoàn toàn với hình tượng và cần lưu ý không phải mọi hình tượng đều có thể trở thành biểu tượng Nếu hình tượng là một “ký hiệu thông thường” thì biểu tượng có thể được xem là một dạng “siêu ký hiệu” Khi hòa mình vào ngôi nhà biểu tượng, hình tượng trở nên lung linh và huyền ảo, bao chứa chiều sâu suy tưởng và

có giá trị hơn Ý nghĩa biểu tượng của một vật không thể hiểu một cách trực tiếp mà cần có sự trải nghiệm bằng quá trình liên tưởng, tưởng tượng và bằng kinh nghiệm bản thân của người tiếp nhận Đó cũng là điểm khác biệt căn bản của hình tượng so với biểu tượng Hình tượng mang tính “đơn nghĩa”, nó chỉ đại diện cho một đối tượng cụ thể, duy nhất Trái lại, biểu tượng luôn mang tính "đa nghĩa" và nó bao hàm rộng hơn phạm vi cái mà chúng ta nhận thức được một cách trực tiếp Biểu tượng thực sự là một chân trời mở, cô đọng, súc tích, vì trong lòng nó luôn thúc đẩy sự biến đổi không ngừng những thang bậc ý nghĩa Giá trị và sự hấp dẫn của biểu tượng sẽ dần dần mất đi

Trang 23

nếu như khép lại sự bất tận về tính “đa nghĩa” của nó bằng sự giải thích theo lối “đơn nghĩa” bằng sự giải thích cuối cùng cho một đối tượng

Khi xác định sự khác biệt về mối liên hệ giữa hình tượng nghệ thuật và biểu tượng văn hóa trong tác phẩm, cần nhấn mạnh bản chất hai mặt của biểu tượng Một mặt nó vẫn giữ mối liên hệ với việc thể hiện tính hiện thực (tính hình tượng); mặt khác

là nó mang tính tượng trưng (tính biểu tượng) biểu đạt về một giá trị, mang tính trừu tượng, phi hiện thực, khó cảm nhận được Hai quá trình này luôn đan xen hai thái cực giữa sự mâu thuẫn và thống nhất Trong thực tế, biểu tượng khi thì rất xa xôi, khi lại gần gũi bên cạnh hình tượng nghệ thuật, thậm chí nhiều khi biểu tượng còn có những đường nét và những thuộc tính của hình tượng nghệ thuật Và, nếu hình tượng nghệ thuật được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ trở thành biểu tượng

Không phải hình tượng nào cũng có thể trở thành biểu tượng Chỉ những hình tượng thực sự điển hình, được công chúng thừa nhận, thể hiện sâu sắc một trường nghĩa nào đó mới có thể trở thành biểu tượng Để trở thành biểu tượng, hình tượng phải

có sức cộng hưởng, phải mang hơi thở của thời đại: “Thời đại không có biểu tƣợng là

thời đại chết; xã hội thiếu biểu tƣợng là xã hội chết Một nền văn minh không còn có biểu tƣợng thì sẽ chết; nó chỉ còn thuộc về lịch sử” (Jean Chevalier & A Gheerbrant

(2002), tr.XXXIII) Người ta khó có thể nói chị em Liên trong Hai đứa trẻ của Thạch

Lam là biểu tượng cho một điều gì đó (mặc dù qua hai nhân vật này, Thạch Lam cũng

thể hiện những ý tưởng trừu tượng) Tuy nhiên, nhân vật AQ trong AQ chính truyện

của Lỗ Tấn là biểu tượng sống động cho phép thắng lợi tinh thần – hiện tượng khá phổ biến trong đời sống xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ

Tóm lại, sự thống nhất giữa hai bình diện của một tác phẩm nghệ thuật - hình tượng nghệ thuật và nghĩa hàm ẩn của nó – rất dễ dẫn đến sự hình thành biểu tượng Trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, mỗi yếu tố của hệ thống nghệ thuật như: ẩn dụ,

Trang 24

hoán dụ, phúng dụ, tỉ dụ, ngụ ngôn, các chi tiết nghệ thuật, hình tượng nhân vật, ngôn

từ, v.v đều có thể trở thành biểu tượng Song, quá trình “biểu tượng hoá” có thực hiện được hay không còn tuỳ thuộc vào các điều kiện sau:

Thứ nhất: Mức độ đậm đặc mang tính khái quát cao trong tác phẩm nghệ thuật

Thứ hai: Ý đồ của tác giả có thật sự muốn đạt đến sự “biểu tượng hoá” trong tác phẩm hay không

Thứ ba: Ý nghĩa của các hình tượng nghệ thuật tự thể hiện, tự bộc lộ, không theo

ý định ban đầu của tác giả (điều này còn bị quy định bởi lôgíc tâm lý của hệ thống nhân vật và sự phát triển về mặt tình huống trong tác phẩm)

Thứ tư: Muốn tiếp cận được văn bản văn học cần chú ý đến vấn đề thời đại và văn hoá (tính lịch sử và tính nghệ thuật trong tác phẩm)

Ví dụ: Hình tượng nàng Mona Lisa với “nụ cười muôn thuở” trong bức tranh La

Joconde của Léonard de Vinci đã trở thành “biểu tượng” độc đáo trong hàng vạn hình

tượng người đàn bà khác có trong nghệ thuật hội hoạ

Biểu tượng và ý tượng cũng có sự khác biệt Chu Quang Tiềm cho rằng sáng tác

văn học rất cần tạo ra các ý tượng Ông viết: “Nếu nghệ thuật chỉ đưa ra những khái

niệm trừu tượng thì không sao tránh khỏi khuyết điểm là quá thông thường, chúng ta chỉ coi nó như những suy tư tìm tòi chân lí chứ không thể coi đó như là ý tượng để thưởng ngoạn” (Chu Quang Tiềm (1991), tr.301) Ông cho rằng bất kì một chi tiết nào

thể hiện những ý tưởng trừu tượng trong tác phẩm đều được coi là ý tượng Tác phẩm văn học được tạo nên từ rất nhiều ý tượng Trong quan niệm này, ý tượng có thể tương đương với hình tượng hoặc chi tiết Một tác phẩm văn học thường có nhiều những ý tượng, nhưng không phải lúc nào cũng có sự xuất hiện của biểu tượng Mặc dù cũng được cấu tạo bởi hai phần (cái biểu đạt và cái được biểu đạt) nhưng biểu tượng và ý

Trang 25

tượng là hai phạm trù không hoàn toàn đồng nhất Một ý tượng chỉ thực sự trở thành

biểu tượng khi cái ý nghĩa trừu tượng mà nó biểu hiện trở nên phong phú, tạo được ấn tượng sâu sắc, đầy ám ảnh trong lòng người đọc Chẳng hạn, trong tác phẩm Lá diêu bông của Hoàng Cầm, ta có ý tượng “xoè tay phủ mặt chị không nhìn” (biểu thị: người

chị trong bài thơ dường như không dám nhìn vào một sự thật nào đó) nhưng đây hoàn toàn không phải là một biểu tượng Xuyên suốt bài thơ chỉ có một biểu tượng duy nhất:

Lá diêu bông Xét đến cùng, biểu tượng chính là một cấp độ cao của ý tượng Tất

nhiên, có những ý tượng trực tiếp hoá thành biểu tượng, nhưng bên cạnh đó, có những

trường hợp nhiều ý tượng mới lập thành biểu tượng Ví dụ trong bài thơ Màu tím hoa

sim của Hữu Loan: Chiếc bình hoa ngày cưới/ Thành bình hương/ Tàn lạnh/ Vây quanh, bản thân ý tượng bình hoa đó trở thành biểu tượng về nỗi đau, về sự bất hạnh,

về sự tương phản, về sự nghịch lí, về sự mất mát không gì có thể bù đắp được

Từ cách nói biểu tượng, lối sáng tác biểu tượng đến việc tạo nên được các biểu tượng nghệ thuật là hai vấn đề rất khác nhau, cũng như cách viết tượng trưng trong Chủ nghĩa tượng trưng với việc tạo nên các tượng trưng nghệ thuật không hề đồng nhất Một hình ảnh, hình tượng trong lối sáng tác đó muốn trở thành biểu tượng, tượng trưng, nó phải trải qua một quá trình đặc biệt mang những đặc điểm riêng biệt

1.2 Bản chất, ý nghĩa và giá trị của biểu tượng:

Jean Chevalier và Alain Gheerbrant cho rằng: “Tự bản chất của biểu tượng, nó

phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và tập hợp các thái cực lại trong cùng một ý niệm.”

(Jean Chevalier & A Gheerbrant (2002) Hay nói như Georges Gurvitch: “Các biểu

tượng tiết lộ mà che giấu và che giấu mà tiết lộ” (Jean Chevalier & A Gheerbrant

(2002) Theo quan niệm của Freud: “Biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió

và ít nhiều khó nhận ra niềm ham muốn hay các xung đột.” (Jean Chevalier & A

Gheerbrant (2002)

Trang 26

Bản chất rất khó xác định và vô cùng sống động của biểu tượng chính là sự tách

ra và hợp lại với nhau, nó hàm chứa hai thái cực phân ly và tái hợp Mọi biểu tượng đều chứa đựng trong lòng nó dấu hiệu của sự bóc tách, ý nghĩa của biểu tượng luôn biến ảo khôn lường, nó bộc lộ ra trong cái vừa chia tách, vừa là kết nối, vừa hiện lên, vừa biến mất, khiến cho tư duy của con người luôn phải truy vấn và không ngừng liên tưởng thì mới có thể nắm bắt được tầng tầng lớp lớp những ý nghĩa đang còn ẩn sâu ngay trong lòng của nó

Bản chất của biểu tượng thật sự rất khó nắm bắt, muốn tiếp cận nó và có thể chạm đến những hiểu biết căn bản về nó rất cần có sự trải nghiệm và trình độ nhận

thức của mỗi cá nhân Hơn thế nữa, hành trình truy tìm bản chất và ý nghĩa của biểu

tượng cũng dựa nhiều vào thói quen, phong tục, tập quán của các nền văn hoá trong từng cộng đồng dân tộc khác nhau Điều bí ẩn của biểu tượng thôi thúc chúng ta trên

hành trình chinh phục và khám phá Một biểu tượng thường có nhiều ý nghĩa và ngược

lại một ý nghĩa lại có nhiều biểu tượng cùng biểu thị

Biểu tượng là một hình ảnh tượng trưng mang tính chất thông điệp được sử dụng trong tác phẩm nghệ thuật nhằm chỉ ra một ý nghĩa nào đó, theo một quan hệ ước lệ giữa sự vật trong thông điệp và sự vật ngoài nó

Biểu tượng trước hết mang bản chất kí hiệu, nhưng nó khác với kí hiệu thông thường hay còn gọi là tín hiệu Theo P Guiraud: Một tín hiệu tạo ra một kích thích, tác động đến cơ thể gợi ra những hình ảnh trong tiềm thức của một kích thích khác Dựa trên gợi ý của P Guiraud, Đỗ Hữu Châu đã đưa những kiến giải về tín hiệu khá thú vị:

“một sự vật muốn trở thành tín hiệu phải đƣợc cảm nhận bởi các giác quan, nó phải

gợi ra, phải đại diện cho một cái gì đó khác với chính nó, phải có một ý nghĩa” (Đỗ

Hữu Châu (1998), tr.51) Nhìn tổng thể, biểu tượng nói chung và biểu tượng nghệ thuật

nói riêng khác với những kí hiệu, tín hiệu thông thường Theo Từ điển biểu tƣợng văn

Trang 27

hóa thế giới, biểu hiệu, vật hiệu, phúng dụ, ngụ ngôn luân lí đều không phải là biểu

tượng, chúng chỉ là những dấu hiệu và không làm sao có thể vượt giới hạn của sự biểu đạt ý nghĩa Ngay cả trường hợp các biểu tượng trong toán học, khoa học cũng chỉ là

những kí hiệu Vì thế, biểu tượng khác kí hiệu thông thường ở chỗ: “biểu tượng rộng

lớn hơn cái ý nghĩa được gán cho nó một cách nhân tạo” (Jean Chevalier & A

Gheerbrant (2002), tr.19), “hiệu lực của nó vượt ra ngoài ý nghĩa Nó đầy gợi cảm và

năng động, nó không chỉ vừa biểu hiện theo một cách nào đó vừa tháo dỡ ra” (Jean

Chevalier & A Gheerbrant (2002), tr.20), “cái được biểu đạt dồi dào hơn cái biểu

đạt” (Jean Chevalier & A Gheerbrant (2002), tr.27) Tóm lại: một sự vật, hiện tượng

thật sự trở thành biểu tượng khi trong nó có sự tích tụ, dồn nén một cách có hệ thống những ý nghĩa sâu sắc, nó được cộng đồng người trong một quốc gia dân tộc, thậm chí

có biên độ trên toàn thế giới thừa nhận, nó luôn quy chiếu về một ý nghĩa cố định nào

đó, nhưng đồng thời lại tiềm ẩn khả năng khai mở những tầng nghĩa khác nhau trong

sự cảm nhận của con người Từ đó có thể hiểu, biểu tượng là những sự vật, hiện tượng đậm chất cảm tính chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa và ngày càng trở nên linh hoạt, sinh động, đa chiều hơn trong đời sống văn hoá xã hội, trong tâm tư, tình cảm và nhận thức

của con người Chẳng hạn, hình ảnh Ngọn lửa trong các truyền thuyết dân gian “là

biểu tượng của sự tẩy uế, sự toả sáng của tình yêu theo nghĩa tinh thần Ngọn lửa là hình ảnh của tinh thần và sự siêu việt, linh hồn của lửa” (Jean Chevalier & A

Gheerbrant (2002), tr.644) Trong tâm thức nhân loại, ngọn lửa hiện hữu một cách sống động và ngập tràn ý nghĩa

Một số công trình nghiên cứu giải thích biểu tượng bằng khái niệm tượng trưng

Chẳng hạn, Từ điển tiếng Việt viết: Biểu tượng là “hình ảnh tượng trưng Chim bồ câu

là biểu tượng của hoà bình” (Hoàng Phê (2007), tr.66);“Biểu tượng như là thuật ngữ của mĩ học, lí luận văn học và ngôn ngữ học cũng được gọi là tượng trưng” (Lê Bá

Hán, Trần Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi (1992), tr.24) Thực chất biểu tượng và tượng

Trang 28

trưng là một Khi nói đến tượng trưng, thực chất là nói đến cách thức, phương thức

chuyển nghĩa Sách Từ điển thuật ngữ văn học cũng viết: “phạm trù tƣợng trƣng nhằm

chỉ cái phần mà hình tƣợng vƣợt khỏi chính nó chỉ sự hiện diện của một ý nghĩa nào đó vừa hoà hợp với hình tƣợng, vừa không đồng nhất với hình tƣợng” (Lê Bá Hán, Trần

Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi (1992), tr.390) Tượng trưng trong văn học chủ yếu tập trung vào ý nghĩa, vào cái phần mà nó biểu hiện, cái được biểu đạt Thưởng thức một hình ảnh tượng trưng trong nghệ thuật trước hết người ta thưởng thức những ý vị được gửi gắm trong hình ảnh ấy Tượng trưng hay biểu tượng nghệ thuật có khả năng tái sinh, có thể chuyển vào trong nó những nghĩa mới, mang dấu ấn cá nhân và dấu ấn của thời đại Biểu tượng không những luôn có xu hướng lưu giữ dấu ấn của truyền thống, dấu ấn của thời đại, dấu ấn của lịch sử văn hoá mà còn không bao giờ xa rời việc thể

hiện dấu ấn cá nhân của người nghệ sĩ Ví dụ khi đề cập đến hình ảnh Cây trúc liền

nghĩ đến cốt cách của người quân tử Cho nên, sáng tạo ra những biểu tượng mới, phá

vỡ những biểu tượng đã đi vào lối mòn (tức là phá vỡ tượng trưng ước lệ) góp phần tạo nên sự biến đổi – thậm chí đó là dấu hiệu của phát triển trong văn học nghệ thuật Ví như trong phong trào Thơ Mới, nhiều thi sĩ đã dày công xây đắp biểu tượng của sự cô

đơn như hình ảnh con nai ngơ ngác giữa rừng thu đang thay lá trong bài Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư hay cảm thức cô đơn đến kiêu kỳ của thi sỹ Xuân Diệu: Ta là một là

riêng, là duy nhất/ Không có ai bè bạn nỗi cùng ta thì trong văn học Việt Nam sau

1945 lại xuất hiện rất nhiều biểu tượng về sự anh dũng, hi sinh: 56 ngày đêm/ Khoét

núi ngủ hầm/ Mƣa dầm cơ vắt/ Máu trộn bùn non/ Gan không núng/ Chí không mòn

(Hoan hô chiến sỹ Điện Biên – Tố Hữu) Bên cạnh việc sáng tạo ra những biểu tượng

hoàn toàn mới cũng có hiện tượng bổ sung ý nghĩa cho những biểu tượng quen thuộc

Chẳng hạn như trong Thơ Mới, hình ảnh Con Tàu thường biểu hiện cho sự ra đi trong

cô độc, thì trong thơ ca Cách mạng, biểu tượng Con Tàu (Tiếng hát con tàu của Chế

Lan Viên) lại biểu hiện cho sự ra đi mang tính chất khai phá, mở đường, ra đi trong tiếng hát, lời ca và niềm hy vọng Nhiều khi dấu ấn của chủ thể sáng tạo quá đậm nét

Trang 29

khiến cho biểu tượng trở nên kỳ bí, khó hiểu Chẳng hạn, chúng ta sẽ hiểu như thế nào

trước biểu tượng: “Những con cá không đầu suy nghĩ” của Phan Nhiên Hạo?

Những giá trị và ý nghĩa của biểu tượng thật sự vẫn còn đang chìm khuất trong kho tàng văn học dân gian, trong phong tục tập quán, trong nếp sống, trong các lễ hội truyền thống của dân tộc và cả trong các loại hình văn hoá - nghệ thuật dân gian vẫn chưa được khai phá một cách có hệ thống Các giá trị, chuẩn mực được kết tinh trong

lòng các biểu tượng chính là thành tố cốt lõi làm nên bản sắc riêng của mỗi cộng đồng

xã hội, nó quy định khuôn mẫu ứng xử và giao tiếp của con người, chi phối toàn bộ đời

sống tâm lý cũng như mọi hoạt động của họ trong cộng đồng - xã hội đó

Giá trị đặc biệt của biểu tượng được xác định chính trong “sự chuyển vượt từ

cái đã biết sang cái chưa biết, từ cái đã diễn đạt sang cái khó tả nên lời Nếu cái phần giấu kín một ngày nào đó lộ ra hết, thì biểu tượng sẽ chết” (Jean Chevalier & A

Gheerbrant (2002), trXXV) Biểu tượng gắn liền với sự trải nghiệm, không thể cảm nhận và nắm bắt giá trị của nó nếu tâm trí ta không thật sự đắm chìm trong bầu khí quyển nơi biểu tượng đó xuất hiện

Mỗi nền văn hóa trên thế giới đều được cấu thành bởi một hệ thống biểu tượng nhất định Việc tìm hiểu và nghiên cứu hệ thống biểu tượng là chìa khóa để giải mã đời

sống văn hóa, tinh thần của một quốc gia, dân tộc Trong công trình nghiên cứu Từ

điển biểu tượng văn hóa thế giới, Jean Chevalier từng khẳng định: tìm hiểu biểu tượng

là tìm ra “chìa khóa của những con đường đẹp đẽ… Vượt qua cái dáng vẻ bên ngoài,

ta thấy được những chân lý, niềm vui, những ý nghĩa ẩn kín và thiêng liêng của mọi điều trên mặt đất quyến rũ và kinh khủng này” (Jean Chevalier & A Gheerbrant

(2002), tr.66)

Trang 30

1.3 Vai trò và chức năng của biểu tượng

1.3.1 Vai trò của biểu tượng

Biểu tượng là một trong những hình thức quan trọng của sự phản ánh mang tính chủ quan của cá nhân và cộng đồng về thế giới khách quan Biểu tượng là quá trình chuyển hoá từ hình ảnh cụ thể, chi tiết đến hình ảnh mang tính phức hợp, trừu tượng,

nó giúp người sử dụng biểu tượng tạo dựng được những hình tượng tươi mới, độc đáo, đặc sắc nên chúng đóng vai trò hết sức quan trọng và cần thiết trong hoạt động sáng tạo của con người

Từ xưa đến nay, biểu tượng luôn có vai trò to lớn trong hoạt động của đời sống con người Chúng ngày càng được quan tâm và nghiên cứu một cách hết sức nghiêm

túc, công phu Vai trò của trí tưởng tượng càng ngày càng được chú trọng và đề cao Vị

trí của nó thật sự đã được con người nhìn nhận lại, xác định lại và được xem là mặt thứ hai của lý trí, chính nó là nhân tố quan trọng, mang tính then chốt giúp cho con người

có những phát hiện mới, khám phá mới vô cùng lý thú Biểu tượng luôn được đặt ở vị

trí trung tâm và được xem như “tế bào” của đời sống văn hoá nhân loại Biểu tượng có

sức mạnh gợi lên những điều bí ẩn đang còn chìm sâu trong vô thức, tiềm thức của con người dần hiển hiện và trở thành nguồn động lực sâu kín của nhận thức để có thể mở cánh cửa của tri thức cho ta bước vào thế giới liên tưởng, tưởng tượng vô cùng hấp dẫn

và thú vị Hơn thế nữa, biểu tượng còn là hạt nhân của sự di truyền xã hội được các thế

hệ trao gởi cho nhau trong suốt chiều dài của lịch sử, bằng các khuôn mẫu văn hoá cổ

truyền - Cổ mẫu (Archetypes) hằn sâu trong tâm thức của cộng đồng - xã hội, nó giúp

khai mở những chân trời của trí tuệ nhân loại bằng sự cảm nhận tinh tế và sâu sắc

Trang 31

1.3.2 Chức năng của biểu tượng

Biểu tượng là hệ thống “ngôn ngữ tượng trưng” chỉ xuất hiện trong xã hội loài người, thậm chí còn được coi là điều“cốt lõi” của văn hoá Vì vậy, con người trong

quá trình khám phá thế giới biểu tượng cũng chính là quá trình nhận ra được những nét

đẹp về văn hoá Thế giới văn hoá gắn liền với các hệ thống biểu tượng Quá trình tìm

hiểu và nhận thức về biểu tượng cũng là quá trình tiếp cận, nhận biết, nắm bắt và truyền đạt thông tin có trong các biểu tượng Từ đó, con người có thể nhận thức một cách sâu sắc về đời sống tinh thần của chính bản thân mình và cộng đồng Với ý nghĩa

ấy, biểu tượng có một chức năng cực kỳ quan trọng là sự điều tiết và định hướng trở lại đời sống xã hội Đây cũng chính là tính văn hoá của biểu tượng

Biểu tượng bao giờ cũng có:

Thứ nhất: Tính chất biểu hiện một cái gì đó bằng sự vật có hình ảnh cụ thể;

Thứ hai: Đại diện cho một cái gì đó nhằm gợi mở nhiều vấn đề thông qua liên tưởng, tưởng tượng;

Thứ ba: Tính ước lệ;

Thứ tư: Mã (ký hiệu);

Thứ năm: Biểu hiện những “giá trị” mang tính nhân văn

Biểu tượng còn mang tính thay thế (vật trung gian, vật môi giới) Biểu tượng không những thay thế cho các đối tượng hiện thực, mà còn thay thế tất cả các quá trình,

cả hình tượng, ý niệm của con người Chức năng thay thế là một trong những đặc điểm của biểu tượng Bên cạnh đó, nó còn có những thuộc tính và chức năng khác như: chức năng dự báo, chức năng giao tiếp, chức năng cung cấp thông tin,…

Ngoài ra, biểu tượng còn có chức năng liên kết cộng đồng Nó làm cho các thành viên trong một quốc gia có những suy nghĩ rất gần gũi với nhau, chẳng hạn như khi đề cập đến biểu tượng “Rồng”, “Tiên”, mỗi người dân Việt Nam đều nhớ về cội nguồn

Trang 32

dân tộc của mình Biểu tượng trở thành ngôn ngữ chung, kết nối cộng đồng hoặc có thể

là toàn nhân loại khi nó biểu thị được những giá trị mang tính chất toàn cầu như những biểu tượng “Hoà bình”, “Tự do” v.v… Ngoài ra, biểu tượng còn có khả năng phát ra những tín hiệu và gần như lập tức nó tác động to lớn, thôi thúc mọi người hành động theo tiếng gọi của lương tri một cách hết sức tự nguyện, tự giác mà không cần một sự chi phối của bất cứ thế lực nào Chức năng của biểu tượng vô cùng đa dạng, phong phú

và có ý nghĩa sống còn đối với nhân loại Biểu tượng là công cụ vô cùng hiệu quả để

các bộ tộc, sắc tộc và dân tộc trên thế giới có thể giao tiếp và thấu hiểu lẫn nhau Tiếp cận và thấu hiểu được giá trị, ý nghĩa của các biểu tượng của một cá nhân, của một quốc gia, dân tộc tức là đã chạm đến nơi sâu thẳm nhất của con người và dân tộc ấy

Ngoài ra, biểu tượng còn có chức năng cộng hưởng: một biểu tưởng càng có sức lan tỏa mạnh mẽ khi biểu tượng ấy hòa quyện trong bầu khí quyển tinh thần của một cá nhân, một cộng đồng, một thời đại Biểu tượng luôn gắn với một tập thể nhất định, sự hình thành và phát triển của nó không phụ thuộc vào hoạt động thuần túy mang tính cá nhân Biểu tượng luôn được đắm mình trong không gian rộng lớn ngoài xã hội dẫu rằng nó khởi phát từ ý thức cá nhân

Biểu tượng không chỉ biểu thị một sự việc, nó đã hoàn thành, mà còn biểu thị cái đang hình thành và phát triển Nó không chỉ biểu thị mặt ổn định, thậm chí là bảo thủ, trì trệ trong đời sống mà còn biểu thị mặt biến đổi, tích cực, năng động của thế giới nhân sinh

1.4 Phân loại biểu tƣợng

Biểu tượng xuất hiện ở hầu khắp các lĩnh vực hoạt động trong đời sống xã hội như âm nhạc, kiến trúc, điện ảnh, tôn giáo… Tuy nhiên, cuộc sống thì muôn hình vạn trạng, nên có thể có nhiều cách phân chia khác nhau: phân chia theo từng lĩnh vực cụ thể (biểu tượng: âm nhạc, kiến trúc, tôn giáo, nghệ thuật…); phân chia dựa vào nguồn

Trang 33

gốc của biểu tượng (biểu tượng có nguồn gốc văn hóa, xã hội và biểu tượng có nguồn gốc tự nhiên) Tuy vậy, những cách phân chia ấy vẫn chưa bao quát hết được thế giới biểu tượng vốn dày đặc, đa đạng và phong phú Từ thực tế ấy, dựa vào đặc điểm và tính chất của biểu tượng, người viết mạnh dạn chọn cách phân loại sau: Biểu tượng văn

hoá, biểu tượng xã hội và biểu tượng nghệ thuật

1.4.1 Biểu tượng văn hoá

Muốn biết biểu tượng văn hóa là gì thiết nghĩ trước tiên, chúng ta phải tìm hiểu xem thế nào là văn hóa Tháng 8/1943, khi còn trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, lần đầu tiên Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa của mình về văn hoá và định nghĩa của Người có

rất nhiều điểm gần với quan niệm hiện đại về văn hoá Người viết: “Văn hoá là tổng

hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Hồ Chí

Minh toàn tập (2002), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tập 3, tr.431) Trong cuốn

Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (NXB TP.HCM, 1996), PGS.TSKH Trần Ngọc

Thêm cho rằng: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do

con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn”

Những biểu tượng văn hoá là đơn vị cơ bản của văn hoá, là hạt nhân di truyền

xã hội và quan trọng hơn là nó sinh ra nhờ năng lực biểu tượng hoá của con người Con người tư duy bằng biểu tượng, giao tiếp bằng biểu tượng và thể hiện tâm tư, tình cảm sâu kín nhất cũng như những giây phút thăng hoa nhất, những khát vọng cháy bỏng nhất của mình cũng bằng những biểu tượng Vì thế khi ta lí giải được những biểu tượng văn hoá có nghĩa là ta đã tìm thấy những giá trị khoa học và nhân văn của cả dân tộc

Biểu tượng trong quá trình hình thành và phát triển cũng đã tạo nên các “khuôn mẫu và chuẩn mực văn hoá” - khuôn mẫu và chuẩn mực trong cử chỉ, hành vi, thái độ

và cách ứng xử của con người Các khuôn mẫu và chuẩn mực này được lặp đi lặp lại

Trang 34

nhiều lần trong sinh hoạt hằng ngày của đời sống cộng đồng, theo dòng chảy của lịch

sử đã dần trở thành nếp sống, lối sống, phong tục, tập quán của mỗi cộng đồng xã hội khác nhau Qua hệ thống biểu tượng, chúng ta cảm nhận được bản sắc riêng của mỗi nền văn hoá khác nhau Biểu tượng thật sự đã trở thành “khuôn mẫu gốc” (Archetype)

và chuẩn mực văn hoá của mỗi cộng đồng người trên thế giới Các giá trị chuẩn mực trong đời sống xã hội được cô đọng thành các biểu tượng và đến lượt mình, biểu tượng phát lộ ra bên ngoài các giá trị xã hội Nhận thức thấu đáo và “giải mã” thành công các

hệ thống biểu tượng sẽ tiếp cận và thấu hiểu được những giá trị, những tư tưởng còn chìm khuất trong thế giới của biểu tượng Đó là một cách thức, một con đường để có thể nắm bắt được tâm lý, tính cách cũng như đời sống tinh thần của một quốc gia, dân tộc

Các sáng tác tự sự dân gian lưu truyền cho đến nay đều được hình thành bằng phương thức khái quát hoá, mô hình hoá, trừu tượng hóa trở thành một loại hình ảnh mang tính biểu tượng, tượng trưng chứa đựng trong nó những giá trị, tư tưởng được cả một dân tộc gửi gắm vào đó như biểu tượng mặt trời, một biểu tượng được đề cao và tôn sùng ở hầu hết các quốc gia trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (Châu Á còn được gọi là phương Đông là phương của mặt trời mọc) Mặt trời chứa đựng nguồn ánh sáng vô tận đem lại sức sống cho muôn loài Và Việt Nam là quốc gia nằm ở phía đông bán đảo Đông Dương, thuộc khu vực Đông Nam Á “con Rồng và chim Lạc” đã trở thành hai biểu tượng cổ xưa và thuần nhất của người Việt, nó được phản ánh trong truyền thuyết “con Rồng cháu Tiên”, nhắc nhớ chúng ta về nguồn cội của mình Hình ảnh của hai con vật tổ này có thể tìm thấy trên bề mặt của những chiếc trống đồng Đông Sơn (ở miền Bắc và Bắc Trung bộ Việt Nam hiện nay)

Hình tượng chim Lạc trên bề mặt trống đồng được xem là biểu tượng của nhà nước Văn Lang và các vua Hùng, nó biểu trưng cho tinh thần và văn hóa của người Việt cổ Hai biểu tượng “con Rồng” và “chim Lạc” luôn song hành mang tính cộng

Trang 35

đồng rất rõ, nó chứa đựng những giá trị và diễn đạt được những điều mong muốn cũng như những khát vọng của mọi thành viên trong cộng đồng Ta thấy biểu tượng có một giá trị đối với nhóm, đối với cộng đồng và xã hội, nó có quyền năng tập hợp hay đồng tình về một giá trị, một tư tưởng của cả cộng đồng Biểu tượng luôn mang đậm tính xã hội vì nó có sức mạnh liên kết xã hội Bản sắc văn hóa của một dân tộc chính là sự thể hiện đời sống tâm lý, tinh thần của dân tộc ấy, được biểu hiện qua phong cách sống, phong tục tập quán, sở thích, nếp nghĩ và trong các thang bậc giá trị xã hội Tất cả hội

tụ thành một thể thống nhất toát ra những nét độc đáo, đặc sắc nhằm phân biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác Bản sắc văn hóa dân tộc là sự biểu hiện về bản lĩnh sáng tạo,

về năng lực tư duy của mỗi dân tộc Nó được kết tinh thành những biểu tượng văn hóa bao chứa các hệ thống biểu tượng mà qua đó chúng ta có thể hiểu được tính cách của dân tộc Để cảm nhận được những giá trị và bản sắc của văn hóa Việt Nam, ta có thể tìm đến các biểu tượng văn hóa mang đậm tính truyền thống như: trống đồng Đông Sơn, cồng chiêng Tây Nguyên, trầu cau v.v…

Các hệ thống biểu tượng văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc ôm chứa trong cốt

tủy của nó những giá trị tư tưởng hết sức sâu rộng, nó thể hiện được tâm lý dân tộc

trong quá trình chọn lựa cách thức giao tiếp ứng xử, trong quan niệm về nhân sinh Soi chiếu vào đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của dân tộc, ta nhận thấy rằng: nước ta được định hình từ một nền văn minh nông nghiệp (chủ yếu là trồng lúa nước) và một nền văn hóa làng xã Để có thể tiếp cận có hệ thống và khoa học về bản sắc của một nền văn hóa nói chung cũng như bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam nói riêng, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu, khai thác một vài biểu tượng đơn lẻ mà còn phải đi sâu nghiên cứu một cách hết sức nghiêm cẩn toàn bộ các hệ thống biểu tượng trong văn hóa truyền thống có trong các sáng tác dân gian, trong các hình thức sinh hoạt cộng đồng, trong đời sống văn hóa nghệ thuật dân tộc cho đến những chuẩn mực trong giao tiếp ứng xử v.v… Như thế, chúng ta mới có thể khái quát một cách toàn

Trang 36

diện về bản sắc văn hoá dân tộc Cuộc sống hiện đại thay đổi từng phút, từng giờ, biểu tượng cũng vì thế có những biến thiên khôn lường, muốn nắm bắt được những diễn biến của thế giới biểu tượng, chúng ta phải xác định được phương thức lựa chọn những giá trị tiêu biểu của mỗi một dân tộc được mã hóa bằng hệ thống biểu tượng của toàn thể cộng đồng xã hội Từ đó, ta sẽ nhận ra sự khác biệt căn bản về diện mạo và tính cách của một dân tộc Đó là nền tảng làm nên bản sắc riêng của mỗi nền văn hóa và của mỗi dân tộc

1.4.2 Biểu tƣợng xã hội

Khái niệm “Biểu tượng xã hội” lần đầu tiên được nhà xã hội học Durkheim đưa

ra năm 1898 với tư cách là một phạm trù xã hội học và đến năm 1961 được Moscovici

sử dụng như một khái niệm tâm lý học trong công trình “Phân tâm học – hình ảnh và

tác giả của nó”

Biểu tượng xã hội được hiểu như một kiến thức hồn nhiên, chất phác, ngây thơ,

có nhiều khác biệt với kiến thức xã hội Nó chỉ ra kiến thức chung được hình thành theo mô hình đơn giản, dân dã, cung cấp khuôn khổ cắt nghĩa về thực tế Con đường hình thành biểu tượng xã hội: mỗi một người xuất phát từ những điều được chứng kiến, được quan sát thấy hay từ các phương tiện thông tin truyền thông; sau đó, ở chủ thể xuất hiện một hoạt động tâm lí nhằm tiếp cận các tri thức đó, biến nó thành tri thức của mình, chia sẻ nó với những cá nhân khác trong cùng một nhóm, một tập thể, rồi lan tỏa dần ra toàn xã hội, giải thích nhiều sự vật, hiện tượng dưới hình thức một sự kiện thực

tế được xâu chuỗi lại, tóm tắt lại

Các biểu tượng xã hội là tập hợp các ý kiến, các quan điểm, là nhận thức về một đối tượng nhất định nào đó trong thực tiễn Chúng rất đa dạng, phong phú và có xu

Trang 37

hướng dịch chuyển tiệm cận với một nền văn hoá Ngôn ngữ, giao tiếp ứng xử và các tương tác xã hội đóng vai trò cơ bản trong việc hình thành và phát triển các biểu tượng

xã hội

Biểu tượng xã hội được hình thành ngay trong lòng xã hội, nó có tính cộng hưởng rất lớn, đầu tiên có thể khởi phát từ một cá nhân rồi sau đó lan tỏa ra khắp cộng đồng xã hội, nó phản ánh chân thực, sống động, các hiện tượng nóng bỏng trong đời sống xã hội Chẳng hạn như thời gian vừa qua cả cộng đồng thế giới đều căm phẫn về những tội ác vô cùng man rợ của các phần tử khủng bố thuộc tổ chức Nhà nước tự xưng IS đã gieo rắc nổi kinh hoàng cho người dân trên toàn thế giới, đặc biệt là vụ

“đánh bom liều chết” tại thủ đô Paris nước Pháp đêm ngày 13.11.2015, làm ít nhất 140 người chết Qua facebook, hàng trăm triệu người trên thế giới đã đổi ảnh đại diện của

họ bằng biểu tượng ảnh cá nhân lồng trong quốc kỳ Pháp Ở Việt Nam, hàng triệu người sử dụng mạng xã hội facebook cũng đã để ảnh đại diện lồng trong quốc kỳ Pháp Nhiều người cũng cập nhật những dòng trạng thái chia sẻ nỗi đau và sự mất mát không

gì có thể bù đắp được của thân nhân vụ thảm sát khủng khiếp tại Paris vào đêm ngày 13-11-2015

Qua việc làm trên, chúng ta thấy rõ mong muốn của những người có lương tri trên toàn thế giới, sát cánh với người dân Pháp vượt qua nỗi đau nặng nề này và lên án quyết liệt hành động tàn độc của bọn khủng bố và thể hiện quyết tâm của toàn nhân loại trong chiến dịch tiêu diệt tận gốc tổ chức Nhà nước Hồi giáo tự xưng IS Chính sự ủng hộ “không bờ bến” của những người yêu chuộng hòa bình, căm ghét cái ác đến tận xương tủy trên toàn cầu không phân biệt giới tính, tôn giáo, sang hèn,… đã trở thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, làm điểm tựa tình thần giúp chính quyền Assad và các lực lượng chống khủng bố đang tham gia trên chiến trường Syria giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác và đẩy “thế lực bóng tối” đến chỗ diệt vong

Trang 38

Theo Moscovici (1961): “Biểu tượng xã hội là một dạng hiểu biết đặc biệt, một

dạng tri thức có nghĩa chung mà các nội dung của nó thể hiện thao tác của các quá trình phát sinh và chức năng đánh dấu bởi xã hội Rộng hơn, nó chỉ ra một dạng tư duy

xã hội” (Jodelet,1984, tr361) Theo Guimelli (1994), biểu tượng xã hội là “Phương thức đặc biệt của hiểu biết chung mà tính đặc thù của nó nằm trong tính cách xã hội của các quá trình tạo ra nó”, “là một tập hợp các tri thức, niềm tin, các ý kiến được

chia sẻ bởi một nhóm đối với đối tượng xã hội nào đó”

Nhìn chung, các định nghĩa nêu trên đều xem biểu tượng xã hội là một cách thức đặc biệt để có thể cảm nhận được từng “hơi thở” và “nhịp đập” của đời sống xã hội, là chất xúc tác gợi lại sự vật, hiện tượng được chuyển đổi từ những nhận thức cảm tính ban đầu đến nhận thức lý tính về hiện thực khách quan qua đó biến đổi các đối tượng xã hội (con người, bối cảnh, hoàn cảnh, các hiện tượng, các sự kiện , ) thành những phạm trù tượng trưng (giá trị, niềm tin, tư tưởng, quan điểm, quan niệm) dưới hình thức nhận thức, cho phép nắm bắt các khía cạnh của cuộc sống thường nhật trong lòng các tương tác xã hội Biểu tượng xã hội có rất nhiều chức năng, trong đó có thể kể đến các chức năng sau:

- Chức năng gắn bó các thành viên của một nhóm với nhau thông qua sự tương đồng về nhân sinh quan;

- Chức năng tổ chức môi trường: biểu tượng xã hội đóng vai trò rất quan trọng trong những nhận thức về môi trường Chúng cảm nhận và nắm bắt những thay đổi về môi trường như chúng ta nhìn thấy nó thông qua bộ lọc mà các biểu tượng đã thiết lập nên cho chúng ta trên con đường xã hội hoá, toàn cầu hóa hiện nay;

Trang 39

- Chức năng tự điều chỉnh và điều chỉnh nhận thức, thái độ, hành vi trong quá trình giao tiếp xã hội Chức năng này làm cho con người tự soi chiếu mình và thấu cảm tha nhân;

- Chức năng hoà hợp: các biểu tượng xã hội có chức năng thiết lập, củng cố và duy trì tình đoàn kết của một nhóm, một tập thể hay cả một cộng đồng xã hội trong biên độ quốc gia, khu vực thậm chí trên phạm vi toàn cầu

Biểu tượng văn hoá có xu hướng được bổ sung ý nghĩa, nhưng sau một thời gian nhất định, ý nghĩa đó dần trở nên cố định và nhiều khi làm các thế hệ sau rất khó nắm bắt và cảm nhận Còn biểu tượng nghệ thuật luôn mang hơi thở của thời đại, người

Trang 40

nghệ sĩ tạo ra thế giới biểu tượng và thế giới ấy dần đi vào tâm thức của độc giả Cái biểu đạt có thể vẫn không thay đổi theo thời gian nhưng cái được biểu đạt thì luôn được bồi đắp theo thời gian Khi đó, tác phẩm nghệ thuật xuất hiện những lớp nghĩa mới nhưng nhìn chung vẫn lưu giữ trong tầng sâu của nó những cấp độ ý nghĩa đã từng

có trong suốt tiến trình lịch sử Sở dĩ biểu tượng văn hoá cổ xưa trở nên khó hiểu với người hiện đại vì có một khoảng cách khá xa về phông văn hóa của từng thời đại trong lịch sử, còn biểu tượng nghệ thuật, ngoài không gian thời đại mà nó phản ánh, còn đọng lại một thứ bất di bất dịch đó là văn bản nghệ thuật Do đó, biểu tượng nghệ thuật cho dù thời đại sản sinh ra nó đã lùi sâu vào dĩ vãng song ý nghĩa của nó vẫn nóng hổi tính thời sự, các thế hệ hậu bối vẫn có thể cảm nhận và lí giải không mấy khó khăn Không thể phủ nhận yếu tố truyền thống (mẫu số chung, ý nghĩa khách quan) của biểu tượng nghệ thuật Yếu tố ấy chính là sự thừa nhận về mặt ý nghĩa của một cộng đồng

xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định đối với một biểu tượng nào đó Khi tiếp nhận bất cứ biểu tượng nghệ thuật nào cũng dứt khoát không thể bỏ qua yếu tố này Chính nó đem lại giá trị độc đáo, đích thực cho những hình tượng nghệ thuật mang tính biểu trưng – giá trị xuyên suốt trong không gian và thời gian lịch sử, giá trị của chiều sâu quan niệm, cảm nhận của con người trong một thời, nó trở thành cơ sở quan trọng tạo nên tính đa chiều, là cơ sở căn bản tiếp nhận biểu tượng nghệ thuật Thế nhưng, bên cạnh những ý nghĩa cốt lõi trong lịch sử, những mẫu số chung vượt thời gian, biểu tượng nghệ thuật luôn luôn có xu hướng cách tân, cải biến (có thể bổ sung ý nghĩa cho những biểu tượng cũ hay sáng tạo những biểu tượng hoàn toàn mới) Ví như biểu

tượng con thuyền trong ca dao thường để chỉ người con trai, gắn với sự chuyển động,

tìm tòi, khi vào thế giới thơ Xuân Quỳnh, nó dùng để bộc lộ tâm trạng của người con gái đang yêu:

Nếu từ giã thuyền rồi Biển chỉ còn sóng gió Nếu phải cách xa em

Ngày đăng: 14/04/2021, 18:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Công Hùng: “Biểu tượng thơ ca”. Tạp chí Văn học số 1 - 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tượng thơ ca
2. Chu Quang Tiềm (1991), Tâm lý văn nghệ, NXB Thành phố Hồ Chí Minh 3. Chu Văn Sơn (2003). Ba đỉnh cao thơ mới: Xuân Diệu, Nguyễn Bính,Hàn Mặc Tử. Hà Nội: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý văn nghệ", NXB Thành phố Hồ Chí Minh 3. Chu Văn Sơn (2003). "Ba đỉnh cao thơ mới: Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử
Tác giả: Chu Quang Tiềm (1991), Tâm lý văn nghệ, NXB Thành phố Hồ Chí Minh 3. Chu Văn Sơn
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh 3. Chu Văn Sơn (2003). "Ba đỉnh cao thơ mới: Xuân Diệu
Năm: 2003
4. Đào Trường Phúc: “Nguyễn Bính những mùa xuân tha hương”, Văn, số 189 ra ngày 1 - 11 - 1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính những mùa xuân tha hương
5. Đinh Hồng Hải (2014). Nghiên cứu biểu tượng một số hướng tiếp cận lý thuyết. Hà Nội: Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu biểu tượng một số hướng tiếp cận lý thuyết
Tác giả: Đinh Hồng Hải
Năm: 2014
6. Đoàn Đức Phương (2005). Nguyễn Bính hành trình sáng tạo thi ca. Hà Nội: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính hành trình sáng tạo thi ca
Tác giả: Đoàn Đức Phương
Năm: 2005
7. Đoàn Hương (2004). Nguyễn Bính – thi sĩ nhà quê. Hà Nội: Văn học 8. Đoàn Văn Chức (1997). Văn hóa học. Hà Nội: Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính – thi sĩ nhà quê". Hà Nội: Văn học 8. Đoàn Văn Chức (1997). "Văn hóa học
Tác giả: Đoàn Hương (2004). Nguyễn Bính – thi sĩ nhà quê. Hà Nội: Văn học 8. Đoàn Văn Chức
Năm: 1997
9. Đỗ Đình Thọ (1987). Nguyễn Bính – nhà thơ của tình yêu. Thơ tình Nguyễn Bính. Sở Văn hóa thông tin Hà Nam Ninh (cũ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính – nhà thơ của tình yêu
Tác giả: Đỗ Đình Thọ
Năm: 1987
10. Đỗ Hữu Châu (1998). Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng. Hà Nội: Giáo dục 11. Đỗ Đức Hiểu (2000). Thi pháp hiện đại. Hà Nội: Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng". Hà Nội: Giáo dục 11. Đỗ Đức Hiểu (2000). "Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Hữu Châu (1998). Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng. Hà Nội: Giáo dục 11. Đỗ Đức Hiểu
Năm: 2000
12. Đỗ Lai Thúy (1993). Con mắt thơ, Hà Nội: Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con mắt thơ
Tác giả: Đỗ Lai Thúy
Năm: 1993
13. Đỗ Lai Thúy (1994). Đường về chân quê của Nguyễn Bính. Con mắt thơ. Hà Nội: Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường về chân quê của Nguyễn Bính
Tác giả: Đỗ Lai Thúy
Năm: 1994
14. Đỗ Lai Thúy và các tác giả khác (2001). Nghệ thuật nhƣ là một thủ pháp – lý thuyết chủ nghĩa hình thức Nga. Hà Nội: Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật nhƣ là một thủ pháp – lý thuyết chủ nghĩa hình thức Nga
Tác giả: Đỗ Lai Thúy và các tác giả khác
Năm: 2001
15. Đỗ Lai Thúy (2004). Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật. Hà Nội: Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật
Tác giả: Đỗ Lai Thúy
Năm: 2004
16. Jean Chevalier & A. Gheerbrant (2002). Từ điển biểu tƣợng văn hóa thế giới. NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tƣợng văn hóa thế giới
Tác giả: Jean Chevalier & A. Gheerbrant
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2002
17. Hà Minh Đức và Huy Cận (1993). Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca. Hà Nội: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca
Tác giả: Hà Minh Đức và Huy Cận
Năm: 1993
18. Hà Minh Đức – Đoàn Phương (2000). Nguyễn Bính về tác giả và tác phẩm. Hà Nội: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính về tác giả và tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức – Đoàn Phương
Năm: 2000
25. Hoàng Xuân (1984). Nguyễn Bính thơ và đời. Hà Nội: Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính thơ và đời
Tác giả: Hoàng Xuân
Năm: 1984
26. Mã Giang Lân: “Kinh nghiệm sống và biểu tượng thơ”, Tạp chí nghiên cứu văn học số 3 – 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm sống và biểu tượng thơ
27. Mấy vấn đề văn hoá và phát triển Việt Nam hiện nay. Bộ VHTT-TT xuất bản. Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề văn hoá và phát triển Việt Nam hiện nay
28. Nguyễn Đăng Điệp (2014). Thơ Việt Nam hiện đại tiến trình và hiện tƣợng. Hà Nội: Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam hiện đại tiến trình và hiện tƣợng
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 2014
29. Nguyễn Đăng Mạnh (1994). Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn. Hà Nội: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w