Đồng thời từ những biểu tượng nghệ thuật, ta hiểurõ hơn tài năng của tác giả, thấy được sự khác nhau trong sáng tác Nôm củaNguyễn Khuyến và Trần Tế Xương, góp phần làm sáng tỏ phong cách
Trang 1Hai nhà thơ đều có nhiều đóng góp lớn về phương diện nghệ thuật Trong đónổi bật nhất là việc xây dựng những biểu tượng nghệ thuật thơ Nôm của NguyễnKhuyến và Trần Tế Xương Thông qua những biểu tượng từ góc nhìn văn hóa,chúng ta có thể thấy được ảnh hưởng qua lại của văn hóa truyền thống và thời đạitrong sáng tác của hai nhà thơ Đồng thời từ những biểu tượng nghệ thuật, ta hiểu
rõ hơn tài năng của tác giả, thấy được sự khác nhau trong sáng tác Nôm củaNguyễn Khuyến và Trần Tế Xương, góp phần làm sáng tỏ phong cách hai cây đạithụ lớn của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX
1.2 Về thực tiễn:
Sáng tác của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương được giảng dạy trong nhàtrường từ bậc THCS đến THPT Đề tài luận văn góp phần bổ ích, tích cực cho việcgiảng dạy về tác giả - tác phẩm Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương trong nhàtrường
2 Mục đích nghiên cứu đề tài:
Làm nổi bật yếu tố văn hóa qua các biểu tượng nghệ thuật trong thơ Nômcủa Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương
Thấy được sự tương đồng, khác biệt trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến vàTrần Tế Xương qua các biểu tượng nghệ thuật từ góc nhìn văn hóa
3 Lịch sử vấn đề.
Trang 2Trải qua biết bao nhiêu thăng trầm lịch sử nhưng thơ văn của NguyễnKhuyến và Trần Tế Xương vẫn chiếm một vị trí rất quan trọng trong lòng nhữngngười dân Việt Nam và đặc biệt là những độc giả yêu mến mảng thơ Nôm Nhiềucâu thơ của Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương được dân gian sử dụng như hoặc nhưnhững phương châm xử thế, những ngôn ngữ giao tiếp thường ngày Từ xưa đếnnay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương ởnhững khía cạnh, góc độ khác nhau Đáng lưu ý là một số hướng nghiên cứu cóliên quan tới đề tài luận văn.
3.1 Những nghiên cứu về tác giả có liên quan đến đề tài.
3.1.1 Về tác giả Nguyễn Khuyến
3.1.1 Nghiên cứu chung về tác giả Nguyễn Khuyến có liên quan tới đề tài
Nguyễn Khuyến là nhà thơ đã góp phần không nhỏ trong việc làm nên sứcsống bền bỉ của văn học trung đại vào giai đoạn cuối cùng của thế kỉ XIX đầu thế
kỉ XX Sự nghiệp sáng tác thơ của Nguyễn Khuyến được giới phê bình văn họcđánh giá cao
Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX, Nguyễn Khuyến được biết đến với
tư cách là một nhà thơ Thơ nôm của ông đã được giới thiệu trên tạp chí Nam
Phong và cuốn sách Quốc văn trích diễm của Dương Quảng Hàm xuất bản 1925 đã
giới thiệu 7 bài thơ nôm của Nguyễn Khuyến Từ đó trở đi Nguyễn Khuyến luôn lànhà thơ được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
- Những nhân xét, đánh giá về nội dung trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến
Trang 3nhấp nhô” Có con “trâu già cọ gốc phì hơi nắng”…Thậm chí có con tôm, con
ba ba, con mèo… nó gắn bó gần gũi với người nông dân Việt Nam” [18]
Tác giả Nguyễn Lộc trong cuốn Nguyễn Khuyến thơ và lời bình đã nhận xét
tầng lớp quan lại trong thơ Nguyễn Khuyến, trong đó có hình ảnh ông tiến sĩ giấy
mang ý nghĩa biểu tượng: “Bọn quan lại thường là những người xuất thân khoa bản , nhưng khoa bảng trong thời kì này cũng mục nát, không phải là nơi kén chọn nhân tài Nguyễn Khuyến đả kích quan lại, ông cũng vạch trần thực chất của khoa bảng Triều Nguyễn trong giai đoạn nửa cuối XIX, vẫn giữ được những kỳ thi hương, thi hội, và những kì thi như vậy vẫn đẻ ra những ông nghè, ông cống Đúng như Nguyễn Khuyến nói đó là thứ “ông nghè tháng tám” có cái mẽ bề ngoài còn bên trong thì chẳng có gì”[16]
Nhà nghiên cứu Vũ Thanh khi nghiên cứu về tâm trạng Nguyễn Khuyến qua
thơ tự trào trong cuốn Nguyễn Khuyến về tác gia - tác phẩm có nhận xét: “Trong thơ tự trào hình ảnh Nguyễn Khuyến hiện lên dưới nhiều góc độ khác nhau: khi là Ông say, khi là ông Lòa, khi Anh giả điếc, khi lại là Lão đá, khi là thứ đồ chơi, khi lại là mẹ Mốc… Nhìn chung đó là những người yếu đuối về sức lực, nhếch nhác về hình hài, cam chịu và buông thả, bế tắc và tuyệt vọng… Đó là con người bị chính ông phê phán, phủ nhận”[40, 273]
Khi bàn về Chất liệu ngày thường và thi tứ khác thường, tác giả Trần Lê Văn cho rằng “Thơ Nguyễn Khuyến viết về quê mình phần nhiều mang tính thời sự: Thời sự về công việc làm ăn, về đời sống vật chất và tinh thần của người trong làng Chẳng thiếu gì nỗi gian truân của nông dân, nông nghiệp ở đây, trong thời
đại trước” ví dụ: “Năm mất mùa, Vịnh lụt ”[51, 320]
Bên cạnh đó tác giả Nguyễn Đình Chú trong cuốn Nguyễn Khuyến thơ và lời bình đã nhận xét Nguyễn Khuyến “Là nhà thơ của dân tình làng cảnh Việt Nam”.
“Hồn thơ Nguyễn Khuyến luôn gắn bó với quê hương làng cảnh nên các hình ảnh: chim chóc, cây cối, hoa lá, con trâu, khúc sông bãi chợ, đường làng, ngõ
Trang 4trúc đặc biệt cuộc sống và tâm tình về dân quê đã đi vào thơ ông chân thực và sinh động vô cùng” [4]
Bên cạnh những ý kiến về nội dung thì những nhận xét, đánh giá về nghệ thuật thơ Nguyễn Khuyến có đề cập đến vấn đề biểu tượng:
Tác giả Văn Tân trong cuốn Nguyễn Khuyến thơ và lời bình đã nhận xét
“ngôn ngữ thơ văn Nguyễn Khuyến xác thực, gợi tả, hồn nhiên mà sáng sủa” là vìnhà văn đã được tiếp thu những tinh hoa văn hóa ngôn ngữ của các thế hệ trước,đồng thời vận dụng ngôn ngữ đời thường lời ăn tiếng nói hằng ngày dân gian nêntrong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến dùng nhiều khẩu ngữ ví von, ví dụ trong bài “Khai bút, Tự trào ” [16]
Nhà nghiên cứu Trịnh Bá Đĩnh, trong cuốn Nguyễn Khuyến về tác gia tác phẩm đã nhận xét: Phong cách dân gian trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến thể hiện
trước hết ở cái nhìn nghệ thuật của nhà thơ mà đặc điểm nổi bật nhất là sự lượcquy những mặt khác nhau của hiện thực về phương diện lối sống Xã hội được nhìn
từ góc độ lối sống, hiện thực trong thơ ông chủ yếu là hiện thực của lối sống khácnhau.Có thể thấy điều này trong loạt bài thơ qua hình tượng “ông phỗng đá”, “anhgiả điếc” [40]
3.1.1.2 Nghiên cứu biểu tượng nghệ thuật trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến
Trong thời gian qua có một số nhà nghiên cứu đã đi vào tìm hiểu, phân tíchmột số biểu tượng nghệ thuật trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến
Ba bài Vịnh thu của Nguyễn Khuyến được đưa vào giảng dạy trong nhà
trường nên được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra nhận xét đánh giá khá sâu sắc dưới
mọi khía cạnh Trần Quốc Vượng viết“Ba bài Vịnh thu của Nguyễn Khuyến là biểu tượng của sự hòa điệu- nhân hòa, thiên hòa - là cái“Hương xưa”, là cái
“Thanh bình mong manh”, “ Thanh bình như bóng trưa đơn sơ”của làng cảnh Việt Nam [40,49]
Trang 5Tác giả Ngô Ngọc Ngữ Long có nhắc đến hình ảnh “Hoa năm ngoái” trong bài Thu vịnh là biểu tượng “cho những ngày tháng cũ, là hình ảnh tươi đẹp bình yên của đất nước khi chưa có bóng của bọn xâm lược Nên chỉ nỗi nhớ hoa cũng là nỗi niềm cố quốc”[40,218]
Nhà nghiên cứu Hoàng Hữu Yên, trong cuốn Nguyễn Khuyến về tác gia, tác phẩm khi viết về “Vịnh tiến sĩ giấy” đã thống kê một loạt biểu tượng:“cờ dương danh tiến sĩ, biển ấn tứ vinh quy, mũ mang cân đai toàn của vua ban và cái tên quen thuộc: “Ông nghè tháng tám” [40, 228]
Trong cuốn Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam tập 2 (Lã Nhâm Thìn
-Vũ Thanh đồng chủ biên), nhà nghiên cứu đã lựa chọn hình ảnh“Mẹ Mốc là hình ảnh của chính Nguyễn Khuyến, là biểu tượng độc đáo cho phẩm chất khí tiết của bậc quân từ” bởi vì Mẹ Mốc là người đàn bà mang trong mình vết thương lòng do
chồng con đã mất trong loạn lạc chiến tranh, lại có nhan sắc nhiều kẻ dòm ngó.Nên người đàn bà phải ăn mặc rách rưới giả xấu xí để che mắt thiên hạ Đặc biệt
tiếng cuốc kêu mang tính biểu tượng sâu sắc:“tiếng kêu da diết đến chảy máu của con chim quốc- biểu tượng của tiếng gọi hồn nước khi non sông đã mất vào tay kẻ thù”[45, 346-347]
1.2 Về tác giả Trần Tế Xương
1.1.2 Nghiên cứu chung về tác giả Trần Tế Xương liên quan tới đề tài
Trần Tế Xương là nhà thơ lớn, một đại biểu xuất sắc trong làng thơ tràophúng Việt Nam Nguồn cảm hứng chủ đạo trong thơ Tú Xương là tiếng cười phêphán những mặt trái bắt đầu nảy sinh giữa đời sống thành thị Sự nghiệp sáng táccủa Tú Xương được giới phê bình, nghiên cứu văn học đánh giá cao
Nguyễn Đình Chú trong Tú Xương, nhà thơ lớn của dân tộc đã viết.“Tú Xương được mệnh danh là nhà thơ trào phúng lớn, nhà thơ trào phúng kiệt xuất, trước hết cũng là nhờ cái tâm” Nhân dịp kỉ niệm 50 ngày mất, 100 năm ngày sinh nhà thơ Trần Tế Xương, Trần Thanh Mại gọi Trần Tế Xương là“nhà thơ thiên
Trang 6tài” Còn Đặng Thai Mai khen Trần Tế Xương là“Một người thơ, một nhà thơ vốn
nhiều công đức trong cuộc trường kì xây dựng tiếng nói văn học của dân tộc Việt nam”[3]
- Những nhận xét, đánh giá về nội dung trong thơ Nôm của Trần Tế Xương
có đề cập đến vấn đề biểu tượng:
Cuốn Văn học Việt Nam thế kỉ XIX do tác giả Bùi Thức Phước sưu tầm biên soạn đã nhận xét: “Trong thơ Tú Xương không thiếu hình ảnh các sư sãi bị tha hóa bởi những bà quan mất gốc này Chốn đình chùa đã không còn là trung tâm của tu hành, tế lễ thiêng liêng của cộng đồng làng xã Con cái trong nhà, vợ chồng với nhau không còn chút tôn ti của truyền thống“tề gia” Những đổi thay trớ trêu ấy xem ra đã thành mốt thời thượng, đã trở thành thời tiêu chuẩn được xem là “phụ mẫu chi dân” [30, 34]
Nhà nghiên cứa Đỗ Đức Hiểu khi nghiên cứu về thơ văn Tú Xương trong
cuốn Tú Xương về tác gia tác phẩm cũng có nhân xét về cảnh tượng trường thi: “ Trường thi trở thành một nơi buôn bán, mảnh bằng trở thành một món hàng chợ đen Mà muốn mua được món hàng ấy, còn phải quỵ lụy theo những lề lối mới xưa nay chưa từng thấy, do chế độ thực dân mới bày đặt ra, là phải dùng“ngọn bút chì”, bước vào cuộc nô lệ cho chế độ mới Bởi vậy, những nhà nho như Tú
Xương thấy đó là một sự nhục nhã, một sự thóa mạ”[36, 113]
Các hình tượng “bà đầm ngoi đít vịt”, cảnh “sĩ tử vai đeo lọ”, “ông cử ngỏng đầu rồng” là hình tượng vô cùng nhục nhã của cảnh tượng trường thi
những khoa cuối.”[36, 121]
Nhà Nghiên cứu Trần Thanh Mai - Trần Tuấn Lộ khi nghiên cứu về nghệ thuật Tú Xương, có nhận xét về đề tài trong thơ Tú Xương: “Những đề tài như: vợ chồng toàn quyền Đume và công sứ Đáclơ đến chứng kiến lễ xướng danh khoa thi Đinh Dậu, tên cò Hà Nam, cô kí hiệu xe tay; cô me Tây đi tụ nhà sư đi lọng; ông
cử tân khoa, ông kí, ông phán, cậu bếp, cậu bồi, anh hàng sắt, lão thành Pháo, bà
Trang 7Tú Xương, chú Mán, ông thủ khoa Phan… đó hoàn toàn là những đề tài sinh động, nóng hổi, lấy ra từ cuộc sống xa hội thời Tú Xương Nhân vật nhất định Sự việc nhất định Thời gian nhất định đó là khoảng cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX; chứ
không phải là thời Tây Hán…” [36, 208]
Cuốn Trần Tế Xương tác phẩm chọn lọc do Vũ Văn Sỹ - Đoàn Ánh Dương (giới thiệu và tuyển chọn) có nhận xét: “Thơ Tú Xương in đậm hình ảnh đời sống
xã hội thành thị, thể hiện sâu sắc lối sống và sự ra đời một lớp người mới pha tạp, nhố nhăng, bất ổn Đó là cả thế giới nhân vật với những ông Huyện, ông Phủ, ông Đội, ông Cử, cậu Ấm, … mà phần lớn đều “biến dạng” giữa danh và thực, tài và lực, giữa cái cũ lạc hậu nhưng chưa tiêu tan và cái mới chưa thẳng thế Tú Xương đứng giữa dòng văn hóa truyền thống và phương Tây mới mẻ, giữa “bút lông” và
“bút chì”.[37, 12]
- Những nhận xét, đánh giá về nghệ thuật trong thơ Nôm của Trần Tế Xương có liên quan tới vấn đề biểu tượng:
Tác giả Nguyễn Đình Chú trong Trần Tế Xương nhà thơ lớn của dân tộc
đã viết“ Ngôn ngữ thơ Trần Tế Xương có khá năng biểu hiện sự sâu sắc cực độ của thế giới trữ tình, sự phong phú đa dạng và huyền diệu của thế giới tiếng cười”.
Đúng vậy tiếng cười trong thơ Trần Tế Xương khi rất nhẹ nhàng, sâu kín, hóm
hỉnh khi mạnh mẽ, quyết liệt, ví dụ như bài Vịnh khoa thi hương, các bài văn tế Bên cạnh đó tác giả còn nhấn mạnh “Ngôn ngữ thơ Trần Tế Xương lấy từ cuộc sống bình thường, trần trụi, từ khẩu ngữ dân gian”[3]
Tác giả Trần Thanh Mại và Trần Tuấn Lộ khi nghiên cứu về nghệ thuật Trần
Tế Xương đều đánh giá“Nội dung thơ văn Trần Tế Xương gồm hai phần rõ rệt, thể hiện theo hai mặt nghệ thuật riêng biệt: nghệ thuật hình thức trào phúng, nghệ thuật trữ tình” Thêm vào đó tác giả còn nhấn mạnh nghệ thuật trữ tình của thơ Tú
Xương là khá cao và đặc sắc [36]
Trang 81.2.2 Những ý kiến về biểu tượng nghệ thuật trong thơ Nôm của Trần
Tế Xương:
Vấn đề biểu tượng trong thơ Nôm của Trần Tế Xương đã được một số tácgiả đề cập rải rác trong các công trình nghiên cứu, phê bình về sáng tác của ông Túthành Nam
Trần Lê Văn trong Nhà thơ lớn trên bến Vị Hoàng xưa khi viết về bài Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu đã mô tả một cảnh tượng trường thi được hiện lên khá đậm nét và hài hước Trong đó hình ảnh“Cờ đây là cờ ba sắc của Pháp Nó không làm biểu tượng cho những gì tốt đẹp của nhân dân Pháp mà nó làm biểu tượng cho quyền lực của thực dân xâm lược Cờ của quan Công sứ hay Toàn quyền” [53]
Tác giả Nguyễn Đình Chú trong Trần Tế Xương nhà thơ lớn của dân tộc đã đánh giá hình ảnh“tên núi, tên sông trượng trưng cho một địa phương” khi các nhà văn lựa chọn đưa vào trong các sáng tác tiêu biểu “Sông lấp, Vị Hoàng, Hoài Cổ, Đất Vị Hoàng” [3]
Bên cạnh đó trong cuốn Giáo trình văn học trung đại Việt Nam tập 2, do Lã
Nhâm Thìn -Vũ Thanh (Đồng chủ biên), nhà nghiên cứu Trần Thị Hoa Lê viết
“Cùng với non Côi, sông Vị là hình ảnh đẹp biểu trưng cho đất và người Thành Nam Từ khi Pháp đánh chiếm sông Vị Hoàng bị phù sa lấp dần thành ra “Sông lấp” đồng nghĩa với “lá phổi” của Nam Định bị cắt bỏ”[45, 377]
Trong cuốn sách Văn học Việt Nam thế kỉ XIX, tác giả Bùi Thức Phước sưu tầm biên soạn cũng đánh giá “Dưới ngòi bút của Tú Xương, bà Tú là biểu tượng hình ảnh người phụ nữ Việt Nam khả kính Dù ông có bỡn cợt, trêu đùa thì vẫn toát lên tình cảm yêu thương dạt dào, kính nể của ông đối với người phụ nữ đầy sức chịu đựng, giàu đực hy sinh cho chồng, cho con.”, “ Quốc ngữ, ký phán, bồi bếp, bút chì đều là những biểu tượng liên hoàn cùng xuất xứ ở một nguồn gốc duy nhất: Tây dương thực dân Tất cả bốn cái món ấy (Quốc ngữ, ký phán, bồi bếp, bút chì) là cùng nằm trong hệ thống, cái hệ thống của địch.”[30, 40]
Trang 9Tóm lại, thơ Nôm của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương đã được nghiêncứu từ nhiều phía, nhiều mức độc và góc độ khác nhau, đến nay đã đạt được nhiềuthành tựu đáng kể Biểu tượng nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Khuyến vàTrần Tế Xương ít nhiều đã được giới nghiên cứu đề cập tới nhưng vẫn chưa có sựnghiên cứu đầy đủ, toàn diện Tuy nhiên những ý kiến của người đi trước là gợidẫn quan trọng để chúng tôi triển khai, nghiên cứu đề tài của mình một cách hệthống, toàn diện hơn
4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thơ Nôm của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương,
trên cơ sở các tài liệu: Nguyễn Khuyến tác phẩm (Nguyễn Văn Huyền sưu tầm và giới thiệu), Nxb KHXH Hà Nội, 1984; Tú Xương toàn tập của Trung tâm nghiên
cứu Quốc học giới thiệu, Nxb Văn học, 2010
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Khảo sát, thống kê, phân loại biểu tượng nghệ thuật trong sáng tác NômNguyễn Khuyến và Trần Tế Xương từ góc nhìn văn hóa
+ Phân tích ý nghĩa của những biểu tượng từ góc nhìn văn hóa
+ Nghệ thuật xây dựng những biểu tượng từ góc nhìn văn hóa
+ Sự tương đồng, khác biệt của những biểu tương nghệ thuật trong thơ Nômcủa Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương từ góc nhìn văn hóa
5 Phương pháp nghiên cứu.
Đối tượng, mục đích, nội dung nghiên cứu đòi hỏi phải vận dụng kết hợp nhiềuphương pháp Trong đó chúng tôi sử dụng một số phương pháp chính
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại: Phân loại các biểu tượng theophạm trù nội dung và nghệ thuật thể hiện để đưa ra các nhóm, thống kê tần xuất cácbiểu tượng…nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân tích giải mã các biểu tượng
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Khi nghiên cứu chúng tôi vận dụngkiến thức của nhiều ngành: giữa văn học và văn hóa, giữa ngôn ngữ và văn học
Trang 10- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích mối quan hệ, giữa bề mặt ngôn
từ và ý nghĩa biểu tượng…Luận văn chú trọng phân tích một số biểu tượng tiêu biểutrong đó tìm ra những kết luận mang tính khái quát về biểu tượng trong thơ Nôm củaNguyễn Khuyến và Trần Tế Xương
- Phương pháp so sánh văn học: so sánh đối chiếu các biểu tượng thơ NômNguyễn Khuyến với biểu tượng của Tú Xương để thấy rõ nét tương đồng và nét riêngtrong sự sáng tạo biểu tượng của hai nhà thơ
6 Đóng góp của luận văn.
- Cung cấp hệ thống biểu tượng nghệ thuật trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến vàTrần Tế Xương từ góc nhìn văn hóa
- Phân tích làm nổi bật giá trị của các biểu tượng nghệ thuật từ góc nhìn vănhóa trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương
- Chỉ ra sự tương đồng, khác biệt của các biểu tượng nghệ thuật từ góc nhìn vănhóa trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương
- Luận văn có thể là tư liệu tham khảo cho việc dạy và học tác giả, tác phẩmNguyễn Khuyến và Trần Tế Xương trong nhà trường
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Biểu tượng nghệ thuật trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến từ góc nhìn
văn hóa
Chương 2: Biểu tượng nghệ thuật trong thơ Nôm của Trần Tế Xương từ góc nhìn văn
hóa
Chương 3: Điểm tương đồng, khác biệt giữa các biểu tượng nghệ thuật trong thơ
Nôm của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương từ góc nhìn văn hóa
PHẦN NỘI DUNG
Trang 11Chương 1 BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG THƠ NÔM CỦA NGUYỄN KHUYẾN TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA 1.1 Giới thuyết một số khái niệm.
1.1.1 Khái niệm biểu tượng:
Biểu tượng: Biểu là bày ra ngoài Tượng là sự vật cụ thể được dùng để tượng
trưng cho cái cụ thể nào đó Khái quát lại, biểu tượng là hình ảnh, sự vật cụ thể bày rabên ngoài, dùng để tượng trưng cho cái cụ thể hoặc trừu tượng nào đó
Biểu tượng là thuật ngữ của mĩ học, lí luận văn học và ngôn ngữ học còn đượcgọi là tượng trưng Nó có nghĩa rộng và nghĩa hẹp:
+ Theo nghĩa rộng, biểu tượng là đặc trưng phản ánh cuốc sống bằng hìnhtượng của văn học nghệ thuật
+ Trong nghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nóihoặc một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa kháiquát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tưtưởng hay một triết lí sâu xa về con người và cuộc đời [9]
- Từ góc độ văn hóa, biểu tượng là cái nhìn thấy được mang một kí hiệu dẫn tađến một tư tưởng, một quan niệm về văn hóa vật chất cũng như tinh thần Do đó, nó
là một sự vật có hình ảnh mang tính thông điệp Cây đa bến đò trong ca dao biểutượng cho sự chờ đợi thủy chung của người phụ nữ “Một trăm bọc trứng” là biểutượng cho nguồn gốc hình thành các tộc người, sự đoàn kết của các tộc người trên quêhương Việt Nam…
1.1.2 Phân biệt biểu tượng với biện pháp tu từ khác:
Là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói, biểu tượng có quan hệ gần gũivới ẩn dụ và hoán dụ Giống với ẩn dụ và hoán dụ, biểu tượng được hình thành trên
cơ sở đối chiếu, so sánh các hiện tượng, đối tượng có những phương diện, khía cạnh,những đặc điểm gần gũi tương đồng, làm nổi bật bản chất, tạo ra một ý niệm cụ thể,
Trang 12sáng tỏ về hiện tượng hay đối tượng đó Các biểu tượng như “mùa xuân” (sức sống của tuổi trẻ), “ Cây liễu” vẻ đẹp yểu điệu của người con gái), “thuyền” và “bến” hoa” và “bướm” (con người trai và gái) là hình thức chuyển nghĩa được hình thành
trên cơ sở như thế
Tuy nhiên, giữa ẩn dụ, hoán dụ và biểu tượng vẫn có sự khác nhau Sự khác
biệt này được cuốn “Từ điển thuật ngữ Văn học” [9, 25-26] đã chỉ ra khá cụ thể:
Thứ nhất, ẩn dụ, hoán dụ (nhất là ẩn dụ và hoán dụ được dùng quen thuộc đến
mức nói đến vật đó là tự ta có thể suy ra chính xác điều được nói đến) đều mang íthay nhiều ý nghĩa biểu tượng, nhưng biểu tượng không phải bao giờ cũng là ẩn dụ
và hoán dụ Chẳng hạn, từ “mùa xuân”(tuổi trẻ và sức sống), “màu đỏ” (đấu tranh),
“màu xanh” (hòa bình), “màu trắng” (tinh khiết),“màu tím”(thủy chung) dẫu
không được dùng như một ẩn dụ, thì chúng vẫn có thể là những biểu tượng
Thứ hai, biểu tượng không loại bỏ ý nghĩa cụ thể, cảm tính của vật tượng trưng
hoặc của hình tượng nghệ thuật Trong khi đó ẩn dụ và hoán dụ nhiều khi có khuynhhướng làm mờ ý nghĩa biểu vật, trực quan của lời nói Chẳng hạn, trong thơ lãngmạn và thơ tượng trưng do sự xuất hiện với mật độ dầy đặc ẩn dụ, đặc biệt là ẩn dụchuyển đổi cảm giác, nên ta khó nhận ra ý nghĩa biểu vật của hệ thống lời thơ
Thứ ba, do một ẩn dụ có thể dùng cho nhiều đối tượng khác nhau và một đối tượng cũng có thể diễn đạt bằng nhiều ẩn dụ và hoán dụ khác nhau (thuyền- bến, thuyền - biển, biển - bờ, mận - đào, núi Mường Hung - dòng sông Mã, ) nên người
đọc phải tìm hiểu ý nghĩa của chúng trong ngữ cảnh cụ thể của từng văn bản Khácvới ẩn dụ, ý nghĩa của biểu tượng tồn tại ở cả dạng ngoài văn bản mà chúng ta tiếpxúc Bời vì, quá trình tạo nghĩa của một biểu tượng thường có lịch sử lâu đời củahàng vạn năm, gắn liền với quá trình hình thành quan niệm về thế giới của con người
cổ xưa Từ thời tiền sử, cùng với sự xuất hiện của tiếng nói, các từ như: trời, đất,sáng, tối, xuân, hạ, máu lửa, chớp, cầu vồng, đã ăn sâu vào trí não của nhân loạinhư những biểu tượng Cho nên, thần thoại, truyền thuyết, ca dao, truyện cổ tích, văn
Trang 13học trung đại là những cái khi biểu tượng cho sự khổng lồ Truyền thuyết về Lạc
Long Quân và Âu Cơ sáng tạo ra biểu tượng “Rồng”,“ Tiên” Ca dao Việt Nam sáng tạo ra những biểu tượng tuyệt vời như “ con cò”, “con rùa” Biểu tượng “con cò” gợi ra hình ảnh người nông dân một sương hai nắng, lặn lội trên đồng ruộng, dưới nắng mưa suốt tháng, quanh năm.“Con rùa” là biểu tượng của tính cách nhẫn
nhục và thân phận con người bị áp bức Trong văn học trung đại phương Đông
“tùng”, “cúc”, “trúc”,“mai” là những biểu tượng thể hiện phẩm chất của bậc chính nhân quân tử “Quan san”, “ biên ải” tượng trưng cho xa xách nghìn trùng, “ dòng sông”, “ bến đò”, “ dặm liều”, “ đường hèo” là nơi phân lìa, chia lìa, Không
hiểu được những biểu tượng có tính chất truyền thống ấy, ta không hiểu được chiềusâu của thơ ca nghệ thuật
Từ khái niệm biểu tượng trên, chúng ta cấn hiểu biểu tượng trong tương quanvới so sánh, ẩn dụ, hoán dụ
Giữa biểu tượng và so sánh, ẩn dụ, hoán dụ có sự tương đồng Biểu tượng hìnhthành trên cơ sở so sánh, ẩn dụ, hoán dụ: cái biểu đạt và cái được biểu đạt có mốiquan hệ tương đồng Cái biểu đạt là phương tiện, cái được biểu đạt là mục đích
Tuy nhiên, giữa biểu tượng và so sánh, ẩn dụ, hoán dụ vẫn có sự khác biệt.Với so sánh, ẩn dụ, hoán dụ thì nghĩa hàm ẩn nằm trong văn cảnh Tính cố địnhcủa nghĩa hàm ẩn ở ẩn dụ và hoán dụ không cao bằng nghĩa hàm ẩn ở biểu tượng.Đối với biểu tượng thì nghĩa hàm ẩn có thể nằm ngoài văn cảnh và mang tính cốđịnh cao hơn so với ẩn dụ, hoán dụ
Cần lưu ý tới tính chất, cấp độ của biểu tượng Về tính chất, biểu tượng phảnánh văn hóa, dung chứa văn hóa của cộng đồng: phản ánh nếp cảm, nếp nghĩ củacộng đồng, được cộng đồng thừa nhận, sử dụng Biểu tượng mang tính dân tộc,thời đại Biểu tượng mang tính sáng tạo của tác giả Về cấp độ, biểu tượng có khitrong một hình ảnh cụ thể, cũng có khi biểu tượng ở cấp độ toàn bài, toàn tác phẩm
Trang 141.2 Biểu tượng nghệ thuật từ góc nhìn văn hóa trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến
1.2.1 Thống kê phân loại biểu tượng nghệ thuật trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến từ góc nhìn văn hóa.
Trong phần này, chúng tôi tiến hành khảo sát biểu tượng trong sáng tác Nôm
của Nguyễn Khuyến, dựa vào cuốn Nguyễn Khuyến tác phẩm của Nguyễn Văn
Huyền sưu tầm và giới thiệu, Nxb KHXH Hà Nội, 1984 Đây là cuốn sách sưutầm, biên soạn thơ văn của Nguyễn Khuyến đầy đủ và đáng tin cậy nhất hiện nay.Trong cuốn sách này, tác giả Nguyễn Văn Huyền giới thiệu một số lượng lớn tácphẩm của Nguyễn Khuyến bao gồm 267 bài thơ chữ Hán và 86 bài thơ chữ Nôm,
44 câu đối
Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo thêm cuốn: Nguyễn Khuyến thơ và đời do Nhóm Trí thức Việt tuyển chọn và giới thiệu, Nxb Văn học - 2012; Thơ văn Nguyễn Khuyến do tác giả Xuân Diệu giới thiệu, Nxb Văn học - 1971.
Qua khảo sát, thống kê bộ phận sáng tác Nôm của Nguyễn Khuyến chúng tôithu được kết quả như sau:
1 Thu vịnh Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái
2 Thu điếu Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoeRượu tiếng rằng hay, hay chả mấy
Độ năm ba chén đã say nhè
4 Chơi núi nước non Bia miệng còn đeo tiếng trẻ con
5 Về hay ở Quyên đã gọi hè quang quác quác
Gà từng gáy sáng tẻ tè te
6 Nhớ núi Đọi 1 Ngĩ lại bực cho dòng nước chảy,
Đi đâu mà chảy cả đêm ngày
Biểu tượng toàn bài
7 Cuốc kêu cảm hứng Biểu tượng toàn bài
Trang 158 Ông phỗng đá Biểu tượng toàn bài
10 Anh giả điếc Biểu tượng toàn bài
11 Tiến sĩ giấy 1 Biểu tượng toàn bài
12 Tiến sĩ giấy 2 Biểu tượng toàn bài
13 Than mùa hè Biểu tượng toàn bài
Qua bảng số liệu thống kê, phân loại trên cho ta thấy, các biểu tượng trongthơ Nôm của Nguyễn Khuyến rất phong phú và khá đa dạng với đủ cấp độ
Nhà thơ Nguyễn Khuyến sáng tạo biểu tượng dùng làm phương tiện nghệthuật để giãi bày cảm xúc, tư tưởng, nhận thức đánh giá về cuộc sống và conngười Đọc thơ chữ Nôm của Nguyễn Khuyến ta bắt gặp một số biểu tượng nghệthuật thơ rất gần gũi, bình dị, chân thật bắt nguồn từ đời sống thường ngày, và mộtt
số biểu tượng phản ánh lối sống, văn hóa phương Tây Từ đó ta có thể hiểuNguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam lại sống trong buổi giao thờigiữa xã hội phong kiến và thực dân
1.2.2 Biểu tượng nghệ thuật từ góc nhìn văn hóa dân gian, dân tộc.
Biểu tượng nghệ thuật từ góc nhìn văn hóa dân gian, dân tộc trong thơ Nômcủa Nguyễn Khuyến chủ yếu phản ánh thiên nhiên, cuộc sống nơi làng quê đồngbằng Bắc Bộ - một vùng quê nghèo quanh năm chịu sự thiên tai mất mùa, đồng thờiphản ánh cuộc sống tâm sự của chính tác giả
1.2.2.1 Biểu tượng mùa thu và tâm sự của tác giả
Chúng ta đều thấy rất rõ, cứ mỗi độ thu về là đất trời như đổi thay, không giannhư chuyển động, trời như xanh hơn, gió heo may nắng rải đầy… lòng người bângkhuâng nhớ nhung hoài niệm… Với thi nhân, mùa thu xưa và nay vốn là người bạntâm giao gửi gắm nỗi niềm tâm tình chia sẻ… Từ Lí Bạch, Đỗ Phủ…, từ Nguyễn
Trang 16Trãi, Nguyễn Du… đến Xuân Diệu … các nhà thơ ít nhiều để lại những vần thơ đầytuyệt tác
Nguyễn Khuyến chỉ với ba bài thơ thu: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh hợp lại một
bức tranh hoàn chỉnh về mùa thu với những nét đặc trưng nhất
Trần Quốc Vượng viết“Ba bài Vịnh thu của Nguyễn Khuyến là biểu tượng của sự hòa điệu- nhân hòa, thiên hòa-là cái “Hương xưa”, là cái “Thanh bình mong manh”,“ Thanh bình như bóng trưa đơn sơ”của làng cảnh Việt Nam ””[40,
274]
Cảnh mùa thu trong thơ Nguyễn Khuyến không chỉ là ước lệ, trang trọngkhuôn sáo như trong văn chương, sách vở mà còn là những cảnh gần gũi, quen thuộc,gần gũi với tất cả con người nông thôn Việt Nam: như trời thu , ao thu, trăng thu, gióthu… được tác giả thi vị hóa hết sức tài tình Trong bức tranh mùa thu ở thơ ca cổthường điểm xuyết một vài hình ảnh như cỏ lau trắng, lá ngô đồng rụng, lá vàngrơi có tiếng thu xào xạc, Đặc biệt không thể thiếu hình một túy ông say và tỉnhngồi uống rượu dưới mua thu
Trong thơ Nguyễn Khuyến biểu tượng “mùa thu và tâm sự của tác giả” đượcđặt trong chùm thơ thu gắn với một hình cụ thể của từng bài
Trong bài Thu điếu, nhà thơ đã gợi tả hình ảnh “lá vàng rơi” làm biểu tượng
cho mùa thu ở Việt Nam ở đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời thể hiện tâm sự thời thếcủa tác giả Nhà thơ đã dùng cái động của “lá vàng trước gió” để miêu tả cái tĩnhcủa mùa thu làng quê Việt Nam Những cơn gió mùa thu xuất hiện mang theo cáilạnh trở về khiến cảnh vật đã bắt đầu thay đổi hẳn Con “sóng biếc” nhỏ “hơi gợntí” và chiếc lá trước gió có sự chuyển động rất khẽ khàng từ trên cao rơi xuống
“khẽ đưa vèo” Điều đó cho thấy, nhà thơ phải là người có tâm hồn yêu thiênnhiên, yêu cuộc sống mới có thể cảm nhận được những hình ảnh, những âm thanhtinh tế đó
Trang 17Cùng cảm hứng về mùa thu, trong bài Thu vịnh xuất hiện hình ảnh “Mấy
chùm trước giậu hoa năm ngoái” Theo tác giả Ngô Ngọc Long, hình ảnh “hoanăm ngoái” chính là biểu tượng cho những ngày tháng cũ, là hình ảnh tươi đẹpbình yên của đất nước khi chưa có bóng của bọn xâm lược Nên chỉ nỗi nhớ hoacũng là nỗi niềm cố quốc Nhà thơ nhìn hoa năm nay mà cứ ngỡ là hoa năm ngoái.Phải chăng đối với thi nhân tất cả cảnh vật đều không thay đổi và thời gian đanglắng đọng, lặng lẽ, âm thầm” [40,218]
Thơ xưa có hoa, có trăng, có thiên nhiên đẹp vẫn chưa đủ để gợi thi hứng chonhà thơ còn phải có rượu, độ nồng say của men rượu, tuy không nhiều nhưng cũng
khiến cho chất thơ thêm mãnh liệt, dồi dào Đến với bài Thu ẩm của Nguyễn Khuyến
ta bắt gặp hình ảnh một túy ông say mà tỉnh
“ Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy
Độ năm ba chén đã say nhè”
(Thu ẩm)
Trong khung cảnh mùa thu đẹp, thi nhân mượn rượu để giải khây trong nhữngphút cô đơn, trống vắng của lòng mình, nên chỉ uống “năm ba chén” là “đã say nhè”.Nhưng say rồi lại tỉnh, càng nhận thấy rõ nỗi niềm u uất Tự cho mình là túy ông,nhưng đã bao giờ Nguyễn Khuyến say vì rượu:
“Túy ông ý chẳng say vì rượu Say vì đâu nước thẳm với non cao”
(Uống rượu ở vườn Bùi)
Hóa ra rượu chỉ là nơi gửi gắm tấm lòng “ưu thời mẫn thế” của NguyễnKhuyến mà thôi Thật thương thay cho cái tấm lòng “ trong giá trắng ngần” ấy phải
“phong trần” trong rượu, trong say Như vậy, nhà thơ cáo quan lui về ở ẩn là để tìm
sự bình an trong tâm hồn Nhưng tâm hồn ông không lúc nào thanh thản, luôn lo lắngcho thời cuộc Nước mất, nhà tan mà tác giả cảm thấy bất lực, không làm được gì để
Trang 18cứu giang sơn Hình ảnh túy ông say và tỉnh chính là biểu tượng của một con ngườimuốn say lại tỉnh để nhìn rõ hiện thực đất nước trước sự lấn lướt của phương Tây.
Như vậy, biểu tượng mùa thu trong thơ Nguyễn Khuyến đã đem đến cho ngườiđọc sự khác hẳn so với mùa thu xưa Ông là người đầu tiên trong văn học trung đại đãtạo nên bức tranh mùa thu trong thơ bằng chính màu sắc quê hương mình thông quabiểu tượng Cũng thông qua biểu tượng mùa thu mà ta thấy được tâm sự của nhà thơ
1.2.2.1 Biểu tượng mùa hè với tâm sự tác giả
Cùng với mùa thu, mùa hè đi vào trong thơ Nguyễn Khuyến hết sức sinh động,
đa dạng Đề tài mùa hạ, cảnh hè được nhắc nhiều trong thơ văn cổ dân tộc Cácnhà thơ trung đại có nhiều bài thơ hay viết về mùa hạ với nhiều âm thanh rộn rãđược tấu lên như một bản nhạc đồng quê với tiếng quốc kêu, tiếng đỗ quyên, tiếng
gà gáy sáng, tiếng dế kêu, tiếng muỗi vo ve Nhà thơ có nhiều vần thơ hay viết vềmùa hạ Nhưng trong bức tranh mùa hạ của Nguyễn Khuyến khá đặc biệt Đó làmột bức tranh quê buồn bã điển hình cho mùa hè ở Việt Nam
“Tiếng dế kêu thiết tha,Đàn muỗi bay tả tơi
Nỗi buồn ngỏ cùng ai,Cảnh ngày buồn cả dạBiếng nhấp năm canh chày
Gà đã sớm giục giã “
(Than mùa hè)
Trong bài thơ Than mùa hè, Nguyễn Khuyến đã nêu rõ thời gian bắt đầu mùa
hạ “Tháng tư đầu mùa hạ” khi thời tiết dần ấm lên thay vào đó là cái nắng chói chang
oi bức khác hẳn với mùa xuân Thời gian mùa hạ được kéo dài hơn so với mùa xuân.Đây là dấu hiệu đặc trưng khi hạ đến mà ai cũng có thể nhận ra Cảnh ngày hè nóngbức được đặc tả qua âm thanh “tiếng dế kêu thiết tha”, “ đàn muỗi bay tơi tả” Đây lại
là âm thanh quen thuộc đặc trưng của mùa hè Nó diễn tả được cái oi bức ngột ngạt
Trang 19của ngoại cảnh và tâm hồn thi nhân Thi nhân mượn cảnh tượng thiên nhiên làm biểutượng để diễn tả một đêm mùa hạ nóng nực, bức bối ở làng quê sống trong hoàn cảnhthực dân Pháp đô hộ trên đất nước ta, cuộc sống của người dân vô cùng tăm tối, nặngnề.
Bức tranh mùa hạ không chỉ là cảnh vật thiên nhiên mà còn ẩn chứa những nỗiniềm lớn lao của thời cuộc Điều này được khắc họa đậm nét trong bài Chim chích
chòe
Nguyễn Khuyến không chỉ quan sát thiên nhiên bằng thị giác và khứu giác màcòn bằng thính giác Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Khuyến xuất hiện khá nhiều âmthanh như: tiếng dế, tiếng đàn muỗi bay, tiếng trống ịch ịch, tiếng pháo lẹt đẹt, tiếng
gà gáy sáng, tiếng chim chích chòe
“Quyên đã gọi hè quang quác quác
Gà từng gáy sáng tẻ tè te”
Những âm thanh quen thuộc, gần gũi, đời thường vừa vui tai, hóm hỉnh vừagần gũi, thân thương Những âm thanh đó cho thấy nhà thơ luôn quan tâm, quan sát
và lắng nghe đón nhận vào lòng mình một cách tự nhiên Âm thanh tiếng quyên gọi
hè, tiếng à gáy sáng cho thấy thời gian diễn ra đêm và ngày nhưng đồng thời những
âm thanh đó làm biểu tượng cho lời gọi, lời thôi thúc hướng về cuộc sống ẩn dật củathi nhân:
“ Lại còn giục giã về hay ở Đôi gót phong trần vẫn khỏe khoe “
Trang 20Hay là nhớ nước vẫn nằm mơThâu đêm ròng rã kêu ai đóGiục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ”
(Cuốc kêu cảm hứng)
Bài thơ đã khắc họa khá cụ thể âm thanh tiếng cuốc kêu gọi hè diễn ra triềnmiên suốt năm canh, đến sáu khắc, kéo dài từ ngày này qua đêm khác, con ngươithao thức suốt năm canh không chợp mắt vì lo cho vận mệnh dân tộc đang rơi vàotay giặc.Tiếng cuốc như gợi lên trong lòng nhà thơ nỗi đau mất nước, nỗi buồn bơ
vơ, nỗi xót xa tủi nhục trước cảnh lầm than của dân tộc Mỗi câu thơ là một tiếnglòng, là một nỗi buồn tê tái, nỗi đau rỉ máu của chính bản thân nhà thơ trước cảnhđiêu linh của Tổ quốc Tình yêu đó được trải dài theo thời gian năm tháng mãi sắtson thủy chung với non song đất nước Âm thanh tiếng cuốc kêu chính là biểutượng cho âm thanh mùa hè đồng thời biểu tượng của tiếng gọi hồn nước khi nonsong đã mất vào tay kẻ thù, thể hiện tâm sự yêu nước thầm kín của nhà thơ
Nguyễn Khuyến sống trong buổi giao thời cũ - mới, Đông - Tây… nên việcgiữ gìn và bảo vệ phẩm chất không phải là dễ dàng Ông là một nhà nho hiển đạt luôngiữ trọn tiết tháo của mình , không còn cách nào khác phải chọn cách ứng xử làmmột “mẹ Mốc”, “anh giả điếc”, “ông phỗng đá” trong cuộc đời
Nhà thơ đã viết về mẹ Mốc bằng những vần thơ rất hay và đầy ý nghĩa
“So danh giá ai bằng mẹ Mốc,Ngoài hình hài, gấm vóc chẳng thêm ra,Tấm hồng nhan đem bôi lấm xóa nhòa,Nhớ chồng con muôn dặm xa tìm,Giữ son sắt êm đềm một tiết
Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết,Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhờ”
Trang 21
(Mẹ Mốc)
“Mẹ Mốc” là hình ảnh của chính Nguyễn Khuyến, là biểu tượng độc đáo cho
phẩm chất khí tiết của bậc quân từ Bởi vì mẹ Mốc là người đàn bà mang trong
mình vết thương lòng do chồng con đã mất trong loạn lạc chiến tranh, lại có nhansắc nên nhiều kẻ dòm ngó Sống trong xã hội đảo điên ấy, mẹ Mốc phải “cải trang”
là một người đàn bà ngây dại, ăn mặc rách rưới, nhem nhuốc, xấu xí để che mắtthiên hạ, một mặt thủ tiết với chồng Mặc dù sắm cho mình vai mẹ Mốc, nhưngtrong đời sống thường ngày người phụ nữ ấy vẫn vẫn tỏa sáng chính tâm hồn caoquý giữ đẹp như vàng
“Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết,Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhờĐắp tai ngoảnh mặt làm ngơ
Rằng khôn cũng kệ rằng khờ cũng thây.”
“Mẹ Mốc” chính là hình tượng đẹp về người phụ nữ Việt Nam có phẩm chấtcao đẹp Tuy nhiên trong xã hội có nhiều kẻ coi thường khinh rẻ, xa lánh mẹ Mốc,nhưng trong con mắt nhà thơ, mẹ Mốc là người được trân trọng cảm thông và hết lời
ca ngợi bởi tiết trinh, tiết tháo của người đàn bà nghèo ấy Lời ca ngợi có cái gì giốngnhư một quyết tâm của chính bản thân tác giả giữ gìn tiết phẩm giá của chính mình
Văn Tân cho rằng: “chế độ áp bức của thực dân đã khiến ông phải dùng nghệ thuật
ẩn dụ để nói lên những ý nghĩ mà ông không thể nói một cách công nhiên” Nguyễn
Khuyến đã mượn hình ảnh “mẹ Mốc” để nói lên ý chí sắt đá của mình, nhà thơ luônkiên trì thái độ bất hợp tác với giặc
Bên cạnh hình ảnh mẹ Mốc, Nguyễn Khuyến đã vẽ lên hình ảnh anh giả điếc,
có vẻ ngoài ngây dại, ngơ ngác Hình ảnh anh giả điếc được nhà thơ viết lên bằngnhững dòng thơ khá hài hước, hóm hỉnh:
“Trong thiên hạ có anh giả điếc,Khéo ngơ ngơ ngác ngác, ngỡ là ngây!
Trang 22Chẳng ai ngờ “sáng tai họ, điếc tai cày”,Lối điếc ấy sau này em muốn học”
(Anh giả điếc)
Ngay từ câu thơ mở đầu, Nguyễn Khuyến khẳng định trong xã hội có anh giảđiếc vì không muốn để ý những gì xảy ra xung quanh mình, tránh sự quấy rầy, sáchnhiễu của người khác Đặc điểm của anh giả điếc là “ngơ ngơ, ngác ngác” nhìn bềngoài anh tỏ ra ngây ngô, không hiểu biết gì Nhưng đặt vào toàn câu thơ qua từ “khéo” và “ngỡ” cuối câu thì ai cũng nhận ra anh này đang đánh lừa mọi người xungquanh, anh có tài làm cho mọi người ai cũng nghĩ anh điếc thật, thực tế tai anh vẫnthông tỏ nhận biết hết mọi việc xung quanh” [36, 229]
Để thuyết phục mọi người tin là mình điếc thật, người viết đã dẫn chuyện contrâu lười của dân gian “Sáng tai họ, điếc tai cày” để thấy việc giả điếc của anh là cóchủ kiến, là lối sống tự do, không lệ thuộc ai, không bị ai trói buộc Giờ đây anh thực
sự là chính mình với thú vui dân dã ở thôn quê như vườn rau, ao cá… và những sinhhoạt rất đời thường như điếu thuốc; miếng trầu…khác hoàn toàn nơi nhộn nhịp, nơilầu son gác tía với những món ngon sơn hào hải vị
“Khi vườn rau, khi ao trước; khi điếu thuốc, khi miếng trầuKhi chè chuyên năm bảy chén, khi Kiều lẩy một đội câu
(Anh giả điếc)
Ở khổ thơ cuối, nhà thơ nhắc đi nhắc lại hình ảnh “điếc như thế”, “điếc nhưanh” , “Ai không muốn điếc”
“Sáng một chốc, lâu rồi lại điếcĐiếc như thế ai không muốn điếc?
Điếc như anh dễ bắt chước ru mà!
Hỏi anh, anh cứ ậm à.”
(Anh giả điếc)
Trang 23Tác giả chọn hình ảnh “Anh giả điếc” làm biểu tượng cho con người có phẩmchất thanh cao, tuy có bề ngoài ngây dại, ngơ ngác Đồng thời qua thi phẩm này nhàthơ gián tiếp bày tỏ rõ ràng thái độ bất hợp tác của mình đối với chế độ xã hội lúc bấygiờ Anh giả điếc không ai khác chính là bản thân tác giả, đó là một nỗi đau, thấtvọng, dằn vặt của một con người muốn cống hiến hết sức mình cho đất nước, nhưng
vì hoàn cảnh xã hội, nhà thơ đã rơi vào tâm trạng bất lực, không còn niềm tin vào xãhội mà ông dày công vun đắp, tôn thờ
Dù là một bậc đại nho trung quân ái quốc, nhưng với chế độ lúc bấy giờ,Nguyễn Khuyến đành làm một “ anh giả điếc” kiên quyết khước từ, chối bỏ bổng lộc,vinh hoa và chĩa mũi nhọn trào phúng vào cái chế độ xã hội ấy, khiến cho người đờikhâm phục tâm lòng cao cả đó của Tam nguyên Yên Đổ
Bên cạnh những lời thơ ca ngợi phẩm chất thanh cao khí tiết của nhà nho,Nguyễn Khuyến còn dùng ngòi bút của mình để vẽ lên biểu tượng về con người lạnh
lùng vô cảm trước nỗi đau của dân tộc qua hình tượng Ông phỗng đá.
“Ông đứng làm chi đó hỡi ôngTrơ trơ như đá vững như đồngĐêm ngày gìn giữ cho ai đóNon nước đầy vơi có biết không”
Nguyễn Khuyến tự đồ vật hóa mình, ví mình chẳng khác nào một ông phỗng
đá cứ đứng ngây ngây, ngô ngô, trơ trơ trước thời vận đất nước Bằng cách đó, nhàthơ đã diễn tả sự lỗi thời, bất lực, vô dụng của mình đáng mức đến chê cười
Như vây, biểu tượng từ góc nhìn văn hóa dân gian, dân tộc đã gợi lên được nétriêng độc đáo về bức tranh thiên nhiên, cuộc sống nơi làng quê, đồng thời biểu hiện rõcuộc sống tâm sự của tác giả, cốt cách của một nhà Nho yêu nước, gắn bó sâu sắc vớilàng quê
1.4 Biểu tượng nghệ thuật từ góc nhìn văn hóa ngoại lai.
1.4.1 Biểu tượng Nho giáo.
Trang 24Nguyễn Khuyến là một nhà thơ, nhưng trước hết ông là một nhà nho dưới triềuđại nhà Nguyễn Ông từng đi thi và đỗ đầu ba kì thi được vua ban cờ biển, ban bảngvàng, nên trong thơ ông xuất hiện khá nhiều hình ảnh “bia xanh, bảng vàng” làm biểutượng cho chế độ thi cử, đỗ đạt thời phong kiến được lưu danh Theo quan niệm củaNho giáo, chí làm trai phải “lưu danh thiên cổ”, phải để lại tiếng thơm cho muôn đời.
Trong bài Tự trào ông đã chế giễu cái bất lực, bạc nhược của mình một cách
thẳng thắn:
“Nghĩ mình cũng gớm cho mình nhỉThế cũng bia xanh, cũng bảng vàng”
Nguyễn Khuyến là một nhà nho sống hết lòng vì nước vì dân, nhưng khi đấtnước bị thực dân giày xéo, ông tỏ rõ thái độ bất hợp tác bằng cách cáo quan về ở ẩn
để lại một cuộc đời công danh dang dở Nên lúc này ông nhận ra “bia xanh, bảngvàng” - biểu tượng cho sự hiển đạt trên con đường khoa cử - có ý nghĩa gì đâu khi bảnthân ông không thể góp sức phò vua, giúp nước, giúp dân Điệp từ “mình” được nhắc
đi nhắc lại thể hiện nỗi niềm day dứt của nhà thơ trước thời cuộc đất nước
Nguyễn Khuyến vẽ lên một hình ảnh ông nghè tháng tám khá sâu sắc trong bài
Vịnh tiến sĩ giấy
Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai
Cũng gọi ông nghè có kém aiMảnh giấy làm nên thân giáp bảngNét son điểm rõ mặt văn khôi
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?
Cái giá khoa danh thế mới hờiGhế tréo lộng xanh ngồi bảnh chọeNghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!
Thi phẩm Tiến sĩ giấy mang ý nghĩa biểu tượng toàn bài Ông tiến sĩ giấy trở
thành biểu tượng cho ông tiến sĩ thật Đối tượng được miêu tả trong bài thơ là hình
Trang 25ảnh ông tiến sĩ bằng giấy - một hình ảnh khá quen thuộc mỗi khi rằm trung thu đến,được tác giả miêu tả cụ thể sinh động, có mũ áo chỉnh tề, ngồi “ghế tréo lọng xanh”,hai bên có cờ, có biển Do vậy người đời mới dựng hình Tiến sĩ đó để cổ vũ khích lệviệc học hành cho trẻ con Vì Tiến sĩ là danh hiệu cao nhất, còn gọi là đỗ đại khoa đãtrở thành niềm mơ ước của các thế hệ thi cử Nho giáo nơi cửa Khổng sân Trình
Hình ảnh ông nghè đó xuất hiện đầy đủ có cờ giương danh Tiến sĩ, biển ấn tứvinh quy, mũ mang cân đai… toàn là thứ cao quý vua ban Nhìn vào bề ngoài ôngnghè này vừa uy nghi, vừa phô trương tự đắc Chất liệu làm nên con người ông thậtđơn giản chỉ là từ mấy mảnh giấy và nét son diêm dúa của anh hàng mã, nhưng ông
đã làm nên một kì tích lớn vang danh “thân giáp bảng”, ông được “điểm mặt vănkhôi”, ông được “ngồi ghế chéo lọng xanh” Từ “cũng” được nhấn mạnh đưa lên đầucâu chỉ sự giống nhau của hiện tượng thật - giả Nhân vật được làm nên từ chất liệumảnh giấy và nét son kia hóa ra chỉ là một ông nghè bằng giấy, có bề ngoài giống tiến
sĩ thật, nhưng thực chất bên trong rỗng tuếch chẳng có gì Ông được đưa ra bày bánkhắp hàng quán để người đời dùng tiêu khiển, kiếm lời, được coi như là thứ đồ chơicủa trẻ em không hơn không kém
Ông nghè trong xã hội lúc bấy giờ chỉ là hình thức phù phiếm, dễ tạo ra, giá trịxoàng xĩnh Hơn thế nữa tác giả còn đưa ông nghè lên “bàn cân”
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?
Cái giá khoa danh thế mới hời
Ông tiến sĩ này rất nhẹ cả về “lượng” và “chất” Từ “nhẹ” trong câu “Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ” được tác giả sử dụng thật đắc địa Cái hay của từ “nhẹ”
không có nghĩa nặng nhẹ về trọng lượng mà chỉ thái độ xem thường, coi nhẹ của
ngươi đời đối với hạng người “hữu danh vô thực” ấy Chính vì thế “cái giá khoa danh mới hời” Chữ “hời” ở đây cũng có nghĩa là rất rẻ Đến câu thơ kết cùm từ “đồ thật”
được đối với “ đồ chơi” ý muốn nói dù ông nghè có được tô điểm, ăn mặc rực rỡ đếnđâu thì cũng chỉ là món đồ chơi của lũ trẻ con, của người đời
Trang 26Mượn hình ảnh ông “Tiến sĩ giấy”, tác giả phê phán hạng người mang danhkhoa bảng “ hữu danh vô thực” khiến cho bộ mặt ông nghè, ông cống lúc bấy giờ hiệnlên thật thảm hại Bởi hơn ai hết, nhà thơ biết rõ những tấm bằng tiến sĩ của ôngNghè, ông Cống đương thời không phải do tài thực mà có, họ đã dựa vào sức mạnhcủa đồng tiền, của sự lừa lọc để có được “Cái giá khoa danh thế mới hời”.
Hình ảnh ông ghè thời đấy chính là biểu tượng của nên văn hóa giáo dục
cũ, sau ba mươi năm cùng đám dân quê khởi nghĩa, Cần vương chống Pháp, đã hoặc bị hủy diệt, hoặc xuôi tay bất lực, không kể một số ít “đầu hàng Tây”.[36]
Thông qua hình ảnh ông Tiến sĩ giấy, nhà thơ đã khái quát được phần nào bứctranh hiện thực đảo điên của xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XIX, coi nhẹ thực chất củaviệc học hành, thi cử Hình tượng Ông tiễn sĩ giấy mang tính chất giao thoa giữa vănhóa Nho giáo và văn hóa dân gian Từ văn hóa- thi cử Nho giáo, kết hợp với trò chơidân gian, ông tiến sĩ giấy vừa là ông nghè tháng tám, vừa là ông nghè của chế độphong kiến lúc cuối mùa
1.4.2 Biểu tượng văn hóa phương Tây.
Khi văn hóa phương Tây tràn sang xâm nhập nước ta, xã hội có nhiều biếnđộng, các giá trị đạo đức, đời sống văn hóa ngày càng bị băng hoại Nguyễn Khuyến
là một nhà Nho hiển đạt vô cùng đau xót trước hiện thực đó, nhưng ông đành bất lựclui về ẩn dật
Trong bức tranh sinh hoạt đời sống văn hóa cộng đồng, Nguyễn Khuyến ghi
lại được một kiểu trò chơi mới xuất hiện trong bài Hội Tây - một lễ hội được nhập
ngoại từ nước ngoài len lỏi, thâm nhậm vào đời sống xã hội Việt Nam Lúc bấy giờ
người Pháp đến Việt Nam thường tổ chức ngày hội nhân lễ độc lập của họ Hội Tây là
thi phẩm mang tính biểu tượng toàn bài
Mở đầu bài thơ, tác giả giới thiệu khung cảnh nhộn nhịp của ngày hội:
“Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo”
Trang 27Khi đọc hai câu thơ đó lên ta cảm nhận thấy khung cảnh của ngày hội rộn rã,náo nhiện trong âm thanh tiếng pháo nổ, màu sắc lấp lánh của cờ kéo, đèn treo Conngười trong lễ hội ấy háo hức đón nhận các trò chơi mà thực dân Pháp bày ra để mịdân:
“Bà quan tênh nghếch xem bời trải,Thằng bé lom khom nghe hát chèoCậy sức cây đu nhiều chị nhúnTham tiền cột mỡ lắm anh leo”
Trong câu thơ trên có hình ảnh đối xứng bà quan thật nực cười trong cái thế “tênh nghếch”, thằng bé thì nom có vẻ tội nghiệp trong điệu bộ “lom khom” Chỉ thôngqua hai hình ảnh đối xứng ấy, tác giả muốn lột trần bản chất thực dân Pháp và lên ánbọn Việt gian bán nước, tìm nhu cầu để giải trí để mị dân chúng Nhưng đau xót hơnnhững con người nô lệ ấy đã không nhận thức được nỗi nhục mất nước lại bị lôi cuốnvào những điều đáng xấu hổ mà không tự biết
Nhận thức được nỗi đau, nỗi nhục mất nước, nhà thơ không bị lôi cuốn vàođiều đó mà đứng nhìn từ xa, từ chối việc nhập cuộc, để rồi cảnh tình cho người dânViệt biết được:
“Khen ai khéo vẽ trò vui thếVui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu”
“Hôi Tây” chính là biểu tượng cho sự xâm nhập văn hóa phương Tây vào đờisống văn hóa cổ truyền, đồng thời thể hiện tâm sự thời thế, yêu nước của tác giả
Trước cảnh đàn bà Việt Nam lấy Tây, Nguyễn Khuyến biểu lộ lòng khinh giậnbằng cách đặt ngang lá cờ xâm lược của bọn thực dân với cái váy tung bay của gái đĩ
để chế giễu
“ Ba vuông phấp phới cờ bay dọcMột bức tung hoành váy xắn ngang.”
(Lấy Tây)
Trang 28Tóm lại: Biểu tương văn hóa phương Tây đã đem đến cho người đọc thấy được
sự khác biệt rất rõ trong đối chiếu so sánh với biểu tượng Nho giáo Thông qua biểutượng này, Nguyễn Khuyến cho thấy nền văn hóa Việt Nam đang dần có nguy cơđánh mất bản sắc văn hóa cổ truyền, hình thành một lối sống mới trong sự giao thoavới văn hóa phương Tây
1.5 Ý nghĩa biểu tượng từ góc nhìn văn hóa trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến.
1.5.1 Biểu tượng phản ánh cuộc sống văn hóa làng quê.
Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam Phần lớn cuộc đờitác giả sống ở nông thôn - một vùng đồng bằng chiêm trũng nghèo đã in đậm dấu ấnvào tâm hồn ông Hình ảnh làng quê và cuộc sống của người dân đi vào trong thơTam nguyên Yên Đổ khá đậm nét, với một tình cảm đậm đà thân thiết, gắn bó nhưmáu thịt tâm hồn Điều này được nhà thơ thể hiện một cách sâu sắc và hết sức thànhcông trong những trang thơ của mình
Cảnh sắc làng quê trong thơ ông là những hình ảnh quên thuộc, gần gũitrong cuộc sống đời thường của người thôn quê như hình ảnh: lá vàng trước gió khẽđưa vèo, hoa năm ngoái, âm thanh tiếng cuốc kêu, tiếng dế, đàn muỗi vo ve…Cảnhrất đời thương, gợi cảm, đậm đà màu sắc dân tộc, tạo nên nét riêng biệt về hình ảnhlàng quê ở đồng bằng Bắc Bộ
Cảnh sinh hoạt văn hóa nơi làng quê trong thơ Nguyễn Khuyến cũng hiệnlên khá đậm nét như: phong tục chợ tết ở làng quê đồng bằng Bắc Bộ qua cảnh chợĐồng Khung cảnh chợ Đồng hiện lên trong mưa bụi cuối đông, gợi một nỗi buồn xaxăm, biểu tượng cho đời sống làng quê nghèo khổ
Văn hóa làng nơi người quê sống chủ yếu là những bà con nông dân laođộng vất vả lo toan đủ mọi loại thuế má
“ Phần thuế quan trên, phần trả nợ Nửa công đứa ở, nửa thuê bò”
Trang 29Phần lớn cuộc sống của họ phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, mà thiênnhiên không phải năm nào mưa cũng thuận gió cũng hòa
Bên cạnh biểu tượng mang ý nghĩa phản ánh cuộc sống văn hóa làng quê,biểu tượng thơ Nôm của Nguyễn Khuyến còn địa sâu phản ánh văn hóa Nho giáo giaiđoạn cuối mùa
1.5.2 Biểu tượng phản ánh văn hóa Nho giáo giai đoạn cuối.
Nho giáo vốn là một học thuyết chính trị và đạo đức của giai cấp phongkiến phương Đông Hầu hết các triều đại xuất thân từ phong kiến luôn tôn sùng, xemNho giáo là hệ tư tưởng chính yếu, là công cụ để thiết lập bộ máy cai trị của nhànước Ở nước ta, trong một thời gian dài Nho giáo được coi là một ý thức hệ chínhthống Nhưng khi thực dân Pháp tràn sang xâm lược, chế độ phong kiến Việt Namlâm vào khủng hoảng, xuống dốc trầm trọng Nho giáo mất dần ảnh huởng, nhất làkhi chế độ khoa cử lấy Nho giáo làm trọng tâm bị bãi bỏ Nho giáo về cơ bản bị loại
ra khỏi chương trình giáo dục Đặc biệt sau khi đặt ách xâm lược lên toàn cõi nước ta,thực dân Pháp tổ chức các kì thi mục đích để đào tạo lực lượng cho bộ máy cai trị củachúng Nền Nho học và thi cử lúc này như cảnh chợ chiều Trường thi không còn lànơi chọn hiền tài ra giúp nước mà là nơi tiền tài đọ thế lực Quan trường phần nhiềuvừa dốt vừa gian lận Chế độ ấy đã đẻ ra các khoa bảng dốt nát
Nguyễn Khuyến là một nhà Nho được đào tạo chính thống, đạt đến đỉnh caocủa nền học vấn đương thời, vô cùng đau đớn, xót xa trước thực trạng nước nhà Ông
đã nhận thấy con đường học vấn đương thời với nhiều ông Cống, ông Nghè chỉ có vỏhào nhoáng bên ngoài mà không có thực học, thực tài
Đó là một ông nghè mới đỗ nhưng không phải do tài thực học của mình:
“Anh mừng cho chú đỗ ông nghèChẳng đỗ thì trời cũng chẳng nghe”
(Mừng ông nghè mới đỗ)
Trang 30Trong bài thơ Tiến sĩ giấy nhà thơ đã phê phán những ông nghè, ông cống
được vua ban chức sắc, ngồi trên cao ấy hóa ra chỉ là thứ đồ chơi không hơn, giốngnhư một món hàng được bày bán cho trẻ con trong dịp tết trung thu Bên canh đó tacòn bắt gặp kiểu người như ông lão đá thì lạnh lùng vô cảm trước vận mệnh dân tộc
Đạo nho cuối mùa, chữ thánh hiền không còn được trọng dụng thầy đồ khôngcòn đất sống dẫn đến tha hóa về lối sống:
“Ở góa thế gian nào mấy mụ?
Đi ve, thiên hạ thiếu chi thầyYêu con cũng muốn cho thầy dạyDạy cháu nên rồi mẹ cháu ngây!”
1.5.3 Biểu tượng phản ánh sự xâm nhập của phương Tây, sự manh nha xã hội phong kiến nửa thực dân.
Khi chế độ phong kiến lâm vào khủng hoảng, thực dân Pháp sang xâm chiếm,Việt Nam bắt đầu được tiếp xúc với văn minh phương Tây dưới sự bảo hộ của Pháp,làm thay đổi diện mạo xã hội phong kiến đã hình thành hàng nghàn năm Văn hóa
Trang 31Việt Nam cũng bị xáo trộn trầm trọng Nền tảng tư tưởng, nền tảng đạo đức truyềnthống bị lung lay Nhiều giá trị cơ bản bị đảo lộn, đồng tiền được tôn lên vị trí thốngsoái, chi phối toàn bộ cuộc sống của con người Chính vì thế mới có cảnh cười ra
nước mắt trong Hội Tây do thực dân Pháp tổ chức mà người bản xứ tham gia các trò
chơi tỏ ra vui vẻ đến vô tâm trước nỗi nhục nô lệ
Sống trong xã hội nửa ta, nửa Tây rất nhiều cô gái hám danh mà đánh mất cảbản thân, đánh mất đi nét đẹp nề nếp truyền thống của dân tộc Người con gái “lấyTây” mang ý nghĩa biểu tượng cho một kiểu phụ nữ lúc bấy giờ:
“Con gái đời này gái mới ngoan, Quyết lòng ẩu chiến với Tây quan
Ba vuông phấp phới cờ bay dọc Một bức tung hoành váy xắn ngang”
Tầng lớp vua quan không ít kẻ là một lũ bù nhìn, vô dụng dốt nát chỉ là thứphỗng đá không hơn không kém, vô cảm trước nỗi đau khổ của người dân
Tiểu kết
Ở Chương 1, trước khi tìm hiểu biểu tượng nghệ thuật trong thơ Nôm
Nguyễn Khuyến, chúng tôi đã xác định các khái niệm cơ bản được sử dụng trong
luận văn như khái niệm biểu tượng, biểu tượng văn hóa Trên cơ sở đó người viết
khảo sát thống kê phân loại các biểu tượng nghệ thuật trong thơ Nôm của Tamnguyên Yên Đổ
Trang 32Luận văn đi sâu phân tích các biểu tượng theo hệ thống biểu tượng nghệthuật từ góc nhìn văn hóa dân tộc và biểu tượng nghệ thuật từ góc nhìn văn hóangoại lai, từ đó phân tích ý nghĩa của biểu tượng nghệ thuật trong thơ NômNguyễn Khuyến.
Ý nghĩa biểu tượng từ góc nhìn văn hóa trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyếnkhông chỉ phản ánh văn hóa dân tộc, văn hóa Nho giáo mà còn phản ánh văn hóaphương Tây Ý nghĩa biểu tượng này góp phần không nhỏ tái hiện được bức tranhthiên nhiên nơi làng quê và cuộc sống, con người, thời đại tác giả đồng thời cho ta cáinhìn toàn diện về xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, giúp ta hiểu được tâm sự yêu nướcthầm kín của nhà thơ
Trang 33Chương 2 BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG THƠ NÔM CỦA TRẦN TẾ XƯƠNG TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
2.1 Thống kê phân loại biểu tượng nghệ thuật trong thơ Nôm của Trần
Tế Xương từ góc nhìn văn hóa.
Trong phần này, luận văn đi tìm hiểu biểu tượng nghệ thuật trong thơ Nômcủa Trần Tế Xương từ góc nhìn văn hóa từ đó thấy được sự đóng góp lớn lao củanhà thơ đối với văn học dân tộc
Chúng tối tiến hành khảo sát thơ Nôm của Trần Tế Xương dựa vào các tài
liệu: Tú Xương toàn tập của do Trung tâm nghiên cứu Quốc học giới thiệu, Nxb
Văn học, 2010 Đây được coi là cuốn sách sưa tầm, biên soạn về thơ văn Trần Tế
Xương đầy đủ và đáng tin cậy nhất hiện nay Trong cuốn Tú Xương toàn tập, giới
thiệu một số lượng lớn tác phẩm bao gồm 134 bài thơ chữ Nôm của ông
Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo thêm cuốn: Thơ văn Trần Tế Xương, Nxb Giáo dục, 1984; Tú Xương thơ và đời do tác giả Lữ Huy Nguyễn tuyển chọn và
biên soạn, Nxb Văn học, 1996; Trần Tế Xương tác phẩm chọn lọc, Nxb Giáo dụcViệt Nam - 2009
1 Đất vị Hoàng Có đất nào như đất ấy không
Phố phường tiếp giáp với bờ sông
2 Tự cười mình Ở phố hàng nâu có ông phỗng sành
Mắt thời thao láo, mắt thời xanh
3 Thương vợ Lặn lội thân cò khi quãng vắng
4 Câu đối: Làm hộ bà
hàngxóm khác chồng
Con cò lặn lội bờ sông, rủ rỉ ru con màhóathực/ Gối phượng ngậm ngùi chin suối,
Trang 34bang khuâng duyên chị lại từ đây.
5 Đổi thi Vứt bút lông đi giắt bút chì
… Tuy rằng cổ rụt mà không ngỏng
Hễ cắn ai thì sét mới tha”
9 Giái góa nhà giàu Bảo rằng thằng cuội ở cung giăng
10 Thành pháo Tượng tượng, xe xe, xé lẻ rồi,
Sĩ đen, sĩ đỏ chẳng vào đôi
Đen thủi đen thui cũng lượt là
11 Mừng ông cử lấy vợ kế Một sớm ơn vua chiếm bẳng vàng
12 Để vậy chơi nhăng
Vợ đẹp của người không giữ đượcChồng ngu mượn đữa để chơi nhăng
Ra đường đáng giá người trinh thựcTrong dạ sao mà những gió trăng
13 Lụt năm bính ngọ Trâu bò buộc cẳng ôi buồn nhỉ
Tôm tép văng mình đã sướng chưa
14 Đại hạn Trâu mừng ruộng nẻ cày không được,
Cá sợ ao khô vượt cả rồi
Giương mắt trông chi buổi bạc tình
16 Vô tích Sáng vác ô đi tối vác ô về
Biểu tượng toàn bài
Trang 3522 Vị hoàng Hoài cổ Biểu tượng toàn bài
24 Than đạo học Biểu tượng toàn bài
25 Gửi ông thủ khoa Phan Biểu tượng toàn bài
26 Lễ xướng danh khoa
Đinh Dậu Biểu tượng toàn bài
28 Chế bạn lấy vợ bé Biểu tượng toàn bài
29 Nghèo mà vui Biểu tượng toàn bài
Bảng số liệu thống kê, phân loại trên cho ta thấy biểu tượng nghệ thuậtđược chia làm hai cấp độ rõ rệt, biểu tượng toàn bài và biểu tượng ở một hình ảnh
cụ thể, rất phong phú, khá đa dạng Đây chính là cơ sở để chúng tôi tiến hành phântích cách khía cạnh khác nhau của biểu tượng trong thơ Nôm của Tú Xương
2.2 Biểu tượng nghệ thuật từ góc nhìn văn hóa dân gian, dân tộc trong thơ Nôm của Trần Tế Xương.
Khác với nhà thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương sinh ra và lớn lên chủyếu ở mạnh đất thành thị Mảnh đất phồn hoa đó đã ăn sâu vào trong tâm trí nhàthơ Vì vậy phần nhiều sáng tác của ông Tú thành Nam đi sâu phản ánh cuộc sốngnơi đô thị xô bồ nhốn nháo trong thời buổi hội nhập văn hóa phương Tây, đồngthời cũng phản ánh cuộc sống tâm sự của chính tác giả sống trong xã hội đó
Cuộc sống nơi đô thị của xã hội lúc bấy giờ hiện lên khá rõ trong trang thơ của
Tú Xương chính là hình ảnh “ lặn lội thân cò” - biểu tượng cho cuộc sống lam lũ vất
vả của người phụ nữ Việt Nam thời xưa cũng như thời Tú Xương Hình ảnh mang ýnghĩa biểu tượng này có nguồn gốc từ văn hóa/văn học dân gian, thể hiện trong các
bài Thương vợ, câu đối làm hộ bà hàng xóm khóc chồng.
Trang 36Có lẽ trong văn học trung đại Trần Tế Xương là người dành nhiều tình cảmnhất viết về người và vợ hình ảnh người vợ mới thực sự đi vào trong văn thơ sâu sắcnhư vậy.
Trong mảng thơ viết về vợ thì Thương vợ được coi là bài thơ tiêu biểu hơn
cả Ở đó là sự thấu hiểu nỗi vất vả gian truân cao đẹp của người vợ:
“Lăn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo nước buổi đò đông”
Trần Tế Xương đã mượn hình ảnh con cò trong ca dao “ Con cò lặn lội bờsong/Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non” Nhà thơ đảo trật tự cú pháp “ Lặn lộithân cò” nhằm nhấn mạnh cuộc sống nhẫn nại, nhọc nhằn của người vợ trong mộtcảnh đời xô bồ phức tạp Tuy nói cách nói dân gian nhưng ở đây nhà thơ không gọi
“con cò”, “cái cò” mà gọi “ thân cò” Chữ “ thân” càng gợi sự cô đơn một mình lam
lũ, càng gợi thân phận nhỏ bé tội nghiệp trước không gian rợn ngợp và thời giankhông nghỉ ngơi trong công việc làm ăn, đồng thời tình thương yêu hết lòng vì giađình của bà Tú
Trong câu đối của Tú Xương ta cũng bắn gặp hình ảnh con cò:
“Con cò lặn lội bờ sông, rủ rỉ ru con mà hóa thực;
Gối phượng ngậm ngùi chín suối, bâng khuâng duyên chị lại từ đây.”
(Câu đối làm hộ bà hàng xóm khóc chồng.)
Hình ảnh “con cò” trong câu đối trên là hình ảnh sáng tạo của tác giả Cadao xưa thường mượn hình ảnh “thân cò” để nói lên nỗi vất vả của người phụ nữViệt Nam xưa Tú Xương đã mượn hình ảnh con cò ấy để phần nào khái quát lênthân phận bất hạnh của người phụ nữ góa chồng một mình đơn chiếc ru con trongđêm Vì thông qua tiếng ru con ta có thể hiểu được phần nào tâm sự, nỗi cô đơn, trốngtrải khi thiếu vắng đi người chăn loan gối phượng sớm khuya cùng mình Nhưngngười phụ nữ ấy không cam tâm chấp nhận số phận mà nhanh chóng bén duyên mới
“bâng khuâng duyên chị lại từ đây” Thái độ nhà thơ vừa cảm thông cho số phận
Trang 37hẩm hiu của người phụ nữ góa chồng, nhưng lại hàm ý giễu cợt phê phán Biểu tượngcon cò vừa bi vừa hài là một sáng tạo của ông Tú thành Nam.
Cuộc sống đô thị vất vả, phồn tạp trong thơ Trần Tế Xương không chỉ gợi lên
qua hình ảnh thân cò mà hình ảnh “thằng cuội” cũng hiện lên với nhiều góc cạnh
khác nhau Phải chăng hình ảnh thằng cuội nơi cung trăng cao xa kia đã trở thành biểu
tượng cho thói trăng hoa trong quan hệ nam nữ Lời thơ trong bài Gái góa nhà giàu
thật ý nhị mà sâu cay
“Ta thấy người ta vẫn bảo rằng:
Bảo rằng thằng Cuội ở cung giăngCõi đời cũng lắm nơi thanh quý,Chị Nguyệt dung chi đứa tục tằn.”
Tác giả sử dụng hình ảnh “thằng Cuội ở cung giăng” để ám chỉ thói trăng hoa,của con người, nhất là nơi thị thành thời Tú Xương Ngoài ra tác giả sử dụng nghệthuật đối “ thanh quý/ tục tằn” phải chăng làm nổi bật bản chất giữa một bên thằngCuội với thân phận nhỏ mọn và một bên lại là chị Nguyệt đại diện cho thân phận caosang nhưng có quan hệ bất chính với nhau ? Thông qua hình ảnh trên nhà thơ ngụ ýphê phán, giễu cợt, cảnh tình lối sống đô thị xô bồ khiến con người quên đi giá trịphẩm hạnh đoan chính của chính mình
Khi thực dân Pháp sang xâm chiếm, xã hội Việt nam có nhiều đổi thay về mọi
mặt, trong đó tiêu biểu nhất là sự thay đổi thời cuộc Đến với bài thơ Sông lấp ta có
thể phần nào hiểu được điều đó Bài thơ này mang ý nghĩa biểu tượng toàn bài nói về
Trang 38khẩu khá phồn thịnh Khi Pháp mở cảng Hải Phòng không dùng Nam Định làm cửakhẩu nữa thì sông Vị Hoàng lâu ngày không được đào vét, bị đất phù sa lấp dần thànhbãi, người ta lợi dụng xây nhà cửa để ở, sau thành phố xá đông đúc” [30, 34]
Câu mở đầu nhà thơ nhắc đến một hiện thực đã xảy ra là cảnh vật ngày xưakhông còn nữa, hoàn toàn đổi thay Con sông xưa, bây giờ đã bị người ta lấp đi, hoặc
do năm tháng phù sa bồi lấp, nơi cao thì dân làm nhà, còn nơi thấp thì đã trởthành bãi được con người sử dụng trồng ngô hoặc trồng khoai Đây là một sự đổithay bình thường trong đời sống, nhưng đặt trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, đất nước bịthực dân Pháp cai trị thì sự đổi thay đó là chuyện không bình thường Vì con sông bịlấp cũng có nghĩa là quê hương đã đổi khác Hình ảnh dòng sông thân yêu mãi mãi
đi vào dĩ vãng Nhà thơ bùi ngùi thương tiếc, chất chứa một tâm sự u hoài Đến haicâu kết nỗi ưu tư, trăn trở, day dứt của tác giả càng sâu sắc hơn:
“Vẳng nghe tiếng ếch bên taiGiật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”
Ngay ở câu thơ thứ ba nhà thơ dùng thủ pháp nghệ thuật lấy động tả tĩnh, mộtthủ pháp nghệ thuật thường thấy trong thơ ca truyền thống Tiếng ếch kêu trong đêmkhông đủ làm cho không gian thêm náo nhiệt mà khiến không gian càng thêm tĩnhlặng Tú Xương “giật mình” để rồi đau xót trước sự đổi thay của quê hương đất nước.Tiếng ếch vẳng kêu trong đêm nơi đồng bãi ngô khoai heo hút, gợi nhớ tiếng gọi đò
da diết thuở nào Cái tiếng gọi đò u hoài là tiếng gọi của cả một giai đoạn sử ta cuốithế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX khi đất nước quê hương “lộp cộp móng lừa Tây” Vậyphải chăng “tiếng ếch” chính là biểu tượng tiếng vọng của quá khứ
Bài thơ Sông lấp tiêu biểu cho hơi thở, cho giọng thơ Tú Xương, đồng thời tiêu
biểu cho cái thời Tú Xương, được nhà thơ dùng làm biểu tượng cho sự thay đổi thờicuộc
Trang 39Cùng với bài Sông Lấp, bài Đất Vị Hoàng, Vị Hoàng hoài cổ cũng là những
bài thơ mang ý nghĩa biểu tượng cho sự thay đối thời cuộc và sự xâm nhập của đờisống đô thị vào đất nước ta.:
“Có đất nào như đất ấy khôngPhố phường tiếp giáp với bờ sông”
(Đất vị Hoàng)
Hay
“Trời kia xui khiến sông nên bãi
Ai khéo xoay ra phố nửa làng”
(Vi Hoàng hoài cố)
Mở đầu bài thơ Đất Vị Hoàng, tác giả đi ngay vào vấn đề bằng câu hỏi tu từ
giàu giá trị biểu tượng “Có đất nào như đất ấy không?” Câu hỏi như một tiếng thởdài bất lực của nhà nho trước hoàn cảnh đất nước đổi thay lúc thực dân Pháp bắtđầu công cuộc khai hóa sau khi đã xâm lược xong nước ta Nơi chôn rau cắt rốnthân thương nay đã thay đổi thành phố phường tới “ tiếp giáp với bờ sông”, ngàyngày diễn ra bao cảnh đau lòng Còn đâu nữa hình ảnh đẹp một thời để tự hào, tựnhớ Vì ngày trước sông Vị Hoàng chảy ngang qua thành phố Nam Định Cuối thế
kỉ XIX trở về trước, nhờ nó mà Nam Định trở thành cửa khẩu giao thương phồnthịnh, sầm uất Bây giờ, dưới áp lực súng đạn, cửa khẩu nay đã bị bỏ quên, chẳng
ai chú tâm nạo vét nên cát bồi, sông lấp; bên này sông phố xã mọc lên, bên kiasông thì thành xóm làng, ao vườn ruộng lúa Sông chẳng còn dòng chảy nên thơthoáng mát
Sự xâm nhập của thực dân Pháp không chỉ làm thay đổi “phố phường” Nócòn làm đảo điên nhiều điều khác thiêng liêng hơn Đó là sự đảo lộn, sự đổ vỡ vềmặt đạo lí:
“Nhà kia lỗi phép, con khinh bố
Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng”
Trang 40Như vây, Vị Hoàng trở thành biểu tượng cho một sự thay đổi thời cuộc, sự
xâm nhập của đời sống đô thị khi thực dân Pháp sang xâm lược
Trong bức tranh thế sự chúng ta gặp khá nhiều loại nhân vật do ngòi bút nhàthơ vẽ ra Có người đáng thương hơn đáng ghét như chú Mán, có những kẻ đáng coithường khinh bỉ như ông cử Ba, nhưng lại có người đáng được để cao, trân trọng nhưPhan Bội Châu
Ở bài thơ Mừng ông cử Ba, Trần Tế Xương dùng nghệ thuật chơi chữ khá độc
đáo Ông cử nhân chính tên là Ba, Tú Xương hóa thành một loại sinh vật thuộc loạirùa Nhà thơ lại ví đầu ba ba với đầu lươn, lại thêm một sự lạ, lươn là thân phận thấphèn, còn ông cử Ba thì lại không chịu thân lươn, còn ngo ngoe cái đầu rắn từ tronghang ngó ra, khoe với thiên hạ Nghĩa là ông học hành dốt nát, nhưng thi cử vẫn đỗđạt, đã thành ra một con ba ba rụt cổ
“Ai ngờ mũ áo đến ba ba,Đầu như lươn đất mà không lấm,Thân tựa xà hang cũng ló ra
… Tuy rằng cổ rụt mà không ngỏng
Hễ cắn ai thì sét mới tha”
Ngay câu thơ mở, tác giả đã gây ra một tiếng cười lớn “Ai ngờ mũ áo đến baba” Nhà thơ có sự liên tưởng khá độc đáo, từ sự ngu dốt của con người khi đỗ đạt trởthành kiếp vật “Mũ đẹp, thân danh nó không có tội lỗi gì, nhưng mũ đó khi đặt lên
cổ con ba ba, thì trông nó thật nực cười: nó đè nặng xuống, không cho cái bất tài đóngóc lên Vì đặc điểm của ba ba là một khi đã cắn ai thì nó liền thụt đầu vào mu vỏ,
và chỉ khi trời nổi cơn giống gió lớn, có sấm động thì nó mới chịu nhả ra” [28, 273]
Tú Xương mượn loài ba ba ngụ ý muốn nói: cái giống học dốt, đỗ được vì sựcân nhắc bất công ấy mà đến được cái đích, thì chỉ có giời họa chăng mới gỡ ra nổi
“Nếu loài ba ba khi nghe sấm sét biết sợ còn nhả ra, chứ đến thứ con người dốt nátnhư ông cử Ba thì có đánh đi chăng nữa, có phải chết, thì cũng xin cho được chết trên