1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình luật an sinh xã hội

213 45 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Luật An Sinh Xã Hội
Tác giả Pgs.Ts. Nguyễn Hữu Chí, Ts. Đỗ Thị Dung, Ths.Ncs. Nguyễn Thị Phan, Ts. Nguyễn Xuân Thu
Người hướng dẫn Ts. Đỗ Thị Dung – Giảng Viên Cao Cấp Trường Đại Học Luật Hà Nội
Trường học Trường Đại Học Mở Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 213
Dung lượng 4,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ quan bảo hiểm xã hội có các nghĩa vụ như: Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội; Tổ chức thực hiện thu, chi bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật; Cấp

Trang 1

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

GIÁO TRÌNH LUẬT AN SINH XÃ HỘI

Chủ biên: TS Đỗ Thị Dung

Hà Nội, tháng 12/2020

Trang 2

2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

GIÁO TRÌNH LUẬT AN SINH XÃ HỘI

Trang 3

3

TẬP THỂ TÁC GIẢ

1 1 PGS.TS Nguyễn Hữu Chí Mục 2.1 Chương 2

Chương 5, Chương 6

4 ThS.NCS Nguyễn Thị Phan Mai Mục 2.3 và mục 2.4

Chương 2

5 TS Nguyễn Xuân Thu Chương 1,

Chương 7

Trang 4

4

LỜI NÓI ĐẦU

An sinh xã hội là chính sách xã hội quan trọng của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam Mục đích của an sinh xã hội là nhằm bảo đảm đời sống, nâng cao chất lượng sống cho các thành viên trong xã hội, nhất là những thành viên không may gặp rủi ro trong cuộc sống

Trong những năm qua, Đảng và nhà nước ta đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và thực hiện chính sách an sinh xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, coi đó vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển bền vững đất nước Thể chế quan điểm, chính sách của Đảng, pháp luật an sinh xã hội Việt Nam ngày càng phát triển và hoàn thiện, bảo đảm phù hợp với nhu cầu của mọi người dân và xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết của nhà nước và xã hội cũng như yêu cầu của chương trình đào tạo luật ở Việt Nam, năm 2018 Trường Đại học Mở Hà Nội đã tổ chức biên soạn “Giáo trình Luật an sinh xã hội Việt Nam” (lưu hành nội bộ)

Trong bối cảnh có nhiều thay đổi về chính sách, pháp luật an sinh xã hội, đồng thời đáp ứng những yêu cầu mới về mục tiêu, chương trình đào tạo và chuẩn đầu ra của nhà trường, đã đặt ra sự cần thiết nâng cấp Giáo trình Luật an sinh xã hội Việt Nam từ lưu hành nội bộ lên xuất bản Vì vậy, Giáo trình Luật an sinh xã hội này được nâng cấp

từ Giáo trình Luật an sinh xã hội Việt Nam năm 2018, trong đó có tham khảo, tiếp thu, phát triển Giáo trình Luật an sinh xã hội của một số cơ sở đào tạo luật khác và tiếp cận được các văn bản pháp luật mới về an sinh xã hội

Mục tiêu của Giáo trình Luật an sinh xã hội nhằm cung cấp những kiến thức và

kỹ năng cần thiết về pháp luật an sinh xã hội cho các đối tượng là sinh viên, học viên ở bậc đào tạo đại học Chuyên ngành Luật Cụ thể, giúp sinh viên, học viên lĩnh hội được các kiến thức lý luận về luật an sinh xã hội Việt Nam và các kiến thức cơ bản về pháp luật bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, ưu đãi xã hội, trợ giúp xã hội, xử lý vi phạm pháp luật về an sinh xã hội và giải quyết tranh chấp về an sinh xã hội Từ đó, giúp sinh viên, học viên vận dụng các kiến thức đã học để tư vấn cho các đối tượng là cá nhân và tổ chức về các vấn đề thông dụng trong lĩnh vực an sinh xã hội; tham gia giải quyết các vụ việc thông thường trong lĩnh vực an sinh xã hội; tham gia vào các hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật an sinh xã hội

Từ mục tiêu đặt ra và đối tượng sử dụng giáo trình như trên, Giáo trình Luật an sinh xã hội được cấu trúc gồm 07 chương:

Chương 1 Khái quát về Luật an sinh xã hội Việt Nam

Chương 2 Bảo hiểm xã hội

Chương 3 Bảo hiểm thất nghiệp

Chương 4 Bảo hiểm y tế

Chương 5 Ưu đãi xã hội

Trang 5

5

Chương 6 Trợ giúp xã hội

Chương 7 Xử lý vi phạm pháp luật về an sinh xã hội và giải quyết tranh chấp về

an sinh xã hội

Trong mỗi chương có phần giới thiệu tóm tắt, phần nội dung và phần câu hỏi, bài tập, tài liệu tham khảo

Giáo trình này do TS Đỗ Thị Dung – Giảng viên cao cấp Trường Đại học Luật

Hà Nội làm chủ biên và tập thể tác giả gồm các giảng viên cao cấp Trường Đại học Luật Hà Nội, giảng viên Học viện Tư pháp, giảng viên Trường Đại học Mở Hà Nội –

là những người có kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học và giảng dạy về lĩnh vực an sinh xã hội tham gia biên soạn

Các tác giả được phân công biên soạn các chương như sau:

- PGS.TS Nguyễn Hữu Chí biên soạn mục 2.1 của Chương 2 và đồng biên soạn mục 4.1 của Chương 4

- TS Đỗ Thị Dung biên soạn mục 2.2 của Chương 2; Chương 3; Chương 5; Chương 6; và đồng biên soạn mục 4.1 của Chương 4

- ThS.NCS Nguyễn Thị Phan Mai biên soạn mục 2.3 và mục 2.4 của Chương 2

- TS Nguyễn Xuân Thu biên soạn Chương 1 và Chương 7

Mặc dù tập thể tác giả đã rất nghiêm túc và có nhiều cố gắng trong quá trình biên soạn, tuy nhiên Giáo trình cũng khó tránh khỏi những thiếu sót Tập thể tác giả

và Trường Đại học Mở Hà Nội rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, sinh viên, học viên và bạn đọc để giáo trình hoàn thiện hơn trong lần tái bản

Xin trân trọng cảm ơn!

TẬP THỂ TÁC GIẢ

Trang 6

6

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 4

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ LUẬT AN SINH XÃ HỘI VIỆT NAM 11

1.1 KHÁI NIỆM LUẬT AN SINH XÃ HỘI VIỆT NAM 11

1.1.1 Phạm vi điều chỉnh của luật an sinh xã hội Việt Nam 11

1.1.1.1 Khái niệm an sinh xã hội 11

1.1.1.2 Các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của luật an sinh xã hội Việt Nam 15

1.1.2 Phương pháp điều chỉnh của luật an sinh xã hội Việt Nam 22

1.1.2.1 Phương pháp mệnh lệnh 23

1.1.2.2 Phương pháp tùy nghi 23

1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của luật an sinh xã hội Việt Nam 24

1.1.3.1 Nguyên tắc mọi thành viên trong xã hội đều có quyền hưởng an sinh xã hội 24 1.1.3.1 Nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lý an sinh xã hội 25

1.1.3.3 Nguyên tắc kết hợp hài hoà giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội trong công tác an sinh xã hội 25

1.1.3.4 Kết hợp giữa nguyên tắc “hưởng thụ theo đóng góp” với nguyên tắc “lấy số đông, bù số ít” 26

1.1.3.5 Nguyên tắc đa dạng hóa, xã hội hóa công tác an sinh xã hội 26

1.1.4 Nguồn của luật an sinh xã hội Việt Nam 27

1.2 QUAN HỆ PHÁP LUẬT AN SINH XÃ HỘI 27

1.2.1 Khái niệm quan hệ pháp luật an sinh xã hội 27

1.2.1.1 Định nghĩa 27

1.2.1.2 Đặc điểm 28

1.2.2 Các quan hệ pháp luật an sinh xã hội 29

1.2.2.1 Quan hệ pháp luật về bảo hiểm xã hội 29

1.2.2.2 Quan hệ pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 33

1.2.2.3 Quan hệ pháp luật về bảo hiểm y tế 38

1.2.2.4 Quan hệ pháp luật về ưu đãi xã hội 41

1.2.2.5 Quan hệ pháp luật về trợ giúp xã hội 43

Chương 2 BẢO HIỂM XÃ HỘI 47

2.1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 47

2.1.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội 47

2.1.2 Phân loại bảo hiểm xã hội 50

Trang 7

7

2.1.3 Nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm xã hội 51

2.1.4 Chế độ bảo hiểm xã hội 54

2.1.5 Mức thu nhập được bảo hiểm 56

2.1.6 Quỹ bảo hiểm xã hội 56

2.1.6.1 Khái niệm quỹ bảo hiểm xã hội 56

2.1.6.2 Đặc trưng của quỹ bảo hiểm xã hội 57

2.1.6.3 Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội 57

2.1.6.3 Sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội 58

2.2 BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 58

2.2.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội bắt buộc 58

2.2.2 Nội dung chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc 61

2.2.2.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc 61

2.2.2.2 Mức đóng và phương thức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 63

2.2.2.3 Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc 67

2.3 BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN 96

2.3.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội tự nguyện 96

2.3.2 Nội dung chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện 97

2.3.2.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện 97

2.3.2.2 Mức đóng và phương thức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện 99

2.3.2.3 Các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện 100

2.4 BẢO HIỂM HƯU TRÍ BỔ SUNG 103

2.4.1 Khái niệm bảo hiểm hưu trí bổ sung 104

2.4.2 Nội dung chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung 105

2.4.2.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung 105

2.4.2.2 Mức đóng và phương thức đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung 105

2.4.2.3 Chi trả từ quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung 106

Chương 3 BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 109

3.1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 109

3.1.1 Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp 109

3.1.2 Ý nghĩa của bảo hiểm thất nghiệp 114

3.1.3 Nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp 116

3.1.4 Quỹ bảo hiểm thất nghiệp 119

3.2 NỘI DUNG CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 120

3.2.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp 120

Trang 8

8

3.2.2.1 Người lao động 120

3.2.2.2 Người sử dụng lao động 121

3.2.2 Các chế độ bảo hiểm thất nghiệp 121

3.2.2.1 Chế độ trợ cấp thất nghiệp 121

3.2.2.2 Chế độ hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm 125

3.2.2.3 Chế độ hỗ trợ học nghề 125

3.2.2.4 Chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động 126

Chương 4 BẢO HIỂM Y TẾ 129

4.1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ 129

4.1.1 Khái niệm bảo hiểm y tế 129

4.1.2 Ý nghĩa của bảo hiểm y tế 132

4.1.3 Nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm y tế 134

4.1.4 Quỹ bảo hiểm y tế 136

4.2 NỘI DUNG CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM Y TẾ 139

4.2.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế 139

4.2.1.1 Nhóm đối tượng do người lao động và người sử dụng lao động đóng bảo hiểm y tế 140

4.2.1.2 Nhóm đối tượng do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng bảo hiểm y tế 141

4.2.1.3 Nhóm đối tượng do ngân sách nhà nước đóng bảo hiểm y tế 141

4.2.1.4 Nhóm đối tượng được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng bảo hiểm y tế 142 4.2.1.5 Nhóm đối tượng tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình 143

4.2.1.6 Các đối tượng khác 143

4.2.2 Phạm vi hưởng và mức hưởng bảo hiểm y tế 143

4.2.2.1 Phạm vi hưởng bảo hiểm y tế 143

4.2.2.2 Mức hưởng bảo hiểm y tế 144

4.2.3 Hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế 145

Chương 5 ƯU ĐÃI XÃ HỘI 148

5.1 KHÁI QUÁT VỀ ƯU ĐÃI XÃ HỘI 148

5.1.1 Khái niệm ưu đãi xã hội 148

5.1.2 Ý nghĩa của ưu đãi xã hội 151

5.1.3 Phân loại ưu đãi xã hội 152

5.1.4 Nguyên tắc cơ bản của ưu đãi xã hội 157

5.1.5 Nguồn tài chính thực hiện ưu đãi xã hội 158

Trang 9

9

5.2 NỘI DUNG CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI XÃ HỘI 159

5.2.1 Đối tượng hưởng ưu đãi xã hội 159

5.2.1.1 Người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945 160

5.2.1.2 Người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 160

5.2.1.3 Liệt sỹ 161

5.2.1.4 Bà mẹ Việt Nam anh hùng 163

5.2.1.5 Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân 163

5.2.1.6 Anh hùng lao động trong thời kỳ kháng chiến 163

5.2.1.7 Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh 164

5.2.1.8 Bệnh binh 165

5.2.1.9 Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học 166

5.2.1.10 Người hoạt động cách mạng, kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế bị địch bắt tù, đày 166

5.1.1.11 Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế 166

5.2.1.12 Người có công giúp đỡ cách mạng 167

5.2.2 Các chế độ ưu đãi xã hội 167

5.2.2.1 Chế độ trợ cấp, phụ cấp 168

5.2.2.2 Chế độ chăm sóc sức khoẻ 169

5.2.2.3 Chế độ giáo dục và đào tạo 169

5.2.2.4 Chế độ ưu đãi về việc làm và bảo đảm việc làm 170

5.2.2.5 Chế độ hỗ trợ cải thiện nhà ở 171

5.2.2.6 Các chế độ ưu đãi khác 171

Chương 6 TRỢ GIÚP XÃ HỘI 174

6.1 KHÁI QUÁT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI 174

6.1.1 Khái niệm trợ giúp xã hội 174

6.1.2 Ý nghĩa của trợ giúp xã hội 179

6.1.3 Phân loại trợ giúp xã hội 180

6.1.3 Nguyên tắc cơ bản của trợ giúp xã hội 181

6.1.4 Nguồn tài chính thực hiện trợ giúp xã hội 183

6.2 CÁC CHẾ ĐỘ TRỢ GIÚP XÃ HỘI 183

6.2.1 Chế độ trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng 183

6.2.1.1 Trợ cấp xã hội hàng tháng 184

Trang 10

10

6.2.1.2 Bảo hiểm y tế 186

6.2.1.3 Hỗ trợ về giáo dục, đào tạo và dạy nghề 186

6.2.2 Chế độ trợ giúp xã hội đột xuất 186

6.2.2.1 Đối tượng và điều kiện hưởng chế độ trợ giúp xã hội đột xuất 187

6.2.2.2 Các hình thức và mức trợ giúp xã hội đột xuất 187

6.2.3 Chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng 188

6.2.3.1 Đối tượng được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng 188

6.2.3.2 Cá nhân, hộ gia đình nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng 189

6.2.4 Chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội 190

6.2.4.1 Đối tượng và điều kiện hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội 190

6.2.4.2 Quyền lợi hưởng khi chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội 190

Chương 7 XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ AN SINH XÃ HỘI

VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP AN SINH XÃ HỘI 194

7.1 XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ AN SINH XÃ HỘI 194

7.1.1 Vi phạm pháp luật về an sinh xã hội 194

7.1.1.1 Khái niệm vi phạm pháp luật về an sinh xã hội 194

7.1.1.2 Các loại vi phạm pháp luật về an sinh xã hội 195

7.1.2 Xử lý vi phạm pháp luật về an sinh xã hội 196

7.1.2.1 Trách nhiệm hình sự (xử lý hình sự) 196

7.1.2.2 Trách nhiệm hành chính (xử lý vi phạm hành chính) 197

7.1.2.3 Trách nhiệm dân sự (xử lý bồi thường dân sự) 198

7.1.2.4 Trách nhiệm kỷ luật và trách nhiệm vật chất (xử lý vi phạm kỷ luật và xử lý trách nhiệm vật chất) 199

7.2 GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ AN SINH XÃ HỘI 200

7.2.1 Tranh chấp an sinh xã hội 200

7.2.1.1 Khái niệm tranh chấp an sinh xã hội 200

7.2.1.2 Phân loại tranh chấp an sinh xã hội 202

7.2.2 Giải quyết tranh chấp an sinh xã hội 204

7.2.2.1 Khái niệm và những yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp an sinh xã hội 204

7.2.2.2 Cơ chế giải quyết tranh chấp an sinh xã hội ở Việt Nam 205

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 211

Trang 11

11

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ LUẬT AN SINH XÃ HỘI VIỆT NAM

Chương này nhằm mục tiêu cung cấp các kiến thức lý luận về luật an sinh xã hội Việt Nam, bao gồm các vấn đề về: khái niệm an sinh xã hội; các quan hệ xã hội

cơ bản do Luật an sinh xã hội Việt Nam điều chỉnh; những phương pháp điều chỉnh các quan hệ an sinh xã hội; các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo việc xây dựng, giải thích, tổ chức thực hiện pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam; nguồn của Luật an sinh xã hội Việt Nam; khái niệm, đặc điểm của quan hệ pháp luật an sinh xã hội; các quan hệ pháp luật an sinh xã hội Từ đó tạo cơ sở lý luận để nghiên cứu các chương tiếp theo

Chương này bao gồm 2 nội dung chính sau đây:

- Khái niệm luật an sinh xã hội Việt Nam;

- Quan hệ pháp luật an sinh xã hội

1.1 KHÁI NIỆM LUẬT AN SINH XÃ HỘI VIỆT NAM

1.1.1 Phạm vi điều chỉnh của luật an sinh xã hội Việt Nam

1.1.1.1 Khái niệm an sinh xã hội

Sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người bắt đầu từ những việc như ăn, mặc, ở, đi lại… Đó là những nhu cầu tối thiểu và tất yếu của con người,

có thể đạt được bằng nhiều cách khác nhau, trong đó lao động làm ra của cải vật chất được coi là cách tích cực và lâu bền nhất để con người thỏa mãn các nhu cầu cuộc sống của mình Của cải xã hội càng nhiều thì mức độ thoả mãn nhu cầu càng cao Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời, không phải khi nào con người cũng gặp thuận lợi, cũng có thể lao động tạo ra được thu nhập để đảm bảo cho các nhu cầu cuộc sống hằng ngày của mình Trái lại, có nhiều trường hợp rủi ro xảy ra làm cho con người bị giảm, mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác (như ốm đau, tai nạn, mất người nuôi dưỡng, tuổi già, chiến tranh, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, tử vong…) Hơn nữa, cuộc sống của con người phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội Khi

Trang 12

12

điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội không thuận lợi sẽ làm cho một bộ phận dân cư cần phải có sự giúp đỡ bởi người này hay người khác, bằng cách này hay cách khác để bảo đảm cuộc sống bình thường

Từ xa xưa, trước những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống, con người đã tự khắc phục theo kiểu “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn” Bên cạnh đó, còn có sự san sẻ, đùm bọc, cưu mang của cộng đồng Sự tương trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau Xã hội càng phát triển, mang đến cho cuộc sống của con người nhiều cơ hội phát triển, nhưng đi liền với nó là không ít những rủi ro hoặc nguy cơ rủi ro trên tất cả các lĩnh vực và phương diện mà con người phải đối mặt, cần

có những hoạt động nhất định để phòng ngừa, khống chế và khắc phục những hậu quả

do nó gây ra Đó chính là phạm vi của công tác an sinh xã hội theo cách gọi ngày nay

Từ khi nhà nước xuất hiện, việc khắc phục khó khăn, rủi ro không còn chỉ là mối quan tâm của cộng đồng xã hội, mà nó dần trở thành trách nhiệm của nhà nước với tư cách là người quản lý xã hội Lúc này, đảm bảo an sinh xã hội đã trở thành trách nhiệm của nhà nước, được thực hiện với nhiều hình thức và mức độ khác nhau tùy thuộc vào chế độ xã hội, đối tượng cần bảo đảm, loại khó khan, rủi ro mà con người gặp phải… Xã hội càng phát triển, càng tiến bộ, bảo đảm an sinh xã hội càng trở thành mối quan tâm đặc biệt của nhà nước Đây cũng là cách để nhà nước quản lý rủi ro một cách hiệu quả, đảm bảo an toàn cho đời sống của con người nói riêng, an toàn xã hội nói chung, đảm bảo sự ổn định và phát triển

Vậy, an sinh xã hội là gì?

An sinh xã hội được dịch bởi từ “Social Security” trong tiếng Anh Tuy nhiên, ngoài thuật ngữ “an sinh xã hội” thì một số dịch giả khác nhau còn dịch là “bảo đảm

xã hội”, “trợ giúp xã hội”, “an ninh xã hội”, “an toàn xã hội”… với những ý nghĩa không hoàn toàn giống nhau

Theo nghĩa chung nhất, “Social Security” là sự đảm bảo thực hiện các quyền của con người được sống trong hòa bình, được tự do làm ăn, cư trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ luật pháp; được bảo vệ và bình đẳng trước pháp luật; được học tập, được làm làm việc, có nhà ở; được đảm bảo thu nhập để thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già… Theo nghĩa này thì phạm

vi của “Social Security” rất rộng

Theo nghĩa hẹp, “Social Security” được hiểu là sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho người lao động và gia đình họ khi bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cả, cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người nghèo đói và những người bị thiên tai, địch hoạ…

Cho đến nay, khái niệm an sinh xã hội vẫn được nhìn nhận từ nhiều góc độ và ở những phạm vi rộng, hẹp khác nhau

Trang 13

13

Liên Hợp quốc tiếp cận an sinh xã hội trên quyền con người Theo đó, Điều 25

Hiến chương Liên Hợp quốc năm 1948 quy định: “ Mọi người dân và hộ gia đình

đều có quyền có một mức tối thiểu về sức khỏe và các phúc lợi xã hội, bao gồm ăn, mặc, chăm sóc y tế, dịch vụ xã hội thiết yếu và có quyền được an sinh khi có các biến

cố về việc làm, ốm đau, tàn tật, góa bụa, tuổi già hoặc các trường hợp bất khả kháng khác ”

Tổ chức lao động quốc tế quan niệm: “An sinh xã hội là một sự bảo vệ mà xã

hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong Cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho gia đình nạn

thông qua Công ước số 102, được gọi là Công ước về an sinh xã hội (tiêu chuẩn tối thiểu) trên cơ sở tập hợp các chế độ về an sinh xã hội đã có trên toàn thế giới thành 9

1

Xem: Beyond HEPR: A framework for intergrated national system of Social security in Vietnam UNDP-DFID, 2005

Trang 14

14

Theo Tổ chức lao động quốc tế, sàn an sinh xã hội chính là hệ thống các chính

sách nhằm giúp người dân được quyền tiếp cận hàng hóa, dịch vụ thiết yếu và chuyển

nhượng thu nhập cơ bản theo chuẩn quốc gia đảm bảo người dân được cung cấp đầy

đủ lương thực, thực phẩm, được chăm sóc y tế, được giáo dục, được dùng nước sạch

và có nhà ở Trong đó, "Dịch vụ thiết yếu” được hiểu là đảm bảo sự sẵn có, liên tục và tiếp cận với các dịch vụ công cộng (chẳng hạn như nước và vệ sinh môi trường, y

tế, giáo dục và hỗ trợ việc làm xã hội hướng vào hộ gia đình); “Chuyển xã hội” được hiểu là một gói cơ bản của chuyển xã hội thiết yếu, bằng tiền mặt và hiện vật, trả cho người nghèo và người dễ bị tổn thương để tăng cường an ninh lương thực và dinh dưỡng, cung cấp an ninh thu nhập tối thiểu và tiếp cận đến các dịch vụ thiết yếu, trong

đó có giáo dục và chăm sóc sức khỏe

Sàn an sinh xã hội được đánh giá là cơ sở xây dựng tầm nhìn đầy đủ và toàn diện về hệ thống an sinh xã hội quốc gia với vai trò là một cấu phần chính của chiến lược phát triển quốc gia

Theo khuyến nghị của Liên Hợp quốc thì sàn an sinh xã hội gồm ít nhất các bảo đảm an sinh xã hội cơ bản sau:

(i) Tiếp cận đến các hàng hóa và dịch vụ theo tiêu chuẩn quốc gia, gồm dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản, cả trong trường hợp thai sản;

(ii) Bảo đảm thu nhập tối thiểu cho trẻ em, ít nhất ở mức tối thiểu của quốc gia, thông qua đảm bảo trẻ em được tiếp cận với dinh dưỡng, giáo dục, chăm sóc và bất kỳ hàng hóa, dịch vụ cần thiết nào;

(iii) Bảo đảm thu nhập cơ bản, ít nhất ở mức tối thiểu của quốc gia, cho những người trong độ tuổi lao động nhưng không thể kiếm đủ thu nhập, kể cả trong trường hợp ốm đau, thất nghiệp, thai sản và khuyết tật;

(iv) Bảo đảm thu nhập cơ bản, ít nhất ở mức tối thiểu của quốc gia, cho người cao tuổi

Cũng theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế, sàn an sinh xã hội không đưa ra một mức chuẩn nào chung cho mọi quốc gia mà mỗi quốc gia tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội để xác định lĩnh vực cần ưu tiên của mình trong từng giai đoạn cụ thể Tuy nhiên những dịch vụ được hầu hết các quốc gia thừa nhận là chăm sóc sức khỏe; giáo dục; nước sạch và vệ sinh; nhà ở; và lương thực

Ở Việt Nam, những nội dung của an sinh xã hội đã được thực hiện từ khá lâu

Những câu thành ngữ “Áo lành đùm áo rách”, “Thương người như thể thương thân”,

“Bầu ơi thương lấy bí cùng”…, đã thể hiện tính cộng đồng ở nước ta và nó đã góp

phần điều chỉnh các hành vi trong xã hội về các hoạt động mang nội dung an sinh xã hội và dần được Nhà nước (kể từ thời phong kiến cho đến nay) xây dựng thành các chính sách về an sinh xã hội

Trong xã hội Việt Nam cận đại và đương đại, những nội dung của an sinh xã hội cũng đã được thực hiện, đó là bảo hiểm xã hội đối với công nhân, viên chức Nhà nước

Trang 15

15

(trước năm 1995); là cứu trợ xã hội đối với những người nghèo, người không may bị rủi ro trong cuộc sống; là ưu đãi xã hội đối với những người có công với đất nước… Một đặc trưng cơ bản của các hoạt động an sinh xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ trước đổi mới là do Nhà nước thực hiện Nhà nước đảm nhận cả hai vai, vừa là người ra chính sách, vừa là người thực hiện chính sách thông qua bộ máy của mình Với cơ chế điều hành này mà nguồn lực tài chính chủ yếu là từ ngân sách nhà nước, chưa có sự tham gia đông đảo của người dân, của cả xã hội Cơ chế điều hành theo kiểu hành chính mệnh lệnh này đã không cho phép người dân phát huy những nguồn lực của mình cho các hoạt động an sinh xã hội Vì vậy, về phía xã hội thì lãng phí nguồn lực nhưng phân phối lại mang tính bình quân Về phía người thụ hưởng thì trông chờ nhiều vào Nhà nước, không tự vươn lên thoát khỏi hoàn cảnh…

Chỉ đến khi Đảng và Nhà nước thực hiện công cuộc đổi mới, đưa nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng

xã hội chủ nghĩa, các hoạt động an sinh xã hội mới có sự thay đổi về cơ bản Cũng như các nước có nền kinh tế thị trường, kinh tế thị trường ở Việt Nam đã làm cho đời sống kinh tế - xã hội năng động hơn, đa dạng hơn Kinh tế thị trường mới tạo điều kiện hình thành các thành phần kinh tế Người lao động có cơ hội và có điều kiện hơn phát huy được tiềm năng và khả năng của mình trong hoạt động sản xuất kinh doanh và trong các hoạt động xã hội Mặt khác, trong kinh tế thị trường, nhất là trong giai đoạn mới phát triển, người dân nói chung và người lao động nói riêng dễ bị ảnh hưởng tiêu cực các mặt trái của kinh tế thị trường Phá sản, thất nghiệp là những nguy cơ luôn tiềm ẩn;

tệ nạn xã hội, phân hóa giàu nghèo là điều khó tránh khỏi… Những rủi ro này làm tăng nhu cầu về an sinh xã hội trong dân cư Việt Nam hiện đại Đặc trưng cơ bản của an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường ở nước ta là sự chuyển giao dần dần “công việc” từ Nhà nước sang cho xã hội, cho cộng đồng, nhất là các hoạt động trợ giúp xã hội, xóa đói giảm nghèo…

Như vậy, an sinh xã hội được hiểu là sự bảo vệ của nhà nước và xã hội đối với các thành viên của mình khi gặp rủi ro, khó khăn, bị giảm hoặc mất thu nhập nhằm bảo đảm phát triển ổn định và bền vững kinh tế - xã hội của đất nước

1.1.1.2 Các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của luật an sinh xã hội Việt Nam

Nếu tiếp cận theo nghĩa rộng, thì các quan hệ an sinh xã hội ở Việt Nam có thể

bao gồm: Nhóm quan hệ trong lĩnh vực giải quyết việc làm; Nhóm quan hệ trong lĩnh vực y tế; Nhóm quan hệ trong lĩnh vực dân số, kế hoạch hóa gia đình; Nhóm quan hệ trong lĩnh vực giáo dục; Nhóm quan hệ trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội; Nhóm quan hệ trong lĩnh vực ưu đãi xã hội; Nhóm quan hệ trong lĩnh vực trợ giúp xã hội; Nhóm quan

hệ trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo; Nhóm quan hệ trong lĩnh vực môi trường: Nhóm quan hệ về dịch vụ xã hội cơ bản Tuy nhiên, trong phạm vi môn học Luật an sinh xã hội, Chương này tập trung vào 05 nhóm quan hệ an sinh xã hội cơ bản, đó là:

Trang 16

16

- Nhóm quan hệ bảo hiểm xã hội;

- Nhóm quan hệ bảo hiểm thất nghiệp;

- Nhóm quan hệ bảo hiểm y tế;

- Nhóm quan hệ ưu đãi xã hội;

- Nhóm quan hệ trợ giúp xã hội

* Quan hệ bảo hiểm xã hội

Quan hệ bảo hiểm xã hội là quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm xã hội với người tham gia bảo hiểm xã hội (trong việc tạo lập quỹ bảo hiểm xã hội) hoặc với người hưởng bảo hiểm xã hội (trong việc chi trả bảo hiểm xã hội)

Quan hệ tạo lập quỹ bảo hiểm xã hội là quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm xã hội và người tham gia bảo hiểm trong việc thu, nộp và quản lý quỹ bảo hiểm xã hội Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm thu bảo hiểm và quản lý quỹ bảo hiểm xã hội Người tham gia bảo hiểm xã hội là người lao động và người sử dụng lao động hoặc các tổ chức,

cá nhân khác theo quy định của pháp luật Người tham gia bảo hiểm xã hội là người tham gia đóng quỹ bảo hiểm bảo hiểm xã hội với ý nghĩa là thực hiện nghĩa vụ của mình

do pháp luật quy định (bảo hiểm xã hội bắt buộc) hoặc trên tinh thần tự nguyện (bảo hiểm xã hội tự nguyện)

Quan hệ chi trả bảo hiểm xã hội là quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm xã hội và

người hưởng bảo hiểm trong việc chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội Trong mối quan

hệ này, tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm thanh toán các chế độ bảo hiểm xã hội cho người hưởng khi họ đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định Người hưởng bảo hiểm xã hội bao gồm người lao động đã tham gia bảo hiểm xã hội, thân nhân của

họ hoặc người khác trong những trường hợp nhất định Những người này muốn được hưởng bảo hiểm xã hội phải đáp ứng những điều kiện về nội dung và thủ tục tương ứng với từng chế độ bảo hiểm xã hội do Nhà nước quy định

Quan hệ bảo hiểm xã hội có một số đặc trưng cơ bản sau đây:

- Quan hệ bảo hiểm xã hội thường được hình thành trên cơ sở của quan hệ lao

động

Khi tham gia quan hệ lao động, người lao động được hưởng tiền lương và các chế độ, phúc lợi khác để đảm bảo cho cuộc sống của bản thân và các thành viên trong gia đình Song, như đã phân tích, tiền lương và các chế độ, phúc lợi khác của người lao động có thể không ổn định hoặc bị mất trong những trường hợp người lao động, người

sử dụng lao động gặp rủi ro hoặc người lao động nghỉ hưu, chết Ví dụ: người lao động

bị ốm đau, tai nạn rủi ro, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp dẫn đến phải ngừng việc, nghỉ việc làm cho tiền lương, các chế độ, phúc lợi khác bị gián đoạn; người sử dụng lao động gặp khó khăn dẫn tới phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc, ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm, tiền lương, thu nhập của người lao động; người lao động nghỉ hưu, không còn được hưởng tiền lương và các chế độ, phúc lợi khác từ quan hệ

Trang 17

- Quan hệ bảo hiểm xã hội thể hiện sự chia sẻ quyền lợi và cộng đồng trách

nhiệm giữa ba bên chủ thể: Nhà nước - Người sử dụng lao động - Người lao động

(một dạng của cơ chế ba bên trong lĩnh vực lao động)

Muốn đời sống của bản thân và gia đình được bảo vệ khi bị giảm hoặc mất thu nhập từ quan hệ lao động, trước hết chính người lao động phải tham gia bảo hiểm để dự phòng cho cuộc sống của chính mình và các thành viên trong gia đình Việc người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm cho người lao động vừa có tác dụng thu hút lao động, ổn định lực lượng lao động và tạo sự yên tâm cống hiến của người lao động cho người sử dụng lao động; vừa thể hiện trách nhiệm xã hội của người sử dụng lao động khi khai thác nguồn tài nguyên xã hội quý giá nhất của một quốc gia – lực lượng lao động xã hội

Bảo hiểm xã hội nếu để người sử dụng lao động tự tổ chức thực hiện thì hiệu quả sẽ không cao và ý nghĩa, sự tác động xã hội tích cực sẽ không đạt được như mong muốn Vì vậy, với tư cách là người quản lý xã hội nói chung, quản lý rủi ro xã hội nói riêng, Nhà nước cần đứng ra tổ chức thực hiện với các mặt công tác như: ban hành chính sách pháp luật về bảo hiểm xã hội; thu, quản lý quỹ bảo hiểm xã hội; chi trả bảo hiểm xã hội; thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội; giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hội Trong những trường hợp nhất định, Nhà nước còn đóng vai trò là người “bảo trợ” cho quỹ bảo hiểm xã hội nhằm bảo đảm về tài chính, sẵn sàng chi trả đầy đủ cho tất cả các sự kiện bảo hiểm xã hội phát sinh Chính vì vai trò to lớn này mà một bên chủ thêm tham gia quan hệ bảo hiểm xã hội bao giờ cũng là Nhà nước (chủ thể không thể thiếu trong quan hệ bảo hiểm xã hội)

- Việc thực hiện an sinh xã hội cho người hưởng bảo hiểm trong quan hệ bảo

hiểm xã hội căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp tài chính của người lao động và người

sử dụng lao động vào quỹ bảo hiểm xã hội

Một trong những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội trong nền kinh tế thị trường là nguyên tắc tự hạch toán (lấy thu bù chi) Vì vậy, việc xác định mức hưởng trong các chế độ bảo hiểm xã hội trước hết phải căn cứ vào mức đóng góp bảo hiểm xã hội của người tham gia bảo hiểm Điều này sẽ giảm gánh nặng cho Ngân sách nhà nước, giảm gánh nặng cho xã hội và như vậy là phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường Đương nhiên, thực hiện nguyên tắc này không loại trừ việc kết

Trang 18

18

hợp với nguyên tắc “tương trợ cộng đồng” (xác định mức hưởng bảo hiểm không nhất thiết phải căn cứ vào mức đóng góp quỹ bảo hiểm) trong những chế độ, trường hợp nhất định Điều này thể hiện rõ sự kết hợp giữa bản chất kinh tế và bản chất xã hội của bảo hiểm xã hội – phù hợp với tính chất xã hội, tính nhân văn của chính sách pháp luật này

* Quan hệ bảo hiểm thất nghiệp

Quan hệ bảo hiểm thất nghiệp là quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm thất nghiệp với người tham gia bảo hiểm thất nghiệp (trong việc tạo lập quỹ bảo hiểm thất nghiệp) hoặc với người hưởng bảo hiểm thất nghiệp (trong việc chi trả bảo hiểm thất nghiệp)

Quan hệ tạo lập quỹ bảo hiểm thất nghiệp là quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm thất

nghiệp và người tham gia bảo hiểm trong việc thu, nộp và quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp Trong mối quan hệ này, tổ chức bảo hiểm thất nghiệp là tổ chức bảo hiểm xã hội, có trách nhiệm thu phí bảo hiểm và quản lý quỹ bảo hiểm xã hội Người tham gia bảo hiểm thất nghiệp là người lao động và người sử dụng lao động, có nghĩa vụ đóng bảo hiểm theo quy định của pháp luật

Quan hệ chi trả bảo hiểm thất nghiệp là quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm thất nghiệp và người hưởng bảo hiểm trong việc chi trả các chế độ bảo hiểm thất nghiệp Trong mối quan hệ này, tổ chức bảo hiểm thất nghiệp bao gồm tổ chức bảo hiểm xã hội và tổ chức dịch vụ việc làm Tổ chức bảo hiểm thất nghiệp có trách nhiệm thực hiện quy trình, thủ tục, giải quyết các chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho người hưởng bảo hiểm khi họ đạt được những điều kiện do pháp luật quy định Người hưởng bảo hiểm thất nghiệp là người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp đáp ứng những điều kiện do Nhà nước quy định

Quan hệ bảo hiểm thất nghiệp có các đặc điểm tương tự quan hệ bảo hiểm xã hội Ngoài ra, quan hệ bảo hiểm thất nghiệp còn có một số đặc trưng sau đây:

- Mục đích quan trọng của việc thiết lập và duy trì quan hệ bảo hiểm thất

nghiệp là hỗ trợ để người lao động quay trở lại thị trường lao động, tái thiết lập quan

hệ lao động, thoát khỏi tình trạng thất nghiệp Vì vậy, ngoài việc trợ cấp thất nghiệp,

bảo hiểm thất nghiệp còn thực hiện tư vấn, giới thiệu việc làm, hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động được hưởng bảo hiểm thất nghiệp; hỗ trợ người sử dụng lao động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề, đào tạo lại cho người lao động để phòng ngừa thất nghiệp

- Người thực hiện bảo hiểm thất nghiệp trong quan hệ bảo hiểm thất nghiệp không

chỉ là cơ quan bảo hiểm xã hội, mà còn có tổ chức dịch vụ việc làm

Cũng từ mục đích trên của bảo hiểm thất nghiệp mà khác với bảo hiểm xã hội, trong thành phần người thực hiện bảo hiểm thất nghiệp bên cạnh sự tham gia của tổ chức bảo hiểm xã hội còn có sự tham gia của các tổ chức dịch vụ việc làm Tổ chức dịch vụ việc làm chính là người kết nối người lao động thất nghiệp với thị trường lao động bằng các hoạt động như: theo dõi tình hình tìm kiếm việc làm của người lao động thất nghiệp;

Trang 19

19

tìm kiếm việc làm và tư vấn, giới thiệu cho người lao động thất nghiệp; tham gia vào việc

hỗ trợ đào tạo nghề, hỗ trợ người sử dụng lao động đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình

độ nghề, đào tạo lại cho người lao động để phòng ngừa thất nghiệp

* Quan hệ bảo hiểm y tế

Quan hệ bảo hiểm y tế là quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm y tế với người tham

gia bảo hiểm y tế (trong việc tạo lập quỹ bảo hiểm y tế) hoặc với người hưởng bảo hiểm y tế (trong việc chi trả bảo hiểm y tế)

Quan hệ tạo lập quỹ bảo hiểm y tế là quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm y tế và người tham gia bảo hiểm y tế trong việc thu, nộp và quản lý quỹ bảo hiểm y tế Hiện nay, tổ chức bảo hiểm xã hội thực hiện chức năng bảo hiểm y tế Trong mối quan hệ này, tổ chức bảo hiểm y tế có nhiệm vụ thu bảo hiểm và quản lý quỹ bảo hiểm y tế Quan hệ chi trả bảo hiểm y tế là quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm y tế và người hưởng bảo hiểm y tế trong việc chi trả các chế độ bảo hiểm y tế Trong mối quan hệ này, tổ chức bảo hiểm y tế có trách nhiệm thực hiện chi bảo hiểm y tế cho người hưởng khi đáp ứng các điều kiện luật định Người hưởng bảo hiểm y tế phần lớn là người đã tham gia bảo hiểm y tế, được hưởng các chế độ bảo hiểm theo quy định khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định

Quá trình thiết lập và duy trì quan hệ chi trả bảo hiểm y tế, có sự tham gia của

cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y

tế là cơ sở y tế có ký hợp đồng bảo hiểm y tế với tổ chức bảo hiểm y tế để thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh và trực tiếp thanh toán bảo hiểm y tế cho người hưởng bảo hiểm Thực chất, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế chỉ là tổ chức “đại diện theo uỷ quyền” của tổ chức bảo hiểm y tế để thực hiện việc chi trả bảo hiểm cho người hưởng Nói cách khác, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế không phải là một chủ thể độc lập trong quan hệ với người hưởng bảo hiểm y tế Vì vậy, tổ chức bảo hiểm y tế vẫn phải chịu trách nhiệm đối với người hưởng bảo hiểm y tế khi họ không được cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế thực hiện đúng chế độ Đây là vấn đề rất có ý nghĩa khi xác định tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực bảo hiểm y tế và xác định cơ chế giải quyết các tranh chấp này

Quan hệ bảo hiểm y tế ở nước ta có một số đặc trưng cơ bản sau:

- Quan hệ bảo hiểm y tế được hình thành từ nhu cầu được bù đắp chi phí khám bệnh, chữa bệnh và hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ cho con người

Trong cuộc sống thường ngày hoặc trong quá trình lao động, con người khó tránh khỏi tai nạn, bệnh tật (bao gồm cả tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp) Những lúc như vậy, cần có một lượng tài chính nhất định để chi trả cho các loại thuốc men và các dịch vụ y tế khác Một mặt, người đang điều trị tai nạn, bệnh tật có thể tạm thời mất đi nguồn thu nhập thường xuyên; mặt khác có thể chi phí cho mỗi lần điều trị không nhỏ Vì vậy, nếu người điều trị hoặc người liên quan (như Nhà nước, người sử dụng lao động) trực tiếp thanh toán toàn bộ chi phí y tế cho mỗi lần điều trị thì trong

Trang 20

20

nhiều trường hợp sẽ là quá sức hoặc càng đẩy bản thân và gia đình họ vào chỗ khó khăn hơn hoặc tạo ghánh nặng cho ngân sách nhà nước, cho người sử dụng lao động bảo hiểm y tế chính là “cứu cánh” để giải quyết những khó khăn đó

- Một bên chủ thể tham gia quan hệ bảo hiểm y tế bao giờ cũng là Nhà nước Bên cạnh đó còn có sự tham gia của một chủ thể thứ ba - tổ chức khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế

Với tư cách là người có trách nhiệm quản lý rủi ro xã hội, bảo đảm an toàn đời sống cho người dân, Nhà nước luôn là chủ thể không thể thiếu trong quan hệ bảo hiểm

y tế Trong quan hệ này, Nhà nước đóng vai trò là người tổ chức thực hiện bảo hiểm y

tế (thu, quản lý quỹ, chi trả bảo hiểm y tế, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết các tranh chấp về bảo hiểm y tế

Khác với quan hệ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp, trong quan hệ bảo hiểm y tế có sự tham gia của một chủ thể thứ ba là tổ chức khám, chữa bệnh bảo hiểm

y tế Tổ chức này vừa là người chữa trị cho người tham gia bảo hiểm y tế, vừa là người đại diện cho tổ chức bảo hiểm y tế thanh toán bảo hiểm cho người điều trị

- Việc thực hiện an sinh xã hội đối với người hưởng bảo hiểm y tế chủ yếu căn

cứ vào tình trạng tai nạn, bệnh tật và mức chi phí y tế trên thực tế

Nếu như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện chủ yếu dựa vào mức đóng bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm thì bảo hiểm y tế lại được thực hiện căn cứ vào tình trạng tai nạn, bệnh tật và mức chi phí y tế trên thực tế (không căn cứ trực tiếp vào mức đóng bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm y tế)

* Quan hệ ưu đãi xã hội

Quan hệ ưu đãi xã hội là quan hệ giữa người thực hiện ưu đãi với người được hưởng ưu đãi xã hội

Người thực hiện ưu đãi xã hội có thể là Nhà nước, các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm hoặc có khả năng thực hiện ưu đãi xã hội, trong đó chủ thể thường xuyên và chủ yếu là Nhà nước Người được hưởng ưu đãi xã hội chủ yếu là người

có công với cách mạng Bên cạnh đó là thân nhân của người có công với cách mạng hoặc người khác trong những trường hợp cụ thể: thanh niên xung phong, người lo mai táng cho người có công với cách mạng chết

Quan hệ ưu đãi xã hội gồm ba nhóm: (1) Quan hệ ưu đãi xã hội giữa nhà nước và người hưởng ưu đãi; (2) Quan hệ ưu đãi xã hội giữa Quỹ Đền ơn đáp nghĩa và người hưởng ưu đãi; (3) Quan hệ ưu đãi xã hội giữa tổ chức, cá nhân khác và người hưởng

ưu đãi Trong đó, nhóm quan hệ (3) dường như ít chịu sự điều chỉnh của pháp luật, thậm chí có tài liệu còn khẳng định quan hệ này không chịu sự điều chỉnh của pháp luật

Quan hệ ưu đãi xã hội có một số đặc trưng cơ bản sau:

Trang 21

21

- Quan hệ ưu đãi xã hội được hình thành trên cơ sở Nhà nước và cộng đồng xã hội ghi nhận công lao và thực hiện trách nhiệm của mình đối với những người có công với cách mạng

Ưu đãi xã hội là chế độ được quy định nhằm thực hiện chính sách “đền ơn đáp nghĩa” của Nhà nước và cộng đồng xã hội đối với những người có công với cách mạng – những người đã có công lao góp phần mang lại cuộc sống bình yên cho mọi người, cho xã hội Có thể nói đây là chính sách an sinh xã hội đặc thù của Việt Nam, không

có ở nhiều quốc gia trên thế giới

- Chủ thể tham gia quan hệ ưu đãi xã hội, nhất là người được hưởng ưu đãi, chỉ chiếm một bộ phận nhỏ trong xã hội và có xu hướng giảm dần theo thời gian

Thực tế, người có công với cách mạng – đối tượng hướng tới của ưu đãi xã hội chủ yếu được công nhận từ các cuộc chiến tranh dựng nước và giữ nước Với

xu hướng cả thế giới chung sống trong hòa bình, những đối tượng này sẽ ngày một ít đi, phạm vi của ưu đãi xã hội cũng theo đó mà thu hẹp dần và có thể đến thời điểm trong chính sách an sinh xã hội của Việt Nam không cần ưu tiên cho lĩnh vực này nữa

- Việc thực hiện an sinh xã hội cho người hưởng ưu đãi xã hội căn cứ vào mức đóng góp công lao động của người có công cho đất nước, cho nhân dân

Khác biệt so với các chế độ bảo hiểm hay trợ giúp xã hội, việc thực hiện an sinh xã hội cho người hưởng ưu đãi xã hội không phụ thuộc vào mức đóng góp tài chính hay mức độ rủi ro, khó khăn của đối tượng hưởng, mà phụ thuộc trực tiếp vào mức đóng góp công lao của họ hoặc thân nhân họ Vì vậy, xu hướng chung là phân chia người có công với cách mạng thành một số nhóm đối tượng trên cơ sở đánh giá mức độ đóng góp công lao của mỗi nhóm khác nhau ở mức độ tương ứng (có tính tương đối), trên cơ sở đó quy định các chế độ áp dụng cho từng nhóm nhằm đảm bảo công bằng xã hội

* Quan hệ trợ giúp xã hội

Quan hệ trợ giúp xã hội là quan hệ giữa Nhà nước, tổ chức, cá nhân (người trợ

giúp) với cá nhân, hộ gia đình gặp hoàn cảnh khó khăn, bất hạnh (người được trợ giúp) trong việc thực hiện các chế độ trợ giúp xã hội

Người trợ giúp trong quan hệ này bao gồm Nhà nước, các tổ chức và cá nhân khác, trong đó Nhà nước thực hiện trợ giúp với tính cách là thực hiện trách nhiệm đối với các thành viên của mình, còn các tổ chức, cá nhân khác thực hiện trợ giúp trên tinh thần tự nguyện, từ thiện Người được trợ giúp là bất kỳ cá nhân, hộ gia đình nào lâm vào hoàn cảnh khó khăn đặc biệt mà tự họ khó hoặc không thể khắc phục được

Quan hệ trợ giúp xã hội bao gồm 3 nhóm quan hệ: (1) Quan hệ trợ giúp xã hội giữa Nhà nước và người được trợ giúp; (3) Quan hệ trợ giúp xã hội giữa các quỹ xã hội với người được trợ giúp; (3) Quan hệ trợ giúp xã hội giữa các tổ chức, cá nhân

Trang 22

22

khác với người được trợ giúp Cũng tương tự quan hệ ưu đãi xã hội, quan hệ (3) dường như nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp luật

Quan hệ trợ giúp xã hội có một số đặc trưng cơ bản sau:

- Quan hệ trợ giúp xã hội được hình thành trên cơ sở đáp ứng nhu cầu cần được trợ giúp của các cá nhân, hộ gia đình lâm vào hoàn cảnh khó khăn đặc biệt

Trong cuộc sống, vì nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhất là nguyên nhân khách quan mà con người khó tránh khỏi những lúc gặp khó khăn, hoạn nạn cần sự quan tâm chia sẻ, trợ giúp từ Nhà nước và xã hội Sự quan tâm chia sẻ, trợ giúp của Nhà nước và xã hội lúc này không đơn thuần là giúp người cần trợ giúp vượt qua khó khăn về tài chính, phương tiện sinh sống thiết yếu… mà còn có ý nghĩa khẳng định họ là một thành viên không thể thiếu của xã hội, tạo cho họ chỗ dựa, cho họ niềm tin để họ tiếp tục phấn đấu, cùng cộng đồng xã hội cống hiến nhiều hơn nữa cho sự phát triển, ổn định của xã hội

- Chủ thể tham gia quan hệ trợ giúp xã hội rất đa dạng, phong phú, kể cả người trợ giúp và người được trợ giúp

Đây có thể coi là nét đặc thù nhất của quan hệ trợ giúp xã hội so với các quan

hệ an sinh xã hội khác Nếu như các chủ thể tham gia các quan hệ an sinh xã hội khác (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, ưu đãi xã hội…), nhất là chủ thể hưởng an sinh xã hội đều được xác định theo tiêu chí (nhóm tiêu chí) nhất định thì những tiêu chí đó dường như không còn ý nghĩa khi xác định chủ thể tham gia quan hệ trợ giúp xã hội Một điểm đặc thù nữa là vị trí, vai trò của các chủ thể trong quan hệ này có thể hoán đổi một cách linh hoạt theo từng hoàn cảnh, điều kiện (một người, một

hộ gia đình cụ thể vào thời điểm này có thể tham gia quan hệ trợ giúp xã hội với tư cách là người trợ giúp những vào thời điểm khác lại có thể tham gia quan hệ trợ giúp

xã hội với từ cách là người được trợ giúp)

- Việc thực hiện an sinh xã hội đối với người được trợ giúp trong quan hệ trợ giúp xã hội không căn cứ vào mức độ đóng của họ như những chế độ an sinh xã hội khác, mà căn cứ vào trường hợp, hoàn cảnh và mức độ rủi ro mà họ gặp phải

Cơ sở để thực hiện trợ giúp xã hội không phải là mức đóng góp tài chính, mức độ công lao đóng góp hay cống hiến cho xã hội của cần trợ giúp hoặc thân nhân của họ, mà hoàn toàn căn cứ vào trường hợp, hoàn cảnh và mức độ rủi ro mà người cần được trợ giúp gặp phải Vì vậy, trong quy định pháp luật và trên thực tế thực hiện trợ giúp xã hội không phụ thuộc vào điều kiện sống, thành phần, địa vị xã hội… trước đó của đối tượng hưởng

1.1.2 Phương pháp điều chỉnh của luật an sinh xã hội Việt Nam

Trong khoa học pháp lý, phương pháp điều chỉnh của một ngành luật được hiểu là cách thức, biện pháp mà Nhà nước sử dụng, thông qua các quy phạm pháp luật, để tác động lên hành vi xử sự của các chủ thể tham gia quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành luật ấy Phương pháp điều chỉnh của một ngành

Trang 23

23

luật do tính chất của các quan hệ xã hội do ngành luật ấy điều chỉnh quyết định Phương pháp điều chỉnh của luật an sinh xã hội là biện pháp, cách thức mà Nhà nước sử dụng để tác động lên quan hệ bảo hiểm xã hội, quan hệ bảo hiểm y tế, quan hệ ưu đãi xã hội, quan hệ trợ giúp xã hội Việc thực hiện an sinh xã hội trước hết là trách nhiệm của Nhà nước, bên cạnh đó là sự tham gia tự nguyên của các tổ chức, cá nhân Vì vậy, luật an sinh xã hội sử dụng cả phương pháp mệnh lệnh và phương pháp tuỳ nghi trong việc điều chỉnh các quan hệ an sinh xã hội

1.1.2.1 Phương pháp mệnh lệnh

Cơ sở của phương pháp mệnh lệnh trong luật an sinh xã hội chính là: i) Chức

năng xã hội của Nhà nước; ii) Nhu cầu về nguồn lực lớn của công tác an sinh xã hội

Mệnh lệnh trong luật an sinh xã hội thể hiện trước hết ở những quy định cứng của Nhà nước trong các chế độ an sinh xã hội

Trong chế độ bảo hiểm xã hội, Nhà nước quy định bảo hiểm xã hội bắt buộc là chủ yếu, với một loạt quy định mang tính bắt buộc, như: đối tượng áp dụng, mức đóng bảo hiểm, các chế độ bảo hiểm, điều kiện hưởng, mức và thời gian hưởng

Nếu như trước đây bảo hiểm y tế gồm hai chế độ: bảo hiểm y tế bắt buộc và bảo hiểm y tế tự nguyện, thì hiện nay xu hướng chung đang được các quốc gia thực hiện là

áp dụng bảo hiểm y tế bắt buộc hoàn toàn với mục tiêu thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân Trong đó, tất cả các vấn đề có liên quan về đối tượng áp dụng, mức đóng, phạm

vi được bảo hiểm, các chế độ áp dụng đều mang tính bắt buộc thực hiện

Nhà nước xác định ưu đãi xã hội là việc bắt buộc thực hiện đối với những người

có công với cách mạng và thân nhân của họ với truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam Vì vậy, cơ quan nào thực hiện? đối tượng nào được hưởng? thực hiện như thế nào? chế độ cụ thể ra sao cho từng đối tượng? là những vấn đề được quy định cứng trong các văn bản pháp luật của Nhà nước

Ngay trong chế độ trợ giúp xã hội - chế độ được coi là “mềm” nhất trong tất cả các chế độ an sinh xã hội thì phương pháp mệnh lệnh vẫn được sử dụng Chẳng hạn, Nhà nước quy định cứng các trường hợp cá nhân, hộ gia đình được trợ cấp trợ giúp xã hội, mức trợ cấp cho từng trường hợp

Bên cạnh những quy định cứng trong từng chế độ an sinh xã hội, phương pháp mệnh lệnh còn được sử dụng trong việc giải quyết các tranh chấp an sinh xã hội, xử lý hành chính đối với các hành vi vi phạm pháp luật an sinh xã hội của các tổ chức, cá nhân

1.1.2.2 Phương pháp tùy nghi

Thực hiện an sinh xã hội bên cạnh trách nhiệm của Nhà nước là chủ yếu, còn có

sự tham gia của cộng đồng theo tinh thần “tuỳ tâm”, “tuỳ khả năng” Bên cạnh đó, Nhà nước cũng thiết kế một số chế độ an sinh xã hội mang tính tự nguyện Những đặc điểm này không phù hợp với phương pháp mệnh lệnh, mà phải sử dụng một phương pháp điều chỉnh khác linh hoạt, mềm dẻo hơn - phương pháp tuỳ nghi

Trang 24

24

Phương pháp tuỳ nghi cho phép các chủ thể tham gia quan hệ an sinh xã hội có quyền tự lựa chọn cách thức xử sự phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của họ, miễn rằng không trái pháp luật và đạo đức xã hội

Trong chế độ bảo hiểm xã hội, bên cạnh loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc với những quy định cứng, Nhà nước còn quy định loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện Cũng với các quy định về đối tượng tham gia, mức đóng bảo hiểm xã hội, các chế độ hưởng, điều kiện và mức hưởng nhưng nhìn chung Nhà nước đều đưa ra các quy định theo hướng mở, nhất là quy định về đối tượng tham gia, mức đóng và phương thức đóng bảo hiểm, để người lao động tự lựa chọn cho phù hợp với khả năng và nguyện vọng của họ Đối với loại hình bảo hiểm này, người lao động có quyền tham gia hoặc không tham gia bảo hiểm Khi quyết định tham gia thì họ cũng được quyền lựa chọn mức đóng, phương thức đóng bảo hiểm mà họ cho là phù hợp

Phương pháp tuỳ nghi còn thể hiện ở việc Nhà nước luôn khuyến khích sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước trong việc đóng góp tài chính, các phương tiện sinh sống thiết yếu để chung tay cùng Nhà nước thực hiện tốt nhất công tác an sinh xã hội Bằng cách thức này, nhà nước đã thực hiện tốt nguyên tắc xã hội hoá công tác an sinh xã hội - một nguyên tắc không thể thiếu của pháp luật an sinh xã hội để huy động nguồn lực của toàn xã hội, phục vụ công tác

an sinh xã hội trên mọi phương diện

1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của luật an sinh xã hội Việt Nam

Nguyên tắc cơ bản của một ngành luật là những tư tưởng chính trị, pháp lý chỉ

đạo việc xây dựng, giải thích, thực hiện và áp dụng các quy phạm pháp luật của ngành luật đó Tính chất của các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh sẽ quyết định các nguyên tắc cơ bản của ngành luật đó Theo tinh thần đó, có thể hiểu nguyên tắc cơ bản của luật an sinh xã hội Việt Nam là các tư tưởng chính trị, pháp lý chỉ đạo việc xây dựng, giải thích, thực hiện và áp dụng các quy phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, ưu đãi xã hội, trợ giúp xã hội

Với những yêu cầu của các quan hệ xã hội do mình điều chỉnh, luật an sinh xã hội Việt Nam tuân thủ 5 nguyên tắc cơ bản sau:

1.1.3.1 Nguyên tắc mọi thành viên trong xã hội đều có quyền hưởng an sinh xã hội

Cơ sở xác định nguyên tắc này đó là tất cả các thành viên trong xã hội đều có nhu cầu được sống trong môi trường an toàn, khi xảy ra rủi ro thì lại có nhu cầu được khắc phục Điều đó có nghĩa mọi thành viên trong xã hội đều có nhu cầu về an sinh

xã hội Việc thực hiện an sinh xã hội cho mọi thành viên trong xã hội thực chất là thực hiện quyền con người trên mọi phương diện Vấn đề này đã được ghi nhận tại Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (năm 1948), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế,

xã hội và văn hoá (năm 1966) của Liên Hợp quốc Trong phạm vi quốc gia, thực hiện

Trang 25

25

an sinh xã hội chính là thực hiện quyền con người, quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và các đạo luật liên quan

Nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ Nhà nước quy định nhiều chính

sách, chế độ an sinh xã hội khác nhau theo hướng ngày càng mở rộng diện bao phủ để

có thể đảm bảo được mọi thành viên trong xã hội đều được bình đẳng tham gia và được hưởng an sinh xã hội Ngược lại, Nhà nước cũng quy định những điều kiện chặt chẽ để làm căn cứ xét hưởng các chế độ an sinh đối với các thành viên trong xã hội Hơn nữa, nhà nước còn quy định thời gian hưởng, mức hưởng cụ thể đối với từng đối tượng cụ thể để tránh hiện tượng lạm dụng quỹ an sinh xã hội, gây tổn hại cho các thành viên khác và cho xã hội

1.1.3.1 Nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lý an sinh xã hội

Nguyên tắc này được ghi nhận trước hết từ chức năng xã hội của Nhà nước Hơn nữa, xuất phát từ vai trò đặc biệt to lớn của an sinh xã hội đối với đời sống của từng thành viên và của toàn xã hội, đòi hỏi nhà nước phải thống nhất quản lý, định ra chính sách, pháp luật phù hợp để thực hiện nó một cách hiệu quả nhất, phát huy đầy đủ vai trò của an sinh xã hội trong đời sống xã hội

Nội dung quản lý nhà nước về an sinh xã hội gồm: Ban hành chính sách, pháp

luật về an sinh xã hội; Giải thích chính sách, pháp luật về an sinh xã hội; Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội; Kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về an sinh xã hội khi cần thiết; Thành lập hoặc cho phép thành lập các cơ sở xã hội, các loại quỹ hoặc hỗ trợ các quỹ an sinh xã hội trong các trường hợp cần thiết; Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an sinh xã hội

1.1.3.3 Nguyên tắc kết hợp hài hoà giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội trong công tác an sinh xã hội

Các quan hệ xã hội do Luật an sinh xã hội điều chỉnh vừa có nội dung kinh tế, vừa có nội dung xã hội sâu sắc Chính vì vậy, để điều chỉnh hiệu quả các quan hệ này cần kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội trong công tác an sinh

xã hội

Kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội đòi hỏi phải coi phát triển kinh tế đóng vai trò làm tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội, thực hiện các chính sách xã hội làm động lực thúc đẩy phát triển kinh tế

Thực hiện nguyên tắc này, chúng ta không chờ cho nền kinh tế phát triển cao rồi mới tiến hành giải quyết các vấn đề an sinh xã hội mà cùng với sự phát triển kinh

tế, các chính sách an sinh xã hội phải được thực hiện một cách đồng bộ, phù hợp với khả năng kinh tế của đất nước từng thời kỳ Điều đó cũng khẳng định rằng, chúng ta không thể giải quyết được tất cả các vấn đề xã hội ngay trong cùng một lúc, nhất là đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam Điều này hoàn toàn phù hợp với khuyến nghị của ILO rằng mỗi quốc gia cần căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội của mình để xác định những lĩnh vực cần quan tâm trong từng giai đoạn cụ thể Có như

Trang 26

26

vậy mới đảm bảo sự bền vững của chính sách an sinh xã hội

1.1.3.4 Kết hợp giữa nguyên tắc “hưởng thụ theo đóng góp” với nguyên tắc “lấy số đông, bù số ít”

Quan hệ an sinh xã hội vừa có nội dung kinh tế, vừa có nội dung xã hội sâu sắc nên cần kết hợp giữa nguyên tắc “hưởng thụ theo đóng góp” với nguyên tắc “lấy số đông bù số ít”

Thực hiện nguyên tắc "hưởng thụ theo đóng góp" trong Luật An sinh xã hội đòi hỏi việc xác định mức trợ cấp an sinh xã hội phải căn cứ vào mức đóng góp của người tham gia hoặc người hưởng an sinh Ngược lại, thực hiện nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” trong Luật An sinh xã hội dường như sẽ bỏ qua vấn đề đóng góp của người tham gia hoặc người hưởng an sinh, mà chủ yếu căn cứ vào nhu cầu an sinh của người hưởng Vì vậy, trong những trường hợp cụ thể có người đóng góp ít những vẫn được hưởng nhiều hơn người đóng góp nhiều, thậm chí có những trường hợp việc thực hiện an sinh không căn cứ vào mức đóng góp

“Hưởng thụ theo đóng góp” và “lấy số đông bù số ít” là hai nguyên tắc luôn được kết hợp trong việc thực hiện an sinh xã hội Dĩ nhiên chúng ta không nên đặt vấn đề tỷ lệ của sự kết hợp này là bao nhiêu thì được coi là hợp lý Tùy từng chế độ, tùy từng trường hợp cụ thể cần nhấn mạnh “hưởng thụ theo đóng góp” hay “lấy số đông bù số ít” hay là một sự kết hợp cân bằng cả hai vế

1.1.3.5 Nguyên tắc đa dạng hóa, xã hội hóa công tác an sinh xã hội

Nhu cầu an sinh xã hội của con người rất đa dạng Vì vậy, để đáp ứng được các nhu cầu ấy, hoạt động an sinh xã hội phải được đa dạng hoá Nghĩa là Nhà nước cần quy định nhiều chế độ, nhiều loại hình an sinh xã hội khác nhau tương ứng với các nhu cầu an sinh khác nhau của con người

Việc tổ chức, thực hiện an sinh xã hội cần nguồn lực lớn cả về tài chính và nhân lực Trách nhiệm thực hiện an sinh xã hội trước hết và chủ yếu thuộc về Nhà nước Tuy nhiên, dù nguồn lực có tốt đến đâu thì Nhà nước cũng không thể đủ sức gánh vác được tất cả, vì vậy cần có sự tham gia của cộng đồng Hơn nữa, sự tham gia của các tổ chức, cá nhân (của cộng đồng) vào công tác an sinh xã hội ở một phương diện nào đó cũng chính là việc các tổ chức, cá nhân thực hiện trách nhiệm đối với chính bản thân mình và đối với môi trường sống chung của xã hội Đó chính là những

lý do cơ bản phải xã hội hóa công tác an sinh xã hội

Thực hiện nguyên tắc đa dạng hóa, Nhà nước đã quy định khá nhiều loại chế độ

an sinh xã hội khác nhau, trong từng nhánh an sinh lại quy định nhiều chế độ cụ thể với nhiều mức độ khác nhau để tạo cơ hội cho nhiều người được tham gia và hưởng an sinh xã hội, cố gắng đáp ứng nhu cầu an sinh của con người một cách đầy đủ nhất, toàn diện nhất Những phân tích về phạm vi của an sinh xã hội tại chương này đã minh chứng cho điều đó

Thực hiện nguyên tắc xã hội hóa, bên cạnh việc Nhà nước thực hiện trách

Trang 27

27

nhiệm của mình đối với người dân, nhà nước quy định trách nhiệm và động viên tất cả các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đều có thể tham gia công tác an sinh xã hội tùy vào khả năng và lòng hảo tâm của mình Kết quả của việc làm này vừa là để huy động tối đa nguồn lực đáp ứng yêu cầu thực hiện an sinh xã hội, vừa phát huy và tiếp nối các truyền thống đạo lý cao đẹp của dân tộc Việt Nam: “uống nước nhớ nguồn”,

“thương người như thể thương thân”

1.1.4 Nguồn của luật an sinh xã hội Việt Nam

Nguồn của luật an sinh xã hội Việt Nam là các văn bản quy phạm pháp luật về

an sinh xã hội (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, ưu đãi xã hội, trợ giúp xã hội ) do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ an sinh xã hội, bao gồm các văn bản luật và văn bản dưới luật, như:

- Hiến pháp của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013

- Bộ luật Lao động năm 2019;

- Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014;

- Luật Bảo hiểm y tế năm 2008;

- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế năm 2014;

- Luật Việc làm năm 2013;

- Luật Người cao tuổi năm 2009;

- Luật Người khuyết tật năm 2010;

- Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005;

- Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2012;

- Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2020;

- Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng năm 1994;

- Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng năm 2012;

- Các nghị định quy định về chế độ trợ giúp xã hội;

- Các nghị định, thông tư quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các bộ luật,

luật, pháp lệnh

1.2 QUAN HỆ PHÁP LUẬT AN SINH XÃ HỘI

1.2.1 Khái niệm quan hệ pháp luật an sinh xã hội

1.2.1.1 Định nghĩa

Theo lý luận về nhà nước và pháp luật, khi các quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật thì chúng sẽ trở thành các quan hệ pháp luật Lúc này, các quan hệ có sự thay đổi về chất, từ chủ thể, đến khách thể và nội dung của chúng Theo cách hiểu này thì quan hệ pháp luật an sinh xã hội là những quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực an sinh xã hội được các quy phạm pháp luật an sinh xã hội điều chỉnh

Với cách tiếp cận phạm vi điều chỉnh của luật an sinh xã hội theo giáo trình

Trang 28

28

này thì quan hệ pháp luật an sinh xã hội cũng được chia thành 5 nhóm cơ bản:

- Quan hệ pháp luật về bảo hiểm xã hội;

- Quan hệ pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp;

- Quan hệ pháp luật về bảo hiểm y tế;

- Quan hệ pháp luật về ưu đãi xã hội;

- Quan hệ pháp luật về trợ giúp xã hội

1.2.1.2 Đặc điểm

Ngoài những đặc điểm chung của quan hệ pháp luật, các quan hệ pháp luật an sinh xã hội còn có những đặc điểm riêng để phân biệt với quan hệ pháp luật thuộc các lĩnh vực khác Cụ thể như sau:

Về chủ thể, có thể tìm ra những nét đặc trưng cơ bản sau:

- Tham gia quan hệ pháp luật an sinh xã hội thông thường có một bên là Nhà nước

Điều này được lý giải bởi các lý do: i) Nhà nước là chủ thể quản lý xã hội,

có trách nhiệ m đảm bảo cho xã hội được ổn định, môi trường sống của con người được an toàn; ii) Nhà nước là chủ thể có đầy đủ nguồn lực và có những thiết chế pháp lý phù hợp để đáp ứng yêu cầu của công tác an sinh xã hội

- Tham gia quan hệ pháp luật an sinh xã hội có thể là tất cả các thành viên trong xã hội, không phân biệt theo bất cứ tiêu chí nào

“Mọi thành viên trong xã hội đều có quyền hưởng an sinh xã hội”, “xã hội hóa”

là những nguyên tắc cơ bản của luật an sinh xã hội Thực hiện các nguyên tắc này vừa cho phép, vừa đòi hỏi tất cả các thành viên trong xã hội đề có thể tham gia quan hệ pháp luật an sinh xã hội, không phân biệt theo bất kỳ tiêu chí nào Họ có thể tham gia với tư cách là người đứng ra tổ chức thực hiện an sinh, họ cũng có thể là người ủng hộ cho các loại quỹ an sinh xã hội và họ có thể là người được hưởng các chế độ an sinh

xã hội

- Chủ thể hưởng an sinh xã hội có quyền tham gia quan hệ pháp luật này ngay

từ khi được sinh ra

Quyền con người vốn dĩ khi con người sinh ra đã có Quyền được hưởng an sinh

xã hội là một trong những quyền con người quan trọng của tất cả các thành viên trong

xã hội đã được cả thế giới thừa nhận Vì vậy, mới có thể khẳng định người hưởng an sinh xã hội có quyền tham gia quan hệ pháp luật an sinh xã hội ngay từ khi sinh ra

Về cơ sở làm phát sinh quan hệ, quan hệ pháp luật an sinh xã hội được thiết lập chủ yếu trên cơ sở nhu cầu quản lý rủi ro, tương trợ cộng đồng trong xã hội Trên cơ sở này, Nhà nước xác định những loại quan hệ xã hội do pháp luật an sinh

xã hội điều chỉnh Điều đó giải thích vì sao nhiều quan hệ mang tính chia sẻ rủi ro khác pháp luật an sinh xã hội không điều chỉnh song quan hệ bảo hiểm xã hội chủ yếu do người tham gia bảo hiểm đóng góp tài chính, có thực hiện cân đối thu chi lại vẫn thuộc hệ thống quan hệ pháp luật an sinh xã hội

Trang 29

29

Quyền và nghĩa vụ chủ yếu của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật an sinh xã hội là trợ giúp và được trợ giúp vật chất, do Nhà nước đảm bảo thực hiện

1.2.2 Các quan hệ pháp luật an sinh xã hội

1.2.2.1 Quan hệ pháp luật về bảo hiểm xã hội

* Khái niệm

Quan hệ pháp luật về bảo hiểm xã hội được hiểu là quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm xã hội với người tham gia bảo hiểm trong việc tạo lập quỹ bảo hiểm hoặc với người hưởng bảo hiểm trong việc chi trả bảo hiểm xã hội được các quy phạm pháp luật

an sinh xã hội điều chỉnh

Quan hệ pháp luật về bảo hiểm xã hội có những đặc điểm tương tự những đặc điểm của quan hệ bảo hiểm xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của luật an sinh xã hội đã được phân tích tại mục I của chương này

Việc phân loại quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội có thể dựa vào hai tiêu chí cơ bản: mục đích thiết lập quan hệ (hay các khâu nghiệp vụ trong quá trình thực hiện bảo hiểm xã hội) và hình thức bảo hiểm xã hội

- Nếu căn cứ vào mục đích thiết lập quan hệ, có thể chia quan hệ pháp luật về bảo hiểm xã hội thành hai quan hệ cụ thể: quan hệ pháp luật trong việc tạo quỹ bảo hiểm và quan hệ pháp luật trong việc chi trả bảo hiểm xã hội

Quan hệ pháp luật trong việc tạo quỹ bảo hiểm xã hội là quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm xã hội và người tham gia bảo hiểm xã hội trong việc đóng góp và quản lý quỹ bảo hiểm, được các quy phạm pháp luật điều chỉnh

Quan hệ pháp luật trong việc chi trả bảo hiểm xã hội là quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm xã hội và người hưởng bảo hiểm xã hội trong việc chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật

- Nếu căn cứ vào hình thức bảo hiểm xã hội, có thể chia quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội thành quan hệ là: quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội bắt buộc và quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện

Quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội bắt buộc là quan hệ bảo hiểm phát sinh trên

cơ sở các quy định bắt buộc của Nhà nước, để bảo hiểm thu nhập cho những lao động trong các quan hệ lao động tương đối ổn định (cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; người lao động trong lực lượng vũ trang nhân dân; người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên )

Quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện là những quan hệ bảo hiểm xã hội hình thành trên cơ sở kết hợp giữa việc tổ chức, trợ giúp của Nhà nước với sự tham gia

tự nguyện của người lao động có nhu cầu bảo hiểm

Quan hệ pháp luật này phát sinh, thay đổi hay chấm dứt gắn với loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện được quy định trong Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 nhằm bảo hiểm thu nhập từ lao động cho những người lao động không thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (lao động cá thể riêng lẻ, xã viên hợp tác xã không có hợp đồng

Trang 30

30

lao động, những người lao động có hợp đồng lao động dưới 01 tháng…)

* Chủ thể của quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội

Có ba chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về bảo hiểm xã hội là: người thực hiện bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm và người hưởng bảo hiểm xã hội

- Người thực hiện bảo hiểm xã hội

Người thực hiện bảo hiểm xã hội (người nhận bảo hiểm) là cơ quan, tổ chức tổ chức việc thu, quản lý quỹ, chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội và những công việc khác có liên quan

Người thực hiện bảo hiểm xã hội theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 là tổ chức Bảo hiểm xã hội Việt Nam Tổ chức bảo hiểm xã hội được tổ chức thống nhất theo hệ thống từ trung ương đến địa phương, gồm: Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh trực thuộc Bảo hiểm

xã hội Việt Nam, Bảo hiểm xã hội cấp huyện trực thuộc Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh Đây

là hệ thống cơ quan sự nghiệp công lập, do Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo trực tiếp và

do Bộ lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý nhà nước Để thực hiện nhiệm vụ, các cơ quan bảo hiểm xã hội các cấp đều có tư cách pháp nhân, có trụ sở, tài khoản và con dấu riêng

- Người tham gia bảo hiểm xã hội

Người tham gia bảo hiểm xã hội là người đóng phí bảo hiểm để hình thành quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, người tham gia bảo hiểm xã hội bao gồm người lao động và người sử dụng lao động (trong đó có nhà nước với tư cách là người sử dụng lao động của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, người lao động làm việc trong lực lượng vũ trang nhân dân…)

Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội có thể là người tham gia quan hệ lao động hoặc không tham gia quan hệ lao động nhưng họ phải là người lao động

có thu nhập Có thu nhập được coi là điều kiện để người lao động được tham gia quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội với tư cách là người tham gia bảo hiểm

Người sử dụng các lao động thuộc đối tượng bảo hiểm bắt buộc cũng phải tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động Như vậy, năng lực pháp luật và năng lực hành

vi tham gia bảo hiểm xã hội của chủ thể này cũng phát sinh đồng thời và phụ thuộc vào việc sử dụng lao động của họ Tại thời điểm phát sinh quyền sử dụng lao động thực tế, năng lực pháp luật và năng lực hành vi tham gia bảo hiểm xã hội của người sử dụng lao động đồng thời xuất hiện và họ phải tham gia bảo hiểm xã hội

- Người hưởng bảo hiểm xã hội

Người hưởng bảo hiểm xã hội là người được nhận tiền bảo hiểm (còn gọi là trợ cấp bảo hiểm xã hội) từ quỹ bảo hiểm xã hội khi có đủ điều kiện bảo hiểm theo quy định của pháp luật Trong quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội, người hưởng bảo hiểm

xã hội có năng lực pháp luật hưởng bảo hiểm xã hội từ khi mới sinh ra, không phụ thuộc vào năng lực hành vi của họ

Trang 31

31

Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, người hưởng bảo hiểm xã hội là người lao động đã hoặc đang tham gia bảo hiểm xã hội Bên cạnh đó, một số thân nhân của người lao động cũng được hưởng bảo hiểm xã hội, như: con, bố, mẹ, vợ, chồng, người nuôi dưỡng hợp pháp của người lao động Để được hưởng một chế độ bảo hiểm nào

đó, người hưởng bảo hiểm phải đáp ứng các điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật

* Nội dung của quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội

Nội dung của quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội bao gồm quyền và nghĩa vụ của người thực hiện bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm và người hưởng bảo hiểm xã hội

- Quyền và nghĩa vụ của người thực hiện bảo hiểm xã hội

Cơ quan bảo hiểm xã hội có các quyền như: Từ chối yêu cầu trả bảo hiểm xã hội không đúng quy định của pháp luật; Yêu cầu người sử dụng lao động xuất trình sổ quản lý lao động, bảng lương và thông tin, tài liệu khác liên quan đến việc đóng, hưởng bảo hiểm xã hội; Kiểm tra việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội; thanh tra chuyên ngành việc đóng bảo hiểm xã hội; Xử lý vi phạm pháp luật hoặc kiến nghị với

cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội; Các quyền khác theo quy định của pháp luật (Điều 22 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014)

Cơ quan bảo hiểm xã hội có các nghĩa vụ như: Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội; Tổ chức thực hiện thu, chi bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật; Cấp sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động; quản lý sổ bảo hiểm xã hội khi người lao động đã được giải quyết chế độ hưu trí hoặc tử tuất; Tiếp nhận

hồ sơ bảo hiểm xã hội; giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội; tổ chức trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội đầy đủ, thuận tiện và đúng thời hạn; Hằng năm, xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho từng người lao động; cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin về việc đóng, quyền được hưởng chế độ, thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội khi người lao động, người sử dụng lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu; Hằng năm, cung cấp thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội của người lao động để người sử dụng lao động niêm yết công khai; Quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật; Công khai trên phương tiện truyền thông về người sử dụng lao động vi phạm nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về việc thực hiện bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật (Điều 23 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014)

- Quyền và nghĩa vụ của người tham gia bảo hiểm xã hội

Quyền của người lao động:

Được tham gia và hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật; Được cấp và quản lý sổ bảo hiểm xã hội; Nhận lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội đầy đủ, kịp thời; Hưởng bảo hiểm y tế trong các trường hợp: đang hưởng lương hưu; trong thời gian nghỉ việc hưởng trợ cấp thai sản khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi; nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng; đang hưởng

Trang 32

32

trợ cấp ốm đau đối với người lao động mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành; Được chủ động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động nếu thuộc trường hợp pháp luật quy định; được thanh toán phí giám định y khoa nếu đủ điều kiện để hưởng bảo hiểm xã hội; Uỷ quyền cho người khác nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội; Định kỳ 06 tháng được người sử dụng lao động cung cấp thông tin về đóng bảo hiểm xã hội; định kỳ hằng năm được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận về việc đóng bảo hiểm xã hội; được yêu cầu người sử dụng lao động và cơ quan bảo hiểm xã hội cung cấp thông tin về việc đóng, hưởng bảo hiểm xã hội; Khiếu nại, tố cáo và khởi kiện về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật (Điều 18 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014)

Nghĩa vụ của người lao động: Đ óng bảo hiểm xã hội theo quy định; Thực hiện quy định về việc lập hồ sơ bảo hiểm xã hội; Bảo quản sổ bảo hiểm xã hội theo đúng quy định (Điều 19 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014)

Người sử dụng lao động có quyền: Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; Khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội (Điều 20 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014)

Người sử dụng lao động có nghĩa vụ: Lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ bảo hiểm xã hội, đóng, hưởng bảo hiểm xã hội; Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định và hằng tháng trích từ tiền lương của người lao động theo quy định để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội; Giới thiệu người lao động thuộc đối tượng quy định đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa; Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động; Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động, xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật; Định kỳ 06 tháng, niêm yết công khai thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động; cung cấp thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội của người lao động khi người lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu; Hằng năm, niêm yết công khai thông tin đóng bảo hiểm xã hội của người lao động do cơ quan bảo hiểm xã hội cung cấp (Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014)

- Quyền và nghĩa vụ của người hưởng bảo hiểm xã hội

Các quyền của người được hưởng bảo hiểm xã hội bao gồm: Được nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội đầy đủ, kịp thời, thuận tiện khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật; Có quyền khiếu nại hoặc yêu cầu giải quyết tranh chấp khi quyền bảo hiểm của họ bị xâm phạm

Nghĩa vụ của người hưởng bảo hiểm xã hội bao gồm: Cung cấp thông tin trung thực về bảo hiểm xã hội với cơ quan có thẩm quyền; Có nghĩa vụ thực hiện đúng các quy định về lập hồ sơ để hưởng bảo hiểm xã hội; Bảo quản, sử dụng sổ bảo hiểm xã hội và hồ sơ bảo hiểm xã hội đúng mục đích, đúng quy định

Trang 33

Việc phân loại quan hệ pháp luật bảo hiểm thất nghiệp dựa vào tiêu chí mục đích thiết lập quan hệ, bao gồm: quan hệ pháp luật trong việc tạo lập quỹ bảo hiểm thất nghiệp và quan hệ pháp luật trong việc chi trả bảo hiểm thất nghiệp

Quan hệ pháp luật trong việc tạo quỹ bảo hiểm thất nghiệp là quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm xã hội và người tham gia bảo hiểm trong việc đóng góp và quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp, được các quy phạm pháp luật điều chỉnh

Quan hệ pháp luật trong việc chi trả bảo hiểm thất nghiệp là quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm xã hội, tổ chức dịch vụ việc làm và người hưởng bảo hiểm thất nghiệp trong việc chi trả các chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật

* Chủ thể của quan hệ pháp luật bảo hiểm thất nghiệp

Có ba chủ thể tham gia quan hệ pháp luật bảo hiểm thất nghiệp là: người thực hiện bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm và người hưởng bảo hiểm thất nghiệp

- Người thực hiện bảo hiểm thất nghiệp

Người thực hiện bảo hiểm thất nghiệp (người nhận bảo hiểm) là cơ quan, tổ chức tổ chức việc thu, quản lý quỹ, chi trả các chế độ bảo hiểm thất nghiệp và những công việc khác có liên quan Người thực hiện bảo hiểm thất nghiệp theo Luật Việc làm năm 2013 và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 là Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Tổ chức Bảo hiểm xã hội Việt Nam và tổ chức dịch vụ việc làm của Nhà nước

- Người tham gia bảo hiểm thất nghiệp

Người tham gia bảo hiểm thất nghiệp là người đóng phí bảo hiểm để hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật Theo Luật Việc làm năm 2013, người tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm Nhà nước, viên chức nhà nước, người

sử dụng lao động và người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ

03 tháng trở lên

- Người hưởng bảo hiểm thất nghiệp

Người hưởng bảo hiểm thất nghiệp là người được hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp khi có đủ điều kiện bảo hiểm theo quy định của pháp luật

* Nội dung của quan hệ pháp luật bảo hiểm thất nghiệp

Nội dung của quan hệ pháp luật bảo hiểm thất nghiệp bao gồm quyền và nghĩa vụ của người thực hiện bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm và người hưởng bảo hiểm thất nghiệp

- Quyền và nghĩa vụ của người thực hiện bảo hiểm thất nghiệp

Trang 34

34

Quyền và nghĩa vụ của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội:

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có các quyền sau đây: Ban hành quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp, quyết định về việc hỗ trợ học nghề, quyết định

về việc tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp, quyết định về việc tiếp tục hưởng trợ cấp thất nghiệp, quyết định về việc chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp, quyết định về việc hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, quyết định về việc bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp; Thẩm định và phê duyệt phương án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề và duy trì việc làm; thẩm định hồ sơ đề nghị hỗ trợ và theo dõi, giám sát việc tổ chức thực hiện hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề theo quy định; Theo dõi, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật; Kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế

độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp; Kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp; Các quyền khác theo quy định của pháp luật

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có các nghĩa vụ sau: Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ chức thông tin, tuyên truyền chính sách, pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp; Giải quyết khiếu nại, tố cáo của tổ chức, cá nhân về việc thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật; Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ 06 tháng, hằng năm và đột xuất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của pháp luật; Cung cấp tài liệu, thông tin liên quan về bảo hiểm thất nghiệp theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; Thực hiện hợp tác quốc tế và tham gia nghiên cứu khoa học về bảo hiểm thất nghiệp; Thực hiện nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

Quyền và nghĩa vụ của trung tâm dịch vụ việc làm:

Trong quan hệ bảo hiểm xã hội, trung tâm dịch vụ việc làm có các quyền sau:

Từ chối yêu cầu hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp không đúng quy định của pháp luật; Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và quản lý Quỹ bảo hiểm thất nghiệp; Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp; Các quyền khác theo quy định của pháp luật

Trung tâm dịch vụ việc làm có các nghĩa vụ sau: Tổ chức thông tin, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp; Tổ chức tiếp nhận hồ

sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp và hồ sơ đề nghị hỗ trợ học nghề, xem xét và thực hiện các thủ tục giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề theo quy định của pháp luật; Tổ chức tư vấn, giới thiệu việc làm và dạy nghề cho người lao động theo quy định của pháp luật; Kiểm tra, theo dõi, cập nhật các thông tin của người lao động liên quan đến việc hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp; Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hằng tháng, quý, năm và báo cáo đột xuất với Bộ Lao động - Thương

Trang 35

35

binh và Xã hội và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật; Cung cấp tài liệu, thông tin liên quan về bảo hiểm thất nghiệp theo yêu cầu của người lao động, tổ chức công đoàn và cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; Lưu trữ, bảo quản hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật; Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bảo hiểm thất nghiệp và giải quyết hưởng các chế

độ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo quy định; Tham gia thực hiện hợp tác quốc tế về bảo hiểm thất nghiệp; Thực hiện nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

Quyền và nghĩa vụ của tổ chức bảo hiểm xã hội:

Trong quan hệ bảo hiểm thất nghiệp, tổ chức bảo hiểm xã hội có các quyền sau: Kiểm tra việc đóng, hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động và người sử dụng lao động; Từ chối yêu cầu chi trả các chế độ bảo hiểm thất nghiệp không đúng quy định của pháp luật; Kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp; quản lý, sử dụng Quỹ bảo hiểm thất nghiệp; xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật; Các quyền khác theo quy định của pháp luật

Tổ chức bảo hiểm xã hội có các nghĩa vụ sau đây: Hằng năm thông báo cho từng người lao động thông tin về việc đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động; Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp; hướng dẫn thủ tục đăng ký tham gia và thu bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động, người sử dụng lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp; Tổ chức thu bảo hiểm thất nghiệp; Cung cấp thông tin về việc tham gia và đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động cho trung tâm dịch vụ việc làm trên địa bàn, trừ Bảo hiểm

xã hội Bộ Quốc phòng và Bảo hiểm xã hội Công an nhân dân; Chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động; Dừng chi trả các khoản trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động và thu hồi thẻ bảo hiểm y tế đối với người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền; Cấp thẻ bảo hiểm y tế và đóng bảo hiểm y tế cho người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật; Quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật; Thực hiện các biện pháp bảo toàn và tăng trưởng quỹ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật; Thực hiện việc chuyển kinh phí chi quản lý bảo hiểm thất nghiệp cho

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo quy định; Tổ chức thực hiện công tác thống kê, kế toán về bảo hiểm thất nghiệp; Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản

lý bảo hiểm thất nghiệp; lưu trữ hồ sơ của người tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo

Trang 36

36

quy định của pháp luật; Cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin về việc tham gia, đóng bảo hiểm thất nghiệp khi người lao động yêu cầu; Cung cấp tài liệu, thông tin liên quan về bảo hiểm thất nghiệp theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về việc thực hiện bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật; Định kỳ 06 tháng, trước ngày 31 tháng 7 và hằng năm trước ngày 31 tháng 01 báo cáo Bộ Tài chính và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về tình hình thu, chi, quản

lý và sử dụng quỹ bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng đầu năm và của năm trước; Thực hiện trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật

- Quyền và nghĩa vụ của người tham gia và người hưởng bảo hiểm thất nghiệp

Quyền và nghĩa vụ của người lao động:

Trong quan hệ bảo hiểm thất nghiệp, người lao động có các quyền: Nhận sổ bảo hiểm xã hội có xác nhận đầy đủ về việc đóng bảo hiểm thất nghiệp khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc; Được hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Điều 42 Luật Việc làm; Được ủy quyền cho người khác nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại Khoản 2 Điều 17, nhận quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại Khoản 3 Điều 18 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP; Được yêu cầu người sử dụng lao động cung cấp thông tin về việc đóng bảo hiểm thất nghiệp; yêu cầu trung tâm dịch vụ việc làm, tổ chức bảo hiểm xã hội cung cấp thông tin liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp; Được khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật; Các quyền khác theo quy định của pháp luật

Người lao động phải thực hiện các nghĩa vụ sau: Đóng bảo hiểm thất nghiệp

đủ và đúng theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 57 Luật Việc làm; Thực hiện đúng quy định về việc tham gia bảo hiểm thất nghiệp; Bảo quản, sử dụng sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế theo quy định; Người lao động giao kết nhiều hợp đồng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp phải thông báo với người sử dụng lao động kế tiếp để tiếp tục tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định; Nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề theo quy định tại trung tâm dịch vụ việc làm khi có nhu cầu; Hằng tháng thông báo với trung tâm dịch vụ việc làm về việc tìm kiếm việc làm trong thời gian đang hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định; Nhận việc làm hoặc tham gia khóa học nghề phù hợp khi được trung tâm dịch vụ việc làm giới thiệu trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp; Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu người lao động tìm được việc làm thì phải thông báo ngay cho trung tâm dịch vụ việc làm nơi nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp; Nhận thông báo về việc không được hưởng trợ cấp thất nghiệp hoặc không được hỗ trợ học nghề, quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp, quyết định về việc hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, quyết định về việc hỗ trợ học nghề, quyết định về việc tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp, quyết định về việc tiếp tục hưởng trợ cấp thất nghiệp, quyết định về việc chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp, quyết định về việc bảo lưu thời gian đóng bảo

Trang 37

37

hiểm thất nghiệp theo quy định; Thông báo theo quy định với trung tâm dịch vụ việc làm khi thuộc các trường hợp chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại các Điểm b, c, d, g, h, l và n Khoản 1 Điều 21 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP; Nộp lại thẻ bảo hiểm y tế cho tổ chức bảo hiểm xã hội khi thuộc các trường hợp chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại các Điểm b, c, d, đ, e, g, h, i, l và n Khoản

1 Điều 21 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP và trong trường hợp chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại Điều 22 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP; Thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động:

Trong quan hệ bảo hiểm thất nghiệp, người sử dụng lao động có các quyền sau đây: Được hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động theo quy định; Từ chối thực hiện các yêu cầu không đúng quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp; Khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật; Các quyền khác theo quy định của pháp luật Người sử dụng lao động có các nghĩa vụ sau: Chủ trì, phối hợp với tổ chức công đoàn cơ sở để thông tin, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp; Xác định đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp, thực hiện trình tự, thủ tục tham gia bảo hiểm thất nghiệp, đóng bảo hiểm thất nghiệp đúng, đủ và kịp thời theo quy định của pháp luật; Bảo quản hồ sơ tham gia bảo hiểm thất nghiệp của người lao động trong thời gian người lao động làm việc tại đơn vị; Xuất trình các tài liệu, hồ

sơ và cung cấp thông tin liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi có kiểm tra, thanh tra về bảo hiểm thất nghiệp; Cung cấp thông tin về việc đóng bảo hiểm thất nghiệp trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày người lao động yêu cầu; Cung cấp bản sao hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc hoặc xác nhận về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc cho người lao động chậm nhất trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày người lao động chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc; Thực hiện thủ tục xác nhận về việc đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động để người lao động hoàn thiện hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định; Thông báo với trung tâm dịch vụ việc làm nơi đặt trụ sở làm việc của người sử dụng lao động khi có biến động lao động làm việc tại đơn

vị theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Đối với các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn thực hiện; Trước ngày 15 tháng 01 hằng năm báo cáo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội về tình hình tham gia bảo hiểm thất nghiệp của năm trước; Tổ chức triển khai việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động theo đúng phương án được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; Sử dụng người lao động đã được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề theo phương án đã

Trang 38

38

được phê duyệt và báo cáo kết quả thực hiện về Sở Lao động - Thương binh và Xã hội trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày kết thúc khóa đào tạo; Thực hiện các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật

1.2.2.3 Quan hệ pháp luật về bảo hiểm y tế

* Khái niệm

Quan hệ pháp luật bảo hiểm y tế là quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm y tế và người tham gia bảo hiểm trong việc tạo lập quỹ bảo hiểm y tế hoặc với người hưởng bảo hiểm trong việc chi trả bảo hiểm y tế

Như vậy, cũng tương tự lĩnh vực bảo hiểm xã hội, có hai loại quan hệ pháp luật bảo hiểm y tế: quan hệ pháp luật tạo lập quỹ bảo hiểm y tế và quan hệ pháp luật chi trả bảo hiểm y tế

Quan hệ pháp luật tạo lập quỹ bảo hiểm y tế là quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm y

tế và người tham gia bảo hiểm y tế trong việc thu, nộp và quản lý quỹ bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật Trong đó, tổ chức bảo hiểm y tế là người đứng ra tổ chức thu phí và quản lý quỹ bảo hiểm theo quy định của pháp luật, còn người tham gia bảo hiểm

y tế có trách nhiệm đóng phí bảo hiểm y tế vào quỹ bảo hiểm y tế theo mức và phương thức đã được pháp luật quy định

Quan hệ pháp luật chi trả bảo hiểm y tế là quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm y tế

và người hưởng bảo hiểm y tế trong việc chi trả các chế độ bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật Trong mối quan hệ này, tổ chức bảo hiểm y tế có trách nhiệm chi

và quản lý các khoản chi bảo hiểm y tế, người hưởng bảo hiểm y tế được hưởng các chế độ bảo hiểm y tế khi đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định

Những đặc điểm của quan hệ bảo hiểm y tế thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật

an sinh xã hội cũng là những đặc điểm của quan hệ pháp luật bảo hiểm y tế

* Chủ thể của quan hệ pháp luật bảo hiểm y tế

Các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật bảo hiểm y tế gồm: người thực hiện bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm và người hưởng bảo hiểm y tế

- Người thực hiện bảo hiểm y tế

Người thực hiện bảo hiểm y tế là cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức thực hiện chức năng thu, quản lý quỹ và chi trả bảo hiểm y tế cho người được hưởng bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật

Theo quy định của pháp luật hiện hành, cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam đồng thời là tổ chức thực hiện bảo hiểm y tế (Nghị định số 94/2008/NĐ-CP) Tham gia vào việc chi trả bảo hiểm y tế còn có cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế (các trạm y

tế, phòng khám, bệnh viện có ký hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh với tổ chức bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật), gồm cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y

tế ban đầu (cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đầu tiên theo đăng ký của người tham gia bảo hiểm y tế và được ghi trong thẻ bảo hiểm y tế) và cơ sở khám chữa bệnh theo tuyến điều trị (cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế không được đăng ký trong thẻ bảo hiểm

Trang 39

39

y tế, có trách nhiệm khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế theo quy định về chuyển tuyến chuyên môn) Với những quy định đó, hệ thống cơ sở y tế vừa đảm bảo điều trị theo yêu cầu bệnh tật của người có thẻ bảo hiểm y tế, vừa giảm tải cho bệnh viện tuyến trên khi chưa thực sự cần thiết

- Người tham gia đóng bảo hiểm y tế

Người tham gia bảo hiểm y tế là người có trách nhiệm đóng phí để hình thành quỹ bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật

Tùy theo trình độ quản lý rủi ro của mỗi nước, mỗi thời kỳ mà mức độ rộng hẹp của người tham gia đóng bảo hiểm y tế được quy định khác nhau Xu hướng chung là bảo hiểm y tế thường bao phủ từ mức độ hẹp đến rộng và diện rộng nhất mà mỗi nhà nước hướng tới là thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân Bảo hiểm y tế của Việt Nam cũng phát triển theo xu hướng này

Theo Luật bảo hiểm y tế, người tham gia bảo hiểm y tế ở nước ta được quy định rất rộng với mục tiêu thực hiện y tế toàn dân Theo quy định, người tham gia bảo hiểm y tế có thể phải trực tiếp đóng bảo hiểm (người lao động có quan hệ lao động thuộc mọi khu vực, mọi thành phần kinh tế; xã viên hợp tác xã ) hoặc được người khác đóng hỗ trợ (người sử dụng lao động đóng bảo hiểm y tế cho người lao động của họ) hay được Nhà nước, chủ thể khác đóng cho toàn bộ (người lao động đang hưởng bảo hiểm xã hội hàng tháng được quỹ bảo hiểm xã hội đóng toàn bộ; người đang hưởng ưu đãi xã hội, trẻ em dưới 6 tuổi, được ngân sách nhà nước đóng toàn bộ

- Người hưởng bảo hiểm y tế

Người hưởng hiểm y tế là người được hưởng các chế độ bảo hiểm y tế khi đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật

Việc xác định người hưởng bảo hiểm y tế bao giờ cũng phụ thuộc vào việc người

đó có đóng phí hoặc được người khác đóng phí bảo hiểm y tế hay không Đây là điều kiện không chỉ để xác định việc chi trả bảo hiểm cho người hưởng bảo hiểm y tế mà còn để quỹ bảo hiểm y tế trở thành quỹ tài chính độc lập, có nghĩa vụ và có khả năng cân đối thu chi, không phụ thuộc vào ngân sách nhà nước

* Nội dung của quan hệ pháp luật bảo hiểm y tế

Nội dung của quan hệ pháp luật bảo hiểm y tế là quyền và nghĩa vụ của người thực hiện bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm và người hưởng bảo hiểm y tế Cụ thể

như sau:

- Quyền và nghĩa vụ của tổ chức bảo hiểm y tế

Quyền của tổ chức bảo hiểm y tế: Yêu cầu người người tham gia đóng bảo hiểm

y tế cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, tài liệu có liên quan đến trách nhiệm của họ

về việc thực hiện bảo hiểm y tế; Kiểm tra, giám định việc thực hiện khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế; thu hồi, tạm giữ thẻ bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật; Yêu cầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế cung cấp hồ sơ, bệnh án, tài liệu

về khám bệnh, chữa bệnh để phục vụ công tác giám định bảo hiểm y tế; Từ chối thanh

Trang 40

40

toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế không đúng quy định của pháp luật hoặc không đúng với nội dung hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế; Yêu cầu người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người tham gia bảo hiểm y tế hoàn trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh mà tổ chức bảo hiểm y tế đã chi trả theo quy định của pháp luật; Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế và xử lý tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về bảo hiểm y tế (Điều 40 Luật Bảo hiểm y tế năm 2008, đã sửa đổi, bổ sung năm 2014)

Nghĩa vụ của tổ chức bảo hiểm y tế: Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế; Hướng dẫn hồ sơ, thủ tục, tổ chức thực hiện chế độ bảo hiểm y

tế bảo đảm nhanh chóng, đơn giản và thuận tiện cho người tham gia, người hưởng bảo hiểm y tế; Thu tiền đóng bảo hiểm y tế và cấp thẻ bảo hiểm y tế; Quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm y tế; Ký hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ điều kiện; thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế; Cung cấp thông tin về các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế và hướng dẫn người hưởng bảo hiểm y tế lựa chọn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ban đầu; Kiểm tra chất lượng khám bệnh, chữa bệnh; giám định bảo hiểm y tế; Bảo vệ quyền lợi của người tham gia, người hưởng bảo hiểm y tế; giải quyết theo thẩm quyền các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo về chế độ bảo hiểm y tế; Lưu trữ hồ sơ, số liệu về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, xây dựng hệ cơ

sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm y tế; Tổ chức thực hiện công tác thống kê, báo cáo, hướng dẫn nghiệp vụ về bảo hiểm y tế; báo cáo định kỳ hoặc đột xuất khi có yêu cầu

về quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm y tế; Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế về bảo hiểm y tế Điều 41 Luật Bảo hiểm y tế năm

2008, đã sửa đổi, bổ sung năm 2014)

- Quyền và nghĩa vụ của cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế

Quyền của cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế: Yêu cầu tổ chức bảo hiểm y

tế cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin có liên quan đến người hưởng bảo hiểm y

tế và kinh phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế tại cơ sở khám, chữa bệnh; Được tổ chức bảo hiểm y tế tạm ứng kinh phí và thanh toán chi phí khám, chữa bệnh theo hợp đồng đã ký; Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về bảo hiểm y tế (Điều 40 Luật Bảo hiểm y tế năm 2008, đã sửa đổi,

bổ sung năm 2014)

Nghĩa vụ của cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế: Tổ chức khám, chữa bệnh bảo đảm chất lượng với thủ tục đơn giản, thuận tiện cho người hưởng bảo hiểm y tế; Cung cấp hồ sơ bệnh án, tài liệu liên quan đến khám, chữa bệnh và thanh toán chi phí khám, chữa bệnh của người hưởng bảo hiểm y tế theo yêu cầu của tổ chức bảo hiểm y

tế và cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Bảo đảm điều kiện cần thiết cho tổ chức bảo hiểm y tế thực hiện công tác giám định; phối hợp với tổ chức bảo hiểm y tế trong việc tuyên truyền, giải thích về chế độ bảo hiểm y tế cho người tham gia, người hưởng bảo

Ngày đăng: 13/04/2021, 22:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ chính trị - Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh (2000), Chiến tranh cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh cách mạng Việt Nam
Tác giả: Bộ chính trị - Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2010), Tài liệu tham khảo pháp luật lao động nước ngoài, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo pháp luật lao động nước ngoài
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2010
4. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2012), "Các giải pháp thúc đẩy các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn đến 2020”, Kỷ yếu Đề tài khoa học cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp thúc đẩy các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn đến 2020
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Năm: 2012
5. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2013), Luật An toàn, vệ sinh lao động một số quốc gia, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật An toàn, vệ sinh lao động một số quốc gia
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2013
6. Bruno Palier Louis – Charles Viossat (2003), Chính sách xã hội và quá trình toàn cầu hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách xã hội và quá trình toàn cầu hoá
Tác giả: Bruno Palier Louis – Charles Viossat
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
7. Nguyễn Hữu Chí (Chủ biên) (2012), Giáo trình Luật An sinh xã hội, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật An sinh xã hội
Tác giả: Nguyễn Hữu Chí (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2012
8. Lê Vinh Danh (2001), Chính sách công của Hoa Kỳ giai đoạn 1935-2001, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách công của Hoa Kỳ giai đoạn 1935-2001
Tác giả: Lê Vinh Danh
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2001
9. Đỗ Thị Dung (2006), “Chế độ bảo hiểm thai sản và hướng hoàn thiện nhằm đảm bảo quyền lợi của lao động nữ”, Tạp chí Luật học, số 3/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ bảo hiểm thai sản và hướng hoàn thiện nhằm đảm bảo quyền lợi của lao động nữ”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Đỗ Thị Dung
Năm: 2006
10. Đỗ Thị Dung (2010), “Đối tượng hưởng ưu đãi xã hội và một số kiến nghị”, Tạp chí Luật học, số 8/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối tượng hưởng ưu đãi xã hội và một số kiến nghị”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Đỗ Thị Dung
Năm: 2010
11. Đỗ Thị Dung (2011), “Các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và hướng hoàn thiện”, Tạp chí Luật học, số 1/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và hướng hoàn thiện”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Đỗ Thị Dung
Năm: 2011
12. Đỗ Thị Dung (2012), “Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp sau 3 năm thực hiện ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 9/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp sau 3 năm thực hiện ở Việt Nam”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Đỗ Thị Dung
Năm: 2012
13. Đỗ Thị Dung (2013), “Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế và lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân theo Luật bảo hiểm y tế Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 4/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế và lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân theo Luật bảo hiểm y tế Việt Nam”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Đỗ Thị Dung
Năm: 2013
14. Đỗ Thị Dung và Đào Quang Hưng (2017),“Chế độ bảo trợ xã hội đối với người từ đủ 80 tuổi trở lên ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 1/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ bảo trợ xã hội đối với người từ đủ 80 tuổi trở lên ở Việt Nam”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Đỗ Thị Dung và Đào Quang Hưng
Năm: 2017
15. Đỗ Thị Dung (2017), “Kiến nghị hoàn thiện một số quy định của Luật bảo hiểm y tế nhằm thực hiện mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân”, Tạp chí Luật học, số 8/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến nghị hoàn thiện một số quy định của Luật bảo hiểm y tế nhằm thực hiện mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Đỗ Thị Dung
Năm: 2017
16. Đỗ Thị Dung (2018), “Một số bất cập trong quy định về chế độ bảo trợ xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam và kiến nghị sửa đổi”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bất cập trong quy định về chế độ bảo trợ xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam và kiến nghị sửa đổi”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Đỗ Thị Dung
Năm: 2018
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
18. Trần Hoàng Hải, Lê Thị Thúy Hương (2011), Pháp luật an sinh xã hội - kinh nghiệm của một số nước đối với Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia –Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật an sinh xã hội - kinh nghiệm của một số nước đối với Việt Nam
Tác giả: Trần Hoàng Hải, Lê Thị Thúy Hương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia –Sự thật
Năm: 2011
19. Từ Nguyễn Linh (2007), “Tổng quan về hệ thống an sinh xã hội và bảo hiểm xã hội của Nhật Bản”, Tạp chí Bảo hiểm xã hội, số 5/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về hệ thống an sinh xã hội và bảo hiểm xã hội của Nhật Bản”, "Tạp chí Bảo hiểm xã hội
Tác giả: Từ Nguyễn Linh
Năm: 2007
20. Nguyễn Hiền Phương (2010), Pháp luật an sinh xã hội - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật an sinh xã hội - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Hiền Phương
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2010
21. Nguyễn Hiền Phương (Chủ biên) (2013), Pháp luật bảo hiểm y tế một số quốc gia trên thế giới và những kinh nghiệm cho Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật bảo hiểm y tế một số quốc gia trên thế giới và những kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hiền Phương (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w