1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách an sinh xã hội của đảng bộ thành phố đà nẵng từ năm 1997 đến nay

84 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá Trình Lãnh Đạo Thực Hiện Chính Sách An Sinh Xã Hội Của Đảng Bộ Thành Phố Đà Nẵng Từ Năm 1997 Đến Nay
Tác giả Trần Thị Điểm
Người hướng dẫn TS. Vương Thị Bích Thủy
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Giáo Dục Chính Trị
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2016
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, chính sách xã hội phải dựa trên các quan điểm, chủtrương của Đảng, đồng thời các quan điểm, chủ trương đó được thể chế hóa để tácđộng vào các quan hệ xã hội nhằm giải quyết những

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNGTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PH ẠM

Giáo viên hướng dẫn: TS Vương Thị Bích Thủy Sinh viên thực hiện : Trần Thị Điểm

Lớp : 12SGC

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiệndưới sự hướng dẫn của TS Vương Thị Bích Thủy và chưa từng công bố trong bất kìcông trình nào khác

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này

Đà Nẵng, ngày 07 tháng 05 năm 2016

Tác giả

Trần Thị Điểm

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trongkhoa Giáo dục Chính trị, trường Đại học Sư phạm và khoaMác-Lênin trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng, đãtruyền đạt những kiến thức lý luận và thực tiễn quý báu cho emtrong những năm học vừa qua Đặc biệt, em xin chân thànhcảm ơn TS Vương Thị Bích Thủy đã tận tình hướng dẫn, độngviên và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luậnnày

Bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoahọc, mặc dù có nhiều cố gắng song không tránh khỏi thiếu sót,

em rất mong nhận được sự góp ý quý báu của quý thầy giáo, côgiáo và các bạn!

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 UBND: Ủy ban nhân dân

2 THCS: Trung học cơ sở

3 THPT: Trung học phổ thông

4 BHYT: Bảo hiểm y tế

5 BHXH: Bảo hiểm xã hội

6 GRDP: Tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn

7 CNH – HĐH: Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu 2

4 Bố cục của đề tài 3

5 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ AN SINH XÃ HỘI VÀ CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI CỦA ĐẢNG TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 6

1.1 Khái quát về an sinh xã hội 6

1.1.1 Một số khái niệm 6

1.1.1.1 Khái niệm chính sách xã hội; an sinh xã hội; chính s ách an sinh xã hội 6

1.1.1.2 Các bộ phận hợp thành chính sách an sinh xã hội 12

1.1.2 Vai trò của chính sách an sinh xã hội đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta 14

1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng về chính sách an sinh xã hội trong thời kỳ đổi mới 15

1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về an sinh xã hội 15

1.2.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng về chính sách an sinh xã hội từ 1986 đến nay 19

Chương 2 ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI TỪ 1997 ĐẾN NAY 26

2.1 Tổng quan về thành phố Đà Nẵng 26

2.1.1 Vị trí địa lý và tiềm năng 26

2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997 – 2015 28

2.1.3 Giới thiệu về Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng 34

2.2 Vai trò của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng trong việc chỉ đạo thực hiện chính sách an sinh xã hội 36

2.2.1 Yêu cầu phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ mới 36

2.2.2 Chủ trương, chính sách của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng về an sinh xã hội từ 1997 đến nay 39

Trang 6

2.2.3 Quá trình chỉ đạo thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ Đà Nẵng về chính sách an

sinh xã hội 43

2.3 Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội hiện nay 58

2.3.1 Những khó khăn, thách thức và bài học kinh nghiệm đặt ra 58

2.3.2 Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng trong việc chỉ đạo thực hiện chính sách an sinh xã hội thời gian tới 60

KẾT LUẬN 65

PHỤ LỤC 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

An sinh xã hội là nhu cầu của con người trong xã hội bên cạnh các nhu cầu vềđảm bảo chính trị, kinh tế… Với một phạm vi rất rộng và tác động đến đời sống hàngngày của mọi thành viên trong xã hội, an sinh xã hội đã trở thành “lưới an toàn” bảo vệcho cuộc sống của mỗi cá nhân Vì thế, mỗi xã hội văn minh đều phấn đấu thực hiệnngày càng tốt hơn để bảo vệ cho các thành viên của mình Hầu hết các nước đều thựchiện an sinh xã hội bằng cách xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện phù hợp vớiđiều kiện kinh tế - xã hội của đất nước

Thực tế, lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh và thừa nhậnrằng cuộc sống của con người trên trái đất dù ở bất cứ giai đoạn phát triển nào, bất kỳ

xã hội nào cũng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và môi trường sống Những rủi ro bất hạnh, những khó khăn ngoài ý muốn đã làm cho một bộ phận dân cưrơi vào tình cảnh “ yếu thế” trong xã hội Để tiếp tục tồn tạ i và phát triển họ cần nhậnđược sự giúp đỡ của cộng đồng xã hội

Qua 30 năm đổi mới, ở Việt Nam, phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa đã đem lại cho đất nước những biến đổi sâu sắc: sự chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, thu nhập bình quânđầu người tăng… Sự phát triển kinh tế đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống vàđảm bảo nhu cầu an sinh xã hội người dân Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực vềphát triển kinh tế xã hội của đất nước, việc phát triển kinh tế thị trường trong thời kỳhội nhập kinh tế quốc tế đã kéo theo những vấn đề xã hội phức tạp khác như: sự phânhóa giàu nghèo, tình trạng đói nghèo, thất nghiệp… Do đó vấn đề an sinh xã hội lạicàng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết trong quá trình đổi mới đất nước

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII ( tháng 6-1996 ) với việc đẩy mạnh toàndiện công cuộc đổi mới, các vấn đề xã hội đều được giải quyết theo tinh thần xã hộihóa đã tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và thànhphố Đà Nẵng nói riêng Từ khi Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương (

1997 ) đến nay, Đảng bộ Đà Nẵng đã vận dụng sáng tạo đường lối đổi m ới của Đảngphù hợp với thực tế yêu cầu phát triển của thành phố, tron g những năm từ 1997 –

2015, sự phát triển kinh tế xã hội thành phố Đà Nẵng có những chuyển biến mạnh mẽ,đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao rõ rệt

Trang 8

Trong những năm qua, bên cạnh sự chăm lo của Đảng và Nhà nước đốivới chính sách an sinh xã hội cả nước, chính sách an sinh xã hội của thành phố ĐàNẵng cũng được hình thành và phát triển Quán triệt các chủ trương chính sách củaĐảng và Nhà nước đối với việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, thời gian quaĐảng bộ Đà Nẵng cùng chính quyền đoàn thể từ huyện đến cơ sở đã quan tâm chỉđạo và triển khai thực hiện kịp thời, tích cực thực hiện nhiệm vụ phát riển kinh tế xãhội địa phương Từ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Đà Nẵng, thành phố đã đạtđược nhiều thành tựu trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, góp phần nângcao chất lượng cuộc sống cho nhân dân Tuy nhiên, Đà Nẵng vẫn còn tồn tại rấtnhiều khó khăn, thách thức trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội.

Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của vấn đề an sinh xã hội trongviệc phát triển kinh tế xã hội của thành phố cũng như góp phần phát triển kinh tế

của đất nước, chúng tôi chọn vấn đề: “Quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách

an sinh xã hội của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng từ 1997 đến nay” làm đề tài

khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Qua việc nghiên cứu quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách an sinh xã hội củaĐảng bộ thành phố Đà Nẵng từ năm 1997 đến nay, đề tài góp phần làm rõ hơn vai tròcủa Đảng bộ Đà Nẵng trong việc lãnh đạo thực hiện chính sách an sinh xã hội nhằmxây dựng phát triển thành phố Đà Nẵng văn minh, hiện đại Từ đó đề xuất những giảipháp chủ yếu nhằm phát huy hơn nữa vai trò của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng trongthời gian tới

3 Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu

Trang 9

Đề tài được thực hiện dựa trên các nguyên tắc phương pháp luậ n của chủ nghĩaMác – Lênin như: nguyên tắc khách quan, toàn diện, thống nhất giữa cái trừu tượng vàcái cụ thể, kết hợp giữa cái phổ biến và cái đặc thù

Các phương pháp được sử dụng là: Phương pháp hệ thống hóa, phương pháp kết hợplogic và lịch sử, phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, tổng kết lý luận từ thựctiễn

4 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm 2chương, 5 tiết cụ thể như sau:

Chương 1: Những vấn đề chung về an sinh xã hội và chính sách an sinh xã hội

của Đảng trong thời kỳ đổi mới

Chương 2: Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lãnh đạo thực hiện chính sách an sinh

xã hội từ năm 1997 đến nay

5 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Chính sách an sinh xã hội có nội dung rất rộng, liên quan đến sự phát triển củamỗi cá nhân, cộng đồng và toàn xã hội Từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới thìvấn đề an sinh xã hội ngày càng được Đảng và Nhà nước ta nhận thức sâu sắc và toàndiện, điều đó thể hiện trong đường lối chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hộicủa Đảng và Nhà nước ta

Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các tác giả khác nhau

đề cập đến những vấn đề lý luận chung về chính sách an sinh xã hội và quá trình thựchiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam Tiêu biểu trong số đó là các công trình

như: An sinh xã hội và định hướng nghiên cứu nhằm nâng cao vai trò của khoa học xã

hội vào quá trình hoạch địn h chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam, của tác giả

Nguyễn Văn Chiều, Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân Văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008 Tác giả Nguyễn Văn Định với Giáo trình

an sinh xã hội, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 2008 Các công trình này đã

nghiên cứu và giới thiệu những vấn đề lý luận chung về an sinh xã hội và những chínhsách an sinh xã hội của Đảng ở Việt Nam Từ đó cung cấp các luận cứ, lý luận chungtrong nghiên cứu về chính sách an sinh xã hội

Công trình Một số vấn đề về chính sách xã hội ở Việt Nam hiện nay của tác

giả Mai Ngọc Cường, Nxb Chính trị Quốc Gia – Sự Thật, Hà Nội, 2013, đã đề cập

Trang 10

đến những thành tựu và những thách thức đặt ra đối với hệ thống an sinh xã hội ở nước

ta hiện nay, nêu ra một số khuyến nghị xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an

sinh xã hội trong những năm tới Tác giả Đinh Xuân Lý với công trình Đảng Cộng sản

Việt Nam lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội trong 25 năm đổi mới ( 1986 – 2011),

Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2011, đã nghiên cứu cơ sở hình thành chủ trương,đường lối và các chính sách của Đảng trong 25 năm đổi mới, tìm hiểu nội dung cácchính sách như : Lao động và việc làm; xóa đói giảm nghèo; bảo hiểm xã hội; bảo tr ợ

xã hội từ năm 1986 đến 2011 Nhóm tác giả Nguyễn Thị Oanh và cộng sự với công

trình An sinh xã hội và các vấn đề xã hội , Đại học Mở - Bán công, Tp Hồ Chí Minh,

1997, đề cập đến cơ sở khoa học của an sinh xã hội và sự cần thiết có một hệ thống ansinh xã hội của một quốc gia

Ban Tuyên giáo thành ủy Đà Nẵng, Thông tin nội bộ 1+ 2 năm 2012, kỷ niệm

15 năm thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương ( 19-2-1997 – 19-2-2012) đã đăng

tải nhiều bài viết và thông tin quan trọng về thành công của thành phố Đà Nẵng trong

15 năm qua Công trình này đã nghiên cứu về quá trình phát triển toàn diện của thànhphố Đà Nẵng từ 1997 đến nay, đặc biệt trong đó đề cập đến việc thực hiện chính sách

an sinh xã hội Đây được xem là nguồn tư liệu quan trọng ghi lại dấu ấn sinh động vềthực tiễn thực hiện chính sách an sinh xã hội và trở thành nguồn tài liệu phong phúcho vấn đề luận giải của tác giả

Ngoài ra còn nhiều bài báo khoa học được công bố trên các tạp chí như Triếthọc, Cộng sản, Lý luận chính trị, khoa học kinh tế - Luật, Sinh hoạt lý luận… đã cónhiều bài viết bàn luận sâu sắc về vấn đề này Tiêu biểu trong số đó là : Thủ tướng

Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng với bài viết Đảm bảo ngày càng tốt hơn an sinh xã hội

và phúc lợi xã hội là một nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020, Tạp chí Cộng sản, Số 815 ( tháng 9 -2010); tác giả Đặng Đức San với Về thuật ngữ an sinh xã hội , Tạp chí khoa học Kinh tế- Luật, số 1/2004; Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa , của tác giả Nguyễn

Duy Quý, Tạp chí Lý luận chính trị, Số 11- 2007; Mạc Tiến Anh với bài viết Bàn thêm

thuật ngữ về an sinh xã hội , Tạp chí Bảo hiểm xã h ội, số 1/2004.

Nhìn chung, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề an sinh xã hội vàquá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam Các công trình nghiên cứunêu trên đã cung cấp nguồn tài liệu tham khảo quý báu và gợi mở nhiều hướng nghiên

Trang 11

cứu cho chính sách an sinh xã hội về nhiều mặt, cả về lý luận và thực tiễn Trong quátrình nghiên cứu đề tài, chúng tôi thấy rằng chưa có công trình nghiên cứu nào trựctiếp đề cập đến quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng bộthành phố Đà Nẵng.Vì vậy, đó là lý do để chúng tôi lựa chọn và cũng là động lực thúcđẩy tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này.

Trang 12

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ AN SINH XÃ HỘI VÀ CHÍNH SÁCH AN SINH

XÃ HỘI CỦA ĐẢNG TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 1.1 Khái quát về an sinh xã hội

sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội” [19, tr.86] Chính sách xã hội lần đầu tiên đượcđặt đúng vị trí và tầm quan trọng của nó trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ởnước ta

Để hiểu rõ hơn khái niệm chính sách xã hội, chúng ta cầ n tìm hiểu một số kháiniệm liên quan như: “chính sách” và “xã hội”

“chính sách” là cách thức tác động có chủ đích của một nhóm, tập đoàn xã hộinày vào những nhóm, tập đoàn xã hội khác thông qua các thiết chế khác nhau của hệthống chính trị nhằm thực hiện các mục tiêu đã được xác định trước Chính sáchthường được thể hiện trong các quyết định, hệ thống văn bản luật pháp và các quy địnhchuẩn hành vi khác

“Xã hội” thường được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp khác nhau Theo nghĩarộng, xã hội là tất cả những gì gắn với con người, với xã hội loài người nhằm phân biệtvới các hiện tượng tự nhiên “Xã hội” trong khái niệm “chính sách xã hội” là theonghĩa hẹp, được hiểu như con người với những mối quan hệ nhiều mặt của họ về cảkinh tế, chính trị, văn hóa và tư tưởng ấy Như vậy “cái xã hội” theo nghĩa hẹp chính làmục tiêu, là mục đích mà tất cả các hoạt động kinh tế, chính trị , văn hóa và tư tưởng ấyhướng đến

Chính sách xã hội là chính sách của Nhà nước đề cập và giải quyết các vấn đề

xã hội tức là giải quyết các vấn đề phát sinh từ các quan hệ xã hội, liên quan đến lợiích và sự phát triển con người, cộng đồng dân cư, đó là những vấn đề có ý nghĩa chính

Trang 13

trị cốt lõi của mỗi quốc gia Do đó, chính sách xã hội phải dựa trên các quan điểm, chủtrương của Đảng, đồng thời các quan điểm, chủ trương đó được thể chế hóa để tácđộng vào các quan hệ xã hội nhằm giải quyết những vấn đề xã hội, góp phần thực hiệncông bằng xã hội, tiến bộ và phát triển con người.

Chính sách xã hội là tổng hợp các phư ơng thức, các biện pháp của nhà nước,nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, phù hợp với trình

độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị góp phần thực hiện mục tiêu chiến lượcphát triển kinh tế- xã hội của đất nước

Như vậy có thể khái quát: Chính sách xã hội là một bộ phận hợp thành chính

sách của Đảng và Nhà nước, là sự thể hiện cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng,

hệ thống pháp luật của Nhà nước, nhằm đảm bảo những nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, đ iều chỉnh các mối quan hệ xã hội và tạo động lực trực tiếp để con

người hoạt động trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Ở Việt Nam, chính sách xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam là một bộ phậnquan trọng trong đường lối, chủ trương của Đảng hướng tới giải quyết các vấn đề xãhội, phù hợp với mục tiêu, lý tưởng của Đảng và bản chất của chế độ xã hội xã hội chủnghĩa, nhằm phục vụ lợi ích và đề cao trách nhiệm của cá nhân và cộng đồng xã hộinói chung, các giai tầng xã hội nói riêng Chính sách xã hội là sự cụ thể hóa thể chếhóa các đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước để giải quyết những vấn đề xãhội; phản ánh lợi ích trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung và của từng nhóm

xã hội nói riêng nhằm tác động trực tiếp vào con người và điều chỉnh c ác quan hệ giữacon người với con người, giữa con người với xã hội, hướng tới mục đích cao nhất làthỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần củanhân dân trong đời sống xã hội Chính sách xã hội có vai trò to lớn tron g đời sống xãhội, nó bao trùm tất cả các mặt, các lĩnh vực hoạt động của đời sống con người, cácnhóm người và toàn bộ cộng đồng dân cư Nó luôn có vị trí hàng đầu trong hệ thốngchính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước

Vị trí quan trọng của chính sách xã hội được quy định bởi vị trí quan trọng củacon người trong xã hội, và mục tiêu bao trùm của chính sách xã hội là thiết lập sự côngbằng, trật tự an toàn xã hội, ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội Có thể nói, chínhsách xã hội là chính sách con người, phát triển con người và vì con người

Trang 14

Khái niệm an sinh xã hội, chính sách an sinh xã hội

Trong cuộc sống, con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải có điềukiện đảm bảo về ăn, ở, mặc… Để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu, con người p hảilao động sản xuất để làm ra của cải vật chất và tạo ra thu nhập Khi xã hội phát triển,đời sống con người càng phong phú thì mức độ thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng,nghĩa là việc thõa mãn nhu cầu cho cuộc sống phụ thuộc vào khả năng lao động củacon người Tuy nhiên, không phải lúc nào con người cũng có thể lao động tạo ra thunhập, trái lại con người không thể tránh khỏi những trường hợp rủi ro xảy ra làm conngười bị giảm hoặc mất khả năng lao động như ốm đau, tai nạn, già yếu, thất nghiệp…Đồng thời, cuộc sống của con người còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên,môi trường, xã hội Những điều kiện này không phải lúc nào ở đâu cũng thuận lợi.Những rủi ro bất hạnh do thiên tai hoặc môi trường gây ra cho con người là không thểtránh khỏi Khi gặp phải những trường hợp rủi ro, thiếu nguồn thu nhập để sinhsống… con người đã giải quyết bằng nhiều cách khác nhau Từ xa xưa con người đã

có sự san sẻ, đùm bọc của cộng đồng Lòng nhân ái, sự bao bọc đã hình thành từnhững hoạt động cứu tế của các tổ chức, tôn giáo, phường hội… giúp con người giảm

đi những khó khăn trong cuộc sống hằng ngày Vì thế, các biện pháp phòng tránh vàkhắc phục rủi ro đã trở thành một trong những nhu cầu hết sức cần thiết của con người

và xã hội

Tính tất yếu phải đối mặt với những khó khăn, rủi ro về thu nhập trong nhữngtrường hợp bất khả kháng đã buộc người lao động tìm cách khắc phục bằng nhiều biệnpháp khác nhau như tiết kiệm với phương châm "tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”hoặc dựa vào sự đùm bọc, cưu mang c ủa cộng đồng với tinh thần "lá lành đùm lárách" Nhưng xã hội càng phát triển, những biện pháp như trên đã tỏ ra không đủ độ

an toàn để giúp cho mỗi người có thể khắc phục hoặc vượt qua khó khăn trong cuộcsống Thêm vào đó là các biện pháp mới chỉ có t rong xã hội hiện đại như bảo hiểm xãhội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, cứu trợ xã hội, trợ giúp xã hội v.v Đây lànhững trụ cột cơ bản của hệ thống an sinh xã hội nhằm bảo vệ con người trước nhữngrủi ro về kinh tế - xã hội

Vậy an sinh xã hội là gì?

“An sinh” là một từ Hán - Việt, An – trong chữ “An toàn”, Sinh – trong chữ

“Sinh sống”, an sinh có thể hiểu là “an toàn sinh sống” Nói một cách khái lược: xã hội

Trang 15

an sinh là xã hội mà mọi người được an toàn sinh sống, hay là có cuộc sống an toàn.Theo tiếng Anh, “An sinh xã hội” thường được gọi là Social Security và khi dịch ratiếng Việt, ngoài nghĩa an sinh xã hội thuật ngữ này còn được dịch là bảo đảm xã hội,bảo trợ xã hội, an ninh xã hội, an toàn xã hội Nói ngắn gọn, an sinh xã hội là mộttấm lưới che chắn, bảo đảm an toàn cho xã hội và con người, là nhân tố bảo đảm choviệc phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

An sinh xã hội đã được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền conngười Nội dung của an sinh xã hội đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền doĐại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948 Trong bản Tuyên ngôn đãkhẳng định rõ tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng ansinh xã hội Bên cạnh đó, ngày 25/6/1952, Hội nghị toàn thể của ILO đã thông quaCông ước số 102, được gọi là Công ước về an sinh xã hội (tiêu chuẩn tối thiểu) trên cơ

sở tập hợp các chế độ về an sinh xã hội đã có trên toàn thế giới thành 9 bộ phận Vớicông ước này, quan niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO ) về an sinh xã hội “… là

sự bảo vệ của xã hội với các thành viên của mình thông qua hàng loạt các biện phápcông cộng nhằm chống lại tình cảnh khốn khổ về kinh tế và xã hội gây ra bởi tìnhtrạng bị ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhâp do ốm đau, thai sản, thương tật laođộng, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, tử vong, sự cung cấp về chăm sóc y tế và cả sựcung cấp các khoản tiền trợ cấp cho các gia đình đông con” [35, tr.5] Như vậy, về bảnchất, an sinh xã hội là góp phần đảm bảo đời sống và thu nhập cho mọi người trong xãhội Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng Mục đích là tạo ra

sự “an ninh” cho mọi thành viên trong xã hội và vì vậy an sinh xã hội mang tính nhânđạo và tính nhân văn sâu sắc

Theo Ngân hàng Thế giới (WB): “an sinh xã hội là những biện pháp công cộngnhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế đượcnguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênhthu nhập” [10, tr.3] Hiệp hội An sinh quốc tế (ISSA) coi “an sinh xã hội là thành tốcủa hệ thống chính sách công liên quan đến sự bảo đảm an toàn cho tất cả các thànhviên xã hội chứ không chỉ có công nhân Những vấn đề mà ISSA quan tâm nhiều trong

hệ thống an sinh xã hội là chăm sóc sức khoẻ thông qua bảo hiểm y tế; hệ thống bảohiểm y tế, chăm sóc tuổi già; phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợgiúp xã hội”[10, tr.3]

Trang 16

Ở Việt Nam, mặc dù an sinh xã hội là một lĩnh vực còn nhiều mới mẻ nhưngcũng đã dành được sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà quản lý nghiên cứu vềvấn đề này.

Thuật ngữ “an sinh xã hội” xuất hiện ở Việt Nam vào những năm 70 trong mộtcuốn sách nghiên cứu về pháp luật của một số học giả Sài Gòn Sau năm 1975, thuậtngữ này được dùng nhiều và đặc biệt là từ năm 1995 trở lại đây nó được dùng khárộng rãi hơn Tuy nhiên, hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về an sinh xã hội Cóquan niệm thì coi an sinh xã hội như là “bảo đảm xã hội”, “bảo trợ xã hội”, “an toàn xãhội” hoặc là “bảo hiểm xã hội” nhưng có quan niệm khá c cho rằng: “An sinh xã hội”

là bao trùm các vấn đề trên Chúng ta có thể xem xét một số cách hiểu như sau:

Theo PGS TS Đỗ Minh Cương thì an sinh xã hội (bảo đảm xã hội): “ … là sựbảo vệ của xã hội với những thành viên của mình, trước hết là trong n hững trường hợptúng thiếu về kinh tế và xã hội, bị mất hoặc giảm sút thu nhập đáng kể do gặp nhữngrủi ro như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tàn tật, mất việc làm, mấtngười nuôi dưỡng, nghỉ do thai sản, về già, trong các trường hợp thiệt hại do thiên tai,địch họa, hỏa hoạn Đồng thời xã hội cũng ưu đãi những thành viên của mình đã xảthân vì nước, vì dân, có những cống hiến đặc biệt cho cách mạng, xây dựng và bảo vệ

tổ quốc Mặt khác cũng cứu vớt những thành viên lầm lỗi mắc vào tệ nạn xã hộ i nhằmphối hợp chặt chẽ với các chính sách xã hội khác đạt tới mục đích dân giàu nướcmạnh, xã hội văn minh” [41, tr.5] Còn PGS Tương Lai cho rằng: “Bảo đảm xã hội (ansinh xã hội) là một lĩnh vực rộng lớn, không chỉ bao hàm sự bảo vệ của xã hội đối vớimọi người khi gặp phải thiếu thốn về kinh tế, mà còn bảo đảm về môi trường thuận lợi

để giúp mọi người phát triển về giáo dục, văn hóa nhằm nâng cao trình độ dân trí, họcvấn…” [10, tr.5]

- GS TS Mai Ngọc Cường lại cho rằng, để thấy hết được bản chất , chúng ta phảitiếp cận an sinh xã hội theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp của khái niệm này:

+ Theo nghĩa rộng: an sinh xã hôi là sự đảm bảo thực hiện các quyền để conngười được an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội

+ Theo nghĩa hẹp: “an sinh xã hôi là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiệnthiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập

do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cô

Trang 17

đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tậ t, những người yếu thế, người bị thiên tai địch họa”[10, tr.3].

- "Chiến lược an sinh xã hội giai đoạn 2011 – 2020" của Đảng ta đã ghi nhận:

"An sinh xã hội là sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hộithông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trướccác nguy cơ, rủi ro có thể dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế" [10, tr.3]

- Trong bài “Đảm bảo ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội là mộtnội dung chủ yếu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020” Thủ tướngNguyễn Tấn Dũng cho rằng “An sinh xã hội và phúc lợi xã hội là hệ thống các chínhsách và giải pháp nhằm vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi

ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa góp phần không ngừngnâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân”

Có thể thấy rằng, an sinh xã hội là một lĩnh vực rộng lớn, phức tạp khó có thểđưa ra một định nghĩa đáp ứng được tất cả các nội dung trong điều kiện kinh tế, xã hội,chính trị, truyền thống dân tộc, tôn giáo ở mỗi nước khác nhau hoặc trong các giaiđoạn lịch sử ở từng nước Dựa trên cơ sở những quan niệm của các nghiên cứu trên,chúng ta có thể hiểu an sinh xã hội là sự bảo vệ, trợ giúp của Nh à nước và cộng đồngđối với những người “yếu thế” trong xã hội bằng các biện pháp khác nhau nhằm hỗ trợcho các đối tượng khi họ bị suy giảm khả năng lao động, giảm sút thu nhập hoặc là bịrủi ro, bất hạnh, hoặc là trong tình trạng nghèo đói, hoặc là ốm đa u, thai sản, tai nạnlao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, mất sức lao động, già yếu… động viên,khuyến khích tự lực vươn lên giải quyết vấn đề của chính họ

Chính sách an sinh xã hội là hệ thống các chính sách can thiệp của Nhà nước (bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội…) và sự hỗ trợ của tổ chức hay tư nhân ( các chế độkhông theo luật định) nhằm giảm mức độ nghèo đói và tổn thương, nâng cao năng lực

tự bảo vệ của người dân và cộng đồng trước những rủi ro hay nguy cơ giảm hoặc mấtthu nhập, bảo đảm ổn định, phát triển và công bằng xã hội

Bản chất của an sinh xã hội là tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp chotất cả các thành viên trong trường hợp bị giảm, bị mất thu nhập hay khi gặp những rủi

ro xã hội khác Chính sách an sinh xã hội l à một chính sách xã hội cơ bản của Nhànước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an

Trang 18

toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội do đó nó vừa có tính kinh

tế, vừa có tính xã hội và nhân đạo sâu sắc

Như vậy, an sinh xã hội là một dạng hoạt động từ thiện, nhân đạo, đảm bảoquyền con người, thực hiện lời nói bất hủ đã ghi trong bản “Tuyên ngôn độc lập” năm

1776 của nước Mỹ và bản “Tuyên ngôn độc lập” năm 1945 của Việt Nam: “Tất cả mọingười đều sinh ra có quyền bình đẳng.Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thểxâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyềnmưu cầu hạnh phúc” Đối với chúng ta, thực hiện tốt “an sinh xã hội” là thể hiện tính

ưu việt và bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa

1.1.1.2 Các bộ phận hợp thành chính sách an sinh xã hội

Hệ thống an sinh xã hội là một trong những cấu phần quan trọng trong cácchương trình xã hội của một quốc gia và là công cụ quản lý của nhà nước thông qua hệthống luật pháp, chính sách và các chương trình an sinh xã hội Mục đích của nó là giữgìn sự ổn định về xã hội - kinh tế- chính trị của đất nước, đặc biệt là ổn định xã hội,giảm bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội; tạo nên sự đồng thuậngiữa các giai tầng, các nhóm xã hội trong quá trình phát triển

Theo quan điểm phổ biến của các tổ chức quốc tế, thì một hệ thống an sinh xã hộiphải có tối thiểu 3 hợp phần là: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trợ giúp xã hội Lại

có nơi nêu lên bốn hợp phần là: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp

và trợ giúp xã hội

Dù có các bộ phận hợp thành khác nhau, song hệ thống chính sách an sinh xã hộicũng phải đáp ứng 3 chức năng cơ bản gồm:

Thứ nhất: những chính sách , chương trình phòng ngừa rủi ro.

Đây là tầng trên cùng của hệ thống an sinh xã hội , chức năng của những chínhsách này là hướng tới can thiệp và bao phủ toàn bộ dân cư; giúp cho mọi tầng lớp dân

cư có được việc làm, thu nhập, có được năng lực vật chất cần thiết để đối phó tốt nhấtvới rủi ro Trụ cột cơ bản của tầng này là những chính sách, chương trình về thị trườnglao động tích cực như đào tạo nghề; hỗ trợ người tìm việc, tự tạo việc làm hoặc đào tạonâng cao kỹ năng cho người lao động

Thứ hai: những chính sách, chương trình giảm thiểu rủi ro.

Gồm các chiến lược giảm thiểu thiệt hại do rủi ro của hệ thống an sinh xã hội, cóvai trò đặc biệt quan trọng Nội dung quan trọng nhất trong tầng này là các hình thức

Trang 19

bảo hiểm, dựa trên nguyên tắc đóng – hưởng như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảohiểm thất nghiệp, vv… Nhóm chính sách này rất nhạy cảm, nếu phù hợp sẽ thúc đẩy

sự tham gia tích cực của người dân, tiết kiệm nguồn lực cho Nhà nước, tăng độ baophủ hệ thống Ngược lại, nếu chính sách không phù hợp, người d ân sẽ không tham giahoặc chính sách sẽ bị lạm dụng

Thứ ba: Những chính sách, chương trình khắc phục rủi ro.

Bao gồm các chính sách, chương trình về cứu trợ và trợ giúp xã hội Đây là tầngcuối cùng của hệ thống an sinh xã hội với chức năng bảo đ ảm an toàn cho các thànhviên xã hội khi họ gặp phải rủi ro mà bản thân không tự khắc phục được như: thấtnghiệp, người thiếu việc làm, người có thu nhập thấp người già, người tàn tậ t, trẻ em

mồ côi, người nghèo…

Ở Việt Nam, cấu trúc của hệ thống an sinh xã hội gồm 5 trụ cột: 1) Bảo hiểm xãhội; 2) Bảo hiểm y tế; 3) Bảo hiểm thất nghiệp; 4) Cứu trợ xã hội; 5) Trợ giúp và ưuđãi xã hội Thực chất năm trụ cột này là nhằm thực hiện 3 chức năng chiến lược của hệthống an sinh xã hội là: phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro và khắc phục rủi ro

+ Tầng 1: Bảo đảm mức sống tối thiểu của mọi người dân trong xã hội Đây là

tầng thấp nhất hay là lưới an toàn xã hội cho mọi người; bất cứ ai nằm dưới lưới nàyđều được Nhà nước và cộng đồng trợ giúp để vượt lên tr ên

+ Tầng 2: Chính sách thị trường lao động Tầng này có tính chất phòng ngừa, chủ

yếu là hỗ trợ người lao động bị mất việc làm hoặc thất nghiệp thông qua các chínhsách thị trường lao động chủ động hoặc thụ động để ổn định cuộc sống ở mức tối thiểu

và giúp họ sớm trở lại thị trường lao động

+ Tầng 3: Bảo hiểm xã hội (bắt buộc và tự nguyện), bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất

nghiệp và các hình thức bảo hiểm khác Đây là một trong những tầng trụ cột quantrọng nhất của hệ thống an sinh xã hội nhằm khắc phục những rủi roc ho mọi ngườidân, trước hết là người lao động, trong các trường hợp ốm đau, tai nạn, bệnh nghềnghiệp, mất khả năng lao động khi về già và chết…

+ Tầng 4: Chính sách ưu đãi xã hội Đây là tầng đặc thù chỉ có ở nước ta nhằm

thực hiện mục tiêu cao cả là đền ơn, đáp nghĩa đối với sự hi sinh, công lao đặc biệt vàcống hiến to lớn của những người có công với cách mạng, với đất nước; là trách nhiệmcủa Nhà nước, của xã hội chăm lo, đảm bảo cho người có công có cuộc sống ổn định

và ngày càng được cải thiện

Trang 20

+ Tầng 5: Trợ giúp xã hội (cứu trợ đột xuất và trợ cấp xã hội thường xuyên) Đây

là tầng đảm bảo ít nhất ở mức sống tối thiểu cho các đối tượng thuộc nhóm xã hội yếuthế cần trợ giúp xã hội có cuộc sống ổn định và có điều kiện hòa nhập tốt hơn v àocộng đồng

Việc phân chia các tầng như vậy có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng môhình an sinh xã hội ở nước ta, đồng thời việc xác định nội dung bên trong có ảnhhưởng rất lớn đến việc xác định đối tượng hưởng thụ, cung cấp tài chính và tính bềnvững của mỗi hệ thống

1.1.2 Vai trò của chính sách an sinh xã hội đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta

Trong thời gian gần đây, hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam ngày càng thểhiện vai trò to lớn của nó đối với sự phát triển và ổn định kinh tế- xã hội, đó là:

Thứ nhất, an sinh xã hội góp phần ổn định đời sống của người lao động Hệ

thống an sinh xã hội sẽ góp phần thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi ngườilao động bị ốm đau, mất khả năng lao động, mất việc làm, hoặc chết Nhờ có sự thaythế hoặc bù đắp thu nhập kịp thời mà người lao động khắc phục nhanh chóng đượcnhững tổn thất về vật chất, nhanh phục hồi sức khỏe, ổn định cuộc sống để tiếp tục quátrình hoạt động bình thường

Thứ hai, an sinh xã hội góp phần đảm bảo an toàn, ổn định cho toàn bộ nền kinh

tế - xã hội Để phòng ngừa, hạn chế tổn thất, các đơn vị kinh tế phải đề ra các quy địnhchặt chẽ về an toàn lao động buộc mọi người phải tuân thủ Khi có rủi ro xảy ra vớingười lao động, hệ thống an sinh xã hội kịp thời hỗ trợ, tạo điều kiện cho người laođộng nhanh ổn định cuộc sống và sản xuất Tất cả những yếu tố đó góp phần quantrọng làm ổn định nền kinh tế - xã hội

Thứ ba, hệ thống an sinh xã hội, trong đó có bảo hiểm xã hội làm tăng thêm mối

quan hệ gắn bó giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước Người laođộng, người sử dụng lao động, Nhà nước đều tham gia đóng góp vào quỹ bảo hiểm xãhội, điều đó làm cho người lao động có trách nhiệm hơn trong công việc, trong laođộng sản xuất Người sử dụng lao động tham gia đóng góp quỹ bảo hiểm xã hội chongười lao động được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội cũng thấy rõ trách nhiệm củamình đối với người lao động Nhà nước vừa tham gia đóng góp, vừa điều hành hoạtđộng của quỹ bảo hiểm xã hội, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng cho mọi đối tượng

Trang 21

thụ hưởng… Điều đó làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa Nhà nước – người sửdụng lao động – người lao động, góp phần ổn định nền kinh tế - xã hội.

Thứ tư, hệ thống an sinh xã hội góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công

bằng xã hội Quỹ an sinh xã hội, trong đó có quỹ bảo hiểm xã hội là nguồn tài chínhtập trung khá lớn, được sử dụng để chi trả các chế độ cho người lao động và gia đình

họ, phần nhàn rỗi được đầu tư vào các hoạt động sản xuất, kin h doanh để bảo tồn vàtăng trưởng quỹ Như vậy xét trên cả phương diện chi trả các chế độ, cũng như đầu tưtăng trưởng quỹ, hoạt động của quỹ an sinh xã hội đều góp phần thúc đẩy sự tăngtrưởng kinh tế

Bên cạnh đó, phân phối trong an sinh xã hội là s ự phân phối lại theo hướng cólợi cho những người có thu nhập thấp; là sự chuyển dịch thu nhập của những ngườikhỏe mạnh, may mắn có việc làm ổn định cho những người ốm, yếu, gặp phải nhữngbiến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống Vì vậy, an sinh xã hội gópphần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, góp phần bảo đảm sựcông bằng xã hội

An sinh xã hội là một trong những chính sách xã hội cơ bản thể hiện đường lốichủ trương của Đảng và Nhà nước ta hướng vào mục tiêu phát triển con người, thúcđẩy công bằng và tiến bộ, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, phù hợp vớiđiều kiện kinh tế – xã hội của đất nước Để chính sách này đảm bảo tốt hơn đời sốngcho người dân, góp phần tích cực vào việc ổn định, an toàn xã hội, đẩy mạnh sựnghiệp phát triển kinh tế của đất nước thì việc xây dựng và hoàn thiện Pháp luật về ansinh xã hội ở Việt Nam là hết sức cần thiết Pháp luật an sinh xã hội phải trên cơ sở kếthừa và phát huy những thành tựu lập pháp đã đạt được cũng như điều chỉnh các quan

hệ mới theo điều kiện thực tế để Việt Nam có được một hệ thống an sinh xã hội pháttriển, đủ sức chống đỡ với các rủi ro xã hội

1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng về chính sách an sinh xã hội trong thời kỳ đổi mới

1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về an sinh xã hội

Tư tưởng an sinh xã hội thể hiện trong quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin

Chúng ta đều biết, trước khi khẳng định tiến trình phát triển lịch sử của xã hộiloài người là sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội, C.Mác đã nói tới

Trang 22

việc lấy sự phát triển toàn diện của con người làm thước đo chung cho sự phát triển

xã hội Theo C.Mác phát triển sản xuất vì sự phồn vinh của xã hội, vì cuộc sống ngàymột tốt đẹp hơn cho mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội và phát triển con ngườitoàn diện là một quá trình thống nhất để “làm tăng thêm nền sản xuất xã hội”, để

“sản xuất ra những con người phát triển toàn diện” Và hơn nữa, C.Mác coi sự kếthợp chặt chẽ giữa phát triển sản xuất và phát triển con người là “một trongnhững biện pháp mạnh nhất để cải biến xã hội”, để xây dựng xã hội cộng sản mà giaiđoạn đầu của nó là xã hội xã hội chủ nghĩa [11, tr.534]

Theo chủ nghĩa Mác – Lênin con người là khái niệm chỉ những cá thể ngườinhư một chỉnh thể trong sự thống nhất giữa hai mặt sinh học và mặt xã hội của nó.Con người một thực thể sinh học – xã hội Do vậy nhiều quy luật sinh học cùng tồntại và tác động đến con người Để tồn tại với tư cách là một con người trước hết conngười phải ăn, phải uống… nhưng chỉ dừng lại ở một số thuộc tính sinh học của conngười thì không thể giải thích được bản chất của con người Luận điểm của Mác coi

“bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hê xã hội”

Trong cuốn “Tư bản”, chính C.Má c đã khẳng định: “… để sản xuất ra nhữngcon người toàn diện, chúng ta cần phải tạo ra được một nền kinh tế phát triển, mộtnền văn hóa mới, một nền khoa học – kỹ thuật hiện đại, một nền giáo dục tiên tiến”.Việc tạo ra những thành tựu kinh tế - xã hội đó, như C.Mác nhấn mạnh “không phảichỉ là một phương pháp để tăng nền sản xuất, mà còn là một phương pháp duy nhất

để sản xuất ra những con người phát triển toàn diện” – những chủ nhân thực sự củamột chế độ xã hội vì con người [1 1, tr.688]

Trong quan niệm của C.Mác, con người không chỉ là lực lượng “làm chủ tựnhiên một cách thực sự và có ý thức”, là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, làyếu tố hàng đầu đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất của xã hội, mà hơnnữa, con người còn là lực lượng “làm chủ đời sống xã hội của mình”, đóng vai trò làchủ thể hoạt động của quá trình lịch sử, là lực lượng sáng tạo lịch sử Từ quan niệm

đó, C.Mác khẳng định: sự phát triển lực lượng sản xuất, trước hết có nghĩa là “pháttriển sự phong phú của bản chất con người, coi như là một mục đích tự thân” Bởivậy, theo C.Mác, ý nghĩa lịch sử, mục đích cao cả của sự phát triển xã hội là sự pháttriển con người toàn diện, nâng cao năng lực và phẩm giá con người, giải phóng conngười, loại trừ ra khỏi cuộc sống con người mọi sự “tha hóa” để con người được sống

Trang 23

với cuộc sống đích thực của con người Và bước quan trọng nhất trên con đường đó,theo ông là giải phóng con người về mặt xã hội [1 2, tr.168].

Tư tưởng Hồ Chí Minh về an sinh xã hội

Suốt cuộc đời, Hồ Chí Minh luôn sống vì nhân dân, đất nước Mục tiêu Ngườiluôn theo đuổi là đất nước được an bình độc lập, là cuộc sống đầy đủ ấm no hạnhphúc cho nhân dân Với Hồ Chí Minh mục tiêu cuối cùng của một cuộc cách mạng là

tự do, hạnh phúc của nhân dân, Người nó i: “Ngày nay chúng ta đã xây dựng nênnước Việt Nam dân chủ cộng hòa Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởnghạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì” và “Không có gì quý hơn độclập, tự do”

Trong quá trình tiếp thu, vận dụng chủ nghĩa Mác và tinh hoa văn hóa nhân loạivào trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định hạnh phúc củanhân dân là mục tiêu cuối cùng, cao nhất của cách mạng “Bao nhiêu lợi ích đều vìdân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệmcủa dân Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân Chính quyền từ xãđến chính phủ trung ương do dân cử ra Đoàn thể từ trung ươn g đến xã do dân tổchức nên” [ 28, tr.689], do vậy, “chính sách của Đảng và Chính phủ là phả i hết sứcchăm nom đến đời sống của nhân dân Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếudân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân

ốm, Đảng và Chính phủ có lỗi” [ 29, tr.572]

Từ góc độ này, có thể nói, Hồ Ch í Minh đã lấy chủ nghĩa dân sinh để giải thíchchủ nghĩa xã hội Với Người, “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinhthần ngày càng tốt, đ ó là chủ nghĩa xã hội” [ 30, tr.591] Với Người, chủ nghĩa xã hội

là "mọi người được ăn no , mặc ấm, sung sướng, tự do” [30, tr.395], ai cũng được

“hạnh phúc và học hành tiến bộ”, “chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nướcmạnh” [30, tr.226] Và, khi khẳng định ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng ta không cólợi ích nào khác; Đảng và Chính phủ là “công bộc” c ủa nhân dân, Người đã nhấnmạnh: Đảng và Chính phủ phải luôn có trách nhiệm với nhân dân Với Người và cácnhà hoạt động cách mạng Việt Nam tiền bối, ba hệ giá trị cao quý nhất, gắn bó mậtthiết với nhau và nó đã thực sự trở thành tiêu ngữ của nước Việt Na m là: “Độc lập –

Tự do– Hạnh phúc” Người đã nói rõ triết lý nhân sinh của mình là: “Tôi chỉ có một

sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được độc lập, dân ta được

Trang 24

hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”[27, tr.161].

Vì vậy, vấn đề được xem là trung tâm, xuyên suốt trong tư tưởng của chủ tịch HồChí Minh là về con người Ngay khi nước ta vừa giành được độc lập sau bao năm nô lệ,Người đã khẳng định trong “Tuyên ngôn độc lập”: “Tất cả mọi ngườ i sinh ra đều cóquyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trongnhững quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”

Niềm tin đó càng được khẳng định khi Người bắt gặp chủ nghĩa Mác –Lênin vì đó chính là “con đường để giải phóng của chúng ta” Người luôn tìm hiểu,thâm nhập vào thế giới của những con người “dưới đáy” xã hội, tìm hiểu họ, hướng

họ đến với ngày mai và cũng ở nơi đó, Người càng hiểu sâu sắc bản chất thật sựcủa khẩu hiệu mị dân mà bọn thực dân đang hô hào trên các nước thuộc địa: “Tự

do, bình đẳng, bác ái”! Càng tin vào con người, tin vào quần chúng bao nhiêu thì tìnhthương yêu của Người đối với họ càng lớn bấy nhiêu Càng yêu dân, Người càngchăm lo đến việc nâng cao dân trí, chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ, phát triển giáodục vì Người từng khẳng định rằng “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, Người ướcmong dân tộc ta phải “sánh vai với các cường quốc năm châu”, đất nước đẹp giàu,nhân dân no ấm

Không những thế, Hồ Chí Minh còn rất quan tâm đến mối quan hệ giữa cácdân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Vì giữa những dân tộc cótrình độ phát triển cao so với các dân tộc có trình độ thấp hơn rất dễ nảy sinh tưtưởng kỳ thị dân tộc, và thường có hai thái cực: một là người dân tộc lớn dễ mắc bệnhkiêu ngạo, và hai là cán bộ địa phương, nhân dân địa phương lại dễ cho mình là dântộc nhỏ bé, tự ti, cái gì cũng cho là mình không làm được, rồi không cố gắng Ngườicho rằng cần phải khắc phục những tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi và tự tidân tộc Trong nhiều bài nói, bài viết chủ tịch Hồ Chí Minh thường dùng những từrất thân mật, ruột thịt để nói về tình đoàn kết giữa các dân tộc trong cộng đồng cácdân tộc Việt Nam, như “anh em một nhà”, “giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”… Chú ýtrình độ học vấn của dân tộc, chú trọng bổ túc văn hóa, khuyến khích anh chị emgiáo viên miền xuôi xung phong lên miền núi làm công tác giáo dục, phát triển loạitrường thanh niên dân tộc vừa học vừa làm, xóa bỏ mê tín hủ tục, phải đẩy mạnh việc

vệ sinh phòng bệnh để giữ gìn sức khỏe của đồng bào…

Trang 25

Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng chính phủ ngày 3/9/1945, Người đãxem cứu đói là một trong sáu vấn đề cấp bách hàng đầu Người kêu gọi toàn dânđoàn kết phát huy tinh thần nhân ái, truyền thống “lá lành đùm lá rách” để giúp đỡnhân dân vượt qua đói nghèo Theo Người: “Nước nhà đã giành được độc lập tự do

mà dân vẫn còn nghèo cực khổ thì độc lập tự do không có ích gì” Điều mới mẻ trong

tư tưởng của Người về xóa đói giảm nghèo là đi kèm với tăng gia sản xuất phải thựchành tiết kiệm, có vậy mới đảm bảo chắc chắn lâu dài công cuộc xóa đói Về lâu dàiphải hướng dẫn họ cách thức làm ăn, trợ giúp về vốn, kỹ thuật… để họ tự vươn lênphát triển sản xuất mới có thể xóa đói giảm nghèo một cách hiệu quả

Quan niệm của Hồ Chí Minh về xóa đói giảm nghèo chính là: “Làm cho ngườinghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người giàu thì giàu thêm Qua đó chúng tathấy rằng ý nghĩa sâu xa trong tư tưởng xóa đói giảm nghèo về vật chất phải chú ý

cả xóa đói giảm nghèo về tinh thần, không nên phiến diện một chiều chỉ tập trung vềkinh tế, mà bỏ quên văn hóa tinh thần, lúc ấy sẽ xuất hiện nguy cơ, lực cản nguyhiểm ảnh hưởng đến sự phát triển” [31, tr.5]

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, v iệc thực hiện các chính sách xã hội luônđược Đảng ta quan tâm, có những định hướng lớn trên các lĩnh vực văn hóa, xã hội

cụ thể, nhằm chăm lo, cải thiện, bảo vệ sức khỏe, cuộc sống của nhân dân Ngay từĐại hội lần thứ III, Đảng ta đã xác định “…Cải thiện đời sống vật chất và văn hoá củanhân dân thêm một bước, làm cho nhân dân ta được ăn no mặc ấm, tăng thêm sứckhoẻ, có thêm nhà ở và được học tập, mở mang sự nghiệp phúc lợi công cộng, xâydựng đời sống mới ở nông thôn và thành thị…” “Xóa được đói, giảm được nghè o, ổnđịnh và cải thiện đời sống, sức khỏe đồng bào các dân tộc, đồng bào vùng cao, vùngbiên giới, xóa được mù chữ nâng cao dân trí” [18, tr.121-126] Những năm sau đó,mặc dù trong điều kiện còn hết sức khó khăn, thiếu thốn, nhưng Đảng và Nhà nướcvẫn luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi

xã hội Nhận thức, quan điểm và cơ chế chính sách phát triển hệ thống an sinh xã hội

và phúc lợi xã hội được hoàn thiện dần qua các kỳ đại hội của Đảng

1.2.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng về chính sách an sinh xã hội từ 1986 đến nay

Nhìn lại thời kỳ trước đổi mới, do nhiều nguyên nhân mà chủ yếu là do thực hiệnnhững chủ trương, chính sách mang nặng tính chủ quan, duy ý chí trong cải tạo xã hội chủ

Trang 26

nghĩa và xây dựng c hủ nghĩa xã hội theo một mô hình cũ đã lỗi thời, cho nên nước ta đãlâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng Trong điều kiện như thế, việc bảo đảm

an sinh xã hội chỉ có thể bó hẹp trong một số chế độ trợ cấp ở mức thấp cho những người

có công với cách mạng, cho thương bệnh binh và gia đình liệt sĩ

Nhưng từ năm 1986 đến nay, chính sách an sinh xã hội đã trở thành một chủtrương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, giữ vai trò vô cùng quan trọng trongđời sống xã hội đã được nhấn mạnh trong các kỳ đại hội Đảng

Tiếp thu tư tưởng Hồ Chí Minh, các Văn kiện Đại hội Đảng đều tập trung nhấnmạnh đến vai trò cũng như phương thức để mang lại sự phồn vinh, ấm no cho ngườidân Đối với nước ta, bảo đảm ngày càng tốt hơn an sinh xã hội luôn là m ột chủtrương, nhiệm vụ lớn của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta

và có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự ổn định chính trị, xã hội và phát triển bền vữngđất nước Trong nhiều thập kỷ qua, trên cơ sở phát triển kinh tế - xã hội, cù ng với việckhông ngừng cải tiến chế độ tiền lương, tiền công và nâng cao thu nhập cho người laođộng Đảng và Nhà nước rất quan tâm chăm lo đến an sinh xã hội cho nhân dân

Với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật”, Đại hội VI của Đảng (12 -1986) đãnghiêm khắc tự phê bình về những khuyết điểm, sai lầm, đồng thời đề ra đường lối đổimới toàn diện đất nước Trong đó có những chủ trương, quan điểm mang tính đột phánhằm đẩy nhanh phát triển kinh tế và phát triển xã hội, nhờ vậy mà từng b ước thựchiện tốt hơn an sinh xã hội cho nhiều đối tượng cần thiết Riêng về vấn đề bảo đảm ansinh xã hội (mà lúc đó gọi là bảo trợ xã hội), Đại hội chỉ rõ: “Từng b ước xây dựngchính sách bảo trợ xã hội… theo ph ương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, mởrộng và phát triển các công trình sự nghiệp bảo trợ xã hội, tạo lập nhiều hệ thống vàhình thức bảo trợ xã hội cho những ng ười có công với cách mạng và những người gặpkhó khăn Nghiên cứu bổ sung chính sách, chế độ bảo trợ xã hội phù hợp với quá trìnhđổi mới cơ chế quản l ý kinh tế, quản lý xã hội

Đại hội VI hết sức coi trọng vấn đề chính sách xã hội, coi chính sách xã hộiquan trọng ngang với chính sách kinh tế, chứ không coi các chính sách xã hội chỉ lànhững chính sách có ý nghĩa phúc lợi, ban ơn Tại Nghị quyết Đại hội lần thứ VI(1986) của Đảng, lần đầu tiên chính sách xã hội được đặt đúng vị trí và tầm quan trọngcủa nó trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước Nghị quyết nêu rõ:

“Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt cuộc sống của con người: điều k iện lao động và

Trang 27

sinh hoạt, giáo dục và văn hóa, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc.Coi nhẹ chính sách xã hội, tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệ p xây dựngchủ nghĩa xã hội” [19, tr.252].

Tại Đại hội VII, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên

chủ nghĩa xã hội (1991), Đảng ta nhấn mạnh: “Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh

phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong

sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phương hư ớng lớn của chính sách xã hội là pháthuy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa

vụ công dân, kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất

và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài;giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội” [17, tr.251] Cùng với thời gian và quathực tiễn đất nước, nhận thức, quan điểm và cơ chế chính sách an sinh xã hội trong hệthống chính sách xã hội của Đảng ta hình t hành và ngày càng được phát triển, hoànthiện

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định:

“Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam lànhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước” [21, tr.107] Tất cả cánhân đều được phát triển toàn diện và hài hòa về đạo đức, trí tuệ, thể lực đó là mụctiêu xây dựng con người trong chủ nghĩa xã hội nhưng mục tiêu cơ bản và quan trọnghơn cả là vấn đề con người phải trở thành nhân tố quyết định lịch sử xã hội và lịch sửcủa chính mình

Những năm sau đó, mặc dù trong điều kiện còn hết sức khó khăn, thiếu thốn,nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn dành sự quan tâm đặc biệt liên quan đến côngtác đảm bảo an sinh xã hội Nhận thức, quan điểm và cơ chế chính sách phát triển hệthống an sinh xã hội đã được hoàn thiện dần qua các kỳ Đại hội của Đảng Đến Đạihội IX của Đảng chủ trương này trở thành một định hướng chiến lược để phát triển bềnvững đất nước: “Tăng trưởng kinh tế đi liền v ới phát triển văn hóa, từng bước cải thiệnđời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo

vệ và cải thiện môi trường…” [22, tr.287] Khẩn trương mở rộng hệ thống bảo hiểm xãhội và an sinh xã hội, s ớm thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp đối với người laođộng Thực hiện các chính sách xã hội bảo đảm an toàn cho cuộc sống của các thànhviên cộng đồng, bao gồm bảo hiểm xã hội đối với người lao động thuộc các thành

Trang 28

phần kinh tế, cứu trợ xã hội đối với người gặp rủi ro, bất hạnh, thực hiện chính sách

ưu đãi xã hội và vận động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa

Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng ta chủ trương: “Kết hợp chặt chẽ và hợp lýcác mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội trong phạm vi c ả nước, ở từng lĩnh vực, địaphương Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chínhsách phát triển; Thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắnquyền lợi với nghĩa vụ, cống hiến với hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ cho sự pháttriển kinh tế xã hội.” [23, tr.32]

Cái mới ở đây là Đảng ta đã đặt vấn đề giải quyết tốt mối quan hệ giữa mục tiêukinh tế và mục tiêu xã hội một cách toàn diện Đây là cơ sở để nâng cao tầm nhìnchung, có hệ thống nhằm giải quyết mối quan hệ kinh tế và xã hội ở cả phương diện vĩ

mô, cả phương diện vi mô, cụ thể, gắn với từng ngành, từng địa phương Mặt khác,thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phải được tiến hành ngay trong từng bước đi,từng chính sách phát triển, tạo sự phát triển đồng thời cả kinh tế và tiến bộ xã hội.Thực hiện các chính sách xã hội phải dựa trên cơ sở của sự phát triển kinh tế, tránhnôn nóng, chủ quan, duy ý chí, tránh tư tưởng tách bạch giữa hai lĩnh vực này Vấn đềquan trọng là phải gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, quan tâm đếnlợi ích chính đáng của con người Quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội là tạo độnglực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Trên cơ sở quan điểm đó, văn kiện Đại hội chỉrõ: “Chúng ta khuyến khích mọi người dân làm giàu theo pháp luật, đồng thời thựchiện có hiệu quả chính sách xoá đói giảm nghèo, thực hiện tốt hơn công bằng xã hội”[23, tr.33]

Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Đảng ta chủ trương tạo cơ hội và điều kiện bìnhđẳng cho mọi người dân làm giàu theo pháp luật, khắc phục tình trạng tâm lí đố kị,nghi kị nhau dù làm giàu bằng sức lao động của mình Phải thật sự khuyến khích, biểudương và tôn vinh những người làm giàu chính đáng bằng tài năng trí tuệ, sức laođộng của mình Đồng thời tập trung giải quyết có hiệu quả chính sách xoá đói giảmnghèo, thực hiện ngày càng tốt hơn công bằng xã hội Công bằng xã hội không cónghĩa là bình quân chủ nghĩa mà phải trên cơ sở tôn trọng và khuyến khích tài năngphát triển, chấp nhận có phân tầng xã hội nhưng hợp lý, có sự giúp dỡ tương trợ lẫnnhau cùng tiến bộ

Trang 29

Đại hội khẳng định: “Xây dựng hệ thống chính sách bảo đảm cung ứng dịch vụcông cộng thiết yếu, tạo điều kiện cho mọi người dân, kể cả người nghèo được đápứng nhu cầu về giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khoẻ, văn hoá - thông tin, thể dụcthể thao, tạo việc làm… Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng; phát triển mạnh

mẽ hệ thống bảo hiểm y tế, tiến tới y tế toàn dân Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tếtheo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển, tạo cơ hội cho mọi người dân được bảo

vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ Một tư tưởng mới được nhấn mạnh là, xây dựngchiến lược quốc gia về nâng cao sức khoẻ, tầm vóc c on người Việt Nam, tăng tuổi thọ

và cải thiện giống nòi Thực hiện tốt chính sách dân số, các chí nh sách ưu đãi xãhội…” [23, tr.101-104]

Quan điểm trên cho thấy sự đổi mới trong chính sách của Đảng đối với lĩnh vực

xã hội, là thể hiện quan tâm cụ thể vào từng chính sách cụ thể Đặc biệt là đối với cácchính sách có yêu cầu cho sự phát triển của đất nước và của con người Những vấn đềnhư chất lượng con người, sức khoẻ, thể chất, tuổi thọ, tầm vóc con người… được đềcập trong Đại hội X là một quan điểm có tính đột phá về chính sách xã hội

Đến Đại hội Đảng lần thứ XI, thuật ngữ an sinh xã hội được nhắc đến nhiều lầntrong văn kiện, được xác định là một hệ thống chính sách xã hội trọng yếu, là một nộidung chủ yếu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Điểm mới đánglưu ý trong kỳ Đại hội này là, an sinh xã hội được khẳng định, là sự cam kết, tráchnhiệm của Đảng và Nhà nước thực hiện những cơ chế, chính sách, biện pháp trợ giúp,bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nh ất là các đối tượng yếu thế, dễ bị tổnthương: “ Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh

tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua

hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội Bảo đ ảm an sinh xã hội; tiếp tục sửa đổi,hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp xãhội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất

là những đối tượn g yếu thế, dễ bị tổn thương” [24, tr.35- 43]

Quan điểm, đường lối của Đảng về chính sách xã hội, đặc biệt là an sinh xã hộiđược nâng lên tầm cao mới, thể hiện toàn diện hơn tron g Chiến lược phát triển kinh tế-

xã hội 2011 – 2020 Đảng ta nêu định hướng mới về an sinh xã hội t rong phát triểntoàn diện hài hòa các lĩnh vực văn hóa, xã hội với phát triển kinh tế, góp phần hoànthiện hệ thống chính sách xã hội, kết hợp chặt chẽ các mục tiêu, chính sách kinh tế với

Trang 30

các mục tiêu, chính sách xã hội; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước

và từng chính sách phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể, bảo đảm phát triển nhanh,bền vững “Phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả.Phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảohiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi

để người lao động tiếp cận và tham gia các loại hình bảo hiểm Thực hiện tốt các chínhsách ưu đãi và không ngừng nâng cao mức sống đối với người có công Mở rộng cáchình thức cứu trợ xã hội, nhất là đối với các đối tượng khó khăn” [24, tr 125]

Bảo đảm an sinh xã hội là một nội dung mới, được bổ sung, phát triển trongđịnh hướng thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội đã từng được nêu trong các kỳ đạihội trước Bảo đảm an sinh xã hội xác định ngay trong tiêu đề phần VII của Báo cáoChính trị về: “Thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xãhội trong từng bước và từng chính sách phát triển” Điều đáng lưu ý là tại Đại hội XI

hệ thống chính sách an sinh xã hội đã chỉ rõ những quan điểm, định hướng lớn vớinhiều nội dung mới, thuận lợi cho việc cụ thể hóa, tổ chức thực hiện trong thời giantới Đó là: “Tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảohiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ,giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, vượtqua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống Tăng tỷ lệ người lao động tham gia cáchình thức bảo hiểm Đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ bảo hiểm xã hội, chuyển các loạihình trợ giúp, cứu trợ sang cung cấp dịch vụ bảo trợ xã hội dựa vào cộng đồng Bảođảm cho các đối tượng bảo trợ xã hội có cuộc sống ổn định, hòa nhập tốt hơn vào cộngđồng, có cơ hội tiếp cận nguồn lực kinh tế, dịch vụ công thiết yếu Thanh tra, kiểmtra, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội, bảo đảm thực hiện đúng, đầy

đủ chế độ quy định đối với mọi đối tượng” [24, tr.228-229]

Bước tiến quan trọng trong đườ ng lối phát triển, hoàn thiện an sinh xã hội tronggiai đoạn cách mạng mới của Đảng là: tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và côngbằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo; cải thiện điều kiện chăm sócsức khỏe nhân dân

Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, sự điều hành, chỉ đạo quyếtliệt của Chính phủ và sự chung tay, góp sức của toàn xã hội, chắc chắn khó khăn,thách thức sẽ được ngăn chặn, đẩy lùi, và quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội

Trang 31

sẽ có bước phát triển mới, vững chắc, góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xâydựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu,nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Từ những điều trình bày trên đây, có thể khẳng định Đảng ta đ ã có một cái nhìnrất khoáng đạt và rất biện chứng về vấn đề an sinh xã hội Điều đó đ ược thể hiện ởnhững nội dung chủ yếu sau:

- Xem các chủ trương bảo đảm an sinh xã hội là bộ phận không thể tách rời củatoàn bộ hệ thống chủ trương, quan điểm phát triển kinh tế - xã hội trong tiến trình đổimới đất nước

- Coi việc thực hiện tốt chủ trương kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tếvới tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng b ước và từng chính sách phát triển(như phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đi đôi với mở rộngviệc làm, xóa đói giảm nghèo, mở mang giáo dục, y tế, v.v…) là cách tạo ra điều kiệnthuận lợi về nguồn lực vật chất và nguồn lực con ng ười để phòng ngừa rủi ro, giảmthiểu rủi ro và khắc phục rủi ro , bảo đảm an sinh xã hội một cách chủ động và tích cựcnhất

- Ngược lại, phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro, khắc phục rủi ro, bảo đảm ansinh xã hội cho những người gặp khó khăn càng rộng khắp và càng đầy đủ bao nhiêu,thì càng làm cho xã hội phát triển tốt đẹp, kinh tế tăng trưởng nhanh, có hiệu quả vàbền vững bấy nhiêu

Tóm lại, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm phát triển hệ thống an sinh xãhội với những chính sách cụ thể nhằm phòng ngừa và khắc phụ c rủi ro trong kinh tế thịtrường và rủi ro xã hội khác cho mọi người, không ngừng nâng cao chất lượng cuộcsống của nhân dân, tạo cơ hội cho mọi người dân tiếp cận các chính sách an sinh xãhội, nhất là bảo hiểm xã hội (bao gồm bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tựnguyện, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp) giảm nghèo và hòa nhập xã hội nhómyếu thế (trợ giúp xã hội) chính là thực hiện công bằn g xã hội, hướng vào phát triển conngười, tạo động lực phát triển và tăng trưởng bền vững, bảo đảm định hướng xã hộichủ nghĩa Do đó việc đầu tư cho an sinh xã hội là hết sức quan trọng vì chính là đầu

tư cho con người và đầu tư cho phát triển

Trang 32

Chương 2 ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

AN SINH XÃ HỘI TỪ 1997 ĐẾN NAY 2.1 Tổng quan về thành phố Đà Nẵng

2.1.1 Vị trí địa lý và tiềm năng

Thành phố Đà Nẵng thuộc vùng Nam Trung Bộ Việt Nam, nằm trên tọa độ

15o55’ đến 16o40’ Bắc và từ 107o17’ đến 108o20’ Đông; ở vị trí trung độ của cả nước,trên trục giao thông Bắc- Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển, đườ ng hàngkhông; phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam,phía Đông giáp biển Đông Có diện tích tự nhiên là: 1.283,42 km2 (trong đó các quậnnội thành chiếm 241,51 km2, các huyện ngoại thành chiếm 1.041,91km2) Tính đếnnăm 2011 dân số thành phố Đà Nẵng là khoảng 875,680 nghìn người, đây là thành phố

đa dạng về địa hình, có cả đồng bằng, trung du và miền núi; khí hậu nhiệt đới gió mùa ,

có song có núi trong long thành phố, nằm bên bờ biển đẹp dài 92km, vùng lãnh hảithềm lục địa trải ra 125km

Trong phạm vi khu vực quốc tế, thành phố Đà Nẵng là một trong những cửa ngõquan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmađến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua hành lang kinh tế Đông Tây với điểm kế tthúc là Cảng biển Tiên Sa Có tiềm năng du lịch gắn kết với các di sản văn hóa, thiênnhiên thế giới ở các tỉnh lân cận; có sân bay quốc tế; có tài nguyên thiên nhiên và nhânvăn; có nền kinh tế công nghiệp mạnh, dịch vụ, du lịch, văn hóa, giáo dục đào t ạo, y tếphát triển, đời sống dân cư khá, an ninh chính trị ổn định Vị thế đặc biệt đó đã tạo cho

Đà Nẵng có vị trí quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, củavùng kinh tế trọng điểm miền Trung và Tây Nguyên; nối liền thành phố với nhiềuquốc gia, tỉnh, thành trong khu vực; hình thành sự liê n kết trong kinh tế, văn hóa, đốingoại; đóng vị trí chiến lược quan trọng về an ninh, quốc phòng của cả nước

Từ khi trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương (ngày 1/1/1997), đượccông nhận đô thị loại I cấp quốc gia, được Bộ Chính trị ra nghị quyết số 33 – NQ/TW

về xây dựng và phát triển trong 15 năm qua t hành phố Đà Nẵng trong thời kỳ CNH,HĐH đất nước, thành phố Đà Nẵng đã biết khai thác tiềm năng và lợi thế, phát huy nộilực, tranh thủ ngoại lực để phát triển thành phố Đà Nẵng đạt được nhiều thành tựuquan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh, quốc phòng

Trang 33

Thành phố Đà Nẵng được biết đến với những danh hiệu là : “ thành phố môitrường”, “thành phố đáng sống nhất Việt Nam” Để có được những danh hiệu này,thành phố đã thực hiện rất nhiều những chính sách táo bạo và quy mô, luôn dẫn đầutrong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược về kinh tế - xã hội – xã hội Đặc biệt là vềviệc các chính sách an sinh xã hội ở thành phố rất được đề cao và quan tâm sâu sắc.Một trong những chính sách an sinh xã hội được Đảng bộ thành phố quan tâm hỗ trợthực hiện như: đào tạo nghề, giải quyết việc làm; giải quyết tệ nạn xã hội; bảo trợ xãhội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội…Từ việc thực hiện tốt các mục tiêu chính sách ansinh xã hội ở thành phố, đã tạo ra nền tảng, động lực lớn cho sự phát triển kinh tế,chính trị của toàn thành phố.

Với nhiều lợi thế và tiềm năng để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội Conngười Đà Nẵng được biết đến với sự thông minh, cần cù, sáng tạo, thân thiện và đặcbiệt là dám nghĩ dám làm Từ những phẩm chất đó đã tạo nên một hình ảnh con ngườithành phố Đà Nẵng dù nhỏ bé về tầm vóc nhưng luôn có tầm nhìn chiến lược, điều đó

đã được thực tế chứng minh bằng những thành tựu mà thành phố đạt được trong nhữngnăm qua Thành tựu trên những lĩnh vực kinh tế - xã hội đã làm cho thành phố mỗingày thêm mới hơn, đẹp hơn, rộng ra và cao thêm từng ngày Những chiếc cầu mớibắc qua sông Hàn, những con đường mới khang trang, những khu dân cư mới hiện đại,cùng với những ngôi trường nhà máy, siêu thị, khu du lịch, khu công nghiệp mới nốitiếp nhau ra đời thay thế cho những xóm nhà chồ, những khu dân cư ổ chuột, nhữngcon hẻm chật chội và th iếu ánh sáng… Hạ tầng viễn thông, cảng biển, sân bay, điệnlực, cấp thoát nước… đều có bước phát triển rất mạnh mẽ Nông thôn cũng thay đổitừng ngày, hệ thống điện, đường, trường, trạm được xây dựng nhanh chóng và đồng

bộ Hàng loạt các công trình mới ra đời luôn gắn liền với sự đồng thuận của người dânthành phố, hơn 85 ngàn hộ gia đình đã vui lòng giao đất, chuyển đến nơi ở mới vì sự rađời của các công trình, vì sự phát triển đi lên phát triển của thành phố

Sự tăng trưởng kinh tế của thành phố gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội

Sự nghiệp giáo dục – đào tạo, y tế, văn hóa, thông tin, thể dục – thể thao không ngừngphát triển Chương trình thành phố “5 không”, “3 có” cùng với các chính sách xóa đóigiảm nghèo, chăm sóc người có công, giúp đ ỡ các đối tượng xã hội… đã đưa lại nhữnghiệu quả rõ rệt về cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao dân trí, củng cố quốc phòng –

an ninh; giữ ổn định bền vững về chính trị và trật tự xã hội

Trang 34

2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng giai đoạn

1997 – 2015

Ngày 1/1/1997, Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương theo Nghịquyết kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX và bắt đầu thời kỳ phát triển mới Từ đó đếnnay, lãnh đạo và nhân dân Đà Nẵng đã chung sức, chung lòng quán triệt và thực hiệnđường lối đổi mới của Đảng, phát huy truyền thống cách mạng kiên cường, năng động,sáng tạo, tập trung khai thác tiềm năng nội ngoại lực, khơi dậy nguồn lực trong dân,đầu tư xây dựng nhiều công trình trọng điểm nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hộithành phố; đồng thời chủ động tháo gỡ, khắc phục khó khăn, vượt qua thách thức đểxây dựng, phát triển Đà Nẵng thành một thành phố trung tâm trên các lĩnh vực chínhtrị, kinh tế, văn hoá, xã hội toàn khu vực miền Trung và cả nước

Kinh tế tăng trưởng liên tục

Bảng: Tăng trưởng GDP của thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997 – 2010

Đơn vị: Tỷ đồng

bình quân1997- 2010(%/năm)GDP (giá 1994) 2.589,8 3.390,2 6.236,3 10.275,5 11.30Trong đó:

Nguồn: Niên giám thống kê Đà Nẵng năm 1997, 2000, 2005, 2010.

Dựa vào bảng số liệu trên, ta có thể nhận thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế củathành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997 - 2010 tăng trưởng khá cao Trong đó nhóm ngànhcông nghiệp - xây dựng có mức độ tăng trưởng cao nhất 12,89%/năm so với hai nhómngành còn lại là dịch vụ tăng trưởng 11,58%/năm và cuối cùng là nhóm ngành nông -lâm- thủy sản chỉ đạt mức tăng trưởng 1,89%/năm Điều này cho thấy, trong những

Trang 35

năm qua thành phố Đà Nẵng đã đẩy mạnh phát tri ển công nghiệp hóa, hiện đại hóa,phát triển các nhóm ngành dịch vụ mang lại hiệu quả kinh tế cao, và cơ cấu lao độngcũng có sự chuyển dịch phù hợp với quá trình CNH, HĐH.

Tổng sản phẩm xã hội (GDP) của thành phố Đà Nẵng năm 2010 so với 1997tăng xấp xỉ 3,97 lần, trong đó giai đoạn 1997- 2000 tăng 1,3 lần Giai đoạn 2000 –

2005 tăng 1,42 lần; giai đoạn 2005- 2010 tăng 1,64 lần Cũng trong thời gian này, ĐàNẵng được công nhận là đô thị loại I cấp quốc gia (năm 2003 ) và được Bộ Chính trị đã

ra Nghị quyết số 33-NQ/TW (ngày 16/10/2003) về “Xây dựng và phát triển thành phố

Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đây là một sự kiện có

ý nghĩa to lớn, đánh dấu chặng đường phát triển mới của thành phố Đà Nẵng Nghịquyết 33-NQ/TW chỉ rõ định hướng phát triển thành phố Đà Nẵng : “Xây dựng thànhphố Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị lớn của cả nước; là trung tâm kinh tế -

xã hội lớn của miềm Trung với vai trò là trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch

và dịch vụ; là thành phố cảng biển, đầu mối giao thông quan trọng về trung chuyểnvận tải trong nước và quốc tế; trung tâm bưu chính - viễn thông, tài chính - ngân hàng;một trong những trung tâm văn hóa thể thao, giáo dục đào tạo và khoa học công nghệcủa miền Trung; là địa bàn g iữ vị trí chiếm lược quan trọng về quốc phòng, an ninhcủa khu vực miềm Trung và cả nước”

Giai đoạn 2011-2015, trên cơ sở phát huy những thành tựu đã đạt được của giaiđoạn trước, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương và huy động hiệu quả cá cnguồn ngoại lực, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Đà Nẵng tiếp tục xây dựng, pháttriển thành phố, thay đổi tích cực diện mạo đô thị, quan tâm giải quyết các vấn đề ansinh xã hội, môi trường GRDP (giá so sánh 2010) giai đoạn 2011 -2015 ước tăng bìnhquân 9,7%/năm; thu thập bình quân đầu người (giá hiện hành) năm 2015 ước đạt 56,1triệu đồng/người, gấp 1,5 lần so với năm 2011; tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bànước tăng 9,4%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng “Dịch vụ - Công nghiệp -Nông nghiệp” với tỷ trọng dịch vụ, thuế nhập khẩu năm 2015 ước đạt 61,6%, côngnghiệp - xây dựng 36% và nông nghiệp 2,4% và từng bước thực hiện mục tiêu pháttriển bền vững trên cơ sở chú trọng nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ và tỷ trọnghàm lượng kỹ thuật, công nghệ trong các ngành sản xuất

Để đạt được kết quả tốt như trên là do Đảng bộ, chính quyền, nhân dân thành phố

Đà Nẵng đã biết cách khai thác tiềm năng và lợi thế, phát huy nội lực, tranh thủ ngoại

Trang 36

lực để phát triển thành phố đạt được những t hành tựu quan trọng trên tất cả cá c lĩnhvực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng Đặc biệt, thành phố rất chú trọngtrong quy hoạch, xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị, chỉnh trang đô thị văn minh, hiệnđại Các vấn đề về lao động xã hội được giải q uyết hiệu quả, được xem là điển hình

của cả nước, như chương trình thành phố 5 không: không có hộ đói, không có người

mù chữ, không có người lang thang xin ăn, không có người nghiện ma túy trong cộng

đồng và không có người giết người để cướp của; chương tr ình thành phố 3 có: có việc

làm và nhà ở,có nếp sống văn minh, văn minh đô thị” [36, tr.8-9].

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH

“Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng công nghiệp – dịch vụ - nông lâmthủy sản Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã tác động mạnh đến chuyển dịch cơ cấu laođộng trên địa bàn thành phố ” [ 36, tr 9]

Xét cơ cấu kinh tế theo 3 nhóm ngành thì tỷ trọng nông- lâm- thủy sản đã giảmđều đặn từ mức 9,7% năm 1997 xuống còn 3% năm 2010; tỷ trọng công nghiệp vàxây dựng đóng vai trò quan trọng, tăng nhanh trong thời kỳ đầu nhưng đã chậm lại, đạtmức 39,3% năm 2010; tỷ trọng dịch vụ giảm xuống trong thời kỳ đầu nhưng đã tăngtrở lại trong thời gian gần đây, chiếm tỷ trọng cao nhất là 57,5% năm 2010 Các ngànhdịch vụ chất lượng cao phát triển đa dạng hơn, đáp ứng cao nhu cầu của sản xuất vàđời sống Ngành du lịch đang từng bước trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thànhphố, các ngành Bưu chính- Viễn thông, Vận tải- Kho bãi, Thương mại có bước pháttriển khá

Như vậy, cơ cấu thành phần kinh tế của thành phố có sự chuyển biến khá rõ nét,thể hiện sự tham gia ngày càng sâu rộng của khu vực ngoài nhà nước Xét về cơ cấuđóng góp thì cơ cấu ngoài nhà nước đóng góp nhiều nhất (55,62%), sau đến kinh tếnhà nước (44,05%), thấp nhất là kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (5,84%) trong năm

2009 Số liệu về cơ cấu ngành của thành phố Đà Nẵng, giai đoạn 1997 - 2010 như sau:

Đơn vị: %

Trang 37

Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy được: trong những năm từ 1997 – 2010 cơcấu ngành kinh tế ở Đà Nẵng đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ Giảm tỷ lệ ngành nông -lâm- thủy sản từ 9,7% (1997) xuống còn 3% (2010); công nghiệp- Xây dựng tăng từ35,9% (1997) lên đến 39,3% (2010); đặc biệt là ngành dịch vụ có xu hướng chuyểndịch mạnh từ 54,4% (1997) lên 57,7% (2010) Đây là một dấu hiệu tốt đối với sự pháttriển kinh tế của thành phố Đà Nẵng nói riêng và Việt Nam nói chung.

“ Năm 2014, tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn (GRDP, giá so sánh 2010) ướctính đạt 41.714 tỷ đồng, tăng 9,28% so với năm 2013 (GRDP năm 2013 tăng 8,3%),trong đó: dịch vụ tăng 8,4%; công nghiệp- xây dựng tăng 11,1%; nông nghiệp tăng3,1% [6, tr.1] Đây là mức tăng hợp lý trong bối cảnh nền kinh tế đang ngày càng pháttriển Đặc biệt, năm 2015, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng 9,7%/năm, ước đạt45.885 tỷ đồng năm 2015 ( tăng 1,6 lần so với năm 2010); cơ cấu kinh tế chuyển dịchtheo hướng tích cực, đến năm 2015: dịch vụ chiếm 62,6%, công nghiệp- xây dựngchiếm 35,3%, nông nghiệp chiếm 2,1% Nền kinh tế bước đầu phát triển , gắn với bảo

vệ an ninh, chủ quyền biển đảo” [8, tr.1]

Các hoạt động giáo dục- đào tạo, y tế, văn hóa phát triển tiến bộ

“ Các hoạt động giáo dục- đào tạo, y tế, văn hóa đã phát triển tác động mạnh mẽđến các công tác thực hiện các chính sách xã hội Giáo dục đào tạo, y tế phát triển sẽchăm lo cho một nguồn nhân lực có chất lượng; có đời sống văn hóa văn minh, hiệnđại là liệu pháp tốt, góp phần đẩy lùi tệ nạn xã hội và các vấn đề xã hội khác phát sinh”[36, tr.11]

Lĩnh vực giáo dục- đào tạo, y tế, văn hóa- xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt; chủtrương gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội thực hiện có kết quả.Giáo dục và đào tạo được đầu tư phát triển cả về số lượng và chất lượng “Mạng lướitrường, lớp các ngành học, bậc học không ngừng mở rộng; cơ sở vật chất, trang thiết bịbảo đảm 100% phường, xã duy trì chất lượng phổ thông giáo dục tiểu học, trung học

cơ sở và trung học cơ sở đúng độ tuổi; 94,64% phường, xã đạt chuẩn phổ cập giáo dụcbậc trung học Toàn thành phố có 25 (21%) trường mầm non, 66 (64,7%) trường tiểuhọc, 10 (19,2%) trường THCS và 03 (15%) trường THPT đạt chuẩn quốc gia Chấtlượng giáo dục, đào tạo cải thiện đáng kể, thành tích các kỳ thi quốc gia và quốc tếnâng cao qua từng năm Đội ngũ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn ngày càng tăng.Đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo; củng cố các trung

Trang 38

tâm giáo dục thường xuyên; khuyến khích và tạo điều kiện cho các hoạt động khuyếnhọc, khuyến tài, giáo dục hướng nghi ệp, đào tạo nghề phù hợp với yêu cầu chuyểndịch cơ cấu kinh tế của thành phố Tỷ lệ lao động qua đào tạo được nâng cao, đến cuốinăm 2009 ước đạt 50%” [3, tr.32].

Đại học Đà Nẵng với 7 trường thành viên và phân hiệu trực thuộc, không ngừnglớn mạnh, từng bước khẳng định vai trò của một đại học vùng, một trung tâm đào tạo

đa ngành, đa lĩnh vực Đại học Đà Nẵng cùng với Học viện Chính trị - Hành chính khuvực 3 và 5 trường Đại học, 10 t rường Cao đẳng, 48 cơ sở dạy nghề và các Viện nghiêncứu chuyên ng ành, với đội ngũ cán bộ khoa học trình độ cao trên địa bàn, ngày càngkhẳng định vai trò, vị trí Đà Nẵng là trung tâm giáo dục - đào tạo lớn của khu vực miềnTrung- Tây Nguyên và cả nước

Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân được quan tâm, chất lượngkhám chữa bệnh được nâng cao, mạng lưới y tế cơ sở được củng cố , đến cuối năm

2010, 100% phường, xã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế, 100% trạm y tế có

nữ hộ sinh, y tá, điều dưỡng Quyền lợi của người khám và chữa bệnh BHYT đượcđảm bảo, công tác tuyên truyền, thực hiện chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình đạtnhiều kết quả quan trọng

Cơ sở hạ tầng ngày càng phát triển đồng bộ

Công cuộc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị được thực hiệnquyết liệt với quyết tâm cao của Đảng bộ, chính quyền và sự đồng thuận của các tầnglớp nhân dân, tạo nên những đổi thay đáng kể cả về tầm vóc, quy mô và diện mạo củathành phố Nhiều công trình trọng điểm có kỹ thuật hiện đại và tầm cỡ đã được đầu tưxây dựng đưa vào sử dụng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạnmới như: Hầm đường bộ Hải Vân - hầm đường bộ dài nhất Đông Nam Á, Cung thểthao Tuyên Sơn (giai đoạn 1997-2010), đường Nguyễn Văn Linh nối dài, đường nối từcầu Hòa Xuân và Khu đô thị sinh th ái Hòa Quý, Bệnh viện Ung thư (500 giường),Bệnh viện Phụ sản-Nhi (600 giường), nâng cấp Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng quy mô1.100 giường, Nhà ga sân bay quốc tế Đà Nẵng, Trung tâm hành chính thành phố (giaiđoạn 2011-2015) và một số công trình lớn như: Nút g iao thông cầu vượt ngã ba Huế,Công viên văn hóa Ngũ Hành Sơn (giai đoạn 1), Sân vận động Hòa Xuân 20.000 chỗngồi (khu liên hợp thể thao) Nhiều cây cầu hiện đại được xây dựng nối liền hai bờsông Hàn như: Cầu Sông Hàn, Cầu Thuận Phước, Cầu Tiên Sơn, Cầ u Cẩm Lệ (1997-

Trang 39

2010), Cầu Rồng, Cầu Trần Thị Lý, Cầu Nguyễn Tri Phương, Cầu Hòa Xuân, CầuKhuê Đông (2011-2015) Mỗi cây cầu không chỉ mang một nét kiến trúc độc đáo riêng

mà còn là thành công của Đà Nẵng trong việc bắc những chiếc cầu từ chủ trương củathành phố đến với lòng dân

Song song với đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở, Đà Nẵng cũng quan tâm xâydựng và thực hiện các cơ chế, chính sách linh hoạt, tập trung đẩy mạnh cải cách thủtục hành chính, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi để thu hút các nguồn lựccho đầu tư phát triển Công tác cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được thực hiện tốt,

cơ chế một cửa, một cửa liên thông phát huy hiệu quả, 100% cơ quan chuyên môn,quận, huyện, phường, xã thực hiện đồng bộ cơ chế một cửa, góp phần giảm thủ tụchành chính, tiết kiệm thời gian và chi phí cho công dân, tổ chức Từ năm 2005 đếnnăm 2013, thành phố luôn xếp hạng “tốt” hoặc “rất tốt” về chỉ số năng lực cạnh tranhcấp tỉnh PCI và dẫn đầu cả nước trong 03 năm 2008 - 2010 và năm 2013; trong 06năm liên tục (2009-2014) Đà Nẵng cũng là địa phương dẫn đầu cả nước về chỉ số sẵnsàng ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin Đặc biệt năm 2014 được thành phốxác định là “Năm doanh nghiệp Đà Nẵng” và tập trung đẩy mạnh thực hiện 6 giải pháp

cụ thể hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết những khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy hoạt độngsản xuất, kinh doanh Đến cuối năm 2014, trên địa bàn thành phố có 14.270 doanhnghiệp đang hoạt động, tổng vốn đăng ký đạt 69.711 tỷ đồng, tăng 26,8% về số doanhnghiệp, 19,7% về vốn đăng ký so với cuối năm 2010 và 313 dự án đầu tư trực tiếpnước ngoài (FDI), tổng vốn đầu tư 3,379 tỷ USD, tăng 70% về số dự án và 21% vềvốn đầu tư

Chương trình “Thành phố 5 không”, “Thành phố 3 có” là những chủ trương lớnđược thành phố thực hiện, nhằm hướng đến các mục tiêu an sinh bền vững Từ năm

2003, thành phố đã hoàn thành mục tiêu “không có hộ đói”, năm 2009 hoàn thành mụctiêu “không có người mù chữ” và điều chỉnh các mục tiêu này theo hướng “không còn

hộ đặc biệt nghèo” và “không có học sinh bỏ học trong độ tuổi” Ngoài ra, thành phố

đã ban hành chính sách hỗ trợ, giúp đỡ các hộ đặc biệt nghèo vươn lên thoát nghèo;giáo dục, cảm hóa thiếu niên hư, vi phạm pháp luật; giúp đỡ học sinh bỏ học trở lạitrường; lập quỹ cho vay việc làm đối với các đối tượng mãn hạn tù; hỗ trợ chuyển đổingành nghề, giải quyết việc làm cho các đối tượng trong diện thu hồi đất, giải quyếtbạo lực gia đình; chương trình nhà ở xã hội, dự án ký túc xá sinh viên và nhà ở xã hội

Trang 40

cho công nhân và người lao động; tổ chức các hoạt động kết nối giải quyết việc làm;phong trào đền ơn đáp nghĩa, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng, đề án hỗ trợ sửachữa nhà ở cho gia đình người có công với cách mạng, xây nhà tình nghĩa, tặng sổ tiếtkiệm, cùng với các hoạt động xã hội, nhân đạo, từ thiện phát triển rộng khắp.

Thành phố cũng quan tâm thực hiện đến các giải pháp nâng cao chất lượng môitrường sống Từ năm 2008, thành phố triển khai thực hiện đề án “Đà Nẵng - thành phốmôi trường” nhằm hướng đến một thành phố xanh - sạch - đẹp và đáng sống Tậptrung giải quyết các điểm nóng về ô nhiễm môi trường tại các khu dân cư, các nhàmáy, xí nghiệp; thu gom xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường v.v Với nhữngkết quả bước đầu, năm 2011 thành phố đã vinh dự được trao giả i thưởng “Thành phốbền vững về môi trường của các nước ASEAN”, năm 2012 được bình chọn là 1 trong

20 thành phố trên thế giới có hàm lượng carbon thấp nhất

Đạt được các thành tựu trên có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhâ n quantrọng là thành phố đã v ận dụng linh hoạt, sáng tạo các cơ chế, chính sách và tranh thủ

sự quan tâm, hỗ trợ của Trung ương, các bộ, ban, ngành; khai thác có hiệu quả tiềmnăng, lợi thế và các nguồn lực của địa phương, lựa chọn đúng và chỉ đạo thực hiện cókết quả những vấn đề lớn, mang tính đột phá trong công tác tổ chức thực hiện; huyđộng được sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tranh thủ đượcnguồn lực bên ngoài để đầu tư phát triển thành phố

Thu nhập tăng đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện

“Theo đánh giá Cục thống kê thành phố, năm 2002, Đà Nẵng xếp ở vị trí thứ 6

về thu nhập của nhân dân trong cả nước (sau TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bà Rịa - VũngTàu, Bình Dương và Đồng Nai) Mức thu nhập của dân cư Đà Nẵng gấp hai lần thunhập dân cư bình quân khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ Riêng thu nhập bình quâncủa dân cư ngoại thành cao hơn thu nhập bình quân của cả nước và xếp thứ năm cảnước” [35, tr.12] “Đến nay thu nhập bình quân trên đầu người/năm khoảng2.600USD” [43, tr1]

2.1.3 Giới thiệu về Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng

Thành ủy Đà Nẵng hay còn được gọi Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố ĐàNẵng, hay Đảng ủy Thành phố Đà Nẵng Là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng bộThành phố Đà Nẵng giữa hai kỳ đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Đứng đầu Thành

ủy là Bí thư Thành ủy và thường là ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

Ngày đăng: 16/05/2021, 23:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w