Chính vì vậy trong các văn kiện của Đảng cùng chỉ ra như “ ...xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa d ạ n g , V ă n kiện Đại hội Đảng lần thứ X và “từng bước mở rộng và cải thiện hệ thống
Trang 1LỜI CÁM ƠN
Nhóm nghiên cứu đề cấp Đại học Quốc gia, nhóm B, mã số QG.13.16 :
“Công tác x ã h ội với việc đảm bảo an sinh x ã h ội của người dân Đ ồng bằng Sôn g Hồng (Nghiên cứu trường hợp tỉnh H ưng Yên)”, do Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn
Thị Thu Hà, Khoa Xã hội học, trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội làm chủ nhiệm , xin trân trọng cám om Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và N hân văn, các Phòng/Ban, K hoa Xã hội học - ĐHKHXH&NV
- ĐHQG Hà Nội đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Chúng tôi cũng trân trọng cám ơn Trung tâm Phát triển Xã hội và M ôi trường V ùng với vai trò là cơ quan phối hợp nghiên cứu đã hỗ trợ chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ
Đặc biệt, chúng tôi xin chân thành cám ơn các nhà khoa học, các nhà quản
lý, lãnh đạo và người dân Tỉnh Hưng Yên, hai xã H ồng N am và Xã Lý Thường K iệt
đã giúp chúng tôi trong hoạt động khảo sát, cung cấp những thông tin hữu ích phục
vụ nghiên cứu, giúp chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu khoa học
Chúng tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với những đóng góp to lớn của các thành viên nghiên cứu của đề tài: PGS.TS H oàng Thu Hương, ThS Nguyễn Văn Thục, ThS Bùi Thành M inh, ThS Lương Bích Thủy, ThS Nguyễn Hữu Quân
và các cán bộ, giảng viên K hoa Xã hội học, Đ H K H X H & N V trong suốt quá trình nghiên cứu Chúng tôi chân thành cám ơn PGS.TS N guyễn Thị Kim Hoa, Chủ nhiệm K hoa X ã hội học, người đã đề xuất ý tưởng, và ủng hộ nhóm nghiên cứu hoàn thành nhiệm vụ
Cuối cùng, nhóm nghiên cứu cám om tất cả những người thân của các thành viên nhóm nghiên cứu Họ đã động viên và cùng với chúng tôi hoàn thành niệm vụ
T.M NHÓM NGHIÊN cứu CHỦ N HIỆM ĐỀ TÀI
PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 2M Ụ C L Ụ C
Trang
MỞ ĐÀU
Chương 2: Thực trạng vai trò công tác xã hội trong việc đảm bảo an 51
sinh xã hội tại Hưng Yên
2.1 Thực trạng m ạng lưới công tác xã hội tại Hưng Yên) 512.2 Vai trò của công tác xã hội trong hoạt động xây dựng và thực 69hiện các chính sách xã hội đàm bảo an sinh xã hội cho người
dân đồng bàng sông Hồng
Chương 3: Những nhân chính tố tác động tới vai trò công tác xã hội 76
trong việc đảm bảo an sinh xã hội cho người dân đồng
bằng sông Hồng
3.2 Tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa 82
3.5 Tác động của truyền thống văn hóa, đạo đức, quản lý xã hội
Chương 4: Giải pháp nâng cao vai trò CTXH trong việc đảm bảo an sinh 98
xã hội cho người dân đồng bằng sông Hồng
4.2 Các giải pháp riêng đối với từng lĩnh vực cụ thể 99
Trang 3MỞ ĐÀU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công tác xã hội (CTXH) đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội An sinh xã hội là hệ thống các chính sách, còn CTXH là một nghề có vai trò như là phương thức, công cụ để thực thi các chính sách an sinh xã hội một cách chuyên nghiệp Một chủ trương lớn, một hệ thống chính sách đầy đủ, cần phải có những phương pháp đúng đắn thì chính sách đó mới hữu hiệu, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn Nghề CTXH với những nhân viên xã hội chuyên nghiệp là một trong những yếu tố then chốt huy động sự tham gia của người dân, giảm gánh nặng Nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội cũng như mục tiêu của an sinh xã hội
Với ý nghĩa trên Công tác xã hội được xem là một nghề nghiệp có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển xã hội Tại Anh và Mỹ, CTXH theo hướng chuyên nghiệp đã bẳt đầu hàng thế kỷ nay Thụy Điển có nghề CTXH gần 90 năm Trong khu vực, quốc đảo Singapore với chỉ hơn 4 triệu dân cũng đã tiến hành CTXH chuyên nghiệp từ những năm 50 của thế kỷ XX Trước những biến đổi về kinh tế - xã hội, các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây như Liên xô (cũ), Bungari, Trung Quốc và Mông c ổ v.v đã nhanh chóng bắt đầu chuyển đổi các chính sách an sinh xã hội, dịch vụ xã hội vào những năm đầu tiên của thập kỷ 90 Hiệp hội Công tác
xã hội Quốc tế chuyên nghiệp (International Federation o f Social Work - IFSW) được manh nha thành lập tò năm 1926 Hiệp hội các trường đào tạo Công tác xã hội thế giới (International Association o f Social Work Schools - IASSW) là to chức quốc tế được khởi sự từ năm 1928 hiện có với sự tham gia của hàng trăm trường từ nhiều quốc gia Điều này minh chứng cho lịch sử lâu đời của loaị hình nghề nghiệp này Được đào tạo một cách chuyên nghiệp ở các trình độ cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ cán bộ xã hội làm việc ở nhiều lĩnh vực trong xã hội như các cơ quan an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, bệnh viện, trường học, cơ quan pháp luật v.v và góp ohần tạo nên tính bền vững và phòng ngừa khá cao của các chính sách, chương trình hay dịch vụ an sinh xã hội Công
Trang 4tác xã hội chuyên nghiệp còn được thể hiện rõ nét ở hiệu quả huy động nguồn lực, phát huy tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng Như vậy nghiệp vụ CTXH đã góp phần đáng kể cho việc giảm tải ngân sách nhà nước trong giải quyết các vấn đề lao động, việc làm cũng như các vấn đề an sinh xã hội khác Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, người ta không chỉ đề cập tới sự liên kết của các lĩnh vực kinh doanh, thương mại mà của cả lĩnh vực công tác xã hội Tại Hội nghị Quốc tế về Công tác xã hội vào tháng 10 năm 2004 tổ chức ở Australia, vấn đề toàn cầu hóa trong Công tác xã hội trên thế giới đã là một trong những chủ đề chính đựơc đưa ra thảo luận.
Việt Nam là một nước nông nghiệp, trải qua bao thập kỷ chiến tranh tàn phá, nhiều thiên tai bão lụt, Hệ thống ASXH Việt Nam chưa phát triển toàn diện, độ bao phủ còn thấp, khả năng tiếp cận với một số chính sách, chương trình chi khu trú ở một
số nhóm đối tượng, một số vùng miền hay khu vực; nhiều chính sách còn bất cập, thiếu đồng bộ, thiếu sự liên kết, chưa huy động nguồn lực và chưa bảo đảm tính bền vững, mất cân đối giữa nguồn và sử dụng trong hệ thống an sinh xã hội
Chính vì vậy trong các văn kiện của Đảng cùng chỉ ra như “ xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa d ạ n g , ( V ă n kiện Đại hội Đảng lần thứ X) và “từng bước mở rộng và cải thiện hệ thống an sinh xã hội để đáp ứng ngày càng tốt hom yêu cầu đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, nhất là nhóm đối tượng chính sách, đối tượng nghèo” (Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VI), trong "Chiến lược tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 có nhiều nội dung được đề cấp tới sự đổi mới và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội ở nước ta trong thời gian tới như: “Phát triển mạnh dịch vụ khoa học và công nghệ; giáo dục và đào tạo; văn hóa, thông tin, thể thao; dịch vụ việc làm và ASXH” ; “Phát triển hệ thống ASXH
đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả ”, Mở rộng các hình thức trợ giúp và cứu trợ
xã hội, nhất là đối với các đối tượng khó khăn”
Như vậy có thể thấy những mục tiêu và định hướng trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nước ta giai đoạn 2011 - 2020 vừa là nội hàm và vừa là mục tiêu cùa ASXH Chiến lược phát triên an sinh xã hội giai đoạn 2011 -2020 của nước ta hường
Trang 5tới một nền ASXH cho toàn dân, bền vững và đa dạng được cụ thể hóa bàng hệ thống chính sách liên quan tới y tế, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội và các dịch vụ xã hội khác nhằm đảm bảo an sinh cho người dân.
Nhưng để những chính sách đó đi vào thực tiễn cần có hệ thống cơ quan chuyên môn với những cán bộ chuyên nghiệp làm đầu mối, điều phối hay thực thi các chính sách và dịch vụ xã hội, đó chính là nghề CTXH với các NVXH chuyên nghiệp Ngày 23/3/2010 Thủ tưởng chính phủ đã phê duyệt Đề án Phát triển công tác xã hội trở thành một nghề ở Việt Nam Mục tiêu của Đề án là: Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển
hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến
Tuy nhiên hiện nay thực trạng mạng lưới Công tác xã hội ra sao, đặc biệt ở khu vực Đồng bằng Sông Hồng (Qua khảo sát tại Hưng Yên)? Sự tham gia của mạng lưới này vào việc vận động, xây dưng và hoàn thiện chính sách an sinh xẵ hội ra sao? Việc
áp dụng những kỹ năng, tay nghề CTXH vào thực thi các chính sách An sinh xã hội tại Đồng bằng Sông Hồng như thế nào? Có giải pháp nào đẩy mạnh vai trò Công tác xã hội trong việc đảm bảo an sinh xã hội cho người dân Đồng bằng Sông Hồng? Đó là những câu hỏi chính của đề tài Việc nghiên cứu, thu thập thông tin để tìm câu trả lời cho những câu hỏi trên là những lý do chính mà nhóm tác giả lựa chọn đề tài nghiên
cứu: „Công tác x ã hội với việc đảm bảo an sinh xã hội của người dân Đồng bằng Sông Hồng (Nghiên cứu trường hợp tình Hưng Yên)“
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Các công trình nghiên cửu ngoài nước
An sinh xã hội, công tác xã hội là những lĩnh vực quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở các quốc gia Do đó, có rất nhiều nghiên cứu về an sinh xã hội và công tác xã hội với những góc độ tiếp cận khác nhau:
Trang 6Neil Gilbert (1989) trong “Phúc lợi tư bản hiện đại ở M ỹ/The enabling State:
M odem welfare capitalism in A m erica” : Sau hom hai thập niên áp dụng chế độ tài chính và phúc lợi cải tiến ở Hoa Kỳ và m ột nước công nghiệp dân chủ khác, chế độ phúc lợi mới đã vượt xa những hình mẫu truyền thống Lựa chọn mô hình nào là vấn
đề đặt ra Nghiên cứu trên sẽ trình bày chi tiết một tầm nhìn mới về sự chuyển dịch của phúc lợi xã hội - từ cách thức phân phối đến đối tượng hưởng lợi Nghiên cứu tím hiểu
về lợi ích của các tổ chức tư nhân và hướng tiếp cận theo hướng thị trường trong phân phối nguồn quỹ dự phòng xã hội; kiểm tra cách thức chuyển dịch từ thuế tiêu dung, hỗ trợ tín dụng, các chi phí phát sinh khác sang nguồn quỹ phúc lợi xã hội
Còn Howard Jacob Karger trong “ Chính sách phúc lợi xã hội M ỹ/American social welfare policy” (tái bản lần 6, 2009) lại nghiên cứu về chính sách phúc lợi xã hội Mỹ với cái nhìn đa chiều, gắn phúc lợi xã hội với nhiều vấn đề của xã hội Mỹ như công nghệ, tôn giáo, bất bình đẳng, chính sách thuế và cả những biển đổi xã hội mang tính cập nhật nhất: Bầu cừ tổng thống 2008, khủng hoảng kinh tế, sự đóng băng của thị trường bất động s ả n
Trang 7Một sò tác giả lại đi sâu vào so sánh hệ thống an sinh xã hội ờ các nước về quan điểm, mô hình và các chính sách cụ thể.
Trung Quốc, một quốc gia có nhiều nét tương đồng với Việt Nam, cũng có nhiều nghiên cứu về an sinh xã hội, trong đó đặc biệt chú ý đến hệ thống an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm xã hội nói riêng dành cho nông dân ở nông thôn Wang Dewen (2005) trong “Hệ thống an sinh cho người cao tuổi ờ đô thị và nông thôn Trung Quốc: Thách thức và lựa chon/C hina’s Urban and Rural Old Age Security System: Challenges and O ptions” Nghiên cứu cho thấy lịch sử phát triển và hiện trạng của hệ thống an siiủ cho người cao tuổi Trung Quốc ở đô thị và nông thôn Nghiên cứu cũng nêu lên những thách thức và lựa chọn trong quá trình xây dựng một hệ thống an sinh bền vững dàih cho người cao tuổi Hệ thống lương hưu hiện tại mới chỉ có độ phủ cao
ở đô thị trong khi chưa bao phủ đến nông dân ở nông thôn Kè hở của quỹ và những tài khoản cá nhân ừống rỗng đặt m ột gánh nặng lên tính bền vững của hệ thống lương hưu ở đô thị Tuổi trung bình ngày càng cao và thu nhập lại thấp đặt ra thạch thức
giữa hệ thổiig an sinh cho người cao tuổi ở đô thị và nông thôn còn đặt ra áp lực cho quá trình đc thị hóa và những nông dân mất đất Do đó, cải cách hệ thống an sinh là yêu cầu cấp thiết đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế
Chargyou Zang (2009), “Phương thức bảo hiểm xã hội dành cho nông dân Trung Quốí/Research on Chinese Farm ers’ Social Endowment Insurance Mode” : Dựa trên lý thu>ết an sinh xã hội, vận vào điều kiện thực tế của Trung Quốc, tác giả cho rằng: Giá trị lao động thực sự phải bao hàm khả năng bảo hiểm cho lao động đó và một phần cìo cha mẹ của họ Bằng cách này, tác giả hợp nhất hình thức bảo hiểm nhà nước, tập tlể, eia đình, cá nhân thành một phương thức bảo hiểm phức tạp Phương thức này bío gồm hệ thốne bảo hiểm xã hội của nhà nước và các hệ thống hỗ trợ của gia đình và cộng đồng Hệ thống bảo hiểm xã hội này bao gồm hưu trí cơ bản, hưu trí
xã hội và CIC kể hoạch hưu trí mang tính chất gia đình dành cho nông dân Nghiên cứu cũng chì ra cách thức quản lý quỹ bảo hiểm xă hội nông thôn và !àm rõ những thành
Trang 8phần cơ bản trong hệ thống bảo hiểm xã hội khá phức tạp dành cho nông dân Trung Quốc này.
Zhang Jianwei (2008) trong “Nghiên cứu về an sinh lương hưu/Study on farmer’s pension security” lại quan tâm đến hệ thống lương hưu cho người cao tuổi ở nông thôn Trung Quốc Theo đó, cuộc sống của những người cao tuổi ở nông thôn Trung Quốc chủ yếu dựa vào hỗ trợ của gia đình, nhưng đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn N ông dân Trung Quốc lại được chia thành nhiều nhóm khác nhau và nghiên cứu chỉ đi sâu vào việc thiết kế hệ thống lương hưu cho những nông dân đích thực Bởi vì, tuy là nông dân nhưng những người làm việc tại các thị trấn, đô thị, trong các doanh nghiệp lại được hưởng các chế độ của hệ thống an sinh xã hội đô thị Nghiên cứu hướng đến thiết lập một hệ thống bao gồm các thiết chế chính thức và không chính thức có khả năng khích lệ cá nhân, gia đình, chính phủ và các nguồn lực
xã hội trong việc giảm trừ bất ổn kinh tế mà những người nông dân gặp phải khi bước vào giai đoạn cao tuổi Trong khi đó, những hỗ trợ của gia đình cho người cao tuổi vẫn đượe eõi là mô hình mang tính lâu dài và cần được củng cố ở khía cạnh kinh tế và đạo đức
về moi quan hệ giữa công tác xã hội và an sinh xã hội:
Philip R Popple và Leslie Lighninger (2010) trong “ Social Work, Social Welfare and Am erican Society” đã đưa ra một cách nhìn mang tính chính trị về các chính sách phúc lợi xã hội, đồng thời đánh giá các giá trị, đạo đức và kiến thức cần có, cũng như khám phá vai trò của nhân viên xã hội trong các chương trình phúc lợi xã hội
Ralph D olgoff và Donald Feldstein (2007) lại chỉ ra những nhân tố nền tảng đối với hệ thống phúc lợi xã hội nhàm đạt đến công bàng xã hội trong sự quy chiếu với các chức năng của Công tác xã hội
Cóc nghiên cứu trong nước
Trang 9Nghiên cứu về an sinh xã hội và CTXH cũng khá nhiều với những cách tiếp cận khác biệt.
Vê an sinh xã hội:
v ề lý luận chung, có thể nhắc đến các đề tài:
Viện Xã hội học: Chính sách xã hội và quản lý xã hội ở cấp cơ sở nông thôn và
đô thị (1983 - 1985); Chính sách xã hội ở Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa (1987 - 1989); Người cao tuổi và hệ thống an sinh xã hội ở miền Bắc Việt Nam (1991) là những đề tài đầu tiên tập trung nghiên cứu về chính sách xã hội ở Việt Nam
và bước đầu chú ý đến an sinh xã hội cho một số đối tượng cụ thể
Đề tài Hệ thống phúc lợi thời kỳ đổi mới (2001-2003) của Viện Xã hội học, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam lại tập trung đi sâu phân tích hệ thống phúc lợi trong thời kỳ đổi mới
Viện Khoa học Lao động (2010) “Quan điểm và định hướng về chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong Chiến lược KTXH giai đoạn 2011-2020’' lại đưa ra 6 kiến nghị để định hướng sự phát triển của các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội trong thời kỳ mới
TS Đàm Hữu Đắc (2010) trong đề tài: Nghiên cứu chính sách phúc lợi xã hội
và phát triển dịch vụ xã hội chăm sóc người cao tuổi trong kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập”, mã số: ĐTĐL.2007G/51 đã tập trung nghiên cứu toàn diện về lý luận và thực tiễn của hệ thống chính sách phúc lợi xã hội và dịch vụ xã hội chăm sóc người cao tuổi Việt Nam Nghiên cứu còn tìm hiểu những kinh nghiệm quốc
tế để từ đó đề xuất định hướng phát triển hệ thống chính sách phúc lợi xã hội và dịch
vụ xã hội cơ bản chăm sóc người cao tuổi hiện đại phù hợp với bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường định hướne xã hội chủ nghĩa qua từng giai đoạn
PGS.TS Đinh Công Tuấn (2008) tập trung đi sâu vào nghiên cứu hệ thống an sinh xã hội của các nước EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Tác giả nêu ra và phân tích đặc điếm về hệ thông an sinh xã hội cua một số nước tiêu biểu như Đức,
Trang 10Pháp, Anh, Thụy Đ iển từ đó đánh giá các thành công, hạn chế, xu thế cải cách hệ thống an sinh xã hội của họ Thông qua đối chiếu, so sánh với hệ thống an sinh xã hội
ở Việt Nam, tác giả đưa ra các khuyến nghị, các bài học kinh nghiệm trong việc định hướng xây dựng an sinh xã hội ờ Việt Nam
Đề tài “Chiến lược an sinh xã hội thời kỳ 2011-2020” của Viện Khoa học Lao động đã tổng kết kết quả thực hiện chính sách an sinh xã hội thời kỳ 2001-2010 và đề
ra chiến lược an sinh mang tầm quốc gia giai đoạn 2011-2020
Đề tài: “Hệ thống An sinh xã hội với dân cư nông thôn giai đoạn 2011-2020” trên cơ sở tổng kết, đánh giá hệ thống an sinh xã hội ở vùng nông thôn cũng như xu hướng phát triển kinh tế xã hội để đưa ra các giải pháp mang tính định hướng trong việc hoạch định chính sách an sinh xã hội tại nông thôn trong thời kỳ mới
Các nghiên cứu về việc tiếp cận hệ thống an sinh cùa các đối tượng cụ thể trong
xã hội cũng là một mảng quan trọng trong các nghiên cứu về an sinh xã hội và phúc lợi
xã hội:
Viện Khoa học Lao động (2010) với đề tài: “Nghiên cứu khả năng tiếp cận hệ thống an sinh xã hội của khu vực không chính thức” Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu đến khả năng tiếp cận chính sách việc làm, chính sách dạy nghề và chính sách bảo hiểm xã hội cùa khu vực phi chính thức, từ đó đưa ra các giải pháp trên cơ sở học tập những kinh nghiệm quốc tế
Cũng là khả năng tiếp cận của khu vực không chính thức, Hoàng Bá Thịnh (2011) trong nghiên cứu “Lao động nữ di cư làm việc ở khu vục phi chính thức và mức độ tiếp cận an sinh xã hội” lại đi sâu vào nghiên cứu lao động phụ nữ di cư, nghiên cứu chỉ ra những khó khăn, rào cản của lao động nữ di cư trong khu vực phi chính thức trong việc tiếp cận an sinh xã hội của nhóm này tại các khía cạnh cụ thể: chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; dịch vụ giáo dục và y tế ,
Nghiên cứu “Cơ chế bảo trợ xã hội đối với sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ ở Việt N am " đo Oxfam và Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế Trune ươne (CIEM) phối
Trang 11hợp (2011) Thông qua khảo sát 580 hộ nông dân ờ Hà Tĩnh và Vĩnh Long, nghiên cứu chi ra rằng: nguy cơ tổn thương cùa người nông dân, gồm những tác động từ bên ngoài như biến động kinh tế vĩ mô, thiên tai, lũ lụt và những nguyên nhân khác như tiếp cận vốn, vấn đề sức khòe của người nông dân Trong khi đó, bảo hiểm xã hội lại chưa hề phát huy được vai trò trong việc bảo vệ người dân trước những rủi ro Bảo hiểm xã hội
có tỷ lệ tham gia thấp (20%), Bảo hiểm y tế có 57,4% dân số tham gia N ghiên cứu khuyến nghị về việc tăng cường sự tham gia các loại hình bảo hiểm của người dân, qua đó tăng năng lực ứng phó với các rủi ro
Ngoài ra còn có mảng đề tài quan tâm về loại hình các quỹ cộng đồng trong hệ thống an sinh xã hội: v ề loại hình bảo hiểm xã hội nông dân có nghiên cứu của Viện Khoa học Lao động, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2007) Trong báo cáo “Kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp chuyển đổi bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An sang bảo hiểm xã hội tự nguyện” đã nghiên cứu về các đặc điểm của loại hình bảo hiểm xã hội nông dân, trong đó tập trung nghiên cứu về tính bền vững tài chính và cách thức chuyển đổi sang bảo hiểm xã hội tự nguyện Sau nghiên cứu này, bảo hiểm
xã hội nông dân Nghệ An đã được chuyển đổi sang bảo hiểm tự nguyện, tuy nhiên, số lượng chuyển đổi ít và không thực sự phù hợp với nhu cầu của người dân
Còn phải kể đến một nghiên cứu rất toàn diện về loại hình quỹ này của P.Castel (2007), Nghe An Voluntary Pension Fund: Transition to the nation scheme policy Option Nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển, thể ché tài chính của loại hình quỹ này và đưa ra các lựa chọn cùng với bình luận về ưu và nhược điểm cũng như những gói giải pháp đi kèm
Trang 12thuật ngữ “social work” của quốc tế; tác giả đưa ra một số nhận định về công tác xã hội, phẩm chất của người làm công tác xã hội, các nguyên tắc, chức năng và phương pháp của công tác xã hội.
Đề tài Nghị định thư số 45/2010/HĐ-NĐT “Đổi mới Công tác xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế - Nghiên cứu kinh nghiệm của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và LB Nga” do TS Nguyễn Thị Thu Hà (chủ tri) là một nghiên cứu khá toàn diện Nghiên cứu đã phân tích thực trạng của công tác xã hội ờ Việt Nam về nhiều mặt: từ nghiên cứu, giảng dạy đến hoạt động nghề nghiệp Qua so sánh đối chiếu với những kinh nghiệm của Liên Bang Nga, tác giả đã đưa ra những đề xuất để đổi mới, phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
Tuy nhiên, còn thiếu vắng các nghiên cứu lý luận về mối quan hệ giữa CTXH với ASXH, giữa vai trò của hoạt động CTXH với việc đảm bảo ASXH cho người dân Càng thiếu vấng hơn nữa các nghiên cứu thực tiễn về vai trò của CTXH trong việc đảm bảo ASXH cho người dân nói chung và cho người dân vùng Đồng bằng Sông Hồng nói riêng Đề tài “CTXH với việc đảm bảo ASXH cho người dân Đồng bằng Sông Hồng sẽ góp phần bổ sung vào phần tri thức lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa CTXH và ASXH, giữa vai trò của hoạt động thực tiễn CTXH với việc đảm bảo ASXH, cũng như hướng tới việc nâng cao kỹ năng tay nghề của Nhân viên CTXH trong hoạt động đảm bảo ASXH cho người dân
Đồng bằng Sông Hồng là một khu vực rộng lớn, với khả năng về nhân lực, vật lực và thời gian nhóm nghiên cứu không thể khảo sát hết các tỉnh thuộc khu vực ĐBSH Trong điều kiện cho phép, nhóm tác giả chọn khảo sát kỹ 02 tinh/thành phố là
Hà Nội và Hưng Yên với mục đích đảm bảo khảo sát ở cả khu vực có các đặc trưng điển hình về kinh tế - xã hội đô thị (Thành phố Hà Nội) và ở cả khu vực có các đặc trưng điển hình về kinh tế - xã hội nông thôn (Tỉnh Hưng Yên) Việc lựa chọn địa bàn khảo sát như vậy phù hợp với khả năng về nhân lực, vật lực và thời gian cùa nghiên cứu, nhưng ở chừng mực nhất định cùng cho phép khái quát chung cho khu vực
Trang 13ĐBSH Kết quả của đề tài còn có thể làm căn cứ so sánh với những kết quả nghiên cứu cùng lĩnh vực, được thực hiện tại các khu vực có các điều kiện kinh tế - xã hội khác.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
• Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động Công tác xã hội với việc thực thi chính sách an sinh xã hội;
• Phân tích thực trạng m ạng lưới CTXH tại Hưng Yên, cũng như sự tham gia của đội ngũ nhân viên xã hội chuyên nghiệp tại đây vào xây dựng, hoàn thiện và thực thi các chính sách an sinh xã hội của người dân địa phương;
• Phân tích các yếu tố chính tác động đến vai trò của CTXH trọng việc đảm bảo an sinh xã hội hiện của người dân hiện nay;
• Đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò CTXH trong việc đảm bảo an sinh
XH của người dân ĐBSH
4 Đổi tượng và phạm vi nghiên cứu
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6 Sản phẩm
7 K et cấu báo cáo
Trang 14Định nghĩa của Hiệp hội quốc gia Nhân viên công tác xã hội Mỹ (NASW - 1970) nhấn mạnh đến mục tiêu trợ giúp các nhóm yếu thế của công tác xã hội trong quan niệm của mình khi cho rằng: Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng
xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó
Định nghĩa của Hiệp hội nhân viên công tác xã hội Quốc tế thông qua tháng 7 năm 2000 tại Montreal, Canada (IFSW ) lại nhấn mạnh sứ mênh thúc đẩy công bàng xã hội và quyền con người thông qua việc giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ của con người: Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ cùa con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, Công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và Công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề
Định nghĩa của Tổ chức Foundation o f Social Work Practice lại nhấn mạnh đến
tư cảch là một khoa học được ứng dụng để trợ giúp con người của công tác xã hội: Công tác xã hội là một môn khoa học ứng dụng để giúp đỡ mọi người vượt qua những khó khăn của họ và đạt được một vị trí ở mức độ phù hợp trong xã hội Công tác xã hội được coi như là một môn khoa học vì nó dựa trên những luận chứng khoa học và
Trang 15những cuộc nghiên cứu đã được chứng minh Nó cung cấp m ột lượng kiến thức có cơ
sở thực tiễn và xây dựng những kỹ năng chuyên môn hoá (Lê Văn Phú, 2004)
Xuất phát từ hoạt động thực tế tại Việt Nam, thạc sỹ N guyễn Thị Oanh lại định nghĩa công tác xã hội như sau: công tác xã hội là m ột hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp cao được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định nhằm
hỗ trợ cá nhân và nhóm người trong việc giải quyết các vấn đề đời sống của họ Qua
đó công tác xã hội theo đuổi m ục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội Công tác xã hội là hoạt động thực tiễn bởi họ luôn làm việc trực tiếp với đối tượng, với nhóm người cụ thể và mang tính tổng hợp cao bởi người làm công tác xã hội phái làm việc với nhiều vấn đề khác nhau như: tệ nạn xã hội, vấn đề người nghèo, vấn đề gia đ ìn h C ô n g tác xã hội không giải quyết mọi vấn đề của con người và xã hội mà chi nhàm vào những vấn đề thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày của con người Đó là an sinh xã hội hay phúc lợi xã hội, đồng thời hỗ trợ con người giải quyết vấn đề đời sống cụ thể của họ, nhàm đem lại sự ổn định, hạnh phúc cho mọi người và phát triển cho cộng đồng, xã hội
Như vậy, dù có khác nhau về mặt từ ngữ và có những đặc trưng được quy định bởi điêu kiện kinh tế, xã hội, ván hóa của từng quốc gia nhưng có thể hiểu ràng, công tác xã hội là một khoa học ứng dụng để trợ giúp các cá nhân, nhóm, cộng đồng yếu thế giải quyết các vấn đề liên quan đến việc thực hiện các chức năng xã hội, góp phần hướng đến mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội cho mỗi cá nhân và toàn xã hội
1.1.2 An sinh xã hội
Thuật ngữ này được sử dụng đầu tiên tại Mỹ (Luật A n sinh xã hội - 1935) chi
sự bảo vệ trong bốn trường hợp: Già cả, chết, tàn tật và thất nghiệp Năm 1938, thuật ngữ ai sinh xã hội được sử dụng làm tên gọi cho đạo luật quy định về các chế độ trợ cấp xã hội đang áp dụng tại New Zealand N ăm 1952, Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao đậng Quốc tế (ILO) đã thông qua công ước 102 về an sinh xã hội Ờ Việt Nam, an sinh xã hội được sử dụng lần đầu tiên tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX
Trang 16Có rất nhiều khái niệm khác nhau về an sinh xã hội Cho đến nay, do sự phức tạp và đa dạng cùa an sinh xã hội nên tồn tại nhiều nhận thức khác nhau về lĩnh vực này An sinh xã hội cũng có những khác biệt giữa các quốc gia.
Có nguồn gốc từ tiếng Anh, Social security nhưng khi dịch sang tiếng Việt, ngoài an sinh xã hội, nó còn được dịch là bảo đảm xã hội, bảo trợ xã hội, an toàn xã hội với những ý nghĩa không hoàn toàn giống nhau Theo nghĩa chung nhất, Social securiry là sự đảm bảo thực hiện các quyền con người được sống hòa bình, tự do làm
ăn, cư trú, di chuyển, tự do ngôn luận trong khuôn khổ của pháp luật; được bảo vệ, bình đẳng trước pháp luật; được học tập, có việc làm, nhà ở; được đảm bảo thu nhập
để thỏa mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già Đ iều này cũng được thể hiện qua một số định nghĩa:
Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới: “An sinh xã hội là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh về thu nhập”
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO - 1984): “An sinh xã hội là sự bảo vệ mà
xã hội cung cấp cho thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, những cú sốc về kinh tế và xã hội làm mât hoặc suy giảm nghiêm trọng hoặc tử vong An sinh xã hội cung cấp chăm sóc y tế và trợ giúp cho các gia đình có nạn nhân là trẻ em” (Nguyễn Văn Định, 2008: 11) Định nghĩa này nhấn mạnh khía cạnh bảo hiểm xã hội và mở rộng tạo việc làm cho những đối tượng ở khu vực kinh tế không chính thức
Theo tác giả Hoàng Chí Bảo trong đề tài KX02.02/06-10: “ An sinh xã hội là
sự an toàn cúa cuộc sống con người, từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực cho sự phát triển con người và xã hội An sinh xă hội là những bảo đảm xã hội cho con người tồn tại như một con người và phát triển các sức mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách
Trang 17An sinh xã hội bao hàm trong nó cả những đảm bảo về an ninh để con người
sống, làm việc, thực hiện được nhu cầu, lợi ích chính đáng, hợp lý của mình trong
quá trình phát triển; con người nhận được từ xã hội những đảm bảo về cuộc sống,
những bảo vệ trước những rủi ro, bất trắc, những tình huống bất thường đe dọa hoặc
phá hủy trạng thái bình yên, quyền sống và sự thụ hưởng lợi ích của họ”
Trong “Thuật ngữ an sinh xã hội” của Viện Khoa học Lao động Xã hội (Bộ
Lao động Thương binh và Xã hội) và GIZ thì an sinh xã hội được định nghĩa như
sau: “An sinh xã hội là hệ thống các chính sách can thiệp của nhà nước (bảo hiểm xã
hội và trợ giúp xã hội) và tư nhân (các chế độ không theo luật định và của tư nhân)
nhằm giảm mức độ đói nghèo và tổn thương, nâng cao năng lực tự bảo vệ của người
dân và xã hội trước những rủi ro hay nguy cơ giảm hoặc mất thu nhập, bảo đảm ổn
định, phát triển và công bàng xã hội” (Viện Khoa học Lao động, 2 0 1 1 :1 0 )
Như vậy, có thể thấy có rất nhiều cách nhìn nhận khác nhau về an sinh xã hội
Điều này không chỉ gây ra tranh cãi ờ Việt Nam mà còn là vấn đề của nhiều quốc
gia Tuy nhiên, trong giới hạn của nghiên cứu này, tác giả chú trọng sừ dụng định
nghĩa của tổ chức Viện Khoa học Lao động Xã hội và GIZ (2011), vì định nghĩa này
nhấn mạnh đến vai trò của cộng đồng nói chung và tư nhân nói riêng, với các chế độ
không theo luật định Định nghĩa này phù hợp với những đặc thù trong hệ thống an
sinh xã hội Việt Nam, đặc biệt là vai trò của các thiết chế của cộng động
1.2 Một số lý thuyết áp dụng trong phân tích mối quan hệ giữa công tác
xã hội và An sinh xã hội
1.2.1 Lý thuyết hệ thống
Lý thuyết hệ thống là một trong những lý thuyết quan trọng nhất trong công tác
xã hội Khởi nguồn từ lý thuyết tổng quát của Bertalaffy cho ràng mọi tổ chức hữu cơ
đều là những hệ thống, được tạo nên từ các tiểu hệ thống và bán thân các hệ thống này
cũng là một phần cùa các hệ thống lớn hơn Lý thuyết hệ thống được Pincus và
Trang 18Minahan và các đồng sự áp dụng vào thực tiễn công tác xã hội và nó được phát triển
và hoàn thiện trong công tác thực hành công tác xã hội bởi Germain và Giterm an1
Trong công tác xã hội, hai loại thuyết hệ thống nổi bật và quan trọng nhất là thuyết hệ thống tổng quát và thuyết hệ thống sinh thái Nghiên cứu này sử dụng thuyết
hệ thống sinh thái mà đại diện của nó là Hearn, Siporin, Germain và Gitterman Thuyết
hệ thống sinh thái nhấn mạnh đến sự tương tác của con người vào môi trường sinh thái
mà mình sinh sống Sự can thiệp vào một điểm bất kì trong hệ thống sẽ tạo ra sự thay đổi của cả hệ thống
Theo định nghĩa của “Lý thuyết công tác xã hội hiện đại” :
“Hệ thống là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt đông thống nhất.” Theo lý thuyết này, con người phụ thuộc vào những hệ thống trong môi trường xã hội trực tiếp của họ Công tác xã hội chú ý đến 3 hệ thống: (1) Các hệ thống thân tình hay tự nhiên như gia đình, bạn bè, người thân hay đồng nghiệp; (2) Các hệ thống chính thức như cá nhóm bạn bè, đồng nghiệp, hay các tổ chức công đoàn; (3) Các hệ thống tập trung như của các tổ chức xã hội như bệnh viện, trường học
Các hệ thống luôn có sự tác động lên cá nhân Có thể đó là sự tác động tiêu cực hoặc tích cực Bên cạnh đó không phải tất cả mọi cá nhân đều có khả năng tiếp cận sự
hỗ trợ như nhau về nguồn lực có từ các hệ thống tồn tại xung quanh Như vậy mỗi cá nhân chịu sự tác động khác nhau từ các hệ thống mà họ tồn tại Các nhóm đối tượng yếu thế chịu sự tác động của nhiều hệ thống và mỗi cá nhân, mỗi nhóm đặc thù lại có khả năng tiếp cận khác nhau Nghiên cứu sẽ đi sâu phân tích những khó khăn, thuận lợi, những đặc trưng của hoạt động công tác xã hội trong việc đảm bảo an sinh xã hội cho người dân ở Hưng Yên Cách tiếp cận hệ thống sẽ khái quát hóa những đặc trung trong vấn đề thực tiền tại một tỉnh ở đồng bàng sông Hồng để tìm kiếm những phát
1 M alcolm Payne (1997 - Trần Văn Kham dịch), Modern Social Theories Lyceum Books INC, USA
Trang 19hiện mang tính đại diện, phổ biển tồn tại tại các tinh, thành khác, từ đó đưa ra các giải pháp có tính ứng dụng cao.
Nghiên cứu sẽ đi sâu phân tích những yếu tố tác động đến công tác xã hội, sự tương tác của các hệ thống nhỏ trong mạng lưới công tác xã hội tại Hưng Yên, sự tác động của hoạt động công tác xã hội đến việc xây dựng, triển khai các chính sách an sinh xã hội cũng như tác động của nó đến các cấu phần khác của hệ thống an sinh xã hội được xây dựng trong những năm qua
Hình 1.1: Các hệ thống có ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội
ĐAI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
i ^ G T Â M THÔNG TIN THƯ VẸN
— VOO£úũũũJ££
Trang 20ỉ 2.2 Lý thuyết nhu cầu
Nhà tâm lý học Abraham M aslow (1908-1970) được xem như m ột trong những người tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn (hum anistic psychology), trường phái này được xem là thế lực thứ 3 (the Third Force) khi thế giới lúc ấy đang biết đến 2 trường phái tâm lý chính: Phân tâm học (Psychoanalysis) và Chủ nghĩa hành
vi (Behaviorism)
Năm 1943, ông đã phát triển m ột trong các lý thuyết m à tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gôm cả lĩnh vực giáo dục Đó là lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (H ierarchy o f Needs) của con người Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống ừật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hom m uốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hom phải được thỏa mãn trước
Trong thời điểm đàu tiên của lý thuyết, M aslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc:
Hình 1.2: Thang nhu cầu M aslow
Trang 21nhất và mạnh nhất của con người Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất: bậc cơ bản nhất Mas low cho rang, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã một người hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được.
s N hu cầu về an toàn, an ninh (safety needs): Nhu cầu an toàn và an
ninh này thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú d ữ
■S Nhu cầu về xã hội ((social needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu
mong muốn thuộc về m ột bộ phận, một tổ chức nào đó (belonging needs) hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương (needs o f love) Nếu nhu cầu này không được thoả mãn, đáp ứng, nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tinh thần, thần kinh
s Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs): Nhu cầu này còn được gọi
là nhu cầu tự trọng vì nó thể hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thản
s Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs): Khi nghe về nhu
cầu này: “thể hiện mình” chủng ta khoan vội gán cho nó ý nghĩa tiêu cực Không phải ngẫu nhiên mà nhu cầu này được xếp đặt ờ mức độ cao nhất Nhu cầu của một cá nhân mong muốn được là chính mình, được làm những cái mà mình “ sinh ra đê làm” Nói một cách đơn giản hơn, đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả trong xã hội
Thông qua lý thuyết về Thang bậc nhu cầu được đề xướng bởi nhà tâm ỉỷ học Abraham Maslow, chúng ta sẽ đi tìm hiểu nhu cầu của các nhóm: nhóm đối tượng, nhóm cán bộ quản lý, nhóm cán bộ làm việc trực tiếp, nhóm cán bộ đoàn thể và dần cư của tỉnh Hưng Yên đối với các hoạt động công tác xã hội Việc đối chiếu sự phát triển
Trang 22cũng như các hoạt động công tác xã hội đối với nhu cầu cùa từng nhóm có liên quan ở trên, sẽ chỉ ra những yếu tố quan trọng trong việc thiết kế, triển khai cũng như chuyên nghiệp hóa các hoạt động công tác xã hội Phù hợp với nhu cầu của đối tượng, của người dân là yêu cầu tiên quyết để công tác xã hội tồn tại, nhưng phù hợp với nhu cầu của hệ thống quản lý hay nhóm cán bộ trực tiếp lại quyết định sự phát triển, quá trình chuyên nghiệp hóa các hoạt đ ộ n g
1.3 Lược sử phát triển CTXH và ASXH trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Lược sử ph át triển của công tác x ã hội thế giới và Việt Nam
1.3.1.1 Lược sử phát triển của công tác xã hội thế giới
Công tác xã hội chuyên nghiệp (mang tính tổ chức quốc tế) ra đời tới nay chưa đầy 100 năm, song nó đã bắt nguồn từ trong lòng các xã hội cổ xưa do trong cuộc sống con người luôn phải sống trong sự đe doạ của thiên nhiên, của chiến tranh, cùa nghèo đói và của bệnh tật
Lịch sử công tác xã hội không gắn liền với sự ra đời của các lý thuyết như các khoa học khác mà nó gấn liền với quá trình khoa học và chuyên nghiệp hóa các hoạt động từ thiện Có thể phân chia lịch sử phát triển công tác xã hội thế giới thành hai thời kỳ: thời kỳ tiền khoa học và thời kỳ phát triển như một khoa học
a Thời kỳ tiền khoa hoc
Con người trong xã hội ờ bất cứ thời kỳ lịch sử nào cũng phải đối phó với nhiều rủi ro Đó có thể là những rủi ro tự nhiên hay do con người gây ra: thiên tai, bất ổn kinh tế, chính trị, rủi ro tuổi tác, bệnh tật T ất cả những rủi ro đó đã hình thành trong
xã hội những nhóm đối tượng yếu thế đặc thù cần sự trợ giúp để có thể sinh sống một cách bình thường, không bị đẩy ra ngoài lề xã hội Do đó, từ rất lâu trong lịch sử loài người, con người đã biết trông đỡ vào nhau, biết giúp đỡ những người yếu thế, thiệt thòi Đặc tính đó của con người lại càng được cùng cố khi có các triết lý tôn giáo
Trong Phật giáo, bố thí là độ đầu tiên trong Lục Độ đưa chúng sinh ra khỏi bến
mê đến cõi Niết Bàn Dựa trên Cựu Ước, vốn là nguồn gốc của Thiên Chúa eiáo Hồi
Trang 23giáo và Do Thái giáo, kinh Talmud của người Do Thái mô tả trá ch nhiệm của người
giàu và quyền của người nghèo trong việc tò thiện Kinh này cũng mô tả chi tiết sự
đóng góp cũng như việc quản lý quỹ từ thiện Có thể nói truyền thống từ thiện tích cực của Thiên Chúa giáo đã tạo nền tảng cho CTXH hiện đại ở Âu Mỹ và thế giới
Đối với Hồi giáo, thuế từ thiện, Al-Zakat, là một trong năm tín điều trụ cột của Hồi giáo, theo đó tín đồ Hồi giáo đạt mức lợi tức hàng năm tương đương 87,48 gram vàng phải đóng góp 2,5% lợi tức cho từ thiện Trong văn hóa Việt Nam, một trong nhiều tục ngữ khuyến khích từ thiện là “Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người” (Trần Đỉnh Tuấn, 2009)
Lịch sứ phương Tây không thể phủ nhận vai trò của nhà thờ Thiên chúa giáo trong việc trợ giúp những người yếu thế, thiệt thòi Nhà thờ Thiên chúa giáo mờ các trại dưỡng lão, tế bần nuôi dưỡng người già, trẻ em mồ côi, trợ giúp các đối tượng khác
Xuất phát từ nền tảng tôn giáo đó, các hoạt động trợ giúp chuyên nghiệp đã được hình thành và tạo ra một nghề mới trên thể giới: Công tác xã hội Công tác xả hội được hình thành như một nghề chuyên môn đầu tiên tại Thụy Điển vào năm 1851, sau
đó là nhiều quốc gia khác như Anh, Mỹ, ú c v à o đầu thế kỷ XX Ngày nay, công tác
xã hội đã có mặt tài rất nhiều quốc gia và đóng góp quan trọng vào việc trợ giúp nhừng đối tượng yếu thế, đảm bảo sự phát triển công bằng, bền vững cho thế giới
Dấu mốc quan trọng đầu tiên cần nhắc đến trong lịch sử công tác xã hội thế giới, đó là Hiệp ước Nga - Hi Lạp năm 911 do Công tước Ôlếc - đại diện nước Nga lúc bấy giờ ký kết với người Hy Lạp có nêu lên việc nuôi dưỡng người già, cứu giúp người nghèo, chăm sóc người thương tật Đây chính là văn kiện sớm nhất trên thế giới nói chung và cùa nước Nga nói riêng, là bàng chứng chính thức đầu tiên về sự quan tâm của Nhà nước với những công dân cần được sự trợ giúp của mình
Cùng với sự tan rã của chế độ phong kiến là sự phát triển mạnh mẽ cùa chế độ
Tư bản Chủ nghĩa Tư bản ra đời đã làm thay đổi bộ mặt xã hội với việc tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần mới Đồng thời với nó là sự nảy sinh của các vấn đề xã hội
Trang 24(vấn đề công nhân) Xuất phát từ nhu cầu tìm hiểu, giải thích và khắc phục hậu quả của các vấn đề xã hội, khoa học Xã hội học, chính sách xã hội, công tác xã hội đã ra đời như một kết quả của quá trình vận động vật chất, tinh thần trong các xã hội Tây Âu
và Mỹ này ờ thế ký 19
ở những nước này (Anh, Pháp, Mỹ, Đức) do ảnh hường của các cuộc Cách mạng Công nghiệp nên đã phải đối đầu với những vấn đề xã hội trầm trọng Sự thất nghiệp cùa hàng vạn công nhân khi các xí nghiệp, công xưởng, hầm mỏ bị phá sản, người lao động tại các đô thị bị thiếu ăn, nghèo đói, bệnh tật, nhà ở tồi tàn, các tệ nạn cac hội, bóc lột lao động ở trẻ em và phụ nữ dã man, trong khi đó ở các vùng nông thôn, tình trạng này cũng không khấm khá hom Nhiều gia đình thiếu đất canh tác do chính sách phát triển công nghiệp đã bò làng mạc lên những khi đô thị lớn để kiếm sống vớu đó lượng ngày càng tăng dẫn tới tình trạng quá tải ở những nơi này về cơ sở
hạ tầng lẫn mức sống Tệ nạn xã hội đã nhiều lại càng gia tăng một cách nhanh chóng, mâu thuẫn giai cấp (tư sản và vô sản) tăng lên, các cuộc xung đột vũ trang xảy ra - một tất yếu cùa xã hội Tư bản
Trước tình trạng như vậy, nhiều chính phủ đã có cách giải quyết khác nhau thông qua các chính sách, luật lệ Đạo luật người nghèo Elizabethan của Anh quốcnăm 1601 ra đời trong bối cảnh đó và trở thành dấu mốc quan trọng thứ hai Đây làmột văn bản pháp lý quan trọng và ờ mức độ cao nhất (Luật), thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với những người yếu thế Luật Elizabethan có những nội dung chủ yếu sau:
- Tạo công ăn việc làm cho người nghèo, người còn sức lao động
- Mở nhà dưỡng lão cho người già, người tàn tật
- Bảo trợ trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi bằng cách đào tạo nghề
- Quy định nguồn tài chính, trách nhiệm của người quản lý và đối tượng được cứu giú p
Trang 25Năm 1788, một chế độ cứu tế xã hội mới - “ chế độ H am burg” đã được thực hiện rộng rãi ờ thành phố Ham burg (Đức) Theo chế độ này, cấp thành phố có cơ cấu quản lý trung tâm, phân loại các vùng tiến hành cứu tế, chữa bệnh và giới thiệu việc ỉàm cho người nghèo.
Đầu thể ki 19 ở M ỹ, dạng công tác xã hội sơ khai được thực hiện bởi các nhà truyền giáo và tình nguyện viên - những người được gọi là “ những vị khách thân thiện
- Visitors) Họ thường xuyên tuyển chọn và phân công giúp đỡ những người nghèo đói, ốm yếu, bệnh tật, trẻ mồ côi, người già không nơi nương tựa Thông qua các “ Uỷ ban cải thiện hình thức vệ sinh” và “ Vụ giải phóng nô lệ”, các tình nguyện viên còn giúp đỡ, chăm sóc những nô lệ vừa được giải phóng nhanh chóng hoà nhập vào cộng đồng xã hội
N hững năm 1850-1865, thông qua các uỷ ban như : “ Ợỳ ban từ thiện quốc gia ”, ẩ,Uỷ ban từ thiện cộng đ ồ n g ”, “Uỳ ban quốc gia” những hoạt động khởi nguồn của
công tác xã hội đã được triển khai
Tại Thụy Điển, từ năm 1851, các hoạt động mang tính công tác xã hội được chú
ý, một loạt các trại cải tạo, nhà tù, viện tâm thần, trại tế bần, trại mồ côi được xây dựng
và các uỷ ban đều hoạt động nhàm hướng tới mục đích xây dựng những thiết chế duy trì trật tự, ổn định xã hội (Mai Kim Thanh, 2010)
Từ năm 1862, Luật N hà thờ đã giao trách nhiệm cho người đi nhà thờ ở Thụy Điển phải tham gia thành lập nhà thờ và bệnh viện cho người nghèo Năm 1974 Thụy Điển thông qua Nghị định mới về các hình thức và biện pháp chăm sóc người nghèo Sau đó, chính quyền đã tách việc chăm sóc người nghèo khỏi nhà thờ và coi đó là nhiệm vụ của chính quyền (Nguyễn An Lịch, 2013)
Những năm 1869, “ Hiệp hội các tổ chức cứu tế từ thiện và ngăn chặn ăn xin ờ Luân Đôn (A nh)” được thành lập thường gọi là “ Hiệp hội tố chức từ thiện Luân Đôn’\
ở đây, các nhà lãnh đạo đã vận dụng các triết lý khoa học để hình thành một dạng quản
lv từ thiện mới: khoa học từ thiện Có thể coi đây là bước chuyển quan trọng về nhận thức và hành động của những người tham gia công tác xã hội v ề vấn đề này, James
Trang 26Leiby có nhận xét như sau: “ Trần tục, duy lý, thực nghiệm, đổi lập với tính tôn giáo, duy cảm và giáo điều” N hư vậy, hướng tiếp cận công tác xã hội đã dần dần mang tính
hệ thống và duy lý, tách các hoạt động của nó khỏi quan hệ mang màu sắc tôn giáo, xây dựng mô hình công tác từ thiện thành một hoạt động độc lập
Những năm 1870, khủng hoảng kinh tế Tư bản chủ nghĩa kéo dài trong nhiều thập kỷ đẩy con người vào cảnh sống nghèo khổ, bần cùng, xã hội rối ren Các nhà băng kiệt quệ, hàng triệu người lâm vào cảnh thất nghiệp, phong trào bãi công, biểu tình diễn ra tại nhiều đô thị lớn ờ châu Âu và Mỹ, thậm chí nhiều cuộc bãi công còn mang tính bạo lực Các hoạt động từ thiện dường như không hoàn thành mục đích mang tính “ cách mạng” ban đầu Nhiều người nhận ra rằng các chương trình cứu trợ thực chất là hoang phí, thậm chí dẫn tới sự sa sút về tinh thần cho người nghèo do nó chi làm tăng sự phụ thuộc, ỷ lại của họ
v ề vấn đề này Herbert Spencer - nhà xã hội học người Anh cho rằng: “ Cứu trợ
là phá hoại xã hội, làm hỏng người nghèo vì nó gáy ra những phụ thuộc và làm mất
động cơ hành động” Điều này cho thấy các hoạt động cứu giúp muốn có hiệu quả đòi
hỏi phải có nhiều yếu tó mà một trong nhừng yếu tố đóng vai trò then chốt đó là: phải
có một đội ngũ được đào tạo và trả lương một cách chuyên nghiệp bên cạnh một trái tim nhân từ
Năm 1877, ‘T ô chức từ thiện xã h ộ f ’ được thành lập ở Mỹ ra đời đã quan tâm
tới vấn đề đào tạo một đội ngũ làm công tác xã hội Cũng từ đây, các “tình nguyện viên” ( Visitors) của những năm 1880-1890 đã trờ thành các Nhân viên công tác xã hội Giờ đây họ không chi coi đối tượng như những người bạn để cảm thông, chia xẻ,
mà còn là những người cần được giúp đỡ để vươn lên - một hoạt động mang tính chuyên nghiệp hơn và năm 1884 tại Anh, lần đầu tiên đã xuất hiện “ Trung tâm phúc lợi cộng đồng” Vào cuối những năm 1890, “Phong trào định cư” với những “ ngôi nhà định cư” ờ Luân Đôn ( Anh) được thành lập đã thành công trong việc xây dựng cầu nối giữa người giàu và người nghèo, nhất là những người mới nhập cư
Trang 27Năm 1898 “Hiệp hội các tổ chức từ thiện” (Charity Organization Society - COS) ở Mỹ đầu tiên được thành lập đã nâng hoạt động này lên một bước Bởi đây là
sự tiếp nối hoạt động của Uỷ ban quốc gia nhàm phat triển khoa học từ thiện ( vay mượn mô hình từ thiện của A nh) với mục đích: tái tổ chức các hoạt động từ thiện cũng như cá nhân (vốn phát triển nhanh chóng trong giai đoạn 1870), tiếp tục ứng dụng các nguyên tắc của khoa học từ thiện, nhưng đã khấc phục được hệ qủa phổ biến trước đó:
sự phụ thuộc và duy tri sự bần cùng Hoạt động cùa hiệp hội đã vượt ra khỏi mục tiêu quản lý, tổ chức và m ang những đặc trưng sau:
- Hoạt động từ thiện tránh sự phân phối và cứu trợ trực tiếp
- Cố gang lặp lại trật tự cho tình trạng hỗn loạn trong các hoạt động từ thiện tại các địa phương
- Áp dụng công nghệ mới vào các hoạt động của Hiệp hội bao gồm sự can thiệp hoặc phương pháp trị liệu có kế hoạch với sự tham gia của “ những vị khách thân thiện” (T he Friendly Visitor)
-N găn chặn việc từ bỏ tín ngưỡng hoặc việc phân biệt đối xử do những khác biệt về chính trị, tôn giáo hoặc dân tộc (Mai Kim Thanh, 2010)
Có thể nói đây chính là thời điểm đánh dấu bước chuyển từ những việc làm từ thiện, tình nguyện, bắt nguồn từ những niềm tin và đạo đức, tôn giáo sang một lĩnh vực mới đó là: Công tác xã hội - một hoạt động m ang tính khoa học, một nghề nghiệp
b Thời kỳ khoa hoc
Sau khi Hiệp hội các tổ chức từ thiện ra đời, cũng trong năm này (1898)lớp bồi dưỡng nghiệp vụ đầu tiên đã được tổ chức tại Trường Summer, New York(Mỹ) Lớp học kéo dài tronm g 6 tuần với 27 sinh viên Năm 1901, cũng tại Summer, Trường công tác xã hội đầu tiên (nay là trườne Đại học công tác xã hội Colombia) đã
ra đời Tại đây, sinh viên được đào tạo trong 8 tháng
Trang 28Đen năm 1919 cả Châu Âu và Mỹ đã có 15 trường và năm 1939 các trường này
đã thống nhất chương trình đào tạo chung ờ trình độ thạc sỹ Đây cũng chính là những bằng chửng xác định tính chuyên nghiệp của công tác xã hội
Năm 1925, Chi Lê là nước đầu tiên ở Châu Mỹ La Tinh xuất hiện công tác xã hội, năm 1936, ở Châu Á, trường công tác xã hội được thành lập ờ Án Độ Ở Philippin, nhiều phong trào xã hội, đặc biệt là các tổ chức xã hội như: “ Hội đồng điều phối phúc lợi thanh niên” , “Hội đồng chăm sóc sức khoẻ tinh thần nhằm giáo dục, ngăn ngừa tội phạm trong thanh thiếu niên” sự lần lượt ra đời vào những năm 1950-
1960 (Mai Kim Thanh, 2010)
Đến năm 1955, “Hiệp hội quốc gia những người làm công tác xã hội” (NASW)
đã thành lập từ 7 tổ chức xã hội chuyên nghiệp sâu sát nhập lại
Năm 1956, “Liên đoàn quốc tế những người làm công tác xã hội” (IFSW) rađời
Sau này, với sự phát triển của ngành, công tác xã hội đã^cuất hiệrHhêrrv ờ nhiều nước khác ở Châu Á như: Thái Lan, Indonexia, Việt N am và các khu vực khác trên thế giới
Các to chức Công tác xã hội quốc tế
Hiệp hôi Nhân viên công tác xâ hôi Quốc tế (IFSWj
Liên đoàn các Nhân viên công tác xã hội Quốc tế (IFSW) là tổ chức liên kết nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp trên toàn cầu Nó đại diện cho các tổ chức công tác xã hội chuyên nghiệp hoặc các cơ quan điều phối từ 80 quốc gia với hơn 470.000 nhân viên công tác xã hội ở khẳp mọi nơi trên thế giới Việc thiết lập được một mục tiêu toàn cầu đã nâng cao vai trò cùa công tác xã hội trên phạm vi thế giới (Molisa, 2012) IFSW hướng tới:
- Khuyên khích hợp tác giữa các nhân viên công tác xã hội ở tất cả các nước;
Trang 29- Cung cấp phương tiện để trao đồi thảo luận về ý tường và kinh nghiệm thông qua các cuộc họp, tham quan nghiên cứu, các dự án nghiên cứu, trao đổi, các ấn phẩm
và các phương pháp giao tiếp khác;
- Thiết lập và duy trì các mối quan hệ, và thúc đẩy quan điểm của các tổ chức công tác xã hội và các thành viên với các tổ chức quốc tể liên quan đến phát triển và phúc lợi xã hội;
- Tài trợ cho các hội thảo và hội nghị chuyên đề quốc tế hai năm một lần,
- Phát triển và lập các báo cáo chính sách để hướng dẫn thực hành công tác xã hội trên toàn thế giới,
- ủ n g hộ cho việc bảo vệ quyền con người cho các thực hành viên công tác xãhội
- Cung cấp tư vấn cho Liên Hiệp Quốc về các vấn đề liên quan đến phát triển con người và quyền con người
Hiêp hôi quốc tế các Trương áào tao Công tác Xã hỏi (IASSWJ
Hiệp hội quốc tế các Trường đào tạo Công tác Xã hội, IASSW, là hiệp hội của các trường đào tạo công tác xã hội, các chương trình giáo dục công tác xã hội bậc đại học khác, và các nhà giáo dục công tác xã hội trên toàn thế giới Tổ chức này được thành lập vào năm 1928 tại Hội nghị quốc tế về công tác xã hội lần đẩu tiên, tổ chức tại Paris Ban đầu, tổ chức bao gồm 51 trường đào tạo, chủ yếu là ờ châu Âu, và được gọi là ủ y ban Quốc tế
Hiệp hội này có các trường đào tạo thành viên ớ tất cả các nơi trên thê giới với
5 tổ chức khu vực ở châu Phi, châu Á và Thái Bình Dương, Châu Âu, Mỹ Latinh, Bắc
Mỹ, và Ca-ri-bê Tất cả các khu vực đều được đại điện thông qua Hội đồng quản trị
IASSW thúc đẩy sự phát triển của giáo dục công tác xã hội trên toàn thế giới,
đề ra tiêu chuẩn để nâng cao chất lượng giáo dục công tác xã hội, khuyến khích trao đổi quốc tế, tổ chức diễn đàn để chia sẻ nghiên cứu và học thuật về công tác xã hội, vàthúc đẩy quyền con người và phát triển xã hội thông qua các chính sách và hoạt động
Trang 30vận động 1ASSW tư vấn cho Liên Hợp Quốc và tham gia với vai trò là một tổ chức phi chính phủ trong các hoạt động cùa Liên hợp quốc tại Geneva, Vienna và New York Thông qua công việc của mình tại Liên Hợp Quốc và với các tổ chức quốc tế khác, IASSw đại diện cho giáo dục công tác xã hội ờ cấp quốc tế (Molisa, 2012)
IASSW thực hiện mục đích của mình thông qua:
- Các cuộc họp hai năm một lần của các nhà giáo dục công tác xã hội
- Xuất bản bản tin
- Gửi đại diện tới Liên Hiệp Quốc
- Đồng tài trợ, cùng với IFSW và ICSW, cho tạp chí Công tác Xã hội quốc tế
- Hoạt động của Uỷ ban và lực lượng công tác
- Tài trợ cho các dự án nhỏ xuyên quốc gia trong lĩnh vực giáo dục CTXH
1.3.1.2 Lịch sử Công tác xã hội Việt Nam
Sự phát triển của Công tác xã hội Việt Nam cũng trải qua nhiều thời kỳ khác nhau do đặc điếm của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Trong đó, có thể chia thành 3 giai đoạn sau:
a Trước Cách mang tháng Tám (Tháng 8/19451
Trong thời kỳ phong kiến là những hoạt động mang tính nhân đạo, thể hiện tinh thần của dân tộc Điều này thể hiện qua các chính sách cụ thể của các triều đại phong kiến
Bộ Luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) do vua Lê Thánh Tông ban hành cũng chửa đựng những tư tưởng nhân đạo, nhân quyền sâu sấc như: quy định ràng buộctrách nhiệm cùa các quan lại địa phương trong việc giúp những người có hoàn cảnhkhó khăn, éo le trong đó có trẻ em tàn tật, nghèo khổ, mồ cỏi không nơi nương tựa, trách nhiệm cùa dân chúng trong bảo vệ, chăm sóc trẻ lạc, đưa ra những quy định nhằm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giảm hoặc hoãn thi hành án đối với phụ nữ đang mang thai nuôi con nhỏ, quy định quyền kế thừa tài sản của con nuôi Chẳng hạn ở chương
Trang 31Hộ môn, điêu 11,12 có ghi: “ Những kẻ không ai nuôi dưỡng, quan sở tại có nhiệm vụ dựng lều, nuôi dưỡng Neu ai không làm hoặc không làm tròn thì bị trừng trị bằng
roC\
Triều Gia Long vào thế kỳ 18,19 đã thành lập các “Dương tế sở” Tại đây, người già, trẻ em không nơi nương tựa được nuôi dưỡng thông qua những sản phẩm thu được từ một số ruộng công và những lãi tức thu được cũng từ những ruộng công này giao cho người sở tại cày cấy về sau những nơi này được gọi là “Có nhi viện"
Trong thời gian từ năm 1862-1945, một cô nhi viện tại gò thị Bình Định theo hình mẫu của Pháp do các sơ đồ dạy dỗ, trường mù Nguyễn Đình Chiểu và trường câm điếc Lái Thiêu được thành lập, ở đây trong khi người Pháp phát triển mô hình công tác xã hội tập trung thì những người Việt Nam yêu nước lại nhàm vào những dịch vụ cứu trợ xã hội để giúp đỡ những người nghèo (Molisa, 2012)
Những dấu hiệu đầu tiên của công tác xã hội chuyên nghiệp ở Việt nam có thể thấy đirợr qua sự có mặt cùa những nhà Iu, các sơ, những Nhân viên công tác xã hội là những người được đào tạo ờ nước ngoài (Pháp) và đưa vào Việt Nam để làm việc tại các cơ sở như bệnh viện hay cơ sở xã hội tuy nhiên chù yếu phục vụ cho quân đội sỹ quan Pháp và những người làm việc cho chính quyền Pháp thuộc thời bấy giờ (Molisa, 2012)
Trang 32phong trào "mùa đông binh sỹ" vận động chị em đan áo ấm gửi tặng các chiến sỹ ngoài mặt trận
Công tác xã hội chuyên nghiệp ờ Việt Nam từ sau 1945 với sự có mặt cùa Hội những người trợ giúp của Pháp vào Việt nam làm việc cho các cơ quan của Pháp thời bấy giờ Năm 1947 Hội chữ Thập đò thành lập Trường Caritas tại Sài Gòn Những người học tại đây với những chương trình khác nhau, có thể vài tháng tới 2 năm Sau khi tốt nghiệp họ làm việc cho phòng xã hội cùa Toà Lãnh sự, các cơ quan của Pháp, các trung tâm y tế phục vụ người nghèo Quân đội Việt Nam Cộng hoà thời bấy giờ cũng thành lập trường Xã hội của quân đội nhàm đào tạo người có chuyên môn công tác xã hội để phục vụ cho các gia đình binh sỹ tại các trại lính và các trung tâm xã hội cùa quân đội (Molisa, 2012)
Năm 1968, trường công tác xã hội do Bộ xã hội cũ được lập ra dưới sự hồ trợ của Liên Hợp Quốc (UNDP) Cho tới ngày giải phóng miền Nam, trường đã đào tạo được 300 cán sự xã hội, đến nay số cán sự xã hội này chi còn khoảng 40 người hiện đang công tác tại các đoàn thể, quỹ bảo trợ, các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế (Mai Kim Thanh, 2010)
Cũng trong khoảng thời gian đó và cho tới trước 2010, ở miền Bắc, công tác xã hội được quan niệm là công tác phong trào của các đoàn thể và cán bộ là những học viên của các trường: Trường Đoàn, Trường Đội, Trường cán bộ phụ nữ TW, Trường Công đoàn, Trường lao động xã hội
Ở miền Bắc trong thời kỳ này, chính sách ưu đã đối với thương binh, thân nhân liệt sỹ; Các hoạt động trợ giúp xã hội cho thương binh; các trại điều dưỡng nuôi dưỡng thương binh nặng, cha mẹ liệt sỹ già yếu cô đom, đỡ đầu các con liệt sỹ mồ cô i
Khi giải phóng, đất nước thống nhất rất nhiều đối tượng là người thân liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, trẻ em mồ côi; người tàn tật trong đó có nhiều người tàn tật là nạn nhân chiến tranh, và các nạn nhân của các tệ nạn xã hội ma tuý, mại dâm và các phế binh nguỵ Các hoạt động trợ giúp xã hội trong thời gian này tập trung vào các công việc: đãi ngộ những người thân của liệt sỹ, chăm sóc thương binh, các gia đình
Trang 33thương binh liệt sỹ, đỡ đầu các con liệt sỹ mồ côi; giải quyết các vấn đề xã hội như: nâng đỡ những người thiệt thòi, nạn nhân của các tệ nạn xã hội, các nạn nhân chiến tranh, những người yếu thế trong xã hội; chăm sóc những người có công như lão thành cách mạng, thân nhân liệt sỹ, thương bệnh bin h .(Molisa, 2012)
Nhìn chung, giai đoạn này cũng có thể chia thành các thời kỳ nhỏ:
- Từ 1945 đến 1954, gắn liền với các chính sách của chính phủ Pháp ờ thuộc địa và chính phủ kháng chiến
- Từ 1954 đến 1975: Gấn liền với cuộc kháng chiến chống Mỹ và có sự khác biệt về sự phát triển của công tác xã hội giữa hai miền Nam - Bắc Miền Nam, công tác xã hội phát triển nhàm phục vụ nhu cầu của chiến tranh với sự tham gia của các tổ chức quốc tế, UNDP và chính phủ Việt Nam cộng hòa ở miền Bắc, công tác xã hội gắn với các hoạt động của các đoàn thể, tổ chức xã hội Và quan niệm này vẫn tồn tại cho đến ngày hôm nay trong cách nhìn nhận về nghề công tác xã hội
c Từ 1986 đến nay
Đây là thời kỳ Đất nước tiến hành công cuộc Đổi mới toàn diện Sự hình thành
và phát triển thể chế kinh tế thị trường tạo ra những thay đổi to lớn cho xã hội, đồng thời cũng gây ra nhiều vấn đề xã hội Công tác xã hội thời kỳ này chịu ảnh hưởng của
tư duy Đổi mới và các tác động của kinh tế thị trường Nhu cầu của thời kỳ mới không thể thiếu các hoạt động công tác xã hội, do đó, sự phát triển công tác xã hội là một yêu cầu của thực tế
Giai đoạn này cũng có thể chia thành 2 thời kỳ nhỏ: Từ 1986 đến 2010 và từ
2010 đến nay Dấu mốc để phân chia là việc Thủ tướng Chính phủ ký quyết định phê duyệt Đề án Phát triển nghề công tác xã hội tại Việt Nam Thời kỳ đẩu là thời kỳ phát triển theo xu hướng tự phát và là giai đoạn chuẩn bị của thực tiễn cho sự phát triển hướng đến chuyên nghiệp ờ thời kỳ sau Các dấu mốc quan trọng của giai đoạn này:
Năm 1992, lớp cừ nhân về cán sự xã hội đầu tiên (sau ngày giải phóng) được IHỞ tại khoa Phụ nữ học của trưởng Đại học Mở Bán công Tp Hồ Chí Minh
Trang 34Năm 1995, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học khoa học
xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội) đã phối hợp với Uỷ ban bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam (nay là Uỷ ban Dân số - gia đình và trẻ em Việt Nam) m ở lớp cừ nhân chuyên ngành đầu tiên về công tác xã hội với trẻ em
Từ năm 1996 đến nay, Khoa xã hội học của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) đã đưa công tác xã hội vào chương trình đào tạo của khoa và giảng dạy cho sinh viên trong trường (Nguyễn An Lịch, 2013)
H iệp hội dạy nghề và Nghề công tác xã hội Việt Nam ra đời (23/9/2011) và sau
đó là H iệp hội các trường đào tạo thuộc Hiệp hội Dạy nghề cũng được thành lập là các dấu mốc đánh dấu các hoạt động có tổ chức của Công tác xã hội
N ăm 2011, Đào tạo thạc sỹ Công tác xã hội được tiến hành tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Đen nay có 2 cơ sở đã tiến hành đào tạo thạc sỹ Công tác xã hội và một số cơ sở mở các ngành gần Dự kiến
2015, sẽ đào tạo Tiến sỹ Công tác xã hội tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Tuy nhiên với tư cách một nghề, công tác xã hội đòi hỏi phải có các yếu tố sau: Được đào tạo, có thang bảng lương riêng, có vị trí làm việc, được cộng đồng thừa nhận, có quy định đặc thù của nghề nghiệp Trong các yếu tố đó, Việt Nam còn thiếu
và yếu ở việc quy định vi trí làm việc và được cộng đông thừa nhận Rõ ràng, nhu cầu
Trang 35xã hội lớn nhung khi sinh viên ra trường không thể tìm được việc làm đúng chuyên môn là một sự lãng phí tài nguyên rất lớn Đồng thời, nghề công tác xã hội vẫn chưa
có được sự nhìn nhận đúng đẳn từ các thành phần trong xã hội hiện nay Các hoạt động công tác xã hội được nhìn nhận trong mối quan hệ với hoạt động phong trào, đoàn thể mà không chú trọng đến tính chuyên môn của nghề nghiệp Đây là các yếu tố ảnh hường đến sự phát triển đúng đắn của nghề công tác xã hội ở Việt Nam
Những đặc trưng của công tác xã hội Việt Nam
Do những đặc trưng kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội, công tác xã hội Việt Nam cũng có nhiều đặc trưng:
-Công tác xã hội Việt Nam nhấn mạnh đến việc giải quyết các vấn đề xã hội và
là một công cụ của N hà nước trong việc quản lý xã hội Điều này được minh chứng qua các kế hoạch đào tạo và sừ dụng nhân viên công tác xã hội khi nhấn mạnh đến vai trò của các đoàn thể xã hội Công tác xã hội đang trong giai đoạn phát triển theo chiều rộng gắn với việc giải quyết các vấn đề xã hội Tính chuyên môn cùa Công tác xã hội
vì vậy cũng hạn chế
- Trong các thành phần của Công tác xã hội Việt Nam, các hoạt động từ thiện hay hoạt động trợ giúp của cộng đồng có vai trò quan trọng Điều này thể hiện tinh thần nhân đạo, đùm bọc lẫn nhau của các tầng lớp dân cư
- Ở các quốc gia khác, quá trình phát triển của Công tác xã hội được chia thành
3 giai đoạn: Giai đoạn du nhập từ phương Tây, giai đoạn địa phương hóa, giai đoạn phát triển chuyên sâu và hoàn chinh Ở Việt Nam, 3 giai đoạn này được tiến hành song song
1.3.2 An sinh x ã hội trên thể giới và Việt Nam
1.3.2.1 An sinh xã hội trên thế giới
Con người từ trong những thời kỳ đầu tiên đến hiện nay luôn phải đối mặt với các rủi ro Từ các thảm họa thiên nhiên, các vấn đề xã hội hay cả yếu tố sinh học, làm con người có nguy cơ bị giảm, mất thu nhập hav các khả năne tìm kiếm để đáp ứng
Trang 36các nhu cầu của bản thân Để phòng ngừa, khắc phục và hạn chế rủi ro, Nhà nước đã hình thành một hệ thống để bảo vệ con người, hệ thống đó được gọi là An sinh xã hội,
Từ những thể chế sơ khai đến sự đa dạng của các hệ thống hiện nay, an sinh xã hội đã trải qua một quá trình dài phát triển Đầu tiên là các thiết chế cộng đồng, sau đó đến sự tham gia hạn chế của nhà nước, sau đó là nhiều mô hình khác nhau, trong đó nổi bật là mô hình Nhà nước xã hội của Bismark với hệ thống bảo hiểm xã hội là trụ cột và mô hình Nhà nước phúc lợi cùa Beveridge Sự khác biệt cơ bản của hai mô hình này nằm ở vị trí của các cấu phần cụ thể trong hệ thống an sinh xã hội Neu mô hình cùa Bismark, hệ thống bảo hiểm xã hội bắt buộc mà mức hưởng dựa trên mức đóng (pay as you go) là trụ cột và được Nhà nước cam kết bảo đảm nếu hệ thống mất khả năng thanh toán (Mô hình của Đức) thì mô hình nhà nước phúc lợi lại cho rằng an sinh
và phúc lợi phải bao phủ toàn bộ dân cư, mức chi trả như nhau, được quản lý tập trung, thống nhất (Mô hình Thụy Điển) Đồng thời, nhiều quốc gia có sự kết hợp đặc trưng của hai mô hình nói trên để phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội quốc gia Tuy nhiên, các hình thức sơ khai của an sinh xã hội cũng xuất hiện từ sớm tại Châu Âu và Mỹ
Vào những năm 1300: Trong xã hội phong kiến Châu Âu, tầng lớp quý tộc chủ đất cai quản lao động nông nô, những người không có ruộng đất, họ kiếm sống bang cách làm việc tại vùng đất của các chủ đất Đổi lại, nông nô nhận được sự bảo vệ nói chung cũng như việc chăm sóc khi ốm đau và lúc tuổi già Các nguồn hỗ trợ khác như bệnh viện thời trung cổ cung cấp nơi ờ và chăm sóc cho người già, trẻ em mồ côi nghèo khổ, và những người có bệnh hiểm nghèo và hay bị khuyết tật cũng như khoản
từ thiện giúp đỡ từ nhà thờ
Hoạt động này được hỗ trợ bởi hệ tư tưởng Do Thái-Kitô giáo với quan điểm những người giàu có nên giúp đỡ những người nghèo Nhà thờ đã đóng vai trò chính trong phân phối lại các nguồn lực từ người giàu cho người nghèo
1348, Châu Âu chịu ảnh hưởng của dịch hạch tàn phá với gần 1/3 dân số Anh chết vì dịch bệnh này Điều này đã dẫn đến việc thiếu lao động trầm trọng, dân di cư tìm kiếm công việc Đây có thể là nguy cơ làm nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến trật tự xã hội Do đó, một loạt các chính sách được ban hành, trong đó có Đạo luật
Trang 37Người Lao động(1349) được Vua Edward III ban hành Đây đạo luật đầu tiên dành cho những người nghèo ở Anh, nhằm hạn chế lao động thất nghiệp di cư, tạo sự ổn định.
Năm 1520, Martin Luther, người Đức kêu gọi giới quý tộc cấm các hình thức
ăn xin và thay vào đó là tổ chức các "hòm từ thiện chung" tài trợ cho những người nghèo cần giúp đỡ
Năm 1536, Vua Henry VIII đã thông qua một đạo luật đầu tiên về vấn đề trợ giúp cộng đồng của chính phủ Anh Đạo luật này quy định ràng người nghèo chi được đăng ký tại giáo xứ sau khi họ đã cư trú tại đó từ ba năm trở lên Những người
“nghèo do mất khả năng” phải được chăm sóc trong giáo xứ thông qua các hoạt động quyên góp cúa nhà thờ Những người ăn xin còn khỏe mạnh buộc phải làm việc và trẻ
em không có việc làm được tách ra khỏi bố mẹ và được cho phép đi học trong chương trình nhất định
Cách mạng kỹ thuật tạo ra những sự thay đồi lớn lao ờ nước Anh Những nông dân, tá điền là nạn nhân của phong trào Rào đất, trồng cỏ, nuôi cưu đã tràn ra thành phố, đô thi làm việc Đời sống vô cùng khó khăn Lúc này, giáo hội Anh lại băng hoại, người dân mất đi một nguồn hỗ trợ Đạo luật cho người nghèo của Nữ hoàng Elizabeth (1601) đã ra đời để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong xã hội Đây là dấu mốc quan trọng đối với lịch sử an sinh xã hội thế giới Đạo luật đã tính đến các quy định mang lại sự hỗ trợ công chặt chẽ và phù hợp cho các gia đình khó khăn thông qua các khoản thuế địa phương Đó cũng là hành động đầu tiên nhàm phân loại những người đu tiêu chuẩn được hưởng trợ giúp bằng cách xác định ba yếu tố sau: 1.) Trẻ em không có họ hàng chúng có thể được giúp đỡ v ề lý thuyết, bé trai sẽ được học nghề đến 24 tuổi và các bé gái sẽ được hồ trợ nội trợ cho đến khi 21 tuổi hoặc kết hôn; 2.) Những người nghèo do m ất khả năng bao gồm những người không thể lao động chân tay hay trí óc
Họ sẽ được nhận hoặc là “trợ cấp sinh hoại trong nhà” - được bố trí ờ trong cơ sở xã hội, nơi cung cấp thức ăn, nơi được gọi là nhà tế bần hay nhà cho người nghèo; và
“trợ cấp sinh hoạt ngoài trời” tạo cơ hội để có thể sống bên ngoài cơ sở nhưng vẫn nhận được những hỗ trợ cơ bản như thực phẩm, quần áo và nhiên liệu 3.) Những
Trang 38người nghèo khỏe mạnh được hỗ trợ tạo việc làm phổ thông và bị buộc phải làm việc nếu không sẽ bị phạt tù, thậm chí là tử hình Một số người buộc phải làm việc ở cả trại
tế bần, các nơi làm việc
Đến thế kỷ 19, khoảng cách giữa người giàu và người nghèo gia tăng, trong khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp các cơ quan từ thiện tư nhân tham gia vào việc trợ giúp vật chất cho người nghèo tăng lên
Để khắc phục tình trạng hỗn loạn và thiếu sự phối hợp giữa các nhà thờ, nhóm
từ thiện và các cơ quan tư nhân, Hiệp hội Tổ chức cứu trợ từ thiện và xóa bỏ ăn xin được thành lập tại London năm 1869, và trong thời gian ngắn, đổi tên thành Hiệp hội tổ chức từ thiện (COS) COS tin rằng các cá nhân cần chịu trách nhiệm về sụ
nghèo đói của mình, sự cứu trợ làm mất đi lòng tự trọng và dẫn đến sự phụ thuộc Người ăn xin cần được phát huy nỗ lực để giúp chính mình COS đã khuyến khich sự phát triển của tổ chức từ thiện tư nhân và sự chủ động của các tình nguyện viên trợ giúp cá nhân, gia đình có khó khăn
Nghiên cứu Xã hội - Triết lý xã hội và hoạt động cứu trợ người nghèo ở Anh cũng chịu nhiều ảnh hường bởi các nghiên cửu thực hiện trên các điều kiện của các tầng lớp lao động Một trong những nghiên cửu quan trọng được khởi xướng bởi Charles Booth (1886), doanh nhân giàu thực hiện một nghiên cứu về điều kiện thực tế của hàng ngàn gia đình công nhân làm việc Nghiên cứu cho thấy một phần ba dân số London sinh sống ở mức hoặc dưới mức nghèo khổ Những phát hiện của nghiên cứu bác bỏ lý thuyết trước đó là đói nghèo luôn luôn là lỗi của cá nhân Các nghiên cứu cũng cho thấy ràng các quy định của pháp luật dành cho người nghèo đã không giải quyết được vấn đề của người nghèo, và thiếu thốn thường gây ra bởi không đủ tiền lương, môi trường, nhà ở không đầy đủ và thiết bị làm việc không lành mạnh
Tại Mỹ, cuộc nội chiến (1861 - 1865) đã có ảnh hưởng rất lớn đến cấu trúc xã hội của Mỹ, trong đó có hệ thống an sinh xã hội Năm 1865, Cục của Những người tự
do được thành lập, một cơ quan liên bang đầu tiên được thành lập là tiền thân của các bang thành viên trong vấn đề Dhúc lợi xã hội Nó được ủng hộ bởi ủ y ban Chiếntranh; nhấn mạnh vào mục đích giải quyết ván đề suy thoái (sau chiến tranh)
Trang 39Giai đoạn từ 1900 đến 1930 đến đầu thế kỳ 20, phong trào nhà định cư nhà và hoạt động của các tổ chức từ thiện phát triển và có vai trò quan trọng cho sự hình thành công tác xã hội.
Một dấu mốc quan trọng là thuật ngữ “Social Security” được chính thức đề cập trong Bộ luật An sinh xã hội năm 1935 của Mỹ Đến năm 1950, Bộ luật An sinh Xã hội này được chỉnh sửa, thêm vào các điều khoản hỗ trợ những người tàn tật (1950), sau đó được sửa chữa lần tiếp theo vào năm 1967 Ngoài ra, còn nhiề Luậ khác được thông qua như Luật người khuyết tật năm 1990, Luật hỗ trợ tư pháp năm 1990
Hiện nay, an sinh xã hội đã trở thành mục tiêu được tất cả các quốc gia quan tâm để hướne, đến mục tiêu phát triển công bằng, bền vững dựa trên việc phân phối lại thu nhập, tạo cơ hội cho các nhóm yếu thế bàng việc hỗ trợ các nguồn lực cần thiết
1.3.2.2 An sinh xã hội tại Việt Nam
Từ thời kỳ phong kiến đến nay, an sinh xã hội Việt Nam đã trải qua nhiều mô hình với nhiều đặc trưng độc đáo Luật Hồng Đức là Bộ luật sớm nhất quy định về trách nhiệm của quan lại trong việc trợ giúp người hoạn nạn, việc giúp đỡ người già, trẻ mồ côi Đến thời Nguyễn, các Dương Tế Sở chính là các thiết chế nhà nước trợ giúp các nhóm yếu thế Ngoài ra, không thể không nhắc đến các cơ chế cộng đồng trong đảm bảo an sinh xã hội cho người dân thông qua các loại hình như trợ sưu điền,
cô nhi điền, hay những sự chia sẻ của gia đình, dòng họ trong đảm bảo an sinh xã hội
Bảng dưới mô tả các đặc trưng của ba mô hình an sinh xã hội mà Việt Nam đã trải qua trong suốt chiều dài lịch sử của mình
Bảng 1 Đặc điểm các mô hình trong lịch sử an sinh xã hội Việt Nam
- Các tô chức tôn giáo
- Đảm bảo an sinh xã hội là vai trò của gia đình và dòng họ
- Các thiết chế cộng động có vai trò quan trọng
Trang 40- Nhà nước - Nhà nước đưa ra khuôn khô luật
- An sinh xã hội toàn dân thông qua gắn người dân với an sinh xã hội tập thể
- Các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục được cung cấp miễn phí
- Phát triển bảo hiểm xã hội cho lao động khu vực Nhà nước
- Vai trò quan trọng cùa các hợp tác
xã hội trong bảo đảm an sinh xã hội ở nông thôn
- Quản lý tập trung, kế hoạch hóa
- Mang đặc điểm giống mô hình nhà nước phúc lợi nhiều hom
- Đảng và Nhà nước giữ vai trò trụ cột
- Huy động sự tham gia cùa toàn thể
tổ chức, cá nhân trong xã hội
- Sự tham gia của khu vực tư nhân
- Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế đóng vai trò xương sống
- Có sự kết hợp giữa các chế độ dựa trên đóng góp và khône đóng góp
- Các hỗ trợ quốc tế được mở rộng theo hướng đa phương hóa