1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc khmer tại tỉnh cà mau

88 250 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu hỏi nghiên cứu Đề tài được thực hiện nhằm trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau đây: Thứ nhất: Trong pháp luật về an sinh xã hội của một quốc gia, liệu có cần thiết phải có chính s

Trang 1

NGUYỄN DUY TRƯỜNG

PHÁP LUẬT VỀ AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI ĐỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 2

NGUYỄN DUY TRƯỜNG

PHÁP LUẬT VỀ AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER TẠI TỈNH CÀ MAU

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Đoàn Thị Phương Diệp

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi họ và tên: Nguyễn Duy Trường, mã số học viên: 7701251100A, là học viên

lớp Cao học Luật, Khóa 25 chuyên ngành Luật kinh tế (Mã ngành: 60380107), Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc

sĩ luật học với đề tài “PHÁP LUẬT VỀ AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO

DÂN TỘC KHMER TẠI TỈNH CÀ MAU” (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)

Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả điều tra, tổng hợp, nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả, trích dẫn một số Điều luật, Nghị định, Thông tư và các Văn bản có liên quan Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn

cụ thể, chính xác và có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực./

Học viên thực hiện

Nguyễn Duy Trường

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: Tổng quan pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer 9

1.1 Khái quát chung pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer 9

1.1.1 Khái niệm dân tộc và dân tộc thiểu số 9

1.1.1.1 Khái niệm dân tộc 9

1.1.1.2 Khái niệm dân tộc thiểu số 10

1.1.2 Khái niệm an sinh và an sinh xã hội 11

1.1.2.1 Khái niệm an sinh 11

1.1.2.2 Khái niệm an sinh xã hội 12

1.2 Pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam 14

1.2.1 Sự cần thiết của pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam 14

1.2.2 Cơ sở lý luận của của pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam 15

1.2.3 Pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam qua các thời kỳ 18

1.2.3.1 Thời kỳ Đảng Cộng sản được thành lập đến khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (1930 - 1945) 18

1.2.3.2 Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) 19

1.2.3.3.Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc (1955 - 1975) 20

1.2.3.4 Thời kỳ từ năm 1976 đến nay 20

1.2.4 Vai trò, ý nghĩa của pháp luật về an sinh xã hội đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số 21

1.3 Nội dung pháp luật việt nam hiện hành về an sinh xã hội đối với đồng bào thiểu số 22

1.3.1 Hệ thống văn bản pháp luật về chính sách dân tộc (còn hiệu lực) ra đời trước Nghị định số 05/2011/NĐ-CP 22

1.3.2 Sự ra đời và nội dung cơ bản của Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc 23

1.3.3 Các chính sách dân tộc thiểu số trong Nghị định số 05/2011/NĐ-CP 24

Trang 5

1.3.4 Các văn bản của Thủ tướng Chính phủ sau Nghị định số 05/2011/NĐ-CP 25

Kết luận chương 1 26

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer tại Cà Mau 28

2.1 Đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh Cà Mau 28

2.1.1 Vài nét về cộng đồng các dân tộc trên địa bàn tỉnh Cà Mau 28

2.1.2 Những đặc điểm cư trú và kinh tế của đồng bào dân tộc Khmer 29

2.1.2.1.Về đặc điểm cư trú 29

2.1.2.2 Đặc điểm về kinh tế 33

2.2 Thực tiễn triển khai thực hiện pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer 35

2.2.1 Quán triệt và lập kế hoạch, đề xuất những giải pháp thực hiện Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ 35

2.2.2 Ban hành các văn bản triển khai thực hiện Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ 36

2.2.3 Kiện toàn bộ máy và huy động các nguồn lực cho việc thực hiện pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh Cà Mau 37

2.2.3.1 Kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan làm công tác dân tộc 37

2.2.3.2 Huy động và sử dụng các nguồn lực 38

2.3 Thực trạng thực hiện pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer và kết quả 39

2.3.1 Thực hiện pháp luật về chính sách đầu tư phát triển bền vững 39

2.3.1.1 Quá trình thực hiện và kết quả 39

2.3.1.2 Ý nghĩa của thực hiện pháp luật về đầu tư phát triển bền vững 41

2.3.2 Thực hiện pháp luật về chính sách hỗ trợ giáo dục và đào tạo 42

2.3.2.1 Quá trình thực hiện và kết quả 42

2.3.2.2 Ý nghĩa của thực hiện pháp luật về chính sách hỗ trợ giáo dục và đào tạo.44 2.3.3 Thực hiện pháp luật về chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa 45

2.3.3.1 Quá trình thực hiện và kết quả 45

2.3.3.2 Ý nghĩa thực hiện pháp luật về chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa 46

2.3.4 Thực hiện pháp luật về chính sách y tế - dân số 47

2.3.4.1 Quá trình thực hiện và kết quả 47

2.3.4.2 Ý nghĩa thực hiện pháp luật về chính sách y tế và dân số 47

2.3.5 Thực hiện pháp luật về chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý 48

Trang 6

2.3.5.1.Quá trình thực hiện và kết quả 48

2.3.5.2 Ý nghĩa thực hiện pháp luật về chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý 50

2.3.6 Thực hiện pháp luật về chính sách bảo vệ môi trường sinh thái 50

Kết luận chương 2 51

Chương 3: Đánh giá pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer tại Cà Mau, một số giải pháp và kiến nghị 53

3.1 Đánh giá pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer tại Cà Mau 53 3.1.1 Đánh giá bằng so sánh kết quả với mục tiêu 53

3.1.1.1 Pháp luật về chính sách đầu tư phát triển bền vững 53

3.1.1.2 Năm nhóm pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer 55

3.1.2 Đánh giá chung 57

3.1.2.1 Về ưu điểm 57

3.1.2.2 Kết quả đạt được 58

3.1.2.3 Ý nghĩa của pháp luật về 06 nhóm ASXH đối với đồng bào dân tộc Khmer 61

3.2 Những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân 61

3.2.1 Những khó khăn 61

3.2.2 Những vướng mắc 62

3.2.3 Nguyên nhân 63

3.3 Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị 64

3.3.1 Đề xuất một số giải pháp 64

3.3.1.1 Xây dựng phương án tạo quỹ đất ở, đất sản xuất để thực hiện chính sách hỗ trợ đối với hộ dân tộc Khmer nghèo 64

3.3.1.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh vùng dân tộc thiểu số 65 3.3.1.3 Tăng cường đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng vùng dân tộc Khmer 66

3.3.1.4 Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành phi nông nghiệp vùng đồng bào dân tộc Khmer 67

3.3.1.5 Nâng cao dân trí; đào tạo nghề và giải quyết việc làm đối với đồng bào dân tộc Khmer 67

3.3.1.6 Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị vùng đồng bào dân tộc Khmer 68

3.3.2 Một số kiến nghị 70

Kết luận chương 3 72

KẾT LUẬN 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Trang 7

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CTVDĐB : Công tác vận động đồng bào

ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long

PBGDPL : Phổ biến giáo dục pháp luật

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập, Việt Nam không chỉ đối mặt với việc phát triển kinh tế - xã hội mà còn phải thực hiện pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) là những đối tượng chịu nhiều thiệt thòi Một trong những đối tượng cần có pháp luật về an sinh xã hội đặc biệt là những người DTTS đang sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

Cà Mau là tỉnh cực Nam của Tổ quốc, là vùng đất có điều kiện tự nhiên đa dạng, đất đai, địa hình, sông rạch, biển và bờ biển, hải đảo, rừng ngập mặn , là thế mạnh được thiên nhiên ưu đãi; nên Cà Mau là điểm đến lập nghiệp của các dân tộc khắp cả nước Hiện nay, Cà Mau có trên 14 dân tộc cùng sinh sống Trong nhiều thế

hệ, các dân tộc này đã sát cánh bên nhau, giúp đỡ và hỗ trợ nhau trong lao động, sản xuất, chiến đấu chống ngoại xâm và xây dựng quê hương Cà Mau ngày càng văn minh, giàu đẹp Vì vậy, trong hơn 40 năm sau giải phóng, nhất là từ sau khi tái lập tỉnh Cà Mau năm 1997 đến nay, thực hiện pháp luật về an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ trên địa bàn tỉnh Cà Mau Những năm qua, Cà Mau đã triển khai nhiều biện pháp, giải pháp để hỗ trợ phát triển bền vững, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc , góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, đảm bảo quyền bình đẳng giữa các dân tộc và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày một đạt hiệu quả hơn

Trong giai đoạn hội nhập và phát triển của đất nước, Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc; Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011 - 2020 và Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020; vị trí, vai trò của các dân tộc là vô cùng quan trọng Từ ý nghĩa đó, tỉnh

Cà Mau đã xây dựng Kế hoạch, chủ trương và các giải pháp thực hiện Chương trình, Dự án hỗ trợ cho đồng bào các dân tộc thiểu số như: chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, phát triển sản xuất, chính sách hỗ trợ tín dụng, chính sách đào tạo nghề

và giải quyết việc làm cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo, đã góp phần củng cố

và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc phù hợp với điều kiện và khả năng phát triển của địa phương

Nhìn chung, việc thực hiện một số pháp luật về an sinh xã hội (ASXH) đối với đồng bào DTTS có những tác dụng tích cực trên nhiều mặt Cụ thể hơn, đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số không ngừng nâng lên, nhiều hộ đồng bào từ

Trang 9

nghèo đói đã trở nên khá giả, nhà cửa ngày càng khang trang; đời sống văn hóa, giáo dục, y tế môi trường ngày càng được cải thiện, con em đồng bào các dân tộc đến trường ngày một tăng

Trong 14 dân tộc đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Cà Mau, có 13 dân tộc thiểu số, trong đó đồng bào dân tộc Khmer đông nhất và cư trú xen kẽ các dân tộc khác nhưng tập trung nhiều ở vùng sâu, vùng xa của các huyện Nhờ thực hiện pháp luật về an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh Cà Mau mà đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc đã được cải thiện, nâng cao Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, đời sống của đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh Cà Mau hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn Trình độ dân trí nói chung, trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật nói riêng của đồng bào dân tộc Khmer còn tương đối thấp; quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra còn chậm; việc vận dụng thành tựu khoa học - công nghệ vào sản xuất và đời sống còn hạn chế Theo tổng hợp Báo cáo của Ban Dân tộc tỉnh, tỷ

lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc Khmer vẫn còn cao (đến nay còn 25,67% hộ nghèo theo tiêu chí mới), thậm chí có nơi tỷ lệ này còn cao hơn, lên đến trên 40%, tình trạng tái nghèo vẫn còn diễn ra ở nhiều vùng đồng bào dân tộc Khmer Vì vậy,

đề tài tập trung nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về ASXH đối với đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ tại Cà Mau

Qua khảo sát thực tế, chúng tôi nhận thấy có nhiều nguyên nhân làm cho đời sống của đồng bào Khmer ở Cà Mau chưa có những cải thiện tương xứng với sự đầu tư của Nhà nước, trong đó có nguyên nhân là pháp luật về an sinh xã hội chưa phù hợp với điều kiện thực tiễn tại Cà Mau Với mong muốn tìm hiểu đầy đủ về nguyên nhân này và từ đó đề xuất những giải pháp thích hợp để triển khai, thực hiện pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh; thông qua đó nâng cao đời sống vật chất và văn hóa tinh thần đối với đồng bào các dân tộc, góp phần đảm bảo giảm nghèo bền vững, ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn - xã hội ở địa phương Với những lý do trên, tác giả quyết định chọn

đề tài: “Pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer tại Cà Mau”

để làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Luật học

2 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

2.1 Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài được thực hiện nhằm trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau đây: Thứ nhất: Trong pháp luật về an sinh xã hội của một quốc gia, liệu có cần thiết phải có chính sách và quy định riêng đối với đồng bào dân tộc thiểu số không?

Trang 10

Thứ hai: Pháp luật về an sinh xã hội (ASXH) áp dụng đối với đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay gồm những nội dung nào? Nội dung đó có đáp ứng được yêu cầu bảo đảm ASXH đối với đối tượng là đồng bào Khmer ?

Thứ 3: Thực tiễn áp dụng các pháp luật về an sinh xã hội này tại Cà Mau như thế nào? Có những hạn chế, khiếm khuyết và vướng mắc trong hệ thống pháp luật ?

Thứ 4: Cần thực hiện các biện pháp nào để hoàn thiện pháp luật và cơ chế thúc đẩy việc bảo đảm pháp luật về ASXH đối với đồng bào dân tộc thiểu số ?

2.2 Giả thuyết nghiên cứu

Thứ nhất: Pháp luật về an sinh xã hội của một quốc gia không thể thiếu chính sách và quy định riêng đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Thứ hai: Pháp luật về ASXH áp dụng đối với đồng bào DTTS tại Việt Nam

đã được ban hành nhưng còn bộc lộ nhiều hạn chế, khiếm khuyết và vướng mắc cần được khắc phục

Thứ 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về ASXH đối với đồng bào dân tộc thiểu

số tại Cà Mau cho thấy xuất hiện những bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu và đòi hỏi đảm bảo pháp luật về ASXH cho nhóm đối tượng này

Thứ 4: Cần sớm hoàn thiện các quy định của pháp luật cũng như cơ chế thực hiện pháp luật về việc bảo đảm các ASXH đối với đồng bào dân tộc thiểu số

3 Tình hình nghiên cứu

Trong những năm qua, vấn đề triển khai, thực hiện pháp luật về ASXH đối với đồng bào dân tộc từ lâu đã nhận được sự quan tâm của các học giả, các nhà khoa học, các nhà quản lý Nhà nước về dân tộc; đã có nhiều công trình nghiên cứu

và bài viết đăng tải trên sách, báo, tạp chí, internet,… liên quan đến vấn đề dân tộc

và thực hiện pháp luuật về ASXH đối với đồng bào dân tộc của Đảng và Nhà nước

ta

Tuy nhiên, vấn đề triển khai, thực hiện pháp luật về ASXH đối với đồng bào các dân tộc thiểu số thì chưa trực tiếp và chưa đáp ứng được nhu cầu đối với đồng bào DTTS như hiện nay Vấn đề này, đã được một số công trình nghiên cứu tiếp cận từng khía cạnh khác nhau như vấn đề chính sách dân tộc thiểu số, chính sách dân tộc Khmer; vấn đề về dân cư, dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long, các phong tục tập quán truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer, vấn đề dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới, Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu về tình trạng tảo hôn hay các lễ, hội, tết truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer giới thiệu trong các hội thảo, các chuyên khảo của người Pháp, Mỹ, các

Trang 11

học giả Việt Nam trước đây Đặc biệt, từ năm 1986 đến nay, quy định của pháp luật

về ASXH đối với đồng bào DTTS đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về dân tộc thiểu số và nghiên cứu quá trình thực hiện chính sách đối với đồng bào dân tộc Khmer tại khu vực ĐBSCL

Có thể kể một số công trình, bài viết tiêu biểu như:

- Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2000), “Vấn đề dân tộc và chính

sách dân tộc của Đảng cộng sản Việt Nam”, Chương trình chuyên đề dùng cho cán

bộ đảng viên cơ sở, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội

- Phân viện Hà Nội - Khoa Dân tộc (1995), “Vấn đề dân tộc và chính sách

dân tộc của Đảng và Nhà nước ta” Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội (tập

bài giảng chương trình cử nhân chính trị) Sách bao gồm các bài giảng đề cập tới đặc điểm của các dân tộc Việt Nam, nghiên cứu mối quan hệ tộc người, hoạt động kinh tế truyền thống, nền văn hóa, thiết chế, quan hệ gia đình, hôn nhân, tôn giáo của các dân tộc Việt Nam, chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam

- Luận án tiến sỹ của Nguyễn Thanh Thủy (2001), “Sự tác động chính sách

dân tộc của Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực kinh tế - xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer”, Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội

- Luận án tiến sỹ của Trần Đại Nam (2001), “Đời sống văn hóa tinh thần của

đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ trong công cuộc đổi mới hiện nay”, Viện Hàn

Lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội Tác giả đã tìm hiểu và khái quát được khá nhiều những đặc điểm về đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ

- Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Tấn Thời (2005), “Đảng bộ An Giang lãnh

đạo thực hiện chính sách dân tộc đối với đồng bào Khmer 1996 -2004”, Viện Hàn

Lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội 2005 Đây là đề tài đã trực tiếp nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách đối với đồng bào dân tộc Khmer ở An Giang và đã đánh giá thành tựu, hạn chế và rút ra những kinh nghiệm trong quá trình thực hiện

- Bài viết của Đặng Vũ Liêm,“Tiếp tục thực hiện tốt chính sách ở các vùng

dân tộc và miền núi cải thiện đời sống nhân dân”, (Tạp chí quốc phòng toàn dân số

02/1999) Trên cơ sở phân tích các chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, tác giả đã nêu ra những giải pháp trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số

- Phan Hữu Dật: “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến

mối quan hệ dân tộc hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001

Trang 12

- Hội đồng dân tộc của Quốc hội khóa X: “Chính sách dân tộc của Đảng,

Nhà nước về dân tộc”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.35

- "Một số vấn đề về dân tộc và phát triển", Ủy ban Dân tộc - Viện Dân tộc (2005), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Nội dung cuốn sách đề cập đến những vấn

đề lý luận, xác định chức năng của nhà nước về công tác dân tộc, chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước về kinh tế, ngành nghề thủ công, nguồn nhân lực, giải quyết vấn đề di dân ở đồng bào DTTS, vai trò của người già chức sắc dân tộc, vai trò nghiên cứu khoa học với công tác dân tộc, sự phát triển bền vững, bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc dân tộc

Như vậy, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về triển khai, thực hiện pháp luật và chính sách an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer Nam

bộ nói chung, ở Cà Mau nói riêng và những đối tượng dễ bị thiệt thòi Từ đó, việc nghiên cứu và đưa ra các kiến nghị, đề xuất giải pháp để hoàn thiện hệ thống pháp luật về ASXH đối với đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ hiện nay và trong thời gian

tới là rất cần thiết Do đó, luận văn “Pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào

dân tộc Khmer tại Cà Mau” không trùng với một công trình khoa học nào đã được

công bố

4 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát thực tế việc triển khai thực hiện pháp luật về ASXH, gồm 06 nhóm như: (i) đầu tư phát triển bền vững; (ii) phát triển giáo dục và đào tạo; (iii) bảo tồn và phát triển văn hóa; (iv) y tế, dân số; (v) phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý; (vi) bảo vệ môi trường, sinh thái đối với đồng bào dân tộc Khmer giai đoạn năm 2011-2015; Luận văn nêu lên những thực trạng và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả việc triển khai thực hiện pháp luật về ASXH đối với đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ trên địa bàn tỉnh Cà Mau trong thời gian tới

4.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là:

Thứ nhất: Nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Thứ 2: Nghiên cứu thực trạng các quy định của pháp luật về an sinh xã hội

áp dụng đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Thứ 3: Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Cà Mau

Trang 13

Thứ 4: Đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số

4.2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật về ASXH đối với đồng bào DTTS tại Việt Nam nói chung và đồng bào Khmer Nam bộ nói riêng

Các quy định của pháp luật về ASXH đối với đồng bào DTTS, đồng bào dân tộc Khmer

Các quy định của pháp luật về ASXH đối với đồng bào dân tộc thiểu số là đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm cả các quy định của cấp trung ương và cấp địa phương

4.3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu 06 nhóm pháp luật về ASXH áp dụng đối với đồng bào dân tộc thiểu số là người Khmer đã được xác định trong các quy định của pháp luật hiện hành gồm: (i) đầu tư phát triển bền vững; (ii) phát triển giáo dục và đào tạo; (iii) bảo tồn và phát triển văn hóa; (iv) y tế, dân số; (v) phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý; (vi) bảo vệ môi trường, sinh thái đối với đồng bào dân tộc Khmer nghèo, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn Vì trên thực tiễn tại Cà Mau chỉ triển khai và thực hiện 06 nhóm pháp luật về ASXH đối với đồng bào dân tộc Khmer

4.3.1 Về phạm vi không gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các quy định

pháp luật của Việt Nam do cơ quan Nhà nước cấp trung ương ban hành, đối với các quy định cấp địa phương, đề tài khảo sát và đánh giá các quy định của cấp địa phương tại tỉnh Cà Mau

Việc thực hiện pháp luật về ASXH và đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật được thực hiện tại địa bàn tỉnh Cà Mau

4.3.2 Về thời gian nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu thực tiễn thực

hiện pháp luật từ năm 2011 là năm Chính phủ ban hành Nghị định số

05/2011/NĐ-CP về chính sách dân tộc đến nay Các kiến nghị được đưa ra trong Luận văn được

đề xuất với tầm nhìn đến năm 2025

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp hệ thống hóa, tổng hợp và phân tích được thực hiện tại phần 1.1 và 1.2 của chương 1 của Luận văn, nhằm làm rõ sự cần thiết của pháp luật về

an sinh xã hội đối với dân tộc thiểu số

Trang 14

- Phương pháp hệ thống hóa pháp luật, phân tích luật viết được thực hiện tại mục 1.3, chương 1 của Luận văn nhằm làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số

- Phương pháp khảo sát thực tiễn, phân tích số liệu thống kê được thực hiện tại chương 2 và 3 của Luận văn để làm rõ thực tiễn việc triển khai, thực hiện pháp luật về ASXH đối với đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ trên địa bàn tỉnh Cà Mau

- Phương pháp tổng hợp, dự báo được thực hiện để đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Về nguồn số liệu, Luận văn thu thập số liệu và nguồn thông tin thứ cấp từ Ban Dân tộc tỉnh Cà Mau, Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh, Cục Thống kê tỉnh, Ngân hàng Chính sách tỉnh, Tạp chí chuyên ngành về hoạt động Dân tộc thiểu

số và Miền núi ở Việt Nam

Ngoài ra, tác giả còn trao đổi trực tiếp với cơ quan thực hiện chức năng quản

lý Nhà nước về dân tộc, lãnh đạo các huyện có thực hiện pháp luật về ASXH (Chương trình 135) lãnh đạo các xã được thụ hưởng Chương trình 135 và vùng có đông đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh Cà Mau

6 Ý nghĩa khoa học và khả năng ứng dụng

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các nhà xây dựng và hoạch định pháp luật về ASXH đối với đồng bào vùng dân tộc thiểu số của cả nước và từng địa phương; đồng thời, luận văn cũng có thể phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu và triển khai thực hiện tại Ban Dân tộc tỉnh, phòng Dân tộc các huyện, thành phố Cà Mau

Luận văn cũng là nguồn tài liệu cho những người nghiên cứu và đào tạo hoạt động quản lý Nhà nước về công tác dân tộc và triển khai thực hiện pháp luật về ASXH dành cho đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ ở Cà Mau Luận văn có thể sử dụng trong truyền thông, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số và người có uy tín trong đồng bào DTTS, đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ trên địa bàn tỉnh Cà Mau

Luận văn góp phần cung cấp những hạn chế, khiếm khuyết của hệ thống pháp luật về ASXH đối với đồng bào DTTS, trong đó có dân tộc Khmer Nam bộ ở tại Cà Mau; trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng, từ đó có một cách nhìn toàn diện để có đề xuất các biện pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế thúc đẩy việc đảm bảo triển khai thực hiện pháp luật về ASXH đối với đồng bào dân tộc Khmer và giải pháp mang tính chất gợi mở để phục vụ cho việc nghiên cứu, đề xuất

Trang 15

những chủ trương, chính sách đối với đồng bào DTTS và đánh giá sự cần thiết xây dựng dự án Luật Dân tộc để hoàn thiện thể chế pháp luật, nhằm đảm bảo thực hiện pháp luật về ASXH đối với đồng bào DTTS trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, mục lục, lời cam đoan, danh mục chữ viết tắt và kết luận, luận văn gồm có 03 chương

Chương 1: Tổng quan pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc

Khmer

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng

bào dân tộc Khmer Nam bộ tại Cà Mau

Chương 3: Đánh giá pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc

Khmer tại Cà Mau, một số giải pháp và kiến nghị

Trang 16

Chương 1: Tổng quan pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer

1.1 Khái quát chung pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer

1.1.1 Khái niệm dân tộc và dân tộc thiểu số

1.1.1.1 Khái niệm dân tộc

Trong lịch sử nhân loại, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng cho đến nay, dân tộc được hiểu theo hai nghĩa cơ bản như sau:

Nghĩa hẹp: Dân tộc là tên chỉ cộng đồng người hình thành và phát triển trong

lịch sử, sau khi xã hội đã có sự phân chia giai cấp và xuất hiện nhà nước1

Trong xã hội nguyên thuỷ đã có thị tộc (gồm các thành viên có mối quan hệ huyết thống), còn bộ lạc (gồm những người có cùng họ và khác họ sinh sống trên một địa bàn) Họ phải lao động và sản xuất để tự nuôi sống bản thân, dần dần con người cũng phát triển theo, cùng với những đặc trưng cơ bản như: có ngôn ngữ, có những nét đặc trưng về văn hóa , hình thức của cộng đồng người cũng có sự tiến hóa như: từ sống phân tán đến tập trung, từ thấp đến cao, từ đó hình thành nên cộng đồng tộc người và những dân tộc khác nhau cùng sinh sống trên một địa bàn (phum, sóc) như hiện nay

Như vậy, dân tộc là một cộng đồng người cùng chung một lịch sử, sống chung trên một lãnh thổ quốc gia, nói chung một ngôn ngữ, có chung một nền văn hoá; là tổng hợp các giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra Văn hóa của các dân tộc có những nét chung giống nhau, nhưng cũng có những nét đặc trưng riêng gọi là bản sắc dân tộc; bản sắc dân tộc tạo ra tính đa dạng, phong phú của nền văn hóa nhân loại như ở Việt Nam gồm có 54 dân tộc cùng sinh sống

1 Phạm Huy Châu (2007), Về khái niệm dân tộc và chủ nghĩa dân tộc, Tạp chí Triết học, số 11 (198), tháng

11 – 2007, xem tại niem-dan-toc-va-chu-nghia-dan-toc-461.html

Trang 17

http://philosophy.vass.gov.vn/nghien-cuu-theo-chuyen-de/Triet-hoc-Van-hoa/Ve-khai-chia cắt), song phần lớn là những quốc gia đa dân tộc Bên cạnh đó, cũng có những dân tộc sống phân tán ở những quốc gia khác nhau trên thế giới

Trong lịch sử, hình thành và phát triển các dân tộc không đồng đều nhau, như về thời gian, quy mô dân số, sức sống và trình độ Có nhiều dân tộc tự phát và

họ liên kết với nhau, hòa nhập vào nhau hoặc đồng hóa, thôn tính lẫn nhau Xu thế lịch sử của dân tộc là cần phải có nhà nước để bảo vệ lãnh thổ quốc gia của mình Ý thức về chủ quyền lãnh thổ của các dân tộc phát triển thành ý thức quốc gia dân

tộc hay chủ nghĩa yêu nước Bản thân nhà nước, đến lượt nó, lại có những tác động

trở lại nhằm củng cố sự đoàn kết dân tộc, sự thống nhất nhiều dân tộc trong biên giới và lãnh thổ của mình2

Nghĩa rộng: Dân tộc chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân

một nước, có lãnh thổ quốc gia, có nền kinh tế riêng thống nhất, quốc ngữ chung và

có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh

tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch

sử lâu dài dựng nước và giữ nước Như vậy, theo nghĩa này, dân tộc (DT) là dân cư của toàn bộ nhân dân, của quốc gia nhất định, là quốc gia - dân tộc3

Từ khái niệm như đã nêu trên, trong luận văn này, khái niệm dân tộc được hiểu theo nghĩa hẹp (nghĩa thứ nhất)

1.1.1.2 Khái niệm dân tộc thiểu số

Như đã nêu ở khái niệm dân tộc, quá trình hình thành và phát triển của các dân tộc là rất không đồng đều cả về thời gian, quy mô, sức sống lẫn trình độ Sự không đồng đều này do rất nhiều những yếu tố khác nhau chi phối như: hình thành vào thời gian khác nhau, tại không gian có những điều kiện tự nhiên và xã hội không như nhau, tồn tại và phát triển bên cạnh những dân tộc không giống nhau, Một dân tộc hình thành đúng thời điểm lịch sử, có điều kiện tự nhiên và xã hội tốt, tồn tại bên cạnh những dân tộc có thể chất không mạnh hơn mình sẽ sinh sôi đông đúc; dân tộc khác không được như vậy thì ngược lại, quy mô ngày càng bị thu nhỏ, thậm chí bị diệt chủng vì hôn nhân cận huyết Cùng tần suất, dân tộc có quy mô lớn

và sức sống mạnh luôn xuất hiện nhiều thiên tài hơn và do đó hết sức thuận lợi để

2 Phạm Huy Châu (2007), Về khái niệm dân tộc và chủ nghĩa dân tộc, Tạp chí Triết học, số 11/2007, (198)

3 Phạm Huy Châu (2007), Về khái niệm dân tộc và chủ nghĩa dân tộc, Tạp chí Triết học, số 11 (198), tháng

11 – 2007, xem tại niem-dan-toc-va-chu-nghia-dan-toc-461.html

Trang 18

http://philosophy.vass.gov.vn/nghien-cuu-theo-chuyen-de/Triet-hoc-Van-hoa/Ve-khai-thúc đẩy dân tộc đó phát triển về trình độ Trở lại, dân tộc có sự phát triển về trình

độ lại có cơ hội rõ rệt để tăng nhanh quy mô và sức sống

Điều này đã làm cho trên thế giới nói chung và mỗi quốc gia nói riêng, quy

mô và trình độ của các dân tộc là rất khác nhau Tại mỗi quốc gia, xét về quy mô, dân tộc nào có quy mô lớn nhất được gọi là dân tộc đa số, các dân tộc còn lại là dân tộc thiểu số Mặc dù chỉ dựa và số lượng thành viên để phân biệt dân tộc đa số và dân tộc thiểu số, nhưng như đã trình bày thì các dân tộc thiểu số thường thua sút dân tộc đa số về trình độ phát triển, thậm chí có những dân tộc thiểu số có trình độ hết sức lạc hậu, chỉ ở mức cao hơn trình độ bộ lạc, bộ tộc của xã hội nguyên thủy Chẳng hạn như dân tộc Ơ Đu được phát hiện trong rừng sâu miền tây tỉnh Quảng Bình đến thời điểm điều tra dân số năm 2014 chỉ còn 376 người và nhờ sự giúp đỡ của cộng đồng mới có thể định cư thành làng bản

Nhằm tránh kỳ thị dân tộc, Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác Dân tộc đã định nghĩa dân tộc thiểu số như sau: “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” 4

1.1.2 Khái niệm an sinh và an sinh xã hội

1.1.2.1 Khái niệm an sinh

An sinh là khái niệm nảy sinh trong đời sống xã hội phương Tây từ lâu và xuất hiện đầu những năm 70 trong một số nghiên cứu về pháp luật của các học giả Sài Gòn Sau năm 1975, trên thế giới, thuật ngữ này được dùng nhiều hơn trên và ở nước ta, từ giữa những năm 90 của thế kỷ trước trở lại đây được dùng rộng rãi hơn

Do tiếng Việt chưa có từ tương ứng hoàn toàn với từ tiếng Anh “security” nên từ này có thể dịch là “an toàn”, “an ninh”, “bảo đảm”, nhưng từ ít bị hiểu chệch nghĩa nhất là “an sinh”, bởi theo nghĩa gốc Hán của từ thì “an sinh” có thể được diễn giải là an toàn sinh sống, cuộc sống

Có thể tạm thời chia cuộc sống sinh học và xã hội của con người thành hai nửa tác động qua lại: một nửa là an sinh, nửa kia là phát triển Nửa an sinh là bảo đảm an toàn và tạo cơ sở để phát triển cuộc sống sinh học và xã hội con người và nửa phát triển, trở lại tạo những điều kiện cho cuộc sống sinh học và xã hội con người ngày càng bảo đảm an toàn hơn

4 Khoản 2, Điều 4, (2011), Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác Dân tộc

Trang 19

Vì thế, hiểu một cách khái quát nhất thì an sinh là bảo đảm an toàn và tạo cơ

sở để phát triển cuộc sống sinh học và xã hội con người

1.1.2.2 Khái niệm an sinh xã hội

Con người tồn tại với tư cách là cá nhân, nhưng không một cá nhân nào có thể phát triển và sống đúng nghĩa con người nếu không có những quan hệ với các cá nhân khác, với cộng đồng xã hội Xã hội là bao gồm những cá nhân nhưng không phải là tập hợp hỗn độn mà luôn có các thiết chế duy trì và bảo vệ trật tự, làm cho các cá nhân gắn bó, chia xẻ với nhau

Trong quá trình xã hội đó, các cá nhân không tránh khỏi những rủi ro, mất mát về vật chất và tinh thần, ảnh hưởng đến đời sống bình thường, thậm chí là tính mạng của họ Do đó, những đảm bảo từ xã hội bằng những nguồn lực công cộng để giảm thiểu những mất mát, rủi ro như vậy cho mỗi cá nhân chính là những hình thức của an sinh xã hội Trong thực tiễn đời sống của nhân loại, do sự đa dạng về nội dung, phương thức và góc độ tiếp cận sự tồn tại của con người nên hiện nay còn

có nhiều quan điểm khác nhau về an sinh xã hội

Tuy nhiên, đây chỉ là cách diễn đạt đơn giản Thực tế của vấn đề an sinh xã hội lại có nhiều quan điểm khác nhau xuất phát những thế giới quan của từng cộng đồng người, nhân sinh quan của từng người

Một cách ngắn gọn, Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng: An sinh xã hội (ASXH) là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập để giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập5

Hiệp hội An sinh quốc tế (ISSA) coi ASXH là thành tố của hệ thống chính sách công liên quan đến sự bảo đảm an toàn cho tất cả các thành viên trong xã hội Những vấn đề mà ISSA quan tâm nhiều trong hệ thống ASXH là chăm sóc sức khoẻ thông qua bảo hiểm y tế; hệ thống bảo hiểm xã hội, chăm sóc tuổi già; phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ giúp xã hội

Ở Việt Nam, mặc dù an sinh xã hội là một lĩnh vực còn nhiều mới mẻ nhưng cũng đã dành được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Đặc biệt là sự quan tâm của các nhà quản lý trong xây dựng Chiến lược thực hiện chính sách của Việt Nam

5 Trích dẫn theo Mạc Tiến Anh (2005), Khái luận chung về Bảo hiểm xã hội, Tạp chí Bảo hiểm xã hội các số 01/2005, 02/2005 và 04/2005)

Trang 20

Theo GS Hoàng Chí Bảo: Vấn đề an sinh xã hội là sự an toàn của cuộc sống con người, từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực cho phát triển con người và xã hội An sinh xã hội là những đảm bảo cho con người tồn tại (sống) như một con người và phát triển các sức mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách6

“Chiến lược ASXH giai đoạn từ năm 2011 - 2020” ghi nhận: “An sinh xã hội

là sự bảo đảm mà xã hội (XH) cung cấp cho mọi thành viên trong XH thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước các nguy

cơ, rủi ro có thể dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế”7

Trong bài “Đảm bảo ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội là một nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020”, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng “An sinh xã hội và phúc lợi xã hội là hệ thống các chính sách và giải pháp nhằm vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế - xã hội (KT-XH) và môi trường; vừa góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân” 8

đa số là dân tộc Kinh Cho nên, chính sách này vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội và nhân đạo sâu sắc; nhằm cũng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc của một quốc gia có 54 dân tộc đang sinh sống

6 Hoàng Chí Bảo (2010), Quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Đề tài KX02.02/06-10

7

Nguyễn Thị Lan Hương (2009), Chiến lược an sinh xã hội Việt Nam thời kỳ 2011 – 2020, Tạp chí Lao động

và xã hội, số 19, quý II, 2009, tr2

8 Nguyễn Tấn Dũng, Đảm bảo ngày càng tốt hơn ASXH và phúc lợi xã hội là một nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, Tạp chí Cộng sản, Số 815 (9/2010), tr3

Trang 21

1.2 Pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

1.2.1 Sự cần thiết của pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc

thiểu số ở Việt Nam

Do lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển, mỗi dân tộc không chỉ gắn kết với nhau mà còn gắn liền với từng vùng đất cụ thể Đặc biệt, sự chuyển dịch của các thành viên các dân tộc thiểu số ít ra khỏi vùng mà chủ yếu là chuyển dịch nội vùng Điều đó đã hình thành nên những vùng dân tộc thiểu số “Vùng dân tộc thiểu số là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”9 Tạo nên những vùng dân tộc thiểu số như vậy là thuận lợi nhưng cũng là khó khăn trong thực hiện pháp luật về ASXH và phát triển mọi mặt cho đồng bào ở những vùng này

Vùng dân tộc thiểu số và miền núi chiếm gần ¾ diện tích tự nhiên của cả nước ta, vẫn là vùng còn nhiều khó khăn, hạ tầng kinh tế - xã hội thấp kém, kinh tế chậm phát triển, đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn, vẫn là “lõi nghèo” của

cả nước; vùng dân tộc thiểu số và miền núi có địa hình hiểm trở, thường xuyên chịu ảnh hưởng và tác động lớn của thiên tai, lũ lụt; nhiều nơi môi trường sinh thái tiếp tục bị suy thoái; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn cao so với mức bình quân chung của

cả nước, khoảng cách chênh lệch về mức sống, trình độ phát triển KT-XH giữa các dân tộc, giữa các vùng ngày càng gia tăng; chất lượng hiệu quả giáo dục còn thấp, công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào DTTS gặp nhiều khó khăn; tình trạng du canh, du cư, di cư tự do vẫn còn diễn biến phức tạp; bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số đang dần bị mai một

Trên quan điểm Mac-xit và tiếp thu những tinh hoa nhân loại về vấn đề dân tộc, từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước đã ưu tiên đề ra nhiều chính sách và giành nhiều nguồn lực phát triển toàn diện KT-XH, cơ sở hạ tầng, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, giảm nghèo, phát triển nguồn nhân lực, và đảm bảo phấp luật về ASXH đối với đồng bào DTTS

Thực tiễn, qua nhiều năm thực hiện pháp luật về ASXH đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nhận ra bảo đảm an sinh xã hội là giải pháp cơ bản để giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống của nhân dân và góp

9 Khoản 4, Điều 4, (2011), Nghị định 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác Dân tộc

Trang 22

phần ổn định an ninh, chính trị xã hội cho đồng bào các vùng DTTS Nhà nước Việt Nam đã đầu tư nhiều cho vùng đồng bào DTTS, các huyện nghèo, ấp, xã đặc biệt khó khăn, xã bãi ngang ven biển, hải đảo; thực hiện toàn diện các chính sách hỗ trợ, giúp đỡ đối với đồng bào các dân tộc thiểu số Hệ thống pháp luật về ASXH đối với đồng bào DTTS đã được ban hành khá đầy đủ và toàn diện, bao quát các lĩnh vực ASXH gồm hỗ trợ tạo việc làm, chuyển đổi ngành nghề, bảo hiểm y tế, phúc lợi xã hội, trợ giúp xã hội và đảm bảo tiếp cận ở mức tối thiểu các dịch vụ xã hội như (giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin và môi trường ) đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và văn hóa tinh thần cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số trên khắp mọi miền đất nước

Nói khác đi, trong pháp luật về ASXH đối với đồng bào DTTS thì an sinh xã hội không chỉ đơn thuần thực hiện các chức năng của nó mà chính sách này còn tạo những chuyển biến tích cực trong đời sống đồng bào DTTS, đặc biệt là đồng bào các dân tộc có sự phát triển chậm hơn so với các dân tộc khác, nhằm góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh cho địa phương

1.2.2 Cơ sở lý luận của của pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc và thực tiễn lịch sử đấu tranh cách mạng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam cũng như dựa vào tình hình thế giới của từng giai đoạn, Nhà nước Việt Nam luôn luôn quan tâm đến vấn đề dân tộc và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc có tầm quan trọng đặc biệt

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, đồng bào các dân tộc đều là anh em ruột thịt, là con cháu một nhà, thương yêu đoàn kết giúp đỡ nhau là nghĩa vụ thiêng liêng của các dân tộc Người còn khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công” Nhà nước Việt Nam coi việc giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là nhiệm vụ có tính chiến lược nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, cũng như tiềm năng và sức mạnh riêng của từng dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và đưa đất nước quá độ lên CNXH

Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã nêu rõ:

“Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng” Trên cơ sở đó, Đảng ta đã vạch ra đường lối về công tác dân tộc đó là: thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng

Trang 23

phát triển; xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH, phát triển sản xuất hàng hoá, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần đi đôi với “giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá truyền thống, tiếng nói, chữ viết và tập quán truyền thống tốt đẹp của các dân tộc” và thực hiện tốt chiến lược phát triển KT-XH ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo cùng với kiên quyết “Chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc; chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc” Đây là tư tưởng chủ đạo và xuyên suốt các giai đoạn cách mạng của Đảng ta

về vấn đề dân tộc Trong Cương lĩnh (bổ sung và phát triển 2011) Đảng ta tiếp tục xác định tám đặc trưng trên cơ sở kết hợp, bổ sung, phát triển những đặc trưng của CNXH trong hai Văn kiện nêu trên Trong đó có đặc trưng thứ sáu đã chỉ rỏ: “Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển Đặc trưng này thể hiện tính ưu việt trong chính sách dân tộc, giải quyết đúng các quan hệ dân tộc (theo nghĩa hẹp là quan hệ giữa các tộc người) trong quốc gia đa dân tộc Việt Nam Thực hiện 25 năm đổi mới đất nước đã và đang chứng minh tính ưu việt trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, chứng minh tính ưu việt của CNXH trong giải quyết các quan hệ dân tộc ở Việt Nam Nhờ đó đã

và đang phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, tính đồng thuận trong cộng đồng 54 dân tộc, chống lại âm mưu chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch”.10

Đường lối công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước ta biểu hiện như sau:

- Có chính sách phát triển KT-XH ở các vùng DTTS phù hợp với điều kiện

và đặc điểm từng vùng, miền và từng dân tộc, bảo đảm cho đồng bào các dân tộc khai thác được thế mạnh của địa phương để làm giàu chính đáng và đóng góp vào

sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Đây là vấn đề cực kỳ quan trọng để khắc phục

sự chênh lệch về kinh tế, văn hoá - xã hội , bảo đảm sự bình đẳng thực sự giữa các dân tộc Đi đôi với phát huy tiềm lực KT-XH của các vùng dân tộc cần chú trọng bảo vệ môi trường thiên nhiên, ổn định đời sống của đồng bào các dân tộc, phát huy mối quan hệ tốt đẹp, gắn bó giữa đồng bào tại chỗ và người dân từ nơi khác đến, chống tư tưởng dân tộc ích kỷ, hẹp hòi

- Phải tôn trọng lợi ích, các văn hóa truyền thống, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc; cần có chính sách đặc thù để từng bước nâng cao

10 Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Cương lĩnh Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà xuất Chính trị quốc gia - Hà Nội Trong Cương lĩnh (bổ sung và phát triển 2011)

Trang 24

dân trí đối với đồng bào các dân tộc, nhất là các dân tộc ở vùng miền núi, vùng cao

và hải đảo Đây là vấn đề quan trọng và rất tế nhị, cần lắng nghe ý kiến của đồng bào và có chính sách thật cụ thể, phù hợp với ý kiến chung của đồng bào từng vùng, miền và từng dân tộc nhằm làm cho nền văn hoá chung của nhân loại vừa hiện đại vừa đậm đà bản sắc dân tộc, ngày càng phong phú và rực rỡ

- Tiếp tục phát huy hơn nữa truyền thống đoàn kết và đấu tranh kiên cường của các dân tộc vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, nghiêm cấm mọi hành vi miệt thị và chia rẽ dân tộc

- Cần quan tâm và tăng cường bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ DTTS; đồng thời giáo dục tinh thần đoàn kết, hợp tác cho cán bộ, công chức, viên chức các dân tộc, trong đó chú trọng dân tộc Khmer Bởi vì, chỉ tinh thần đó mới phù hợp với đòi hỏi khách quan của công cuộc phát triển dân tộc và xây dựng đất nước Trong công cuộc đó, không dân tộc nào có thể chỉ sử dụng đội ngũ cán bộ xuất thân

từ dân tộc mình, mà ngược lại, cần phải có sự hỗ trợ lẫn nhau giữa đội ngũ cán

bộ thuộc mọi dân tộc (54 dân tộc) trong cả nước

Từ ý nghĩa như vậy, pháp luật về ASXH đối với đồng bào dân tộc của Đảng

và Nhà nước mang tính toàn diện, tổng hợp, quán xuyến tất cả các lĩnh vực của đời sống, văn hóa, xã hội, liên quan đến từng dân tộc và quan hệ giữa các dân tộc trong

cả nước Phát triển KT-XH của các dân tộc là nền tảng để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, là cơ sở để từng bước khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc Vì vậy, pháp luật về ASXH đối với dân tộc cần phải có tính cách mạng và tiến bộ, đồng thời còn mang tính nhân đạo, bởi vì, nó không bỏ sót bất cứ dân tộc nào, không cho phép bất

cứ tư tưởng miệt thị, xem thường, kỳ thị và chia rẽ dân tộc; nó luôn tôn trọng quyền làm chủ của mỗi con người và quyền tự quyết của các dân tộc Mặt khác, nó phát huy nội lực của mỗi dân tộc kết hợp với sự giúp đỡ có hiệu quả của các dân tộc khác

Nhận thức đúng đắn về bản chất, nội dung và tính chất của chính sách dân tộc có ý nghĩa quyết định đến việc định hướng, đổi mới các biện pháp thực hiện pháp luật về ASXH đối với dân tộc, làm cho pháp luật về ASXH đối với dân tộc đi vào cuộc sống, góp phần phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS và miền núi Để thực hiện tốt đường lối của Đảng về công tác dân tộc, thực hiện pháp luật về ASXH đối với đồng bào các DTTS vừa là mục tiêu cốt lõi, vừa là động lực, vừa là giải pháp căn cơ và lâu dài Bởi vì:

Trang 25

- Thực hiện pháp luật về ASXH đối với đồng bào các DTTS là điều kiện tiên quyết để phát triển KT-XH các vùng DTTS; từ đó khắc phục sự chênh lệch về kinh

tế, văn hoá, bảo đảm sự bình đẳng thực sự giữa các dân tộc đồng thời bảo vệ môi trường thiên nhiên, ổn định đời sống của đồng bào, phát huy quan hệ tốt đẹp, gắn bó giữa đồng bào tại chỗ và đồng bào từ nơi khác đến

- Trên cơ sở phát triển kinh tế từ pháp luật về ASXH mà có những điều kiện

để bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc để từng bước nâng cao dân trí đối với vùng đồng bào các dân tộc, nhất là các dân tộc ở vùng núi cao, hải đảo cũng như có những nguồn lực để đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số,

1.2.3 Pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam qua các thời kỳ

Chính sách dân tộc ở Việt Nam được đánh giá như là một vấn đề xã hội mang tính đặc thù, thể hiện rõ quan điểm giai cấp của Đảng và các cơ quan cầm quyền Văn kiện Hội nghị Trung ương 7, khóa IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam”

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc (54 dân tộc) Phần lớn các DTTS sống

ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo Đây là những địa bàn có vị trí chiến lược về KT-XH, chính trị, quốc phòng, an ninh, giao lưu quốc tế Nhận thức được điều đó nên từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn coi việc hoạch định và thực hiện đúng chính sách dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược

Vì vậy, trên cơ sở kế thừa những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc và xuất phát từ thực tế đặc điểm, tình hình dân tộc ở nước ta như hiện nay, Đảng ta đã đề ra chính sách dân tộc đúng đắn qua từng thời kỳ cách mạng nhằm củng cố tình đoàn kết các dân tộc, thống nhất lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc - quốc gia

1.2.3.1 Thời kỳ Đảng Cộng sản được thành lập đến khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (1930 - 1945)

Ở thời kỳ này nước ta phải sống trong cảnh một cổ hai tròng, chịu số phận của một dân tộc thuộc địa nửa phong kiến Vấn đề dân tộc - quốc gia là mục tiêu hàng đầu có ý nghĩa rất quan trọng, nó tác động chi phối đến vấn đề tộc người và vấn đề giai cấp Tư tưởng gắn độc lập dân tộc với CNXH đã trở thành tư tưởng chủ đạo trong chính sách dân tộc

Trang 26

Tháng 3 - 1935, trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ I, đưa ra nghị quyết nhấn mạnh: “Đảng Cộng sản thừa nhận cho các dân tộc được quyền tự do hoàn toàn Đảng chống chế độ thuộc địa, chống hết các hình thức trực tiếp đem dân tộc này vào đàn áp bóc lột dân tộc khác” Trong hội nghị này, Đảng ta cũng đã khẳng định: “Sự liên hợp huynh đệ phải lấy nguyên tắc chân thật, tự do và bình đẳng cách mạng mà làm căn bản”

Nhờ những chính sách ASXH nói chung và chính dân tộc đúng đắn đó, đã động viên được khối đại đoàn kết toàn dân tộc tích cực tham gia vào sự nghiệp cách mạng chung của đất nước Cách mạng tháng Tám thành công và sự ra đời của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tạo ra một bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam, đưa dân tộc ta bước vào một kỷ nguyên mới: độc lập, dân chủ và tiến bộ Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 chỉ rõ: “Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo” và “đảm bảo các quyền tự do dân chủ”.11

1.2.3.2 Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)

Đây là thời kỳ đánh dấu bằng việc thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước

ta Cả nước lại một lần nữa bước vào trường kỳ kháng chiến Tháng 2 - 1951, Đảng

ta tiến hành Đại hội lần thứ II Tại đại hội này, Đảng ta đã khẳng định: Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, phải đoàn kết giúp đỡ nhau để kháng chiến và kiến quốc, kiên quyết chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, đánh đổ âm mưu gây thù hằn, chia rẽ dân tộc của đế quốc và lũ Việt gian Đồng thời, cải thiện đời sống cho các DTTS, giúp đỡ họ tiến bộ về mọi mặt, đảm bảo để

họ tham gia chính quyền và dùng tiếng mẹ đẻ trong giáo dục ở các địa phương có đông đồng bào DTTS

Bộ Chính trị, BCH Trung ương Đảng đưa ra Nghị quyết về “Chính sách dân tộc thiểu số của Đảng” Đại đoàn kết dân tộc và bình đẳng giữa các dân tộc là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình thực hiện các chính sách dân tộc dù miền xuôi hay miền ngược, dù là DTTS hay đa số đều một lòng vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc

11 Lời nói đầu của Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946

Trang 27

1.2.3.3.Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc (1955 - 1975)

Trong thời kỳ này, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta có sự khác nhau ở hai miền Nam - Bắc

Miền Bắc, vấn đề dân tộc và công tác dân tộc đặt ra lúc này gắn liền với cuộc cải cách dân tộc, cuộc cải cách dân chủ và xây dựng CNXH

Ở miền Nam, đã tiến hành cuộc vận động đoàn kết các dân tộc, tổng hợp sức người, sức của cùng nhau đánh thắng kẻ thù xâm lược và thống nhất đất nước, bảo

vệ Tổ quốc

1.2.3.4 Thời kỳ từ năm 1976 đến nay

Đây là thời kỳ đất nước ta được hoàn toàn được giải phóng, cả nước chung sức bắt tay vào công cuộc kiến thiết đất nước

Từ sau năm 1975, cả nước bước vào thời kỳ quá độ đi lên CNXH công tác dân tộc một lần nữa được khẳng định và bổ sung cụ thể hóa trong nghị quyết Đại hội IV của Đảng (1976): “Thực hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt các dân tộc đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ” Đây là thể hiện sự nhất quán trong đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta luôn lấy sự đoàn kết và bình đẳng dân tộc làm kim chỉ nam cho mọi hành động, tạo những điều kiện cần thiết để xóa bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ, kinh tế và văn hóa - xã hội giữa các dân tộc (54 dân tộc), đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp đồng bằng

Năm 1986, đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới Quan điểm về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc trong thời kỳ này được tập trung vào nhiệm vụ phát triển KT-XH, vùng đồng bào DTTS và miền núi… Vấn đề phát triển KT-XH được coi trọng trong công tác dân tộc là một trong những yếu tố tiên quyết có ý nghĩa trước mắt và lâu dài, là cơ sở để thực hiện các mục tiêu và nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc Có phát triển KT-

XH chúng ta mới có điều kiện để đảm bảo cuộc sống cho nhân dân các dân tộc, mới tạo được động lực để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày thêm giàu đẹp

Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều Dự án, Chương trình mục tiêu quốc gia nhằm bảo đảm thực hiện các chính sách dân tộc như: chính sách định canh, định cư, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, phủ xanh đất trống đồi trọc, xóa đói giảm nghèo… Nhờ những chính sách dân tộc đúng đắn đó, đã làm cho vùng đồng bào DTTS đạt được những thành tựu rất quan trọng

Trang 28

Hiện nay, trên cơ sở vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đã nghiên cứu và vạch ra đường lối, xác định chủ trương và hoạch định các chính sách đối với đồng bào dân tộc về cơ bản vừa phù hợp với tình hình phát triển đất nước vừa gắn với đặc điểm của từng vùng, từng dân độc thiểu số Tuy nhiên, khi triển khai, thực hiện đường lối, chủ trương và các chính sách đó, ở một số vùng, một số dân tộc trong những thời điểm nhất định đã bộc lộ không ít những thiếu sót Triển khai và thực hiện pháp luật về ASXH đối với đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh Cà Mau cũng không nằm ngoài nhận định này Vì thế, đánh giá thực trạng và phát hiện những ưu điểm, hạn chế và đề xuất các giải pháp cho việc triển khai, thực hiện pháp luật về ASXH đối với đồng bào Khmer tại Cà Mau là nhiệm vụ quan trọng của những người làm công tác dân tộc ở địa phương Góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về ASXH đối với đồng bào DTTS nói chung, đồng bào Khmer nói riêng là thực hiện nhiệm vụ đó trong giai đoạn hiện nay (2017 - 2020) và giai đoạn năm 2021 - 2030

1.2.4 Vai trò, ý nghĩa của pháp luật về an sinh xã hội đối với phát triển kinh tế

- xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Về cơ bản, hệ thống pháp luật về ASXH đối với đồng bào DTTS khá toàn diện, bao quát các lĩnh vực Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng triển khai hàng loạt các Chương trình, dự án nhằm tạo sự chuyển biến tích cực, cơ bản, toàn diện vùng có đông đồng bào DTTS Các pháp luật về ASXH dành đối với đồng bào DTTS và miền núi từ tập trung hỗ trợ trực tiếp (như chính sách trợ cước, trợ giá và cấp không thu tiền một số mặt hàng thiết yếu cho người dân) chuyển sang vừa đầu

tư phát triển và vừa hỗ trợ trực tiếp cho người dân (như hỗ trợ phát triển sản xuất,

hỗ trợ đời sống văn hóa của người dân “xây dựng nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng (Salatel)” và đào tạo cán bộ cơ sở, y tế, giáo dục, đào tạo nghề…)

Trong những năm qua, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về công tác dân tộc, Nhà nước ta đã triển khai thực hiện khá toàn diện các pháp luật về ASXH đối với đồng bào DTTS và miền núi, trong nổ lực cải thiện toàn diện điều kiện sống cho đồng bào DTTS và miền núi được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban Dân tộc và các Bộ, ngành Trung ương quan tâm, thực hiện kỳ quyết; đã có rất nhiều

Dự án, Chương trình, chính sách hỗ trợ được ban hành và triển khai thực hiện rộng khắp trên cả nước Trong đó, trọng tâm là thực hiện các Dự án, Chương trình tập trung vào việc hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, tín dụng và giải quyết việc làm , nâng cao thu nhập cho hộ đồng bào DTTS và miền núi; cụ thể hóa pháp luật về ASXH để

Trang 29

triển khai, thực hiện trong những năm qua và giai đoạn hiện nay; pháp luật về ASXH cơ bản đã góp phần tạo thu nhập cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn ổn định cuộc sống, phát triển sản xuất, kinh doanh và thoát nghèo bền vững

Như vậy, pháp luật về ASXH đối với đồng bào DTTS và miền núi của Đảng

và Nhà nước là “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển kinh tế -

xã hội” Đây là nguyên tắc cơ bản trong pháp luật về ASXH đối với đồng bào DTTS của Đảng, Nhà nước ta; phấn đấu tạo điều kiện để các dân tộc cùng bình đẳng trong mọi hoạt động trong cộng đồng quốc gia thống nhất Pháp luật về ASXH đối với đồng bào DTTS là chủ trương, giải pháp phát triển KT-XH đối với dân tộc thiểu số nhằm đảm bảo sự thống nhất của cộng đồng quốc gia dân tộc và mở rộng quan hệ cộng đồng quốc tế Pháp luật về ASXH đối với DTTS là chính sách tổng hợp, nhằm phát triển những mối quan hệ tốt đẹp bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc, là chính sách vì lợi ích con người và vì vận mệnh của cộng đồng các dân tộc ở nước ta, gắn liền với quá trình phát triển KT-XH theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đối với các pháp luật về ASXH khác chỉ mang tính giải quyết tức thời, ngắn hạn, trung hạn, hoặc giải quyết một vấn đề bức xúc của xã hội đang xảy ra như thiên tai, bão lụt , pháp luật về ASXH đối với đồng bào DTTS bao hàm các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, quan tâm tới các giai tầng xã hội, các dân tộc trong cộng đồng; gắn với từng dân tộc

cụ thể, trong điều kiện cụ thể, bối cảnh cụ thể Xem xét, giải quyết từng vấn đề phải đặt trong mối quan hệ với các vấn đề khác, đảm bảo lợi ích của dân tộc, cộng đồng

Trang 30

- Quyết định số 74/2008/QĐ-TTg ngày 09/6/2008 về chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long

- Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg ngày 07/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn

- Quyết định số 1592/QĐ-TTg ngày 12/10/2009 và Quyết định số TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn

755/QĐ Quyết định số 33/2007/QĐ755/QĐ TTg ngày 05/3/2007 về chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số và Quyết định số 33/2013/QĐ-TTg ngày 04/6/2013 về tiếp tục thực hiện Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg đến năm 2015

Các văn bản trên là những Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, cho nên không chỉ có tính pháp lý hạn chế về hiệu lực và thời gian mà các chính sách có tính riêng lẻ, mỗi Quyết định thường chỉ là một chính sách hoặc nhóm chính sách có liên quan với nhau

Sự tồn tại của nhiều văn bản này (ở trên chỉ kể những văn bản còn hiệu lực pháp lý sau khi Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ra đời) đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình triển khai, thực hiện pháp luật nói chung, pháp luật về ASXH nói riêng đối với đồng bào các DTTS Sự không phân biệt đối tượng và chồng chéo đối tượng thụ hưởng pháp luật về ASXH dẫn đến sự không đồng đều trong dân cư các vùng dân tộc thiểu số là một ví dụ

1.3.2 Sự ra đời và nội dung cơ bản của Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc

Các văn bản pháp luật thể chế hóa chính sách an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc thiểu số do Chính phủ ban hành còn có một số hạn chế nên xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn, thời gian hiệu lực dài hơn và bao quát nhiều chính sách ASXH đối với đồng bào các dân tộc thiểu

số là rất cần thiết

Từ thực tiễn trên, để đáp ứng đòi hỏi đó, ngày 14/01/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc trong thời kỳ mới của đất nước

Nghị định gồm có 5 chương, 28 điều Nghị định quy định rõ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và các nguyên tắc cơ bản của công tác dân tộc, cụ thể:

Trang 31

* Phạm vi điều chỉnh: 12

Nghị định quy định các hoạt động về công tác dân tộc nhằm đảm bảo và thúc đẩy sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, tôn trọng và giữ gìn bản sắc văn hóa của các dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam

* Đối tượng áp dụng: 13

Nghị định áp dụng đối với cơ quan Nhà nước khi thực hiện công tác dân tộc;

tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài khi tham gia thực hiện chính sách dân tộc trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

* Các nguyên tắc cơ bản của công tác dân tộc:14

- Thực hiện chính sách dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển

- Đảm bảo và thực hiện chính sách phát triển toàn diện, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số

- Đảm bảo việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc

- Các dân tộc có trách nhiệm tôn trọng phong tục, tập quán của nhau, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

1.3.3 Các chính sách dân tộc thiểu số trong Nghị định số 05/2011/NĐ-CP

Với Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, lần đầu tiên các chính sách dân tộc được tập trung vào một văn bản pháp luật và chỉ rõ các cơ quan chức năng cùng thi hành một chính sách cụ thể Các chính sách được quy định cụ thể tại Chương II, từ Điều

8 đến Điều 20 của Nghị định số 05/2011/NĐ-CP đó là:

- Chính sách đầu tư và sử dụng nguồn lực;

- Chính sách đầu tư phát triển bền vững;

- Chính sách phát triển giáo dục và đào tạo;

- Chính sách cán bộ người dân tộc thiểu số;

- Chính sách đối với người có uy tín ở vùng dân tộc thiểu số;

- Chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa;

Trang 32

- Chính sách phát triển thể dục, thể thao vùng dân tộc thiểu số;

- Chính sách phát triển du lịch vùng dân tộc thiểu số;

- Chính sách y tế, dân số;

- Chính sách thông tin - truyền thông;

- Chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý;

- Chính sách bảo vệ môi trường, sinh thái;

- Chính sách quốc phòng, an ninh

Trong các chính sách trên thì Cà Mau triển khai, thực hiện 06 nhóm pháp luật về an sinh xã hội (ASXH) sau: (i) đầu tư phát triển bền vững; (ii) phát triển giáo dục và đào tạo; (iii) bảo tồn và phát triển văn hóa; (iv) y tế, dân số; (v) phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý; (vi) bảo vệ môi trường, sinh thái là những chính sách hợp thành chính sách an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Vì thế, khi tìm hiểu và đánh giá thực trạng pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh Cà Mau, chúng tôi sẽ tập trung khảo sát thực trạng thi hành 6 nhóm pháp luật về ASXH cụ thể này

1.3.4 Các văn bản của Thủ tướng Chính phủ sau Nghị định số 05/2011/NĐ-CP

Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc, lần lược các văn bản sau đây được ban hành:

- Quyết định số 2472/QĐ-TTg ngày 28/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc cấp một số ấn phẩm báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012 - 2015

- Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày 27/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “ Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020”

- Quyết định số 449/QĐ-TTg ngày 12/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020

- Quyết định số 2356/QĐ-TTg ngày 04/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Chương trình hành động thực hiện Chiến lượt công tác dân tộc đến năm 2020

- Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ

về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở và giải quyết việc làm cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013 - 2015 Quyết định số 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng

Trang 33

Chính phủ phê duyệt chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn

- Quyết định số 449/QĐ-TTg ngày 12/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020

- Quyết định số 59/QĐ-TTg ngày 16/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc cấp một số ấn phẩm báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn

Kết luận chương 1

Trên cơ sở xác định nội hàm các khái niệm: dân tộc và DTTS, an sinh và ASXH, chương 1 đã nghiên cứu những cơ sở của pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh Cà Mau Nói một cách khái quát, pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào DTTS về lý luận chưa phải là một hệ thống riêng mà nằm trong hệ thống các chính sách đối với đồng bào DTTS của Đảng và Nhà nước ta Trong hệ thống các chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà nước ta hiện có 13 nhóm, nhưng thực tế tại Cà Mau đã triển khai và thực hiện 06 nhóm pháp luật thuộc chính sách an sinh xã hội; pháp luật về an sinh

xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số của Nhà nước cũng gói gọn trong 06 nhóm chính sách ASXH đó Nói cách khác đi, về lý luận pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số chưa tách ra nhưng các chính sách ASXH cụ thể của

nó đã được xác định đầy đủ trong hệ thống pháp luật về ASXH đối với đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà nước ta

Xác định pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam là cơ sở sâu xa, chương 1 đã tập trung tìm hiểu các vấn đề cơ bản như: (i)

Sự cần thiết của pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam; (ii) Cơ sở lý luận của của pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam; (iii) Pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam qua các thời kỳ; (iv) Vai trò, ý nghĩa của pháp luật

về an sinh xã hội đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Xác định Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc của Chính phủ

và các văn bản pháp luật liên quan là cơ sở trực tiếp của pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ, đặc biệt trên địa bàn tỉnh Cà Mau, chương

1 cũng dành dung lượng đáng kể để tìm hiểu: (i) Các văn bản pháp luật về ASXH đối với dân tộc trước Nghị định số 05/2011/NĐ-CP; (ii) Sự ra đời và nội dung cơ

Trang 34

bản của Nghị định số 05/2011/NĐ-CP và (iii) Các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ sau Nghị định số 05/2011/NĐ-CP

Như vậy, không chỉ công tác triển khai, thực hiện pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ trên địa bàn tỉnh Cà Mau là có cơ sở lý luận và pháp lý vững chắc mà quá trình nghiên cứu thực trạng pháp luật về an sinh

xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ tại Cà Mau của tác giả ở chương 2 cũng được định hướng cụ thể, rõ ràng, nhằm đảm bảo cơ sở để triển khai thực hiện pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào DTTS, trong đó chú trọng và triển khai thực hiện đối với đồng bào dân tộc Khmer tại Cà Mau

Trang 35

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer tại Cà Mau

2.1 Đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh Cà Mau

2.1.1 Vài nét về cộng đồng các dân tộc trên địa bàn tỉnh Cà Mau

Cà Mau là tỉnh cuối cùng của dải đất hình chữ S và nằm trong vùng kinh tế Tây Nam bộ, có vị trí địa lý tự nhiên khá đặc biệt: phía bắc giáp tỉnh Kiên Giang và tỉnh Bạc Liêu và ba mặt giáp biển và với chiều dài bờ biển là 254 km, diện tích tự nhiên 5.329 km2, bằng 13,13% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long và bằng 1,58% diện tích cả nước Có 9 đơn vị hành chính gồm 8 huyện và 01 thành phố với 101 xã, phường, thị trấn, trong đó có 29 xã, phường thuộc khu vực I; 25 xã, thị trấn thuộc khu vực II; 11 xã thuộc khu vực III Toàn tỉnh có 11 xã thuộc chương trình phát triển kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn (xã Chương trình 135), vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa và 38 xã thuộc vùng khó khăn, xã bãi ngang ven biển

Dân số của tỉnh Cà Mau là 1.237.414 người, với 295.748 hộ; có 14 dân tộc cùng sinh sống; trong đó có 13 dân tộc thiểu số với 11.994 hộ, 52.997 người; đông nhất là dân tộc Khmer 7.801 hộ với 33.439 người, dân tộc Hoa 1.954 hộ với 9.418 người; các dân tộc khác là Mường, Tày, Thái, Nùng, Chăm, Gia Rai, Ê đê, Si La,

Cơ Ho, Xtiêng, Chu ru với tổng số 107 hộ, 409 người Ngoài ra, trong tỉnh còn 2.132 hộ có thành viên là dân tộc thiểu số và hộ có thành viên là dân tộc thiểu số 15

Ở tỉnh Cà Mau, người dân các dân tộc thiểu số sinh sống đan xen với cộng đồng dân tộc Kinh và chủ yếu ở nông thôn với 9.122 hộ, 39.326 người (chiếm 76% tổng số hộ dân tộc thiểu số) Tỷ lệ hộ nghèo trong tổng số hộ đồng bào dân tộc thiểu

số là 25,69% (3.073 hộ) (tỷ lệ hộ nghèo trong tổng số hộ đồng bào dân tộc Khmer cao hơn tỷ lệ này, là 30,87%) Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa, phong tục tập quán riêng nhưng luôn gắn kết, hòa quyện với nhau; góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú nền văn hóa của tỉnh16

Có hai dân tộc thiểu số có dân số đông hơn nhiều lần so với dân tộc còn lại là dân tộc Khmer và dân tộc Hoa, trong đó dân tộc Khmer là đông nhất Đồng bào Knmer có nghề nghiệp chủ yếu là sản xuất nông nghiệp; với đức tính cần cù, chịu

15 Theo điều tra dân tộc thiểu số của Cục Thống kê tỉnh Cà Mau năm 2013

16 Theo báo cáo điều tra hộ nghèo, cận nghèo của Sở Lao động - Thương binh & xã hội tỉnh Cà Mau năm

2016

Trang 36

khó lao động đã vượt qua khó khăn để phát triển kinh tế ổn định đời sống Người dân Khmer có Chùa vừa là nơi gắn liền cuộc sống với dân cư, là chỗ dựa tinh thần tín ngưỡng tôn giáo vừa là tụ điểm sinh hoạt văn hóa lễ, hội, là nơi bảo tồn phát triển giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Chùa còn là môi trường đào tạo toàn diện về nhân cách, đạo đức, kiến thức cho lực lượng trí thức của đồng bào Khmer, đây là điều kiện thuận lợi cho việc chuyển tải các giá trị văn hóa, thông tin, tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào dân tộc

2.1.2 Những đặc điểm cư trú và kinh tế của đồng bào dân tộc Khmer

2.1.2.1.Về đặc điểm cư trú

* Vài nét về lịch sử dân tộc Khmer Nam bộ 17

Trước khi đồng bào dân tộc Khmer có mặt ở vùng đất Nam bộ, thì nơi đây đã tồn tại nước Phù Nam từ những thế kỷ (TK) đầu Công nguyên Sau một thời kỳ phát triển, đến cuối thế kỷ VI, nước Phù Nam suy yếu Trong khi đó, nước Chân Lạp của người Khmer - một thuộc quốc của Phù Nam trước kia đã phát triển nhanh chóng Lợi dụng suy yếu của Phù Nam để tấn công chiếm lấy một phần lãnh thổ của nước này vào đầu thế kỷ VII

Sau khi đánh bại Phù Nam, do mâu thuẫn, Chân Lạp bị chia thành hai miền cát cứ dẫn đến việc cai quản vùng lãnh thổ mới đối với Chân Lạp hết sức khó khăn Bởi vì người Khmer ít hơn và quen khai thác các vùng đất cao, khó có khả năng tổ chức khai thác trên quy mô lớn vùng đồng bằng ngập nước và sình lầy, đòi hỏi phải

có rất nhiều thời gian và sức lực

Trong khoảng từ cuối thế kỷ IX đến thế kỷ XI, Chân Lạp đã trở thành một quốc gia cường thịnh và tạo dựng nên một nền văn minh Ăngkor rực rỡ, đồng thời

mở rộng lãnh thổ đến tận Nam Lào Tuy nhiên, đồng bào dân tộc Khmer lúc này muốn dồn sức phát triển KT-XH ở các vùng trung tâm của họ ở khu vực Biển Hồ, trung lưu sông Mê Kông nên ảnh hưởng của văn minh Ăngkor trên đất Nam bộ là khá mờ nhạt

Từ thế kỷ X trở đi, những người nông dân Khmer nghèo khổ, do không chịu được sự bóc lột hà khắc, các loại thuế khóa nặng nề của chế độ phong kiến Angkor,

17 Nội dung phần này được lược trích từ “Đặc điểm cộng đồng người Khmer ở Nam Kỳ nửa đầu thế kỷ

XIX (P1)”, có thể xem trực tuyến tại

http://luutruvn.com/index.php/2016/03/17/dac-diem-cong-dong-nguoi-khmer-o-nam-ky-nua-dau-the-ky-xix-p1/

Trang 37

họ đã bỏ trốn, tìm đến sinh sống ở những giồng đất cao của đồng bằng Nam bộ Tại đây, họ tập trung sinh sống ở những giồng cát lớn, cư trú theo từng khu vực (phum, sóc), dựa trên mối quan hệ huyết thống, gia đình và cộng đồng dân tộc Khmer

Đến thế kỷ XIV, Chân Lạp phải đối phó với sự bành trướng của các vương triều Xiêm Nhằm tránh khỏi sự đàn áp và bóc lột của quân Xiêm, cộng đồng người Khmer, trong đó có cả sư sãi và trí thức Khmer đã di cư đến khu vực đồng bằng Nam bộ sinh sống Đến đây, họ hòa nhập với những người dân tộc Khmer đến trước, tiếp tục khai phá và biến những vùng đất này thành những điểm dân cư đông đúc (cộng đồng dân tộc Khmer)

Nhìn chung, vào đầu thế kỷ XVI, ở đồng bằng Nam bộ cơ bản đã hình thành các điểm dân cư tập trung của đồng bào dân tộc Khmer Tuy nhiên, về phía triều đình Chân Lạp, từ thế kỷ XVI, và nhất là thế kỷ XVII, do sự can thiệp của Xiêm, triều đình Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc, đất nước bị suy yếu, khả năng kiểm soát và quản lý của Chân Lạp ở vùng đất Nam bộ bị giảm dần

Ở thời điểm này, đồng bào dân tộc Khmer là cư dân sinh sống chủ yếu ở vùng đồng bằng Nam bộ Dân tộc Khmer ở đây và người Khmer ở Campuchia là những người có chung ngôn ngữ, tôn giáo (Phật giáo Nam tông) và những đặc trưng tộc người Tuy nhiên, từ khi đến vùng đất Nam bộ sinh sống, cộng đồng người này sống độc lập và không quan hệ với bất kỳ một quốc gia nào Do họ sống tách biệt với người Khmer ở Campuchia trong một thời gian dài, nên người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long đã tạo ra những đặc điểm cho cộng đồng mình về cư trú, kinh

tế, văn hóa và xã hội

Từ đó, quá trình cộng đồng, dân cư với các tộc người mới đến diễn ra liên tục từ những năm cuối thế kỷ XVII càng làm tăng sự khác biệt giữa cộng đồng dân tộc Khmer Nam bộ và người Khmer ở Campuchia Đặc biệt từ khi các chúa Nguyễn

và nhà Nguyễn xác lập chủ quyền, đưa ra những pháp luật và chính sách quản lý vùng đất Nam bộ, người Khmer ở đây đã trở thành một dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam18

Trong lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Nam bộ nói riêng và lịch

sử Việt Nam nói chung cho thấy dân tộc Khmer là một bộ phận hợp thành của cộng đồng đa dân tộc, đa văn hóa Việt Nam Từ hơn 300 năm qua, vùng đất mới này đã

18 Nguyễn Khắc Cảnh (2000), Sự hình thành cộng đồng người Khmer Nam bộ , Nxb ĐHQG TPHCM, tr

221

Trang 38

đón nhận nhiều cộng đồng cư dân đến sinh sống, trong đó chiếm đa số là người Việt, người Khmer, người Hoa và người Chăm Địa bàn cộng đồng dân cư này cũng

đã tạo nên mối quan hệ, giao lưu văn hoá trên nhiều lĩnh vực Chính sự giao lưu này

đã tạo nên phong tục đặc thù ở vùng đất Nam bộ Phong tục là một mảng đề tài rất

đa dạng và phong phú, nó được tạo nên bởi nhiều yếu tố khác nhau như các tục lệ đặc trưng của vùng Nam bộ: lễ đón xuân, nghi thức hôn lễ của người Chăm ở An Giang, lễ hội Óc Om Bóc và Tết Chôl Chnăm Thmây của đồng bào dân tộc Khmer, nét tính cách của người Nam bộ Họ đã thể hiện sự gắn bó, tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết trong cuộc sống cũng như trong chống giặc ngoại xâm bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc

* Địa bàn và đặc điểm cư trú của đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ 19

Địa bàn cư trú: Đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ về đại thể đã hình thành 3

vùng dân cư tập trung lớn như:

- Tập trung ở Vùng tỉnh An Giang và tỉnh Kiên Giang

Tại đây còn được gọi là vùng núi Tây Nam Thiên nhiên đa dạng và cũng rất khắc nghiệt đã làm ảnh hưởng đến đời sống, tình trạng cư trú, lao động và sản xuất của đối với đồng bào DTTS, dân tộc Khmer và người Việt đang sinh sống trong vùng này

- Tập trung ở Vùng tỉnh Trà Vinh - tỉnh Vĩnh Long (còn gọi là vùng nội địa)

Địa hình vùng này bằng phẳng, có những sống đất dọc theo hai bờ sông Tiền, sông Hậu và những gờ đất chạy song song với bờ biển cao một vài mét Những sống đất và gò đất này được đồng bào dân tộc Khmer gọi là “phno” (giồng) Đây là một trong những vùng cư trú cổ xưa nhất của người dân tộc Khmer Nam bộ

- Tập trung ở Vùng tỉnh Sóc Trăng - tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau

Tại các vùng này là đất phù sa lẫn đất sét và có các giồng ven biển nhưng nhiễm phèn nặng, thấp và lầy lội, ít màu mỡ, chỉ thuận lợi cho rừng và nghề biển, nhưng do thói quen của đồng bào dân tộc Khmer là làm nông nghiệp nên nghề rừng

và nghề biển của người Khmer kém phát triển Đặc trưng nổi bật của các vùng này

là sự cư trú đan xen giữa người Khmer, Việt, Hoa, Chăm dẫn đến sự hòa nhập một cách sâu sắc về văn hóa giữa các dân tộc, tạo nên yếu tố văn hóa chung của vùng, là nét đặc trưng của văn hóa Nam bộ

19

“Đặc điểm cộng đồng người Khmer ở Nam Kỳ nửa đầu thế kỷ XIX (P2)” có thể xem trực tuyến tại http://luutruvn.com/index.php/2016/03/18/dac-diem-cong-dong-nguoi-khmer-o-nam-ky-nua-dau-the-ky-xix- p2/

Trang 39

Đặc điểm cư trú: Khi tới Nam bộ, người Khmer tập hợp thành những nhóm

nhỏ và tổ chức thành những đơn vị tự quản Mỗi đơn vị định cư trên một địa điểm gọi là phum Đơn vị cao hơn phum và bao gồm nhiều phum gọi là srok (còn gọi là sóc) Phum, sóc không phải là đơn vị hành chính, mà là đơn vị xã hội nó ràng buộc nhau bởi các phong tục, tấp quán, lễ nghi mà ngôi Chùa, Salatel là trung tâm sinh hoạt văn hóa của đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ

Phum là đơn vị cư trú bao gồm từ 5 - 7 hộ gia đình, sống quây quần trên một khoảnh đất của dải đất cao Các gia đình trong phum hầu hết đều có quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân với nhau Ngoài ra, có thể còn thêm một vài gia đình không có quan hệ huyết thống, kể cả gia đình người Hoa, Chăm và người Kinh

Quản lý và điều hành phum do một người lớn tuổi có uy tín và thường được gọi là “Mê phum” có trách nhiệm chăm lo, cai quản nội bộ của phum và quan hệ với bên ngoài phum Những công việc đó thường nặng về các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo, như cúng Neakta, cúng Arăk, lễ chùa, cưới hỏi, tang ma, vận động giúp đỡ lẫn nhau trong lao động, sản xuất

Các hoạt động và sinh hoạt tại phum mang tính chất cộng đồng tự quản Các

hộ gia đình tạo nên phum, nhưng mỗi gia đình là một đơn vị kinh tế hoàn toàn độc lập Tính liên kết huyết thống của phum lỏng lẻo, không đủ dể tạo nên những dòng

họ có tính kế thừa lâu đời, không có những của cải chung để liên kết kinh tế

Trong quá trình tụ cư (di cư), các phum của người Khmer Nam bộ đã hòa nhập với người Kinh, người Chăm và người Hoa, tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển và giao lưu văn hóa, đoàn kết, gắn bó, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc Điều này xảy ra đầy đủ và rõ ràng nhất ở vùng

An Giang - Kiên Giang - Sóc Trăng - Bạc Liêu - Cà Mau

Sóc lớn hơn phum, tương tự như làng (xóm của người Nam bộ) của người Việt Mỗi sóc gồm nhiều phum và một Chùa, có nơi có Salatel (sóc lớn có thể có hai chùa) Quản lý sóc giao cho ban quản trị và ban hoằng pháp sóc, đứng đầu là

“Mê sóc” do ban quản trị sóc bầu ra Thành viên ban quản trị và ban hoằng pháp sóc được dân tuyển chọn trong số những người lớn tuổi, người có uy tín, có hiểu biết phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc mình, có tinh thần trách nhiệm với đồng bào Cùng với ban quản trị, “Mê sóc” điều hành các công việc chung thuộc nội

bộ của sóc, thay mặt cho sóc thực hiện các công việc đối ngoại, duy trì mối liên hệ thường xuyên giữa nhà chùa với phật tử và người dân trong sóc

Trang 40

Do ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo Theravada (Phật giáo Nam tông), bên cạnh bộ máy tự quản sóc còn có tổ chức nhà Chùa Đứng đầu mỗi chùa là vị sư cả (lục gru) vừa là trụ trì chùa vừa là lãnh đạo tôn giáo cao nhất của một hoặc vài sóc Với người Khmer, sư cả được coi là đại diện cho đức Phật, được phật tử và nhân dân trong sóc hết sức kính trọng Sư cả điều hành ban quản trị chùa đứng ra tổ chức các buổi lễ, (cầu siêu, cầu an, cầu mưa ) định địa tô cho chùa, giải quyết những vấn

đề Phật sự và tìm kiếm những ngân khoản chi tiêu cho nhà Chùa20…

2.1.2.2 Đặc điểm về kinh tế 21

Nền kinh tế của người Khmer Nam bộ chủ yếu dựa trên việc chuyên canh lúa nước Đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ có truyền thống sản xuất nông nghiệp từ khá sớm nhưng đến nay vẫn còn tính chất sản xuất nhỏ và độc canh, kỹ thuật canh tác còn nhiều hạn chế Đó là một nền kinh tế mang tính chất tự cung, tự cấp tự túc

và còn lệ thuộc nặng nề vào thiên nhiên

* Sản xuất nông nghiệp:

Với người Khmer, nông nghiệp vừa là nguồn cung cấp lương thực thực phẩm cho đời sống, cho chăn nuôi vừa là hàng hóa trao đổi

Ngay từ khi khai phá và định cư ở Nam bộ, người Khmer đã gieo trồng lúa nước và các cây lương thực, hoa màu Qua chung sống, người Khmer tiếp thu thêm kinh nghiệm của nông dân Việt, làm phong phú kinh nghiệm của mình

Người Khmer Nam bộ biết phân biệt các loại ruộng đất để gieo trồng, lựa chọn các loại giống thích hợp và tiến hành nhiều biện pháp, kỹ thuật canh tác, thủy lợi…để đem lại hiệu quả trong nuôi trồng và sản xuất

Việc gieo trồng cây lúa là chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp của đồng bào dân tộc Khmer ở Nam bộ Ngoài ra việc canh tác các loại cây lương thực như khoai, sắn, ngô (bắp),… và các loại rau đậu, hoa màu cũng được chú ý Phổ biến ở các vùng Khmer là việc trồng bắp, khoai lang, khoai mì, các loại rau, đậu, hành… được trồng phổ biến nhất ở vùng An Giang, Sóc Trăng

Tập quán canh tác nông nghiệp của người Khmer Nam bộ có điểm đáng chú

ý, đó là cách vần đổi công (yôdei) Hình thức này rất phổ biến ở vùng nông thôn

Ngày đăng: 17/06/2018, 16:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan An (1991), Một số vấn đề kinh tế xã hội của vùng nông thôn Khmer đồng bằng sông Cửu Long, In trong Vấn đề dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.120 – 121 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề kinh tế xã hội của vùng nông thôn Khmer đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Phan An
Nhà XB: Nxb.Khoa học xã hội
Năm: 1991
6. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2000), “Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng cộng sản Việt Nam”, Chương trình chuyên đề dùng cho cán bộ đảng viên cơ sở, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng cộng sản Việt Nam”
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2000
8. Nguyễn Khắc Cảnh (2000), Sự hình thành cộng đồng người Khmer Nam bộ , Nxb. ĐHQG TPHCM, tr. 221 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hình thành cộng đồng người Khmer Nam bộ
Tác giả: Nguyễn Khắc Cảnh
Nhà XB: Nxb. ĐHQG TPHCM
Năm: 2000
9. Phạm Huy Châu (2007), Về khái niệm dân tộc và chủ nghĩa dân tộc, Tạp chí Triết học, số 11/2007, (198) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về khái niệm dân tộc và chủ nghĩa dân tộc
Tác giả: Phạm Huy Châu
Năm: 2007
14. Khoa Dân tộc (1995), “Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta” (tập bài giảng chương trình cử nhân chính trị), Phân Viện Hà Nội, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta”
Tác giả: Khoa Dân tộc
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
15. Đặng Vũ Liêm (1999),“Tiếp tục thực hiện tốt chính sách ở các vùng dân tộc và miền núi cải thiện đời sống nhân dân”, Tạp chí quốc phòng toàn dân số 02/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tiếp tục thực hiện tốt chính sách ở các vùng dân tộc và miền núi cải thiện đời sống nhân dân”
Tác giả: Đặng Vũ Liêm
Năm: 1999
16. Trần Đại Nam (2001), “Đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ trong công cuộc đổi mới hiện nay”, Luận án tiến sỹ, Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ trong công cuộc đổi mới hiện nay”
Tác giả: Trần Đại Nam
Năm: 2001
17. Nguyễn Thanh Thủy (2001), “Sự tác động chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực kinh tế - xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer”, Luận án tiến sỹ Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sự tác động chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực kinh tế - xã hội đối với đồng bào dân tộc Khmer”
Tác giả: Nguyễn Thanh Thủy
Năm: 2001
18. Phan Hữu Dật, Lâm Bá Nam “Chính sách dân tộc của các chính quyền Nhà nước phong kiến Việt Nam (X-XIX)”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chính sách dân tộc của các chính quyền Nhà nước phong kiến Việt Nam (X-XIX)”
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
19. Phan Hữu Dật “Mấy vấn đề về lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Mấy vấn đề về lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay”
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
20. Ủy ban Dân tộc và miền núi “Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr190-193 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
21. “Tập bài giảng lý luận dân tộc và các chính sách dân tộc”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng lý luận dân tộc và các chính sách dân tộc
22. “Một số vấn đề dân tộc và phát triển”, Ủy ban Dân tộc - Viện Dân tộc, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề dân tộc và phát triển
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
23. Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khóa X “Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước về dân tộc”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước về dân tộc”
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
24. Nguyễn Tấn Thời (2005), “Đảng bộ An Giang lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc đối với đồng bào Khmer 1996 -2004”, Luận văn thạc sỹ, Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đảng bộ An Giang lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc đối với đồng bào Khmer 1996 -2004”
Tác giả: Nguyễn Tấn Thời
Năm: 2005
25. “Đặc điểm cộng đồng người Khmer ở Nam Kỳ nửa đầu thế kỷ XIX (P1)”, có thể xem trực tuyến tại http://luutruvn.com/index.php/2016/03/17/dac-diem-cong-dong-nguoi-khmer-o-nam-ky-nua-dau-the-ky-xix-p1/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đặc điểm cộng đồng người Khmer ở Nam Kỳ nửa đầu thế kỷ XIX (P1)”
26. “Đặc điểm cộng đồng người Khmer ở Nam Kỳ nửa đầu thế kỷ XIX (P2)” có thể xem trực tuyến tại http://luutruvn.com/index.php/2016/03/18/dac-diem-cong-dong-nguoi-khmer-o-nam-ky-nua-dau-the-ky-xix-p2/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đặc điểm cộng đồng người Khmer ở Nam Kỳ nửa đầu thế kỷ XIX (P2)”
27. “Đặc điểm cộng đồng người Khmer ở Nam Kỳ nửa đầu thế kỷ XIX (P3)” có thể xem trực tuyến tại http://luutruvn.com/index.php/2016/03/19/dac-diem-cong-dong-nguoi-khmer-o-nam-ky-nua-dau-the-ky-xix-p3/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đặc điểm cộng đồng người Khmer ở Nam Kỳ nửa đầu thế kỷ XIX (P3)”
2. Mạc Tiến Anh (2005), Khái luận chung về Bảo hiểm xã hội, Tạp chí Bảo hiểm xã hội các số 01/2005, 02/2005 và 04/2005) Khác
3. Hoàng Chí Bảo (2010), Quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Đề tài KX02.02/06-10 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w