PHẦN MỞ ĐẦU I Tên đề tài: “ Sử dụng phương pháp thí nghiệm thực hành trong giảng dạy tiết thực hành sinh học 8 nhằm tích cực hoạt động học tập của học sinh”... Giảng dạy môn sinh học, đặ
Trang 1Chức vụ và đơn vị công tác: Phó hiệu trưởng - Trường THCS Phụng Thượng
Trình độ chuyên môn : Đại học sư phạm
Hệ đào tạo : Từ xa
Bộ môn giảng dạy : Sinh 8 + hóa 9
Ngoại ngữ : Tiếng Anh
Trình độ chính trị : Sơ cấp
Khen thưởng ( Ghi hình thức cao nhất) : Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở
A PHẦN MỞ ĐẦU I) Tên đề tài: “ Sử dụng phương pháp thí nghiệm thực hành trong giảng dạy tiết
thực hành sinh học 8 nhằm tích cực hoạt động học tập của học sinh”
Trang 2II) Lý do chọn đề tài:
Sinh học là bộ môn vừa lý thuyết vừa thực nghiệm rất phong phú Trongnhững năm gần đây, khoa học sinh học phát triển mạnh mẽ đạt được nhiều thànhtựu to lớn nổi bật trên nhiều lĩnh vực, với những phát minh lớn đã vận dụng vàoviệc chọn giống tạo nên những giống vật nuôi, cây trồng có năng suất cao.Những phát minh đó cũng giúp cho y tế phòng và chống lại những bệnh nguyhiểm trên động vật mang lại hiệu quả kinh tế cao đồng thời cứu sống được rấtnhiều người thoát khỏi tử thần
Trong nhà trường phổ thông, môn sinh học có vai trò quan trọng, nó gópphần vào việc đào tạo con người mới có trình độ văn hóa phổ thông, hiểu biếtkhoa học kỹ thuật toàn diện, biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn sản xuất, có
óc thẩm mỹ đây là con người mới phát triển toàn diện, góp phần xây dựngCNXH
Để có được điều đó cần đến vai trò rất quan trọng của người thầy Thầyphải là người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, có lòng nhiệt tình,tâm huyết nghề nghiệp, bên cạnh đó thầy phải biết vận phù hợp các phươngpháp dạy học (PPDH) với từng kiểu bài, từng nội dung kiến thức để giúp họcsinh vận dụng tốt kiến thức lý thuyết vào thực hành và thực tiễn cuộc sống Giảng dạy môn sinh học, đặc biệt tiết dạy thực hành trong chương trình làmột tiết dạy khó, để thành công tiết dạy đòi hỏi mỗi giáo viên phải tìm tòinghiên cứu phương pháp phù hợp và qua thử nghiệm mới có thể thành công,Mục tiêu chính của tiết dạy bên cạnh việc cung cấp kiến thức mới, củng cố kiếnthức còn rèn cho học sinh kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tếcuộc sống
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn sinh học trong nhiều năm liềntôi nhận thấy việc vận dụng kiến thức lý thuyết của học sinh vào các bài thựchành và thực tiễn cuộc sống còn gặp không ít khó khăn bởi nhiêu lý do khácnhau Sinh học là môn khoa học thực nghiệm, khoa học mở luôn luôn mới, kiếnthức sinh học chủ yếu được hình thành bằng phương pháp quan sát, mô tả, tìmtòi thực nghiệm, vậy mà học sinh lại gặp khó khăn trong vấn đề này thì quả đây
là một điều rất đáng quan tâm vì nó liên quan trực tiếp đến sự phát triển trí tuệcủa cả một thế hệ tương lai
Qua thực tế thanh tra , dự giờ của một số đồng chí tôi thấy việc giảng dạy tiếtthực hành đôi khi còn lúng túng, chưa đúng với đặc trưng tiết dạy, học sinh cònchưa tích cực hiệu quả tiết dạy còn chưa cao
Trang 3Tôi nhận thấy : “Sử dụng phương pháp thí nghiệm thực hành trong giảngdạy tiết thực hành” rất phù hợp bởi phương pháp này không những có tác dụngtích cực đối với sự nhận thức của học sinh mà còn có ý nghĩa lớn trong việc giáodục học sinh theo nguyên lý giáo dục : “ Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn vớithực tiễn”.
Chính vì những lý do trên nên tôi quyết định chọn đề tài này
III) Mục đích đề tài:
Vận dụng phương pháp thí nghiệm thực hành trong giảng dạy tiết thực hành sinhhọc 8 để thấy rõ hiệu quả của nó là tích cực hoạt động học tập của học sinh, gópphần nâng cao toàn diện chất lượng đào tạo học sinh về mặt giáo dục phổ thông,
kỹ thuật tổng hợp, giúp học sinh vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, có kỹnăng thực hành
IV) Nhiệm vụ đề tài:
1 Nghiên cứu lý luận dạy học phát huy tính tích cực hoạt động học tập của họcsinh
2 Vận dụng lý luận trên, nghiên cứu các bài dạy theo hướng tăng cường thínghiệm thực hành để phát huy tính tích cực hoạt động học tập của học sinh
3 Thực nghiệm: Xác định hiệu quả của phương pháp thí nghiệm thực hànhtrong giảng dạy tiết thực hành sinh học 8 là phát huy tính tích cực học tập củahọc sinh, trên cơ sở đó giáo viên sinh học có thể vận dụng trong giảng dạy tiếtthực hành
B PHẦN THỨ HAI ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I ) Đối tượng nghiên cứu:
Trang 4- Học sinh lớp 8 trờng THCS Tam Hiệp- Phúc Thọ - Hà Nội.
- Giáo viên giảng dạy môn sinh học trờng THCS Tam Hiệp- PhúcThọ - Hà Nội
- Các điều kiện khách quan khác
II
) Phạm vi nghiờn cứu : Đề tài thực hiện trong năm học 2012-2013, nghiờn cứu
trong 6 tiết thuộc 6 bài thực hành sinh học 8:
Tiết 6 - Bài 5: Thực hành quan sỏt tế bào và mụ
Tiết 12- Bài 12: Thực hành tập sơ cứu và băng bú cho người góy xương
Tiết 20- Bài 12: Thực hành sơ cứu cầm mỏu
Tiết 24- Bài 23: Thực hành hụ hấp nhõn tạo
Tiết 30- Bài 26: Thực hành tỡm hiểu hoạt động của enzim trong nước bọt
Tiết 46- Bài 44: Thực hành tỡm hiểu chức năng liờn quan đến cấu tạo của tủysống
III)Ph ơng pháp nghiên cứu:
1) Phơng pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các tài
liệu giảng dạy liên quan đến phương phỏp thớ nghiệm thực hành vàgiảng dạy tiết thực hành:
+ Phỏt huy tớnh tớch cực học tập của học sinh như thế nào
( Người dịch : Đỗ Thị Trang – Nguyễn Ngọc Quang) + Cụng tỏc độc lập của học sinh về sinh học
( Lương Ngọc Toản – Phạm Quang Hoan)
+ Tõm lý học
( Phạm Minh Hải chủ biờn)
+ Lý luận dạy học sinh học
( Nguyễn Quang Vinh- Trần Doón Bỏch)
2) Phơng pháp điiều tra: Điều tra thực tế giảng dạy tiết
thực hành và hiệu quả của phương phỏp thớ nghiệm thực hành
3) Phơng pháp thực nghiệm: Tổ chức giảng dạy 2 tiết thực
hành ở 2 lớp 8b,8c nhận thức ngang nhau, bằng2 phơng phápkhác nhau rồi so sánh kết quả
+ Tiết 1: Lớp 8b dạy thực nghiệm bằng phương phỏp thớ nghiệm thực hành
là chớnh
Lớp 8c dạy đối chứng bằng phương phỏp vấn đỏp là chớnh
+ Tiết 2: Lớp 8c dạy thực nghiệm bằng phương phỏp thớ nghiệm thực hành là
chớnh
Lớp 8b dạy đối chứng bằng phương phỏp vấn đỏp là chớnh
Trang 5C PHẦN THỨ BA
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
I Nghiên cứu lý thuyết:
1)Tính tích cực học tập của học sinh- Tăng cường công tác độc lập của học sinh về sinh học - Phát huy tính tích cực học tập của học sinh:
Tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể ( nghĩa là người hành
động).Tính cực là trạng thái hoạt động của học sinh được đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức Người giáo viên phải có ý thức sâu sắc về những quy luật của sự học tập coi như quá trình nhận thức tích cực và phải vận dụng chúng một cách khéo léo trong quá trình dạy học Những quy luật đó tạo nên cơ sở cửa phương pháp tổ chức sự hoạt động nhận thức tích cực của học sinh khi nắm vững kiến thức và rèn luyện kỹ năng , kỹ xảo thực hành
Nhà giáo dục học Nga K.Đ Usinki phát biểu “ Việc dạy học cần phải lưu ý một cách nghiêm túc tới vấn đề kích thích tư duy độc lập của trẻ em, thúc đẩy các em tìm tòi chân lý” Ông nhấn mạnh “ Tính độc lập suy nghĩ của học sinh là
cơ sở vững chắc của mọi sự học tập có hiệu quả”
Công tác độc lập của học sinh về sinh học gồm quan sát hình thái của động vật, thực vật, con người và làm thí nghiệm trên động, thực vật trong đó thí nghiệm thực hành có vai trò quan trọng đối với việc phát huy tính tích cực hoạt động học tập của học sinh Một công tác được coi là độc lập là khi hoàn thành công việc phải có sự giải quyết một nhiệm vụ mới
VD: Khi học cấu tạo của tim : Học sinh quan sát cấu tạo ngoài, cấu tạo trongcủa tim để thấy được:
+ Vị trí của tim trong cơ thể, hình dạng ngoài, kích thước của tim, tim có màng bao bọc bên ngoài
+ Tim có cấu tạo 4 ngăn, thành tâm thất trái dày nhất, giữa tâm thất và tâm nhĩ
có van nhĩ thất
+ Hoạt động đóng, mở của các van tim
Hiểu rõ cấu tạo của tim giúp học sinh thấy được chức năng của tim trong hệ tuần hoàn
+ Câu hỏi gợi mở
+ Câu hỏi tìm tòi
Trang 6+ Câu hỏi yêu cầu phân tích, so sánh, tổng hợp khái quát.
+ Câu hỏi nêu mối quan hệ nhân quả
+ Câu hỏi liên hệ thực tế
- Khi giảng dạy phải tổ chức bài dạy theo các bước logic, thầy đóng vai trò là người hướng dẫn, trò hoạt động độc lập tích cực thì tiết dạy mới thành công
3) Các phương pháp thường sử dụng khi giảng dạy tiết thực hành:
Giảng dạy tiết thực hành giáo viên cũng cần linh hoạt phối kết hợp cácphương pháp đặc trưng phù hợp tùy từng bài khác nhau, thông thường phươngpháp thí nghiệm thực hành là chính
- Các phương pháp: + Phương pháp quan sát
- Tạo điều kiện cho học sinh bộc lộ khả năng nhận thức, trình bày và tự bảo vệ
ý kiến của mình khi thảo luận, tranh luận theo nhóm
- Khuyến khích học sinh thắc mắc, nêu tình huống có vấn đề và tham gia giảiquyết vấn đề khi quan sát cũng như khi tiến hành thí nghiệm thực hành, làm báocáo
4) Vai trò của thí nghiệm thực hành trong dạy học sinh học:
- Biểu diễn thí nghiệm là phương pháp quan trọng nhất để tổ chức cho học sinhnghiên cứu, giải thích các hiện tượng sinh học
- Thí nghiệm (TN) là mô hình đại diện cho hiện thực khách quan, là cơ sở xuấtphát cho quá trình nhận thức của học sinh
- TN là cầu nối giữa lý thuyết và thực hành để đi đến thực tiễn Vì vậy nó làphương pháp, phương tiện duy nhất giúp hình thành kỹ năng, kỹ xảo thực hành
là cơ sở của tư duy
- TN giúp học sinh đi sâu tìm hiểu bản chất các hiện tượng, các quá trình sinhhọc
- TN do giáo viên biểu diễn là mẫu mực về thao tác, là cơ sở chuẩn kiến thức đểhọc sinh quan sát, nhận xét và bắt chước Dần dần, khi học sinh biết cách và tựtiến hành được TN, đó là cơ sở đối chứng giúp học sinh hình thành kỹ năng, kỹxảo thực hành , phát hiện kiến thức
Trang 7- TN có thể được sử dụng để tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh với cácmức độ khác nhau: Thông báo, tái hiện (bắt chước) tìm tòi bộ phận, giải thích,chứng minh, nghiên cứu tìm kiến thức mới.
- Tóm lại: TN được sử dụng để nghiên cứu bài mới, củng cố, hoàn thiện kiến
thức, kiểm tra, đánh giá kiến thức Đặc biệt TN có vai trò rất quan trọng đối vớiviệc dạy một bài thực hành TN có thể do giáo viên biểu diễn, hoặc do học sinh
tự tiến hành TN có thể tiến hành trên lớp, trong phòng TN, ngoài vườn, ngoàiđồng ruộng hoặc tại nhà
5) Bản chất của phương pháp thí nghiệm thực hành:
- Phương pháp thí nghiệm thực hành là một phương pháp dạy học thuộc nhómcác phương pháp thực hành thường sử dụng dạy các bài thực hành, hoặc các bàidạy có các thí nghiệm
- Thí nghiệm thực hành(TNTH) theo logic nghiên cứu thì bản thân nó là nguồntri thức mới cho học sinh, nó là điểm xuất phát cho quá trình tìm tòi của họcsinh để đi đến việc hình thành kiến thức mới
- Trong bài thí nghiệm thực hành, TN lại là nguồn kiến thức vừa có vai trò xâydựng cái mới, vừa có vai trò củng cố, hoàn thiện và kiểm chứng, chứng minhmột vấn đề nào đó được nhắc đến
- Bằng hệ thống câu hỏi có tính chất định hướng giáo viên đã kích thích hứngthú , sự tìm tòi độc lập sáng tạo của học sinh
- Bằng những điều quan sát được từ thí nghiệm do giáo viên biểu diễn hoặc bảnthân học sinh tự tiến hành, giúp học sinh có thể phân tích, so sánh, thiết lập mốiquan hệ nhân quả, trả lời các câu hỏi để đi tới các kết luận khái quát, phản ánhbản chất của vấn đề hay hiện tượng sinh học
Như vậy, với phương pháp này, học sinh ở vị trí của người nghiên cứu, chủđộng hành động giành tri thức nên sự lĩnh hội kiến thức được sâu sắc hơn, đầy
đủ hơn
TNTH gồm các bước cụ thể sau:
+ Bước 1: Giáo viên giới thiệu mục đích, yêu cầu TNTH
+ Bước 2: Giáo viên phân tích các điều kiện TN
+ Bước 3: Giáo viên giới thiệu các bước, các thao tác tiến hành TN
+ Bước 4: Giáo viên có thể làm mẫu với các thí nghiệm khó hoặc chỉ đạo
Trang 8- Để học sinh nắm được mục đích, điều kiện TNTH, giáo viên có thể giới thiệutrước cho học sinh, hoặc để học sinh tự xác định Quan sát TN là hoạt động nhậnthức tự lực của học sinh, ở đây, thầy chỉ có vai trò là người cố vấn, theo dõi,giám sát và là trọng tài ghi nhận những thành tích phát hiện tri thức của họcsinh.
- Việc rút ra kết luận, báo cáo thu hoạch là giai đoạn cuối cùng, quan trọng nhấttrong quá trình TNTH tức là sau khi học sinh TNTH giải thích các hiện tượng,quá trình xảy ra 1 cách phù hợp, lô gíc đáp ứng mục đích, yêu cầu đề ra ban đầuthì vấn đề đã được giải quyết
6) Những yêu cầu sư phạm của thí nghiệm thực hành:
- Khi tiến hành biểu diễn TN - TNTH, giáo viên phải đặt vấn đề rõ ràng, giảithích cụ thể mục đích, yêu cầu, ý nghĩa của TN
- Cần hướng dẫn học sinh ghi chép vào vở những hiện tượng xảy ra trong quátrình làm TN Những tài liệu ghi chép được trong quá trình quan sát là rất cầnthiết để học sinh có các dữ kiện làm cơ sở giải thích, khái quát rút ra những kếtluận đáp ứng mục tiêu, yêu cầu của bài đồng thời trả lời các câu hỏi và bài tập
đề ra
- Các câu hỏi và bài tập này phải được giáo viên nêu ra từ trước khi tiến hành
TN và ghi lên bảng hoặc vào phiếu học tập Yêu cầu của các câu hỏi này phảiphù hợp với chủ đề của bài học để khi tìm lời giải đáp giúp học sinh nắm vững,hiểu sâu bản chất của hiện tượng
- TN phải đơn giản, vừa sức học sinh tránh những TN quá phức tạp, tránhnhững yêu cầu quá trừu tượng Hơn nữa thời gian cho TN phải hợp lý để đảmbảo thu được kết quả thật sát thực tiễn
- Sau khi làm TN cần tổ chức cho học sinh thảo luận theo hệ thống câu hỏi vàbài tập đã được giáo viên chuẩn bị Sau khi thảo luận nhất thiết giáo viên phảinhận xét, đánh giá và kết luận kiến thức chuẩn để học sinh điều chỉnh nhận thứcnếu cần
- Phối hợp một cách hợp lý TNTH với lời nói của giáo viên, tuỳ theo lôgíc của
sự phối hợp này mà tính chất hoạt động nhận thức của học sinh khác nhau Ởphương pháp TNTH - nghiên cứu thì TN là nguồn thông tin cho học sinh cònlời nói của giao viên giữ vai trò hướng dẫn, trong phương pháp TNTH -thôngbáo tái hiện thì lời nói của giáo viên là những thông tin chính xác còn TN chỉ là
để minh hoạ, chứng minh, xác nhận thông tin
- Việc lựa chọn lôgíc phối hợp giữa lời nói của giáo viên và TNTH là tuỳ thuộcvào mức độ phức tạp của nội dung nghiên cứu, vào năng lực tư duy và trình độcủa mỗi học sinh
Trang 9- Đối với những sự kiện, hiện tượng hay cơ chế đơn giản có thể rút ra kết luậnnhờ sự quan sát trực tiếp không cần suy luận bằng các thao tác lôgíc phức tạp thìlời nói của giáo viên chỉ có tính chất hướng dẫn sự quan sát chứ không phải lànguồn cung cấp thông tin dạy - học.
- Như vậy, trong trường hợp nội dung bài đơn giản thì giáo viên dùng lời nóigiới thiệu trước, sau đó biểu diễn TN minh hoạ hoặc cho học sinh tự làm TN -quan sát để nhận biết kiến thức
- Còn đối với những hiện tượng phức tạp thì nên tổ chức cho học sinh quan sát
TN theo lô gíc nghiên cứu, như vậy sẽ có hiệu quả rèn luyện trí thông minh, tưduy sáng tạo để hình thành kỹ năng, kỹ xảo do học sinh phải sử dụng các biệnpháp trí tuệ, học sinh sẽ lĩnh hội tri thức một cách chủ động, sâu sắc hơn Đâychính là hiệu quả của TNTH trong dạy tiết thực hành sinh học 8
Trong phương pháp TNTH lời nói của giáo viên có 3 chức năng:
+ Hướng dẫn học sinh quan sát để nắm vững những giai đoạn chính củahiện tượng
+ Hướng dẫn học sinh chủ động kiến thức lý thuyết đã học để giải thích,kết luận hiện tượng quan sát được trong bài thực hành
+ Trên cơ sở thu được kết quả quan sát TN, học sinh tự rút ra kết luận
7) Các bước chung khi làm thí nghiệm thực hành:
- Bước 3: Đề xuất giả thiết của đề tài, dự đoán các phương án giải quyết, vạch
ra kế hoạch giải quyết
- Bước 4: Thực hiện kế hoạch giải quyết.
- Bước 5: Đánh giá việc thực hiện kế hoạch.
Nếu kết quả thực hiện kế hoạch không phù hợp với giả thiết khoa học đãnêu ra thì quay lại bước 3, đề xuất giả thiết khác
Nếu việc thực hiện kế hoạch đưa đến kết quả chính xác, xác nhận giả thiếtđúng thì chuyển sang bước 6
- Bước 6: Phát biểu kết luận.
8) Những điều cần lưu ý khi làm TNTH:
- TN nghiên cứu nhất thiết phải có phần đối chứng để kiểm tra kết quả TN, giúp
HS tìm được mối quan hệ nhân quả của các hiện tượng xảy ra trong TN Việc
Trang 10xác định yếu tố TN và đối chứng được thực hiện ở bước 4 và 5 với các TNminh hoạ thì đơn giản hơn không nhất thiết phải có đối chứng.
- Phải đảm bảo tính sư phạm, tính khoa học của việc biểu diễn TN như: Nơi bốtrí TN phải đủ ánh sáng, cả lớp phải quan sát rõ được, các thao tác TN phảithành thạo, bảo đảm TN thành công, dự đoán trước những thắc mắc của học sinh
có thể đưa ra khi quan sát TN, lường trước những thất bại có thể xảy ra để giảithích cho HS rõ nguyên nhân, tránh làm mất lòng tin đối với học sinh
- Trong dạy - học sinh học có thể có những TN dài ngày nên có thể bố trí ởvườn trường, góc sinh giới, trong chuồng trại, ruộng TN (loại TN trong bài TH
“tập dượt thao tác giao phấn” – sinh học 9) Có loại TN chỉ đòi hỏi thời gianngắn (TN về sinh lý - sinh hoá: TN tiết 46- bài 44 sinh học 8) có thể thực hiệnngay tại lớp
- Đối với TN diễn tả cùng một bản chất hay cùng một quy luật trong nhữngđiều kiện khác nhau, giáo viên nên biểu diễn song song để cho hiệu quả cao hơnhình thức biểu diễn lần lượt từng TN
II) Kết quả điều tra:
1)
Khảo sát thực tế :
Trong trường phổ thông, bộ môn sinh học ở các khối 6,7,8,9 đều có một sốtiết thực hành ở một số chương, việc giảng dạy tiết thực hành đôi khi gặp khókhăn chưa thực sự hiệu quả bởi nguyên nhân sau:
- Dụng cụ thực hành một số bài còn thiếu hoặc sử dụng độ chính xác chưa cao
- Một số mẫu vật khi dạy một số tiết chưa sưu tầm đủ
- Chưa có vườn trường để HS tham quan, quan sát
- Có đồng chí giáo viên mới ra trường kinh nghiệm giảng dạy tiết thực hành còn
ít, tổ chức giảng dạy tiết thực hành chưa hiệu quả nên hiệu quả còn chưa cao
- Mốt số học sinh chưa hứng thú với tiết thực hành
Chính vậy, học sinh nắm bắt kiến thức còn hời hợt, chưa sâu, thụ động, một
số em dựa vào các bạn khác để chép bài, không hiểu bản chất vấn đề, không giảithích được hiện tượng xảy ra, số học sinh làm được thí nghiệm thực hành, viếtđược báo cáo thường < 50%
2) Số liệu điều tra trước khi thực hiện:
Trang 11III) Kết quả thực nghiệm:
Trong thực tế giảng dạy, tôi đã vận dụng các phương pháp dạy học tích cựctrong dạy học sinh học, đặc biệt sử dụng phương pháp thí nghiệm thực hành trong bài thực hành Biến học sinh thành chủ thể của quá trình học tập, đưa các
em vào vị trí chủ động, đòi hỏi các em phải tích cực suy nghĩ, tư duy bằng những câu hỏi có tính chất nêu vấn đề, gợi mở , rèn kỹ năng thực hành cho học sinh
1.Ví dụ 1: Bài 12- Tiết 12: Thực hành:
Tập sơ cứu và băng bó cho người bị gãy xương
(Dạy lớp 8b - Dạy thực nghiệm)
A Mục tiêu: Học sinh biết cách sơ cứu khi gặp người bị gãy xương.
Biết băng bó cố định xương cẳng tay bị gãy
B Đồ dùng dạy học:
Học sinh chuẩn bị theo nhóm( mỗi nhóm 4 học sinh) gồm:
- 2 thanh nẹp dài 30-40 cm, rộng 4 -5 cm, dày 0,6- 1cm
( Nẹp bằng gỗ bào nhẵn hoặc bằng tre vót nhọn )
- Bốn cuộn băng y tế mỗi cuộn dài 2m hoặc 2 cuộn vải sạch rộng 4 -5 cm, dài2m
- 4 miếng vải sạch kích thước 20x40 hoặc gạc y tế
C Hoạt động dạy học:
1 Giáo viên nêu mục tiêu tiết thực hành
2 Kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh
3 Phương pháp: + Phương pháp trực quan
+ Phương pháp vấn đáp
+ Phương pháp thí nghiệm thực hành( là chính)
4 Tiến hành:
Hoạt động 1: Tìm hiểu nguyên nhân gãy xương
- Mục tiêu: + Học sinh chỉ rõ các nguyên nhân gãy xương
+ Biết được các điều cần chú ý khi bị gãy xương
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò Nội dung
- Nguyên nhân nào dẫn
đến gãy xương?
- Vì sao nói khả năng gãy
xương liên quan đến lứa
tuổi?
- HS: Thảo luận trả lời:
Do tai nạn , trèo cây , chạy nhảy
- Vì tỉ lệ chất chất cốt giao và chất vô cơ khác nhau theo lứa tuổi, tuổi
I) Nguyên nhân gãy xương:
Trang 12- Để bảo vệ xương, khi
tham gia giao thông cần
- Chấp hành đúng luật giao thông, không phóng nhanh, vượt ẩu
- Để nạn nhân nằm yên,tiến hành sơ cứu, không nắn bóp bừa bãi
-HS rút ra kết luận - Do tai nạn giao thông,
trèo cây, chạy nhảy
- Khi bị gãy xương phải
sơ cứu tại chỗ, không nắn bóp bừa bãi
Hoạt động 2: Phương pháp sơ cứu và băng bó
Mục tiêu: HS biết cách sơ cứu và băng bó cố định cho người bị gãy xương
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò Nội dung
- HS quan sát , ghi nhớ các thao tác
II) Phương pháp sơ cứu và băng bó.
Trang 13- Các nhóm trình bày:
+ Các thao tác băng bó
+ Sản phẩm làm được
+ Lưu ý khi băng bó
- Các nhóm đánh giá nhận xét, nhóm khác
Trang 14- GV lưu ý với trường
hợp bị gãy xương cổ
chân
- Sau khi sơ cứu băng
bó xong phải chuyển
nạn nhân đến cơ sở y
tế
- Em cần làm gì khi
tham gia giao thông,
lao động ,vui chơi để
cổ chân vào, nếu là xương đùi thì dùng nẹp dài từ sườn đến gót chân và buộc cố định ở phần thân
D)Kiểm tra đánh giá:
- Giáo viên đánh giá chung ưu, nhược điểm giờ thực hành
- Cho điểm nhóm làm tốt, nhắc nhở nhóm chưa đạt( nếu có)
- Các nhóm viết bản thu hoạch
- HS vệ sinh lớp học
E) Dặn dò:
Về nhà tập làm ở nhà để quen thao tác nhằm giúp đỡ bạn và người xung quanh không may bị tai nạn gãy xương