1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong giảng dạy sinh học 6

61 545 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 2,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy tôi đã thực hiện đề tài nàynhằm mang lại cho mình một câu trả lời cho chính tôi và cũng mong dần hìnhthành được một con đường khoa học trong sự nghiệp giáo dục của bản thân saunày

Trang 1

- -Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

“sử dụng phơng pháp bàn tay nặn bột trong giảng dạy sinh

học 6”

Ngời thực hiện: Nguyễn Thị ThơmTrờng THCS Thanh Cao “ Thanh Oai “ Hà Nội

Hà Nội, tháng 4 năm 2014

Phòng Giáo dục đào tạo thanh oai - Hà nội

Trờng THCS thanh cao

- -BẮT TAY VÀO HÀNH ĐỘNG

Trang 2

§Ò tµi s¸ng kiÕn kinh nghiÖm

“sö dông ph¬ng ph¸p bµn tay nÆn bét trong gi¶ng d¹y sinh

Trang 3

 Ngày sinh: 01/ 01/ 1983

 Ngày vào ngành: 01 /01/ 2005

 Chức vụ: Giáo viên

 Đơn vị công tác: Trờng THCS Thanh Cao

 Trình độ chuyên môn: Cử nhân khoa học

- Hệ đào tạo: Từ xa

- Bộ môn giảng dạy: Sinh học

 Trình độ chính trị: Sơ cấp

- Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam- Chi bộ trờng THCS Thanh Cao

 Khen thởng: 3 năm là chiến sĩ thi đua cấp cơ sở- Giáo viên giỏi Tp HàNội

* Đề tài sáng kiến kinh nghiệm đợc công nhận cấp Tp Hà Nội:

1 “Sử dụng phơng tiện trực quan (máy chiếu Projector kết hợp với phơng pháp soạn bài trên Powerpoint) để phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học các bài 44, 46, 52 sinh học 8-THCS : ” Đợccông nhận loại C

2 Phơng pháp tích hợp giáo dục bảo vệ môi trờng trong sinh 9

Đợc công nhận loại B

Trang 5

M C L C Ụ Ụ 5

L I NÓI U Ờ ĐẦ 6

PH N B: N I DUNG CH NH Ầ Ộ Í 11

II.11 So sánh k t qu thu nh n ế ả ậ đượ à đốc v i chi u v i ki n th c khoa h cế ớ ế ứ ọ 24

III.1 Xây d ng ti t h c theo các g i ý:ự ế ọ ợ 26

BÀI 40 HẠT TRẦN- CÂY THÔNG 43

PH N C K T QU TH C HI N CÓ SO S NH I CH NG Ầ Ế Ả Ự Ệ Á ĐỐ Ứ 49

1 K t qu ế ả 49

2 K t lu n ế ậ 51

PH N D K T LU N V KI N NGH Ầ Ế Ậ À Ế Ị 52

53

II KIẾN NGHỊ 54

DANH M C T I LI U THAM KH O Ụ À Ệ Ả 56

PH L C C C C U H I Ụ Ụ Á Â Ỏ 57

Trang 6

được coi là một kì vọng của GD đương thời Vì vậy tôi đã thực hiện đề tài nàynhằm mang lại cho mình một câu trả lời cho chính tôi và cũng mong dần hìnhthành được một con đường khoa học trong sự nghiệp giáo dục của bản thân saunày.

Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã tham khảo ý kiến của các nhà giáodục về phương pháp BTNB, tôi cũng nhận được sự giúp đỡ của các đ/c GV mônSinh trong huyện Thanh Oai, đặc biệt là các đồng nghiệp và HS trong trườngTHCS Thanh Cao Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô, các bạn đồngnghiệp đã hỗ trợ để tôi thực hiện đề tài này

Song đề tài cũng không tránh khỏi những thiếu sót! Mong các đ/c đọc,bàn luận và chia sẻ để đề tài được tốt hơn Mọi ý kiến xin gửi về theo địa chỉEmail: thomthanhcao@gmail.com hoặc liên hệ trực tiếp theo số điện thoại:0984293383

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 7

PHẦN A MỞ ĐẦU

1 Tên đề tài:

“Sử dụng phương pháp BTNB trong giảng dạy sinh 6”.

2 Lý do chọn đề tài.

2.1 Tôi muốn mỗi tiết học là một trải nghiệm tuyệt vời cho học sinh.

Bắt gặp “bàn tay nặn bột” vào một ngày tháng 8/2013 Qua tìm hiểu tôimới biết PP này đã được tập huấn khá rộng và lâu rồi “Bàn tay nặn bột” mangrất nhiều những ưu điểm – điều mà tôi vẫn hằng ao ước Song bên cạnh đó nóvẫn còn những khó khăn khi áp dụng vào nền GD của chúng ta hiện nay Songtôi vẫn muốn thử sức mình với mong muốn của một bậc làm cha làm mẹ

Tôi mong đây là một tiếp xúc chậm nhưng không muộn!

Cũng như hầu hết các đ/c GV khác, ngoài việc làm “thầy cô” tôi cũng là

“cha mẹ” Mà bậc cha mẹ nào cũng sẵn lòng làm những điều tốt nhất cho “các

con” yêu quý của mình Tôi luôn mong muốn tìm được một phương pháp dạy

học để “các con” thấy dễ hiểu, hiểu sâu, nhớ lâu và quan trọng hơn là các con biết cách để tự tìm ra tri thức Giống như cha ông ta vẫn nói: “cho bát cơm

không quý bằng cho cái cần câu cơm”, thay vì truyền đạt cho các con kiến thứchãy giúp con biết cách tự tìm lấy tri thức Được như vậy sẽ thật tuyệt vời!

“Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học tích cực như thế “Bàn

tay nặn bột” (BTNB) chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho học sinh bằngcác thí nghiệm tìm tòi nghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn

đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiêncứu tài liệu hay điều tra…

Với một vấn đề khoa học đặt ra, học sinh có thể đặt ra các câu hỏi, các giảthuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu để kiểmchứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận, so sánh, phân tích,

tổng hợp kiến thức Vì vậy với mỗi nội dung học sẽ là một “trải nghiệm” Điều

này khiến HS khắc sâu kiến thức hơn bao giờ hết

2.2 Do thực tiễn giáo dục hiện nay

Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học tích cực,thích hợp cho việc giảng dạy các kiến thức khoa học tự nhiên, đặc biệt là đối với

Trang 8

bậc tiểu học và trung học cơ sở, khi học sinh đang ở giai đoạn bắt đầu tìm hiểumạnh mẽ các kiến thức khoa học, hình thành các khái niệm cơ bản về khoa học.Tập trung phát triển khả năng nhận thức của học sinh, giúp các em tìm ra lời giảiđáp cho những thắc mắc

Việc hình thành cho học sinh một thế giới quan khoa học và niềm say mêkhoa học, sáng tạo là một mục tiêu quan trọng của giáo dục hiện đại khi mà nềnkinh tế tri thức đang dần dần chiếm ưu thế tại các quốc gia trên thế giới.Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học tích cực, thích hợpcho việc giảng dạy các kiến thức khoa học tự nhiên, đặc biệt là đối với bậc tiểuhọc và trung học cơ sở, khi học sinh đang ở giai đoạn bắt đầu tìm hiểu mạnh mẽcác kiến thức khoa học, hình thành các khái niệm cơ bản về khoa học Tập trungphát triển khả năng nhận thức của học sinh, giúp các em tìm ra lời giải đáp chonhững thắc mắc trẻ thơ bằng cách tự đặt mình vào tình huống thực tế, từ đókhám phá ra bản chất vấn đề

Mặt khác sinh học 6 là chương trình có nhiều nội dung khá phù hợp để ta

có thể áp dụng PP này Kiến thức được đánh giá là nhẹ nhàng, thực tế, trựcquan, gần gũi với học sinh Nhiều nội dung áp dụng dễ kiếm mẫu vật, có thể làmthí nghiệm hoặc quan sát thực tế Đây cũng chính là lý do tôi chọn sinh học 6

để áp dụng đề tài

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể: phương pháp BTNB

- Đối tượng nghiên cứu: Sử dụng phương pháp BTNB trong giảng dạy sinh 6

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trong phạm vi đề tài tôi đã thấy nhiệm vụ nghiên cứu cần làm được là:+ Nghiên cứu cơ sở lý luận của phương pháp BTNB

+ Khảo sát đánh giá thực trạng dạy học và việc áp dụng PP BTNB trong dạy học nói chung và trong sinh học 6 nói riêng

+ Từ đó thấy được những khó khăn và cách giải quyết khi áp dụngphương phương BTNB trong dạy học sinh 6 Vì đề tài có nội dung khá rộng, nêntôi chỉ giới thiệu chi tiết qua một số tiết dạy mà mình tâm đắc

Trang 9

5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

5.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu:

Đề tài này tiến hành điều tra ý kiến đánh giá kết quả các phương pháp DH

đã áp dụng của giáo viên thông qua điều tra GV, HS Trong đó có PP BTNB

5.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu việc áp dụng phương pháp BTNB trong DH sinh học 6 ởtrường THCS Thanh Cao- Thanh Oai- Hà Nội

- Đề tài nghiên cứu ở phạm vi:

+ Chủ yếu nghiên cứu về phương pháp BTNB

+ Chỉ nghiên cứu việc áp dụng trong môn Sinh học 6

+ Đặc biệt được áp dụng với những nội dung học có nhiều ĐDDH, mẫuvật dễ kiếm tại địa phương Thanh Cao

6 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp sau:

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Tìm hiểu mục tiêu trên nguyên tắc, phương thức, phương pháp BTNBtrong giảng dạy

- Nghiên cứu các tài liệu về PPBTNB

- Nghiên cứu việc áp dụng phương pháp BTNB sinh học 6

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra sản phẩm bằng phiếu hỏi với hệ thống câu hỏi và bàitập thực nghiệm soạn sẵn nhằm thu thập thông tin cần thiết về vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

+ Xây dựng các bài học bằng PPBTNB Chọn lớp 6A2 làm lớp thựcnghiệm; Lớp 6A1 làm lớp đối chứng

+ Dạy thực nghiệm để đánh giá kết quả của phương pháp BTNB

+ Kiểm tra sau khi kết thúc quá trình thực nghiệm 20 - 30 ngày

- Phương pháp xử lý số liệu

+ Đánh giá kết quả nhận thức đã được hình thành ở học sinh về kiến thức,hành vi, thái độ

Trang 10

7 Đóng góp của đề tài

7.1 Về lý luận

- Hệ thống hoá các đặc trưng, nguyên tắc, cách thức áp dụng của phươngpháp BTNB trong dạy học sinh 6, áp dụng PP BTNB trong giảng dạy một số nộidung sinh học 6

8 Kế hoạch, thời gian thực hiện đề tài

8.1 Thời gian thực hiện đề tài

- Từ năm 2013- 2014

8.2 Kế hoạch thực hiện đề tài

- Tháng 8/ 2013 đến tháng 10/2013: Tìm tòi tài liệu Nghiên cứu địnhhướng về đề tài

- Từ tháng 10/ 2013 đến tháng 2/ 2014: Thực hiện đề tài: khảo sát thực tế,xây dựng đề cương, thực hiện phiếu hỏi…

- Tháng 2, 3/2014: Điều tra thực trạng, tổng hợp kết quả đánh giá thực trạng

- Tháng 4/2014: Viết đề tài Đánh giá kết quả thực nghiệm Đề xuất kiếnnghị Hoàn thành đề tài

Trang 11

PHẦN B: NỘI DUNG CHÍNH

I Cơ sở lí luận của phương pháp bàn tay nặn bột.

Việc hình thành cho học sinh một thế giới quan khoa học và niềm say mêkhoa học, sáng tạo là một mục tiêu quan trọng của giáo dục hiện đại khi mà nềnkinh tế tri thức đang dần dần chiếm ưu thế tại các quốc gia trên thế giới

Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học tích cực,thích hợp cho việc giảng dạy các kiến thức khoa học tự nhiên, đặc biệt là đối vớibậc tiểu học và trung học cơ sở, khi học sinh đang ở giai đoạn bắt đầu tìm hiểumạnh mẽ các kiến thức khoa học, hình thành các khái niệm cơ bản về khoa học.Tập trung phát triển khả năng nhận thức của học sinh, giúp các em tìm ra lời giảiđáp cho những thắc mắc trẻ thơ bằng cách tự đặt mình vào tình huống thực tế, từ

đó khám phá ra bản chất vấn đề

Chương trình “Bàn tay nặn bột” là sự quy trình hóa một cách logicphương pháp dạy học, dẫn dắt học sinh đi từ chưa biết đến biết theo một phươngpháp mới mẻ là để học sinh tiếp xúc với hiện tượng, sau đó giúp các em giảithích bằng cách tự mình tiến hành quan sát qua thực nghiệm Phương pháp nàygiúp các em không chỉ nhớ lâu, mà còn hiểu rõ câu trả lời mình tìm được Qua

đó, học sinh sẽ hình thành khả năng suy luận theo phương pháp nghiên cứu từnhỏ và hình thành tác phong, phương pháp làm việc khi trưởng thành

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển nhận định, phương pháp nàygiúp tạo lập cho học sinh thói quen làm việc như các nhà khoa học và niềm say

mê sáng tạo, phát hiện, giải quyết vấn đề Vậy phương pháp dạy học “Bàn taynặn bột” là gì?

I.1 Phương pháp dạy học “Bàn tay nặn bột” là gì?

- Phương pháp dạy học “Bàn tay nặn bột” (BTNB), tiếng Pháp là La main

à la pâte - viết tắt là LAMAP; tiếng Anh là Hands-on, được hiểu là “bắt tay vàohành động” là phương pháp dạy học khoa học dựa trên cơ sở của sự tìm tòi -nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn khoa học tự nhiên

- Phương pháp này được khởi xướng bởi Giáo sư Georges Charpak (GiảiNobel Vật lý năm 1992)

- Theo phương pháp BTNB, dưới sự giúp đỡ của giáo viên, chính học sinhtìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành

Trang 12

thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiếnthức cho mình

BTNB chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho HS bằng các thínghiệm tìm tòi nghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đềđược đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiêncứu tài liệu hay điều tra

Với một vấn đề khoa học đặt ra, HS có thể đặt ra các câu hỏi, các giảthuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu để kiểmchứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận, so sánh, phân tích,tổng hợp kiến thức

Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác BTNB luôn coi HS làtrung tâm của quá trình nhận thức, chính các em là người tìm ra câu trả lời vàlĩnh hội kiến thức dưới sự giúp đỡ của GV

Mục tiêu của BTNB là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu vàsay mê khoa học của HS Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, BTNBcòn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói vàviết cho HS

I.2 Các nguyên tắc của “Bàn tay nặn bột”

Có 10 nguyên tắc

1 Học sinh quan sát một sự vật hay một hiện tượng của thế giới thực tại,gần gũi với đời sống, dễ cảm nhận và các em sẽ thực hành trên những cái đó

2.Trong quá trình tìm hiểu, học sinh lập luận, bảo vệ ý kiến của mình, đưa

ra tập thể thảo luận những ý nghĩ và những kết luận cá nhân, từ đó có nhữnghiểu biết mà chỉ những hoạt động, thao tác riêng lẻ không đủ tạo nên

3 Những hoạt động do giáo viên đề xuất cho học sinh được tổ chức theotiến trình sư phạm nhằm nâng cao dần mức độ học tập Các hoạt động này làmcho các chương trình học tập được nâng cao lên và dành cho học sinh một phần

tự chủ khá lớn

4 Cần một lượng tối thiểu là 2 giờ/tuần trong nhiều tuần liền cho một đềtài Sự liên tục của các hoạt động và những phương pháp giáo dục được đảm bảotrong suốt thời gian học tập

5 Học sinh bắt buộc có mỗi em một quyển vở thực hành do chính các emghi chép theo cách thức và ngôn ngữ của chính các em

Trang 13

6 Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần của học sinh các khái niệm khoahọc và kĩ thuật được thực hành, kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ viết và nói.

Những đối tượng tham gia

7 Các gia đình và/hoặc khu phố được khuyến khích thực hiện các côngviệc của lớp học

8 Ở địa phương, các cơ sở khoa học (trường Đại học, Cao đẳng, Việnnghiên cứu, ) giúp các hoạt động của lớp theo khả năng của mình

9 Ở địa phương, các Viện Đào tạo giáo viên (Trường cao đẳng sư phạm,đại học sư phạm) giúp các giáo viên về kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy

10 Giáo viên có thể tìm thấy trên Internet các website có nội dung vềnhững môđun (bài học) đã được thực hiện, những ý tưởng về các hoạt động,những giải đáp thắc mắc Họ cũng có thể tham gia những hoạt động tập thể bằngtrao đổi với các đồng nghiệp, với các nhà sư phạm và với các nhà khoa học.Giáo viên là người chịu trách nhiệm giáo dục và đề xuất những hoạt động củalớp mình phụ trách

I.3 Tiến trình dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”

“Bàn tay nặn bột” đề xuất một tiến trình ưu tiên xây dựng tri thức bằngkhai thác, thực nghiệm và thảo luận Đó là sự thực hành khoa học bằng hànhđộng, hỏi đáp, tìm tòi, thực nghiệm, xây dựng tập thể chứ không phải bằng phátbiểu lại các kiến thức có sẵn xuất phát từ sự ghi nhớ thuần tuý

- Quan sát, suy nghĩ. - GV chủ động đưa ra một

tình huống mở có liên quanđến vấn đề khoa học đặt ra

- Câu hỏi nêu vấn đề đảm bảongắn gọn, gần gũi, dễ hiểu,phù hợp với trình độ, gây mâuthuẫn nhận thức và kích thíchtính tò mò, thích tìm tòi,nghiên cứu…

Trang 14

niệm ban đầu

của học sinh

hình thành câu hỏi, giảthuyết … bằng nhiều cáchnói, viết, vẽ

Đây là bước quan trọngđặc trưng của PP BTNB

nhiều cách nói, viết, vẽ

- GV quan sát nhanh để tìmcác hình vẽ khác biệt

- GV không nhất thiết phảichú ý tới các quan niệm đúng,cần phải chú trọng đến cácquan niệm sai

HS đề xuất câu hỏi liênquan đến nội dung bài học

- GV giúp học sinh đề xuấtcâu hỏi liên quan đến nộidung bài học

- Kiểm soát lời nói, cấu trúccâu hỏi, chính xác hoá từvựng của học sinh

b, Đề xuất phương án thực nghiệm

- Bắt đầu từ những vấn đềkhoa học được xác định, HSxây dựng giả thuyết

- HS trình bày các ý tưởngcủa mình, đối chiếu nó vớinhững bạn khác

- GV đặt câu hỏi đề nghị HS

đề xuất thực nghiệm tìm tòinghiên cứu để trả lời cho câuhỏi đó

- GV ghi lại các cách đề xuấtcủa học sinh (không lặp lại)

- GV nhận xét chung và quyếtđịnh tiến hành PP thí nghiệm

đã chuẩn bị sẵn

(Nếu HS chưa đề xuất được

GV có thể gợi ý hay đề xuấtphương án cụ thể Chú ý làm

rõ và quan tâm đến sự khácbiệt giữa các ý kiến)

…thí nghiệm (Ưu tiênthí nghiệm trực tiếp trên vật

- Nêu rõ yêu cầu, mục đích thínghiệm sau đó mới phát cácdụng cụ và vật liệu thí nghiệm

- GV bao quát và nhắc nhởcác nhóm chưa thực hiện,hoặc thực hiện sai…

- GV tổ chức việc đối chiếu

Trang 15

thật)

…quan sát

…điều tra

…nghiên cứu tài liệu

- HS sinh ghi chép lại vậtliệu thí nghiệm, cách bố trí,

và thực hiện thí nghiệm (mô

tả bằng lời hay hình vẽ vào

vở thực hành)

các ý kiến sau một thời giantạm đủ mà HS có thể suy nghĩ

- GV khẳng định lại các ýkiến về phương pháp kiểmchứng giả thuyết mà HS đềxuất

- GV không chỉnh sửa chohọc sinh

- HS kiểm chứng các giảthuyết của mình bằng mộthoặc các phương pháp đãhình dung ở trên (thínghiệm, quan sát, điều tra,nghiên cứu tài liệu)

- GV tập hợp các điều kiện thí nghiệm nhằm kiểm chứng các ý tưởng nghiên cứu được

đề xuất

Thu nhận các kết quả và ghichép lại để trình bày

- GV giúp HS phương pháptrình bày các kết quả

*Nếu giả thuyết sai: thìquay lại bước 3

* Nếu giả thuyết đúng:

Thì kết luận và ghi nhậnchúng

- GV động viên HS và yêucầu bắt đầu lại tiến trìnhnghiên cứu

- GV giúp HS lựa chọn các lýluận và hình thành kết luận

- Sau khi thực hiện nghiên cứu,các câu hỏi dần dần được giảiquyết, các giả thuyết dần dầnđược kiểm chứng tuy nhiên vẫnchưa có hệ thống hoặc chưachính xác một cách khoa học

- GV có trách nhiệm tóm tắt,kết luận và hệ thống lại đểhọc sinh ghi vào vở coi như là

Trang 16

kiến thức bài học.

- GV khắc sâu kiến thức bằngcách đối chiếu biểu tượng ban đầu

II Các kỹ thuật dạy học và rèn luyện kỹ năng cho học sinh trong phương pháp “Bàn tay nặn bột”

II.1 Tổ chức lớp học

Bố trí vật dụng trong lớp học: Thực hiện dạy học khoa học theo phương

pháp BTNB có rất nhiều hoạt động theo nhóm Vì vậy nếu muốn tiện lợi choviệc tổ chức thảo luận, hoạt động nhóm thì lớp học nên được sắp xếp bàn ghếtheo nhóm cố định Sau đây là một số gợi ý để giáo viên sắp xếp bàn ghế, vậtdụng trong lớp học phù hợp với hoạt động nhóm:

- Các nhóm bàn ghế cần sắp xếp hài hòa theo số lượng học sinh trong lớp

- Cần chú ý đến hướng ngồi của các học sinh sao cho tất cả học sinh đều nhìn thấy rõ thông tin trên bảng.

- Khoảng cách giữa các nhóm không quá chật, tạo điều kiện đi lại dễ dàngcho học sinh khi lên bảng trình bày, di chuyển khi cần thiết

- Chú ý đảm bảo ánh sáng cho học sinh

- Đối với những bài học có làm thí nghiệm thì giáo viên cần có chỗ để cácvật dụng dự kiến làm thí nghiệm cho học sinh - Mỗi lớp học nên có một tủ đựng

đồ dùng dạy học cố định

Không khí làm việc trong lớp học:

- Giáo viên cần xây dựng không khí làm việc và mối quan hệ giữa các họcsinh dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau và đối xử công bằng, bình đẳng giữa các họcsinh trong lớp Tránh tuyệt đối luôn khen ngợi quá mức một vài học sinh nào đóhoặc để cho các học sinh khá, giỏi trong lớp luôn làm thay công việc của cảnhóm, trả lời tất cả các câu hỏi nêu ra mà không tạo cơ hội làm việc cho các họcsinh khác

- Giáo viên cần tạo được sự thoải mái cho tất cả các học sinh

Trang 17

II.2 Giúp học sinh bộc lộ quan niệm ban đầu

- Giáo viên cần biết chấp nhận và tôn trọng những quan điểm sai của họcsinh khi trình bày biểu tượng ban đầu Biểu tượng ban đầu có thể trình bày bằnglời nói hay viết, vẽ ra giấy

- Biểu tượng ban đầu là quan niệm cá nhân nên giáo viên phải đề nghị họcsinh làm việc cá nhân để trình bày biểu tượng ban đầu

- Sau khi có các biểu tượng ban đầu khác nhau, phù hợp với ý đồ dạy học,giáo viên giúp học sinh phân tích những điểm giống và khác nhau cơ bản giữa các

ý kiến, từ đó hướng dẫn cho học sinh đặt câu hỏi cho những sự khác nhau đó

II.3 Kỹ thuật tổ chức hoạt động thảo luận cho học sinh

Trong quá trình thảo luận, các học sinh được kết nối với nhau bằng chủ đềthảo luận và trao đổi xoay quanh chủ đề đó Học sinh cần được khuyến khíchtrình bày ý tưởng, ý kiến cá nhân của mình trước các học sinh khác, từ đó rènluyện cho học sinh khả năng biểu đạt, đồng thời thông qua đó có thể giúp cáchọc sinh trong lớp đối chiếu, so sánh với suy nghĩ, ý kiến của mình Những ýkiến trái ngược quan điểm luôn là sự kích thích mạnh mẽ cho sự thảo luận sôinổi của lớp học

Có hai hình thức thảo luận trong dạy học theo phương pháp BTNB: thảoluận nhóm nhỏ (trong nhóm làm việc) và thảo luận nhóm lớn (toàn bộ lớp học)

Để điều khiển tốt hoạt động thảo luận của học sinh trong lớp học, giáoviên cần chú ý đến một số gợi ý sau để thực hiện điều khiển hoạt động của lớphọc được thành công:

- Thực hiện tốt công tác tổ chức nhóm và thực hiện hoạt động nhóm chohọc sinh

- Khi thực hiện lệnh thảo luận nhóm, giáo viên cần chỉ rõ nội dung thảoluận là gì, mục đích của thảo luận Lệnh yêu cầu của giáo viên càng rõ ràng vàchi tiết thì học sinh càng hiểu rõ và thực hiện đúng yêu cầu

- Trong một số trường hợp, vấn đề thảo luận được thực hiện với tốc độnhanh bởi có nhiều ý kiến của các học sinh khá, giỏi, giáo viên nên làm chậmtốc độ thảo luận lại để các học sinh có năng lực yếu hơn có thể tham gia Tấtnhiên việc làm chậm lại tùy thuộc vào thời gian của tiết học

- Giáo viên tuyệt đối không được nhận xét ngay là ý kiến của nhóm nàyđúng hay ý kiến của nhóm khác sai Nên quan sát nhanh và chọn nhóm có ý kiến

Trang 18

không chính xác nhất cho trình bày trước để gây mâu thuẫn, kích thích các nhómkhác có ý kiến chính xác hơn phát biểu bổ sung Ý đồ dạy học theo phương phápBTNB sẽ thành công khi có nhiều ý kiến trái ngược, không thống nhất để từ đógiáo viên dễ kích thích học sinh suy nghĩ, sáng tạo, đề xuất câu hỏi, thí nghiệm

để kiểm chứng Câu trả lời không do giáo viên đưa ra hay nhận xét đúng hay sai

mà được xuất phát khách quan qua các thí nghiệm nghiên cứu

- Giáo viên nên để một thời gian ngắn (5-10 phút) cho học sinh suy nghĩtrước khi trả lời để học sinh có thời gian chuẩn bị tốt các ý tưởng, lập luận, câuchữ Khoảng thời gian này có thể giúp học sinh xoáy sâu thêm suy nghĩ về phầnthảo luận hoặc đưa ra các ý tưởng mới

- Cho phép học sinh thảo luận tự do, tuy nhiên giáo viên cần hướng dẫnhọc sinh tới các kết luận khoa học chính xác của bài học

II.4 Kỹ thuật tổ chức hoạt động nhóm trong phương pháp “Bàn tay nặn bột”

Hoạt động nhóm giúp học sinh làm quen với phong cách làm việc hợp tácvới nhau giữa các cá nhân Kỹ thuật hoạt động nhóm được thực hiện ở nhiềuphương pháp dạy học khác, không phải một đặc trưng của phương pháp BTNB.Tuy nhiên trong việc dạy học theo phương pháp BTNB, hoạt động nhóm đượcchú trọng nhiều và thông qua đó giúp học sinh làm quen với phong cách làmviệc khoa học, rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh mà chúng ta sẽ phân tích kỹ hơntrong phần nói và rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ cho học sinh

Mỗi nhóm học sinh được tổ chức gồm một nhóm trưởng và một thư kí đểghi chép chung các phần thảo luận của nhóm hay phần trình bày ra giấy (viết lênáp-phích) của nhóm Nhóm trưởng sẽ là người đại diện cho nhóm trình bàytrước lớp các ý kiến, quan điểm của nhóm mình Mấu chốt quan trọng nhất làcác học sinh trong nhóm cần làm việc tích cực với nhau, trao đổi, thảo luận sôinổi, các học sinh tôn trọng ý kiến của nhau, các cá nhân biết lắng nghe, tạo cơhội cho tất cả mọi người trong nhóm trình bày ý kiến của mình, biết chia sẻ đồdùng thí nghiệm, biết tóm tắt các ý kiến thống nhất của nhóm, các ý kiến chưathống nhất, có đại diện trình bày ý kiến chung của nhóm sau thảo luận trước tậpthể lớp là một nhóm hoạt động đúng yêu cầu

Trong quá trình học sinh thảo luận theo nhóm, giáo viên nên di chuyểnđến các nhóm, tranh thủ quan sát hoạt động của các nhóm Giáo viên không nênđứng một chỗ trên bàn giáo viên hoặc bục giảng để quan sát lớp học Việc di

Trang 19

chuyển của giáo viên có hai mục đích cơ bản: quan sát bao quát lớp, làm chohọc sinh hoạt động nghiêm túc hơn vì có giáo viên tới; kịp thời phát hiện nhữngnhóm thực hiện lệnh thảo luận sai để điều chỉnh hoặc tranh thủ chọn ý kiến kémchính xác nhất của một nhóm nào đó để yêu cầu trình bày đầu tiên trong phầnthảo luận, cũng như nhận biết nhanh ý kiến của nhóm nào đó chính xác nhất đểyêu cầu trình bày sau cùng

II.5 Kỹ thuật đặt câu hỏi của giáo viên

Trong dạy học theo phương pháp BTNB, câu hỏi của giáo viên đóng mộtvai trò quan trọng trong sự thành công của của phương pháp và thực hiện tốt ý

đồ dạy học Một câu hỏi tốt là một câu hỏi kích thích, một lời mời đến sự kiểmtra chăm chú nhiều hơn, một lời mời đến một thí nghiệm mới hay một bài tậpmới… Người ta gọi những câu hỏi này là câu hỏi “mở” vì nó kích thích một

“hành động mở Các câu hỏi “mở” khuyến khích học sinh suy nghĩ tới nhữngcâu hỏi riêng của học sinh và phương án trả lời những câu hỏi đó Các câu hỏidạng này cũng mang đến cho nhóm một công việc và một sự lập luận sâu hơn.Còn các câu hỏi “đóng” là các câu hỏi yêu cầu một câu trả lời ngắn

Câu hỏi “tốt” có thể giúp cho học sinh xác định rõ phần trả lời của mình,

và làm tiến trình dạy học đi đúng hướng.Và các câu hỏi đặt ra để yêu cầu họcsinh suy nghĩ hành động thì cần phải được chuẩn bị tốt và bắt buộc phải lànhững câu hỏi “mở”

II.5.1 Câu hỏi nêu vấn đề

Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học hay môđun kiến thức Làcâu hỏi đặc biệt nhằm định hướng học sinh theo chủ đề của bài học nhưng cũng

đủ “mở” để kích thích sự tự vấn của học sinh

Câu hỏi nêu vấn đề thường là câu hỏi nhằm mục đích hình thành biểutượng ban đầu của học sinh Giáo viên phải đầu tư suy nghĩ và cẩn trọng trongviệc đặt câu hỏi nêu vấn đề vì chất lượng của câu hỏi sẽ ảnh hưởng rất lớn đến ý

đồ dạy học ở các bước tiếp theo của tiến trình phương pháp và sự thành côngcủa bài học

II.5.2 Câu hỏi gợi ý

Câu hỏi gợi ý là các câu hỏi được đặt ra trong quá trình làm việc của họcsinh Câu hỏi gợi ý có thể là câu hỏi “ít mở” hơn hoặc là dạng câu hỏi “đóng”

Trang 20

Vai trò của nó nhằm gợi ý, định hướng cho học sinh rõ hơn hoặc kích thích mộtsuy nghĩ mới của học sinh

Khi đặt câu hỏi gợi ý, giáo viên nên dùng các cụm từ bắt đầu như “Theocác em”, “Em nghĩ gì…”, “Theo ý em…”… vì các cụm từ này cho thấy giáoviên không yêu cầu học sinh đưa ra một câu trả lời chính xác mà chỉ yêu cầu họcsinh giải thích ý kiến, đưa ra nhận định của các em mà thôi

II.6 Rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh thông qua dạy học theo

phương pháp “Bàn tay nặn bột”

Vấn đề rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh được phân thành hai mảng chính

đó là rèn luyện ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Dạy học theo phương phápBTNB là sự hòa quyện 3 phần gần như tương đương nhau đó là thí nghiệm, nói

và viết Học sinh không thể làm thí nghiệm mà không suy nghĩ và các em thểhiện suy nghĩ bằng cách thảo luận (nói) hoặc viết

- Nói: Phương pháp BTNB khuyến khích trao đổi bằng ngôn ngữ nói vềnhững quan sát, những giả thuyết, những thí nghiệm và những giải thích Một sốhọc sinh có khó khăn về ngôn ngữ nói trong một số lĩnh vực nào đó đã phát biểu

ý kiến một cách tự giác hơn khi các thao tác trong hoạt động khoa học bắt buộcchúng phải làm việc tập thể và phải đối mặt với các hiện tượng tự nhiên Họcsinh học cách bảo vệ quan điểm của mình, biết lắng nghe người khác, biết thừanhận trên cơ sở của lí lẽ, biết làm việc cho mục đích chung của một khuôn khổnhất định

- Viết: Văn phong (lối viết) là cách thức thể hiện ra ngoài những hoạtđộng suy nghĩ của mình Nó cũng cho phép giữ lại dấu vết của các thông tin đãthu nhận được, tổng hợp và hình thức hóa để làm nảy sinh ý tưởng mới Nó cũnglàm cho thông báo được dễ dàng tiếp nhận dưới dạng đồ thị vì thông tin đôi khikhó phát biểu và cho phép ghi lại các kết quả tranh luận

- Chuyển từ nói sang viết: Chuyển từ một cách thức thông báo này sangmột cách thức thông báo khác là một giai đoạn quan trọng Phương pháp BTNB

đề nghị dành một thời gian để ghi chép cá nhân, để thảo luận xây dựng tập thểnhững câu thuật lại các kiến thức đã được trao đổi và học cách thức sử dụng cáccách thức viết khác nhau

Trang 21

II.7 Kĩ thuật chọn ý tưởng, nhóm ý tưởng của học sinh

Khi chọn ý tưởng và nhóm ý tưởng của học sinh giáo viên cần chú ýnhững điểm sau:

- Cho học sinh phát biểu ý kiến tự do và tuyệt đối không nhận xét đúnghay sai các ý kiến đó ngay sau khi học sinh phát biểu

- Đối với những ý tưởng phức tạp hay có nhiều ý kiến khác biệt, giáo viênnên ghi chú lại ở một góc trên bảng để học sinh dễ theo dõi

- Đối với những biểu tượng ban đầu được học sinh trình bày bằng hình vẽ,

sơ đồ… thì giáo viên quan sát và chọn một số hình vẽ tiêu biểu, có những điểmsai lệch nhau rõ rệt để dán lên bảng, giúp học sinh dễ so sánh, nhận xét

- Khi yêu cầu học sinh trình bày, nên cho những học sinh có ý tưởng sailệch nhiều với kiến thức đúng trình bày trước, những học sinh có ý kiến tốt hơntrình bày sau Giáo viên không nhận xét ý kiến của học sinh khi học sinh phátbiểu Từ các sự khác biệt của các ý tưởng sẽ giúp học sinh thắc mắc vậy ý tưởngnào là đúng, làm sao để kiểm chứng nó… Đó là mâu thuẫn nhận thức để giúphọc sinh đề xuất ra các thí nghiệm kiểm chứng hoặc các phương án tìm ra câutrả lời

- Khi yêu cầu học sinh phát biểu, nêu ý kiến (ý tưởng), giáo viên cần chú

ý về mặt thời gian, hướng dẫn học sinh cách trả lời thẳng vào câu hỏi, không kéodài, trả lời vòng vo mà cần trả lời gắn gọn đủ ý Làm như vậy sẽ tiết kiệm đượcthời gian của tiết học, đồng thời sẽ giúp học sinh rèn luyện được suy nghĩ, ýtưởng của mình về mặt ngôn ngữ

- Khi yêu cầu học sinh khác nhận xét ý kiến của học sinh trước, giáo viênnên yêu cầu học sinh nhận xét theo hướng “đồng ý và có bổ sung” hay “khôngđồng ý và có ý kiến khác” chứ không nhận xét “ý kiến bạn này đúng, bạn kia sai”

- Giáo viên cần tóm tắt ý tưởng của học sinh khi viết ghi chú lên bảng

II.8 Hướng dẫn học sinh đề xuất thí nghiệm nghiên cứu hay phương

án tìm câu trả lời

Bước đề xuất thí nghiệm nghiên cứu hay các giải pháp tìm câu trả lời củahọc sinh cũng là một bước khá phức tạp, đòi hỏi giáo viên phải có kỹ năng sưphạm để điều khiển tiết học, tránh để học sinh đi quá xa yêu cầu nội dung củabài học Tùy từng trường hợp cụ thể mà giáo viên có phương pháp phù hợp, tuynhiên cần chú ý mấy điểm sau:

Trang 22

- Đối với ý kiến hay vấn đề đặt ra đơn giản, ít phương án hay thí nghiệmchứng minh thì giáo viên có thể cho học sinh trả lời trực tiếp phương án mà họcsinh đề xuất

- Phương án tìm câu trả lời hay thí nghiệm kiểm chứng đều xuất phát từnhững sự khác biệt của các ý tưởng ban đầu (biểu tựong ban đầu) của học sinh,

vì vậy giáo viên nên xoáy sâu vào các điểm khác biệt gây tranh cãi đó để giúphọc sinh tự đặt câu hỏi thắc mắc và thôi thúc học sinh đề xuất các phương án đểtìm ra câu trả lời

- Đối với học sinh tiểu học, giáo viên nên giúp các em suy nghĩ đơn giảnvới các vật liệu thí nghiệm thân thiện, quen thuộc, hạn chế dùng những thínghiệm phức tạp hay dùng những vật dụng thí nghiệm quá xa lạ đối với học sinh

- Khi học sinh đề xuất phương án tìm câu trả lời, giáo viên không nênnhận xét phương án đó đúng hay sai mà chỉ nên hỏi ý kiến các học sinh khácnhận xét, phân tích Nếu các học sinh khác không trả lời được thì giáo viên gợi ýnhững mâu thuẫn mà phương án đó không đưa ra câu trả lời được nhằm gợi ý đểhọc sinh tự rút ra nhận

xét và loại bỏ phương án Giáo viên cũng có thể ghi chú trên bảng một lượt các

ý kiến khác nhau rồi yêu cầu cả lớp cho ý kiến nhận xét

- Giáo viên cũng nên chuẩn bị sẵn sàng cho tình huống học sinh khôngnêu được phương án tìm câu trả lời hoặc các phương án đưa ra quá ít, nghèo nàn

về ý tưởng (đối với những trường hợp có nhiều phương án tìm câu trả lời) Vớitrường hợp này giáo viên chuẩn bị sẵn một số phương án để đưa ra hỏi ý kiếncủa học sinh

II.9 Hướng dẫn học sinh sử dụng vở thực hành

Vở thực hành không phải là vở nháp cũng không phải là vở ghi chépthông thường của học sinh

Vở thực hành không phải là cuốn vở để giáo viên dùng để sửa lỗi của họcsinh mà nhằm mục đích chính là để học sinh tự do diễn đạt suy nghĩ, ý kiến củamình thông qua ngôn ngữ viết

Vở thực hành được lưu giữ và được giáo viên xem xét như là một phầnbiểu hiện sự tiếp thu kiến thức, thái độ học tập, làm việc của học sinh Thông qua

vở thực hành, giáo viên có thể nhìn nhận được quá trình tiến bộ của học sinhtrong học tập Giáo viên, phụ huynh có thể nhìn vào các ghi chú để tìm hiểu xem

Trang 23

học sinh có hiểu vấn đề không, tiến bộ như thế nào (so với trước khi học kiếnthức), có thể nhận thấy những vấn đề học sinh chưa thực sự hiểu Và thậm chí họcsinh có thể nhìn lại những phần ghi chú để nhận biết mình đã tiến bộ như thế nào

so với suy nghĩ ban đầu, giúp học sinh nhớ lâu hơn và hiểu sâu hơn kiến thức

Vở thực hành là một đặc trưng quan trọng trong thực hiện phương phápBTNB Thông qua việc ghi chép trong vở thực hành, học sinh được tập làm quenvới công tác nghiên cứu khoa học và giáo viên cũng giúp học sinh rèn luyện ngônngữ viết thông qua cuốn vở này Để tiện cho quá trình giảng dạy tôi đã phát cho

HS mẫu VTH (phụ lục), kết hợp với quá trình dạy để dễ dàng hơn trong nhữngngày đầu cô và trò cùng làm quen với PPDH mới Tôi đã hướng dẫn cho HS đitheo tiến trình năm bước như tiến trình hướng dẫn dạy học của GV:

Bước 1: Câu hỏi nêu vấn đề (câu hỏi xuất phát) HS sẽ tự ghi lại câu hỏi nêu vấn

đề hay câu hỏi xuất phát của nội dung học

Bước 2: Quan niệm ban đầu:

Trong bước 2 này HS cần thực hiện được hai nội dung:

+ Vẽ hoặc miêu tả bằng lời biểu tượng ban đầu mà GV đưa ra

+ Đặt ra những câu hỏi câu hỏi về biểu tượng ban đầu liên quan với câuhỏi xuất phát của GV

Bước 3: Đề xuất giả thuyết và phương án kiểm chứng

Trong bước này HS cần:

+ Tự mình đưa ra giả thuyết ban đầu cho câu hỏi xuất phát

+ HS chủ động tìm ra phương án để kiểm chứng giả thuyết mình đưa ra làđúng hay sai dưới sự hỗ trợ của GV

Bước 4: Tìm tòi- nghiên cứu:

HS tự mình thực hành, thực nghiệm, quan sát, đọc tài liệu để kiểm chứng giảthuyết ban đầu Trong bước này HS sẽ tự mình ghi lại những thao tác, tiến trìnhtheo các bước thực hành, thực nghiệm…và kết quả vào VTH

Bước 5: HS dựa vào kết quả của bước 4 rồi so sánh với quan niệm ban đầu củamình xem đã đúng chưa rồi kết luận

+ Nếu đúng thì ghi lại kết luận trả lời cho câu hỏi xuất phát

+ Nếu sai thì HS tự sửa lại cho đúng trên chính hình vẽ của mình bằngmột bút khác màu cho dễ quan sát

* Nếu vẫn chưa tìm ra được câu trả lời thì quay lại từ bước 3

Trang 24

Giáo viên cần chú ý mấy điểm sau:

- Lệnh thực hiện phải rõ ràng, gắn gọn, dễ hiểu để giúp học sinh nhớ,hiểu và làm theo đúng hướng dẫn

- Quan sát, bao quát lớp khi học sinh làm thí nghiệm Gợi ý vừa đủ nghecho nhóm khi học sinh làm sai lệnh hoặc đặt chú ý vào những chỗ không cầnthiết cho câu hỏi Không nên nói to vì sẽ gây nhiễu cho các nhóm học sinh khácđang làm đúng vì tâm lý học sinh khi nghe giáo viên nhắc thì cứ nghĩ là giáoviên đang hướng dẫn cách làm đúng và nghi ngờ vào hướng thực hiện mà mìnhđang làm

- Cùng một thí nghiệm kiểm chứng nhưng các nhóm khác nhau học sinh

có thể sẽ bố trí thí nghiệm khác nhau với các vật dụng và cách tiến hành khácnhau theo quan niệm của các em, giáo viên không được nhận xét đúng hay sai

và cũng không có biểu hiện để học sinh biết ai đang làm đúng, ai đang làm sai.Khuyến khích học sinh độc lập thực hiện giữa các nhóm, không nhìn và họctheo nhau

II.11 So sánh kết quả thu nhận được và đối chiếu với kiến thức khoa học

Trong hoạt động học của học sinh theo phương pháp BTNB, học sinhkhám phá các sự vật, hiện tượng trong thế giới tự nhiên theo con đường môphỏng gần giống với quá trình tìm ra kiến thức mới của các nhà khoa học Họcsinh đưa ra dự đoán, thực hiện thí nghiệm, thảo luận với nhau và đưa ra kết luậnnhư công việc của các nhà khoa học thực thụ để xây dựng kiến thức Giáo viênngoài việc hướng dẫn học sinh hình thành kiến thức, cũng nên giới thiệu thêmsách, tài liệu hay thông tin trên internet mà học sinh có thể có điều kiện tiếp cậnđược để giúp các em hiểu sâu hơn các kiến thức được học, không bằng lòng vàdừng lại với những hiểu biết yêu cầu trong chương trình Điều này rất cần thiếtđối với các học sinh khá, giỏi, học sinh ham thích tìm hiểu

Trang 25

Sự hướng dẫn này chỉ là gợi ý cho những học sinh ham thích tìm hiểu chứkhông phải là một yêu cầu bắt buộc cho cả lớp Về nguyên tắc, học sinh hiểu vànắm bắt được các kiến thức yêu cầu ở mức độ của chương trình đưa ra là đủ

II.12 Đánh giá học sinh trong dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”

Một số gợi ý để giáo viên áp dụng đánh giá học sinh trong dạy học theophương pháp BTNB, tùy hoàn cảnh trong quá trình dạy học

- Đánh giá học sinh qua quá trình thảo luận, trình bày, phát biểu ý kiến tạilớp học

- Đánh giá học sinh trong quá trình làm thí nghiệm

- Đánh giá học sinh thông qua sự tiến bộ nhận thức của học sinh trong vởthực hành

Nói tóm lại, dạy học theo phương pháp BTNB là giúp cho học sinh rènluyện các kỹ năng, tìm phương án giải quyết cho các vấn đề đặt ra, hiểu kiếnthức hơn là việc làm rõ hay giúp học sinh ghi nhớ kiến thức Chính vì vậy việcđánh giá học sinh cũng nên thay đổi theo hướng kiểm tra kỹ năng, kiểm tra nănglực nhận thức (sự hiểu) hơn là kiểm tra độ ghi nhớ kiến thức

III Một số lưu ý khi áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào dạy sinh học 6

- Liệt kê các bài học có thể áp dụng phương pháp BTNB

- Giáo viên cần chuẩn bị trước các thí nghiệm dự kiến để có kết quả như mong muốn

- Vận dụng tối đa những nguyên vật liệu sẵn có, dễ kiếm

- Sử dụng CNTT cho bài dạy áp dụng phương pháp BTNB đúng lúc, đúngchỗ, hợp lí

- Với một số thí nghiệm đơn giản, giáo viên có thể giao việc cho học sinh bằng những phiếu giao việc, tự học sinh chuẩn bị các vật liệu cho nhóm của mình

Trang 26

III.1 Xây dựng tiết học theo các gợi ý:

III.3 Trong quá trình giảng dạy

Lưu ý khi lựa chọn quan niệm ban đầu để đưa ra thảo luận:

- Không chọn hoàn toàn các quan niệm đúng

- Tuyệt đối không bình luận hay nhận xét gì về tính đúng sai của các ý kiến ban đầu

- Lựa chọn các quan niệm vừa đúng vừa sai

- Chọn vị trí thích hợp đề gắn các bài vẽ của học sinh…

+ Không nên sử dụng SGK khi học bằng phương pháp BTNB

+ Không nêu tên bài học trước khi học (với những bài thể hiện nội dung bài học ở đề bài)

+ Lựa chọn hoạt động phù hợp với phương pháp BTNB để áp dụng,không nhất thiết hoạt động nào cũng áp dụng phương pháp

+ Lưu ý về Kĩ thuật thảo luận nhóm

III.4 Lựa chọn phương pháp thí nghiệm phù hợp:

- Phương pháp quan sát tranh ảnh, quan sát vật thật

- Phương pháp mô hình

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp thí nghiệm trực tiếp

- Sử dụng phương pháp thường xuyên để rèn thói quen cho học sinh Rèncho học sinh kĩ năng diễn đạt rõ ràng, ngắn gọn để đảm bảo thời gian Sưu tầm

tài liệu, sách, tranh ảnh … phục vụ cho bài học

Trang 27

IV KHẢO SÁT THỰC TẾ

IV.1 Số liệu điều tra trước khi thực hiện đề tài

IV.1.2 Đối với giáo viên

Để thu được số liệu thực tế từ giáo viên tôi đã đưa ra phiếu hỏi số 1 (phụlục), cho các giáo viên môn Sinh học các trường THCS Thanh Cao, Tam Hưng,Bích Hoà, Bình Minh, Cự Khê,… Số giáo viên được điều tra là 10 Từ đó tổngkết và xử lí được kết quả cụ thể:

IV.1.2 Đối với học sinh

Tôi phát phiếu hỏi số 2, 3 (phụ lục) cho HS hai lớp 6A1, 6A2 Tôi thu đượckết quả như sau:

5 Tranh luận bảo vệ ý kiến của mình trước lớp 9 10 10 11

Trang 28

6 Chưa hiểu cũng thôi 22 0 15 3

7 Trao đổi với bạn những điều chưa hiểu 8 12 11 2

5 Tranh luận bảo vệ ý kiến của mình trước lớp 13 7 7 13

7 Trao đổi với bạn những điều chưa hiểu 19 10 11 2

Trình độ giáo viên hiện nay chưa đồng đều cả về chuyên môn và năng lực

sư phạm Kh¶ n¨ng tiÕp cËn vµ ¸p dông các phương pháp dạy học mới nói chung

Trang 29

còn cha nh¹y bÐn, ngại thay đổi và tiếp thu cái mới Đa phần GV đã biết về PP BTNB và những ưu việt của nó nhưng còn dè dặt trong việc áp dụng.

Trong khi đó các lớp học hiện nay, bàn ghế được bố trí theo dãy, nối tiếpnhau, không thuận lợi cho việc tổ chức học theo nhóm Phần lớn các trường họcchưa có phòng học học bộ môn và phòng thí nghiệm dành riêng cho bộ môn đó.Nếu có vẫn còn phải sử dụng chung làm phòng học, chưa thuận tiện cho việcdạy và học Trang thiết bị nói chung trong các lớp học chưa đầy đủ phục vụ choviệc tổ chức các hoạt động dạy học, nhất là còn thiếu các phương tiện hỗ trợhoạt động báo cáo, thảo luận của học sinh như máy tính, projector, máy chiếusách, flip chart, máy chiếu bản trong Dụng cụ thí nghiệm còn chưa đồng bộ vàthiếu chính xác Nguồn tài liệu bổ trợ cho hoạt động tìm tòi - khám phá của họcsinh còn hạn chế Đây cũng chính là một trong những khó khăn bước đầu đốivới GV

- Đối với HS.

Bản thân các em HS là những trẻ hiếu động ham học hỏi Những PPDH, những tiết học áp dụng thực hành hoặc làm thí nghiệm thường thu hút HS rất hiệu quả Nhưng trên thực tế những giờ thực hành vẫn còn là những nội dung còn yếu của GV Vì vậy vẫn chưa đánh thức được “các nhà khoa học nhỏ tuổi của chúng ta”, chưa rèn luyện được những kĩ năng mềm cho HS- đặc biệt là với những trường vùng nông thôn

Mặt khác số học sinh trên một lớp quá đông nên việc tổ chức học tập theonhóm rất khó khăn Điều này cũng gây khó khăn trong việc tổ chức các hoạtđộng tham quan, dã ngoại, điều tra thực tế cho học sinh

Từ những kết quả đó đã thúc đẩy tôi thực hiện đề tài này Song thời gianthực hiện đề tài còn ngắn, điều kiện cơ sở vật chất và điều kiện lớp học còn chưaphù hợp nên không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong các đ/c góp ý cho tôi

V Vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong giảng dạy sinh học 6.

Sau khi tìm hiểu về PP BTNB tôi đã xây dựng và áp dụng dạy tại lớp 6A2

và đối chiếu với 6A1 của trường THCS Thanh Cao Dưới đây là một vài ví dụ màkhi áp dụng tôi đã thấy có những tín hiệu bước đầu của sự hòa hợp về PP BTNB

ở học sinh Khi xây dựng giáo án này tôi có tham khảo ý kiến của một số nhà giáo

về PPDH này

Trang 30

BÀI 18: BIẾN DẠNG CỦA THÂN

I Mục tiờu

- Nhận biết những đặc điểm chủ yếu và hỡnh thỏi phự hợp với chức năng của một số loại thõn biến dạng

- Nhận dạng một số loại thõn biến dạng trong thiờn nhiờn

- Trỡnh bày vở thớ nghiệm khoa học theo sơ đồ, bảng biểu; rốn luyện kĩ năng vẽ hỡnh, kĩ năng quan sỏt mẫu vật, quan sỏt tự nhiờn

Chuẩn bị của HS:

- Cỏc loại củ, cõy: su hào, dong ta, giềng, nghệ, khoai tõy (mọc chồi càng tốt), xương rồng

- Que tre nhọn, gai bưởi hoặc gai bồ kết, giấy thấm hoặc khăn lau

IV Tiến trỡnh dạy- học (theo 5 bước)

1 ổn định tổ chức

2 Kiểm tra bài cũ:

? Muốn xác định một bộ phận nào đó của cây có phải là thân không, chúng ta cần căn cứ vào đặc điểm nào?

Gợi ý: - Cấu tạo ngoài: có cành lá thân và chồi

- Cấu tạo trong: dựa vào vị trí của mạch gỗ và mạch rây

- GV cầm cõy chuối non

? Đõy là cõy gỡ?

? Hóy xỏc định thõn của

- Hs trả lời

- Suy nghĩ

Ngày đăng: 14/05/2016, 14:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình   thành   câu   hỏi,   giả thuyết. …..bằng nhiều cách nói, viết, vẽ. - sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong giảng dạy sinh học 6
nh thành câu hỏi, giả thuyết. …..bằng nhiều cách nói, viết, vẽ (Trang 14)
Bước 2: Hình thành biểu tượng ban đầu - sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong giảng dạy sinh học 6
c 2: Hình thành biểu tượng ban đầu (Trang 31)
Bảng phụ: - sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong giảng dạy sinh học 6
Bảng ph ụ: (Trang 33)
Bước 2: Hình thành biểu tượng ban đầu - sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong giảng dạy sinh học 6
c 2: Hình thành biểu tượng ban đầu (Trang 36)
Hình vẽ biểu tượng ban đầu - sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong giảng dạy sinh học 6
Hình v ẽ biểu tượng ban đầu (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w