1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu thực trạng sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn toán lớp 4 của học sinh một số trường tiểu học khu vực thị xã phúc yên vĩnh phúc

69 607 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 706,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Môn Toán và vấn đề sử dụng phương pháp trắc nghiệm kháh quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 4 34 Chương 3: Thực trạng việc sử dung phương pháp trắc nghiệm khách

Trang 1

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 1

Lời cảm ơn

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trường Đại học

Sư phạm Hà nội 2, khoa Giáo dục Tiểu học, tổ bộ môn Tâm lí giáo dục đã tạo

điều kiện trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Ths.GVC

Nguyễn Thị Xuân Lan, người đã hướng dẫn, động viên, tận tình giúp đỡ em

hoàn thành khoá luận này

Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo, các em học

sinh trường Tiểu học Xuân Hòa A, Tiểu học Trưng Nhị, Tiểu học Lưu Quý An đã giúp đỡ em trong quá trình khảo sát thực tế

Do thời gian nghiên cứu và vốn kiến thức còn hạn chế chắc chắn đề tài

của em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong được sự góp ý, chỉ

bảo của các thầy cô giáo và các bạn để khoá luận này hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2010

Sinh viên

Nguyễn Thị Lan

Trang 2

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của mình Những số liệu

và kết quả trong khoá luận là hoàn toàn trung thực Đề tài chưa được công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào khác

Hà Nội, tháng 5 năm 2010

Sinh viên

Nguyễn Thị Lan

MỤC LỤC

Trang 3

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 3

1.1 Một số vấn đề về kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học 7

1.2 Kiểm tra, đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan 14

1.2.2 Phân biệt trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận 15

Trang 4

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 4

1.2.3 Ưu, nhược điểm của trắc nghiệm khách quan 18

1.2.5 Quy trình kiểm tra, đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan 22 1.2.6 Kỹ thuật xây dựng trắc nghiệm khách quan 22 1.2.7 Yêu cầu của đề trắc nghiệm khách quan 26

Chương 2: Môn Toán lớp 4 và vấn đề sử dụng phương pháp

trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học

tập của học sinh

28

2.1.3 Nội dung chương trình môn Toán Tiểu học 28 2.2 Môn Toán lớp 4 và vấn đề sử dụng phương pháp trắc nghiệm

khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

29

2.2.3 Các hình thức kiểm tra môn Toán đối với học sinh lớp 4 33 2.2.4 Môn Toán và vấn đề sử dụng phương pháp trắc nghiệm kháh

quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 4

34

Chương 3: Thực trạng việc sử dung phương pháp trắc nghiệm

khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn

Toán lớp 4 của học sinh một số trường tiểu học khu vực Thị xã

Phúc Yên

35

3.1 Thực trạng về việc sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách

quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán của học

35

Trang 5

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 5

sinh lớp 4

3.1.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về phương pháp trắc

nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn

Toán lớp 4

35

3.1.2 Thực trạng sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan

trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 4

Trang 6

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 6

Phần 1: MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Tiểu học là bậc học nền tảng Nó không chỉ là cơ sở để con người phát triển toàn diện về mặt tư duy, nhận thức, mà còn là cơ sở để con người hình thành các phẩm chất đạo đức, năng lực cần thiết của một người lao động mới Một trong những khâu quan trọng cần thiết trong giáo dục học sinh Tiểu học, phát triển một con người toàn diện, đó là khâu kiểm tra, đánh giá kết quả học tập Kiểm tra, đánh giá là khâu có ý nghĩa quan trọng trong quá trình dạy học nói chung, trong dạy học ở Tiểu học nói riêng Kiểm tra nhằm mục đích giúp giáo viên nắm được trình độ kiến thức của học sinh Từ đó giáo viên điều chỉnh phương pháp dạy học, bổ sung những khiếm khuyết, lỗ hổng về kiến thức cho học sinh Đồng thời, kiểm tra, đánh giá còn giúp học sinh tự đánh giá, tự kiểm tra việc nắm vững kiến thức của mình để tự điều chỉnh hoạt động học

Những phương pháp kiểm tra đánh giá truyền thống như thi tự luận hoặc vấn đáp ngoài những ưu điểm còn bộc lộ nhiều hạn chế như: các kì kiểm tra kiến thức học sinh chưa thường xuyên, khối lượng kiến thức có thể kiểm tra được ở mỗi lần là hạn chế, việc chấm bài còn phụ thuộc nhiều vào ý muốn chủ quan của người chấm… Để tạo điều kiện giúp học sinh tự đánh giá và phát huy ý nghĩa của kiểm tra, đánh giá thành quả học tập, ở nhiều nước trên thế giới đã sử dụng phổ biến phương pháp trắc nghiệm khách quan Đó là phương pháp có rất nhiều ưu điểm như: đảm bảo tính khách quan khi chấm điểm, cho phép trong thời gian ngắn kiểm tra được nhiều kiến thức cụ thể, gây được hứng thú và tính tích cực học tập ở học sinh…

Môn Toán ở trường Tiểu học là môn học quan trọng Để đáp ứng mục tiêu Giáo dục Tiểu học, chương trình môn Toán đã đưa ra những mục tiêu

Trang 7

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 7

môn học nhằm khơi dậy tính tích cực hoạt động của học sinh Vì vậy những năm gần đây các nhà sư phạm đã sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán và đã đạt được những kết quả bước đầu

Kiểm tra đánh giá kết quả học tập bằng trắc nghiệm khách quan không phải là vấn đề hoàn toàn mới Cho đến nay đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này Song chủ yếu mới chỉ là nghiên cứu về mặt lí luận của phương pháp này còn thực trạng việc sử đụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến Kế thừa những thành tựu của các công trình nghiên cứu trước và xuất phát từ nhu cầu thực tiễn nên em

đã chọn đề tài: “Tìm hiểu thực trạng sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 4 của học sinh một số trường Tiểu học khu vực Thị xã Phúc Yên – Vĩnh Phúc” để nghiên cứu

- Năm 1928 Mâyli đã dùng trắc nghiệm để nghiên cứu trí tuệ để phục vụ

tư vấn nghề nghiệp và giáo dục phổ thông

Trang 8

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 8

- Ở Mỹ, đầu thế kỉ XX bắt đầu sử dụng phương pháp trắc nghiệm vào quá trình dạy học và đến năm1963 đã sử dụng máy tính điện tử thăm dò bằng trắc nghiệm trên diện rộng Ở Anh, thành lập hội đồng toàn quốc hàng năm quyết định các mẫu trắc nghiệm tiêu chuẩn cho trường Trung học Ở Trung Quốc trắc nghiệm khách quan được áp dụng vào kì thi tuyển sinh Đại học trên toàn quốc từ năm 1989 Ở Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan cũng sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan vào các kì thi trên qui mô toàn quốc

Những năm gần đây hầu hết các nước trên thế giới đều sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan một cách rộng rãi và phổ biến trong quá trình dạy học

* Ở Việt Nam trong thập kỉ 70 của thế kỉ XX đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng trắc nghiệm khách quan trong các lĩnh vực: tâm lí học, sinh học, vật lí… và các khoa học khác

- Năm 1993, Đại học Bách khoa Hà Nội tổ chức hội thảo khoa học “Kĩ thuật trắc nghiệm và ứng dụng ở đại học” của tác giả Lâm Quang Thiệp, Phan Hữu Tiết, Nghiêm Xuân Hùng

- Năm 1994, Vụ Đại học cho in cuốn “Những cơ sở của kĩ thuật trắc nghiệm” do GS.TS Lâm Quang Tiệp chủ biên

- Hiện nay phương pháp trắc nghiệm khách quan đang được sử dụng khá phổ biến trong các kì thi ở tất cả các bậc học, đặc biệt là kì thi tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng Trong kì thi tuyển sinh vào Đại học năm 2006, lần đầu tiên hình thức thi trắc nghiệm khách quan được áp dụng với môn Ngoại ngữ PGS.TS Nguyễn Hữu Lân đánh giá đó là “ một khâu đột phá, một cuộc cách mạng đầu tiên trong chiến lược cải cách giáo dục nói chung”

*Ở Tiểu học: Có rất nhiều tác giả viết về việc sử dụng trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Tiểu học:

Trang 9

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 9

Tác giả Nguyễn Phụng Hoàng, Vũ Ngọc Lan (2006) có cuốn “ Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra và đo lường kết quả học tập”

Tác giả Phó Đức Hoà có công trình “Xây dựng quy trình đánh giá tri thức học sinh Tiểu học” và “Lý thuyết trắc nghiệm khách quan và thiết kế bài tập trắc nghiệm ở Tiểu học”

Đối với môn Toán ở trường Tiểu học cũng đã có rất nhiều tác giả viết về phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập như: Trần Diên Hiển, Phạm Đình Thực, Nguyễn Danh Ninh, Đỗ Tiến Đạt… Như vậy trắc nghiệm khách quan đã và đang được sử dụng khá phổ biến trong quá trình dạy học trên thế giới cũng như ở Việt Nam

3 Mục đích nghiên cứu

Từ việc làm rõ cơ sở lí luận của phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, chúng tôi tiến hành tìm hiểu thực trạng việc sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong quá trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 4 ở Tiểu học Trên cơ

sở đó tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao kết quả học tập nói chung trong quá trình dạy học

4 Khách thể, đối tƣợng nghiên cứu

Trang 10

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 10

quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh lớp 4 khu vực Thị xã Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1.Tìm hiểu cơ sở lí luận của phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Tiểu học

6.2 Tìm hiểu thực trạng sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 4 của học sinh một số trường Tiểu học khu vực Thị xã Phúc Yên

6.3.Tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng và đề xuất biện pháp khắc phục

7 Giả thuyết khoa học

Nếu tìm hiểu đúng thực trạng sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh lớp 4 và

đề xuất một số biện pháp hợp lí sẽ nâng cao chất lượng kiểm tra, đánh giá nói riêng và chất lượng dạy - học Toán ở Tiểu học nói riêng

8 Các phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp trò chuyện

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp thống kê toán học

9 Kế hoạch nghiên cứu

- Tháng 10/2009: Nhận đề tài nghiên cứu

- Từ tháng 10/2009 đến tháng 1/2010: Nghiên cứu tài liệu để tìm hiểu cơ

sở lí luận của vấn đề nghiên cứu

- Từ tháng 1/2010 đến tháng 4/2010: Tiến hành tìm hiểu thực trạng việc

sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết

Trang 11

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 11

quả học tập môn Toán của học sinh lớp 4 ở một số trường Tiểu học khu vục thị xã Phúc Yên

- Tháng 4/2010: Phân tích tài liệu, số liệu hoàn thành bản viết lần 1

- Tháng 5/2010: Hoàn thành khoá luận tốt nghiệp

10 Cấu trúc của khoá luận tốt nghiệp

Phần 1: Mở đầu

Phần 2: Nội dung

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Môn Toán Tiểu học và vấn đề sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Chương 3: Thực trạng việc sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 4 của học sinh một số trường Tiểu học khu vực thị xã Phúc Yên

Phần 3: Kết luận

Trang 12

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 12

Phần 2: NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Một số vấn đề kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học

1.1.1 Kiểm tra

1.1.1.1 Khái niệm kiểm tra

* Kiểm tra: là thuật ngữ chỉ cách thức hoạt động của giáo viên sử dụng

để thu thập thông tin về biểu hiện kiến thức, kĩ năng và thái độ của học sinh trong học tập nhằm cung cấp dữ liệu làm cơ sở cho việc đánh giá

Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên thì “Kiểm tra là sự xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”.[523;12] Theo Trần Bá Hoành thì “việc kiểm tra cung cấp dữ kiện, những thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá”

* Kiểm tra định tính và định lượng

Kiểm tra theo hướng định tính là phương thức thu thập thông tin về kết quả học tập và rèn luyện của học sinh bằng cách quan sát và ghi nhận xét dựa theo các tiêu chí giáo dục

Kiểm tra theo hướng định lượng là phương thức thu thập thông tin về kết quả học tập của học sinh bằng số như là điểm số hoặc số lần thực hiện của những hoạt động nào đó

Cách thức và phương tiện ghi nhận kết quả học tập của học sinh bằng điểm số hay số lần thực hiện theo quy tắc đã tính trong kiểm tra là mang tính chất định lượng Còn chính điểm số vẫn chỉ là những kí hiệu gián tiếp phản ánh trình độ học lực của mỗi học sinh mang ý nghĩa định tính Như vậy bản thân điểm số không có nghĩa về mặt định lượng Ví dụ trong thang điểm 10 không thể nói trình độ của học sinh đạt điểm 8 là cao gấp đôi học sinh đạt điểm 4

Trang 13

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 13

* Kiểm tra trắc nghiệm và tự luận

Phương pháp thi kiểm tra mà chúng ta vẫn thường dùng lâu nay được các chuyên gia gọi là “trắc nghiệm tự luận” Phương pháp mới để đo lường thành quả học tập của học sinh dựa trên thao tác tư duy lựa chọn được gọi là trắc nghiệm khách quan Từ “khách quan” ở đây chỉ sự khách quan trong bộc

lộ kiền thức và khách quan trong cách chấm điểm Thuật ngữ “Trắc nghiệm tự luận” và “Trắc nghiệm khách quan” để phân biệt mang tính hình thức Điều này không có nghĩa trắc nghiệm tự luận là không khách quan và ngược lại

Tự luận là cho phép tự do tương đối nào đó để trả lời một vấn đề đặt ra nhưng đồng thời đòi hỏi nhớ kiến thức hơn là nhận biết thông tin và phải biết sắp xếp diễn đạt ý kiến một cách chính xác, sáng sủa Bài tự luận trong một chừng mực nào đó được chấm điểm một cách chủ quan, với người chấm khác nhau điểm số có thể khác nhau Thông thường một bài tự luận gồm ít câu hỏi hơn do đó cần phải có nhiều thời gian để trả lời một câu hỏi

Trắc nghiệm là một phương pháp khoa học cho phép dùng một loạt những động tác xác định để nghiên cứu một hay nhiều đặc điểm nhân cách, phân biệt được bằng thực nghiệm với mục tiêu đi tới những mệnh đề lượng hoá tối đa có thể được về mức độ biểu hiện tương đối của đặc điểm cần nghiên cứu

1.1.1.2 Các phương pháp kiểm tra

* Quan sát, theo dõi học sinh thường xuyên

Quan sát, theo dõi học sinh thường xuyên là phương pháp kiểm tra có hiệu quả nhất Tuy nhiên nó chỉ được thực hiện tốt trong điều kiện dạy học

mà ở đó học sinh được hoạt động tích cực, chủ động sáng tạo Học sinh được độc lập làm việc dưới sự hướng dẫn của giáo viên, được phát biểu, được tranh luận

Có hai kiểu quan sát:

Trang 14

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 14

- Quan sát quá trình: là theo dõi hoặc lắng nghe học sinh đang thực hiện các hoạt động học tập

- Quan sát sản phẩm: là xem xét sản phẩm học tập của học sinh sau một hoạt động

* Kiểm tra miệng

- Kiểm tra miệng là một thuật ngữ chỉ hoạt đông đánh giá thường xuyên

và trực tiếp mặt đối mặt giữa giáo viên và học sinh trong mỗi bài mới hoặc sau một vài bài đã dạy nhằm đo lường một số hành vi thể hiện sự hiểu biết và khả năng ứng dụng những điều đã học của học sinh

- Mục đích kiểm tra miệng

+ Giáo viên có thể theo dõi sự lĩnh hội và phát triển kiến thức, kĩ năng, thái độ của học sinh một cách liên tục, nhờ vậy có thể có những biện pháp điều chỉnh kịp thời quá trình dạy học

+ Giáo viên có thể có được hình ảnh thực sự rõ nét về trình độ của người học, nhờ vậy có thể động viên, khuyến khích hoặc giúp đỡ học sinh trong học tập

* Kiểm tra viết

- Mục đích: giúp kiểm tra cùng một lúc nhiều học sinh, giúp học sinh phát triển tư duy, giúp đánh giá tương đối khách quan trình độ học sinh

- Phương pháp đánh giá: đánh giá mức độ nhận biết, thông hiểu và khả năng vận dụng kiến thức của học sinh

- Hình thức tổ chức: kiểm tra 15 phút, kiểm tra viết từ 40 phút trở lên

- Hình thức câu hỏi: tự luận, trắc nghiệm khách quan, kết hợp cả hai Để đảm bảo đánh giá được toàn diện kết quả nhận thức của học sinh sau khi học xong một chủ đề, một chương, một học kì hoặc một năm học và đảm bảo độ chính xác tin cậy của kết quả đánh giá thì nên kết hợp cả hai hình thức tự luận

và trắc nghiệm khách quan

Trang 15

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 15

1.1.1.3 Các hình thức kiểm tra

* Kiểm tra thường xuyên và kiểm tra định kì

- Kiểm tra thường xuyên: là tiến hành thu thập thông tin về việc học tập của học sinh một cách liên tục trong lớp học Các hình thức kiểm tra thường xuyên dùng để đánh giá những phương diện cụ thể hay những phần của chương trình học

- Kiểm tra định kì là phương thức xem xét kết quả học tập của học tập của học sinh theo thời điểm

Mục đích là giúp giáo viên biết xem mỗi học sinh đã tiếp thu được gì sau mỗi đơn vị bài học để có thể kịp thời bổ khuyết hay điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học những phần kế tiếp

* Kiểm tra đột xuất chẩn đoán và kiểm tra tổng kết

- Kiểm tra đột xuất chẩn đoán: là phương thức xem xét kết quả học tập không theo những thời điểm ấn định trước Kết quả thu được từ các bài kiểm tra đột xuất phản ánh hành vi học tập điển hình của người học, nghĩa là những điều người học làm được trong điều kiện bình thường hay nỗ lực tối đa như trong hình thức kiểm tra tổng kết

- Kiểm tra tổng kết: là phương thức xem xét kết quả học tập được thực hiện vào cuối khoá học, môn học Các kết quả thu được từ kiểm tra tổng kết chỉ ra khả năng của người học có thể đạt là gì khi nỗ nực hết mình cũng như khi có sự chuẩn bị tối đa Kiểm tra tổng kết còn được gọi là hình thức đánh giá thành tích học tập của học sinh và có ý nghĩa quan trọng về mặt quản lí

1.1.2 Đánh giá

1.1.2.1 Khái niệm đánh giá: Đánh giá kết quả học tập là thuật ngữ chỉ quá trình hình thành những nhận định, rút ra những kết luận hoặc đánh giá về trình độ, phẩm chất của người học hoặc đưa ra những quyết định về việc dạy

Trang 16

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 16

học dựa trên cơ sở những thông tin đã thu thập được một cách hệ thống trong quá trình kiểm tra

Như vậy: Đánh giá không còn là sự ghi nhận thực trạng mà còn là đề xuất những quyết định làm thay đổi thực trạng Vì thế, đánh giá được xem là khâu rất quan trọng, đan xen với khâu lập kế hoạch và triển khai công việc Hiện nay ở tiểu học sử dụng hai hình thức đánh giá:

- Đánh giá bằng nhận xét: Là giáo viên đưa ra những phân tích hoặc những phán đoán về học lực hoặc hạnh kiểm của người học bằng cách sử dụng các nhận xét được rút ra từ việc quan sát các hành vi hoặc sản phẩm học tập của học sinh theo những tiêu chí cho trước Các môn đánh giá bằng nhận xét đánh giá theo hai mức:

+ Loại hoàn thành (A): Đạt được yêu cầu cơ bản về kiến thức và kĩ năng của môn học được nêu trong sổ theo dõi kết quả kiểm tra và đánh giá học sinh

ở từng lớp Học sinh đạt được mức hoàn thành khi có từ 50% số nhận xét trở lên trong từng kì học hay cả năm học Những học sinh đạt loại hoàn thành nhưng có biểu hiện rõ về năng lực học tập môn học, đạt 100% số nhận xét trong từng kì học hay cả năm học được đánh giá là hoàn thành tốt (A+)

+ Loại chưa hoàn thành (B): học sinh chưa hoàn thành khi chưa thực hiện được những yêu cầu cơ bản về kiến thức, kĩ năng của môn học

- Đánh giá bằng điểm số: là sử dụng những mức điểm khác nhau trên một thang điểm để chỉ ra những mức độ về kiến thức, kĩ năng mà học sinh đã thể hiện được một hoạt động hoặc sản phẩm học tập

1.1.2.2 Các kĩ thuật đánh giá

- Quan sát: Là kĩ thuật đánh giá thông dụng nhất, giáo viên quan sát việc học tập và hành vi của học sinh trong và ngoài lớp học Trên cơ sở đó đưa ra những đánh giá của mình

Trang 17

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 17

- Ghi chép hàng ngày của giáo viên qua bình luận mô tả do giáo viên theo dõi, nhận thấy về những hành vi đáng chú ý của học sinh

- Cho điểm: Điểm số phản ánh kết quả học tập của học sinh, đồng thời cũng phản ánh cả kết quả giảng dạy của giáo viên Muốn có sự phản ánh chính xác, người giáo viên cần có thái độ khách quan và tinh thần trách nhiệm cao trong việc cho điểm học sinh Không nên quá dễ dãi khi cho điểm cũng như thiên vị giữa các học sinh Điều đó sẽ ảnh hưởng xấu tới kết quả học tập của học sinh

Mục đích rất quan trọng của kiểm tra, đánh giá là giúp giáo viên thấy được kết quả giảng dạy của mình, phát hiện kịp thời các sai lầm đồng thời đề

ra các biện pháp cải tiến dạy học Vì vậy, sau mỗi lần kiểm tra giáo viên cần tiến hành song song hai công việc: phân tích kết quả và đề ra giải pháp

1.1.3 Quan hệ giữa kiểm tra và đánh giá

Kiểm tra và đánh giá là hai khâu có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng hiệu quả của giáo dục và hai khâu này có quan hệ biện chứng với nhau, luôn song hành cùng nhau Kiểm tra cung cấp những dữ kiện những thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá

Hiệu quả của kiểm tra càng bộc lộ rõ nếu có kèm theo sự đánh giá đúng mức và công bằng của thầy giáo và tập thể học sinh Có đánh giá phân tích kết quả của kiểm tra, giáo viên mới biết được sự phù hợp hay không phù hợp giữa tình trạng kiến thức, kĩ năng của học sinh với tiêu chuẩn đã xác định một cách khách quan, qua đó nhằm xác định thực trạng tính cách, năng lực cũng như sự tiến bộ của học sinh Đồng thời qua đó, giáo viên cũng nắm được kết quả của việc kiểm tra, thấy được bài kiểm tra có vừa sức với học sinh không

Từ đó giáo viên có thể điều chỉnh, tìm những phương pháp hữu hiệu hơn Như vậy cơ sở quan trọng để đánh giá là bài kiểm tra nhưng ngoài ra giáo viên còn phải căn cứ vào quá trình theo dõi học sinh thì mới đánh giá

Trang 18

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 18

đúng thực chất năng lực của học sinh đó Vì vậy mà hai học sinh cùng đạt điểm số như nhau nhưng có thể được giáo viên đánh giá khác nhau

Tóm lại, kiểm tra cung cấp tài liệu cho đánh giá, còn đánh giá là thể hiện hiệu quả của kiểm tra Vì vậy trong quá trình dạy học, khâu kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh có tầm quan trọng đặc biệt, nó đảm bảo cho hoạt động đào tạo luôn đi theo quỹ đạo đã định, đảm bảo kết quả đào tạo tối ưu

1.1.4 Vai trò của kiểm tra, đánh giá

1.1.4.1 Đối với học sinh

Việc kiểm tra đánh giá có hệ thống và thường xuyên cung cấp kịp thời những thông tin “liên hệ ngược trong” giúp người học tự điều chỉnh hoạt động học

Về mặt giáo dưỡng: Kiểm tra, đánh giá chỉ cho mỗi học sinh thấy mình

đã tiếp thu được những điều vừa học đến mức độ nào, còn những lỗ hổng nào cần phải bổ khuyết trước khi bước vào phần mới của chương trình học tập, có

cơ hội để nắm chắc những yêu cầu cụ thể đối với từng phần của chương trình học tập đó

Về mặt phát triển năng lực nhận thức: Thông qua kiểm tra, đánh giá học sinh có điều kiện để tiến hành các hoạt động trí tuệ: ghi nhớ, tái hiện, chính xác hoá, khái quát hoá, hệ thống hoá kiến thức Nếu việc kiểm tra, đánh giá chú trọng phát huy trí thông minh, học sinh có thuận lợi để phát triển năng lực, thông minh sáng tạo, linh hoạt vận dụng kiến thức đã học để giải quyết những tình huống thực tế

Về mặt giáo dục: Kiểm tra, đánh giá nếu được tổ chức nghiêm túc sẽ giúp học sinh nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, ý chí vươn lên đạt những kết quả cao hơn, củng cố lòng tự tin vào khả năng của mình, nâng cao tính tự giác khắc phục chủ quan tự mãn

Trang 19

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 19

1.1.4.2 Đối với giáo viên

Việc kiểm tra, đánh giá học sinh cung cấp cho giáo viên những thông tin

“liên hệ ngược ngoài” giúp người dạy điều chỉnh hoạt đông dạy

Kiểm tra, đánh giá kết hợp với theo dõi thường xuyên, tạo điều kiện cho giáo viên nắm vững một cách cụ thể và khá chính xác năng lực và trình độ của mỗi học sinh trong lớp mình phụ trách để có biện pháp giúp đỡ riêng thích hợp đối với học sinh giỏi và học sinh kém qua đó nâng cao chất lượng học tập chung của cả lớp

Kiểm tra, đánh giá được tiến hành một cách công phu không chỉ cung cấp cho giáo viên những thông tin về trình độ chung của cả lớp mà còn giúp giáo viên nắm được những học sinh có tiến bộ rõ rệt hoặc sút kém đột ngột để động viên hoặc giúp đỡ kịp thời Người giáo viên có trách nhiệm và kinh nghiệm thường xem kiểm tra, đánh giá như một biện pháp cá nhân hoá dạy học, giúp cho học sinh tự đánh giá để tự quyết định cách học cho phù hợp với mình

Kiểm tra, đánh giá tạo cơ hội cho giáo viên xem xét hiệu quả của những cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mà mình đang theo đuổi, nhất là đối với những giáo viên tâm huyết muốn hoàn thiện việc dạy học của mình bằng con đường thực nghiệm nghiên cứu khoa học giáo dục

1.1.4.3 Đối với cán bộ quản lí giáo dục

Kiểm tra, đánh giá học sinh cung cấp cho cán bộ quản lí giáo dục các cấp những thông tin cơ bản về thực trạng dạy và học trong mỗi đơn vị giáo dục, từ đó đề xuất giải pháp thích hợp về điều chỉnh chương trình và tài liệu học tập, về phương pháp dạy học, về các phương tiện và thiết bị dạy học để cải thiện chất lượng học tập của học sinh

1.2 Kiểm tra, đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan

1.2.1 Khái niệm

Trang 20

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 20

Trắc nghiệm là một công cụ hay qui trình có hệ thống nhằm đo lường mức độ cá nhân đạt được trong một lĩnh vực cụ thể nào đó (Gronlund, 1981) [17; 8]

Có nhiều loại trắc nghiệm khác nhau tuỳ thuộc vào các tiêu chí lựa chọn

để phân loại như: nội dung, cách làm, cơ chế và cơ cấu làm cơ sở cho phương pháp trắc nghiệm Có thể phân thành hai loại chính: trắc nghiệm tâm lí và trắc nghiệm giáo dục

- Trắc nghiệm tâm lí: chủ yếu để kiểm tra tư duy, tiềm năng của con người

- Trắc nghiệm giáo dục: mang tính chất ứng dụng, nhằm đánh giá năng lực thực tế của người học

Trắc nghiệm giáo dục được phân thành trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan

Trắc nghiệm khách quan thường bao gồm nhiều mệnh đề, câu hỏi hay

mô hình (tranh, ảnh, sơ đồ) và được trả lời bằng các dấu hiệu đơn giản, hay một từ, cụm từ, đôi khi là các con số…

Trắc nghiệm khách quan mang tính qui ước vì hệ thống đánh giá bằng điểm mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người đánh giá

1.2.2 Phân biệt trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận

1.2.2.1 Trắc nghiệm tự luận

Trắc nghiệm tự luận là bài kiểm tra (theo cách hiểu truyền thống) Trong

đó nhà sư phạm đưa ra một hoặc nhiều yêu cầu, đôi khi là bài toán nhận thức

và đòi hỏi người học phải phân tích các yêu cầu hoặc giải quyết bài toán Trắc nghiệm tự luận kiểm tra, đánh giá được quá trình tư duy đi đến kết quả của người học, giúp hình thành và rèn luyện kĩ năng trình bày văn bản đồng thời phát huy tối đa khả năng phân tích và vốn sống của người học Với

Trang 21

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 21

trắc nghiệm tự luận, nhà sư phạm dễ ra câu hỏi kiểm tra và hạn chế khả năng đoán mò của người học

Tuy nhiên, bên cạnh đó trắc nghiệm tự luận cũng có những hạn chế nhất định Câu hỏi trong trắc nghiệm tự luận thường mang tính áp đặt, nội dung không đa dạng phong phú Trong cùng một thời gian lượng kiến thức kiểm tra được ít, mất nhiều thời gian làm bài kiểm tra và đặc biệt là hạn chế tính khách quan trong đánh giá

1.2.2.1 Trắc nghiệm khách quan

Trắc nghiệm khách quan được đề cập đến ở nước ta vào những năm 70 của thế kỉ XX, song phải tới những năm 90 mới bắt đầu được quan tâm, tìm hiểu

Trắc nghiệm khách quan là đề kiểm tra, trong đó nhà sư phạm đưa ra các mệnh đề và có các câu trả lời khác nhau, yêu cầu người học phải chọn đáp án phù hợp

Một bài trắc nghiệm khách quan thường bao gồm nhiều mệnh đề, câu hỏi hay mô hình (tranh ảnh, sơ đồ…) và được trả lời bằng các dấu hiệu đơn giản, hay một từ, một cụm từ, đôi khi là các số… Trắc nghiệm khách quan mang tính quy ước vì hệ thống đánh giá bằng điểm mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người đánh giá

1.2.2.2 So sánh trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan

Trắc nghiệm khách quan hay tự luận đều nhằm một mục đích duy nhất

là đánh giá kết quả giáo dục của người học Giữa chúng có sự khác biệt song cũng có những điểm tương đồng và sự khác biệt giữa hai khái niệm này chỉ mang tính tương đối

Giống nhau

- Đo lường và đánh giá được các kết quả giáo dục của người học

Trang 22

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 22

- Nhằm mục đích kiểm tra trình độ nhận thức hiện có của người học, tạo cho người học sự hứng thú trong học tập

- Kết quả đánh giá của trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận, nếu khách quan luôn đủ độ tin cậy

Khác nhau

Trắc nghiệm khách quan Trắc nghiệm tự luận

- Người học phải lựa chọn câu

trả lời phù hợp nhất trong số các câu

trả lời cho sẵn

- Câu hỏi mang tính hành động,

áp dụng

- Trắc nghiệm khách quan đòi

hỏi những câu trả lời ngắn gọn

- Chất lượng của bài trắc nghiệm

phụ thuộc chủ yếu vào người xây

dựng bài trắc nghiệm

- Điểm số đánh giá của bài trắc

nghiệm phụ thuộc chủ yếu vào người

xây dựng bài trắc nghiệm

- Đánh giá được nhiều học sinh

trong thời gian ngắn

- Nội dung đánh giá đa dạng và

rộng

- Chỉ đánh giá được kết quả mà

không kiểm soát được quá trình tư

duy để đi đến kết quả của người học

- Người học phải tự thiết kế câu trả lời và diễn tả nó bằng ngôn ngữ của bản thân

- Câu hỏi mang tính áp đặt, chủ yếu là học thuộc

- Trắc nghiệm tự luận đòi hỏi người học phải suy nghĩ, phân tích

- Đánh giá được ít thời gian trong thời gian ngắn

- Nội dung đánh giá mang tính khu biệt, theo từng lĩnh vực

- Đánh giá được kết quả và kiểm soát được quá trình tư duy để

đi đến kết quả của người học

Trang 23

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 23

1.2.3 Ƣu - nhƣợc điếm của trắc nghiệm khách quan

1.2.3.1 Ưu điểm

- Trong một thời gian nhất định, có thể kiểm tra một lượng thông tin lớn đối với người học

- Người học hứng thú trong quá trình kiểm tra, đánh giá

- Kiểm tra kiến thức một cách toàn diện đối với người học

- Khách quan hoá quá trình kiểm tra, đánh giá

- Kích thích tính sáng tạo, linh hoạt của người học

1.2.3.2 Nhược điểm

- Mất nhiều thời gian khi soạn bài trắc nghiệm khách quan

- Do kĩ thuật xây dựng trắc nghiệm có sẵn các phương án trả lời nên nhiệm vụ của người học chỉ là lựa chọn ra câu trả lời phù hợp Việc đánh giá kết quả học tập của các phương án mà người học lựa chọn, trong khi quá trình

tư duy để đi đến kết quả lại ẩn sau câu trả lời hoặc lựa chọn đó Chính vì vậy, trắc nghiệm khách quan chỉ đánh giá kết quả chứ không đánh giá được quá trình tư duy để đi đến kết quả

- Trong quá trình làm bài, một phần tính ngẫu nhiên, đoán mò vẫn xen vào trong tư duy của người học

1.2.4 Các loại trắc nghiệm khách quan

1.2.4.1 Trắc nghiệm Đúng – Sai

- Trắc nghiệm Đúng – Sai là trắc nghiệm đưa ra từ một đến hai mệnh đề (câu hỏi) và yêu cầu người học lựa chọn mệnh đề nào đúng, mệnh đề nào sai + Trắc nghiệm có một mệnh đề, yêu cầu người học điền đúng hoặc sai + Trắc nghiệm có hai mệnh đề, nếu một mệnh đề đúng (Đ) thì mệnh đề còn lại là sai (S)

Trang 24

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 24

- Hạn chế của trắc nghiệm Đúng – Sai là ở chỗ tính ngẫu nhiên, may rủi xen lẫn trong tư duy của người học Có thể đặt nhiều mệnh đề (câu hỏi) trong một bài trắc nghiệm để giảm hạn chế của bài kiểm tra

- Yêu cầu khi viết trắc nghiệm Đúng – Sai: Câu viết phải ngắn gọn, rõ ràng, câu hỏi phải xếp chính xác là đúng hay sai:

1.2.4.2 Trắc nghiệm Lựa chọn

- Trắc nghiệm Lựa chọn là loại trắc nghiệm mà nhà sư phạm đưa ra một mệnh đề có nhiều lựa chọn khác nhau và người học phải lựa chọn câu trả lời phù hợp với yêu cầu đề ra Trắc nghiệm này gồm hai phần: câu dẫn và câu lựa chọn

+ Câu dẫn là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng tạo cơ sở để lựa chọn + Phần lựa chọn gồm nhiều phương án trả lời Người học sẽ chọn một phương án trả lời duy nhất đúng (hay đúng nhất), những phương án còn lại là phương án nhiễu (phương án sai)

- Ưu điểm: Trắc nghiệm Lựa chọn có nhiều ưu điểm như: độ tin cậy cao, yếu tố ngẫu nhiên thấp, đảm bảo độ giá trị, có thể đo được khả năng của người học như : nhớ, thông hiểu, áp dụng, phân tích, tổng hợp… Với trắc nghiệm Lựa chọn, tính tương đối khi lựa chọn của người học thay thế cho tính tuyệt đối trong trắc nghiệm Đúng – Sai, do đó đảm bảo tính phân hoá cao trong kiểm tra, đánh giá Chính vì vậy, trắc nghiệm Lựa chọn là loại trắc nghiệm được sử dụng nhiều nhất ở Tiểu học hiện nay

- Yêu cầu khi thiết kế trắc nghiệm Lựa chọn: Khi soạn trắc nghiệm Lựa chọn cần phải diễn đạt rõ ràng, đơn giản và dễ hiểu Phần câu dẫn đôi khi là câu hỏi hoặc câu nhận định chưa hoàn chỉnh Các phương án trả lời phải cùng một cách viết và gần giống nhau để tăng độ “nhiễu”, đồng thời phương án

“nhiễu” cần được diễn đạt sao cho hợp lí và cảm giác có độ tin cậy cao Các

Trang 25

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 25

phương án lựa chọn được sắp xếp ngẫu nhiên, không theo một trình tự logic nào cả

1.2.4.3 Trắc nghiệm Nối cột

- Trắc nghiệm Nối cột (hay còn gọi là trắc nghiệm ghép đôi, đối chiếu cặp đôi) là loại trắc nghiệm mà nhà sư phạm đưa ra các mệnh đề ở các cột khác nhau (thường là hai cột A và B) trong đó số các mệnh đề có thể tương đương hoặc không tương đương, từ đó yêu cầu người học nối hai mệnh đề ở hai cột tương ứng ở hai cột theo yêu cầu đề ra

- Trắc nghiệm dạng này bao gồm hai dãy thông tin gọi là câu dẫn và câu đáp (cột A và cột B) Ở Tiểu học thường hai dãy thông tin này có số mệnh đề bằng nhau (cân bằng) hoặc không bằng nhau chứa đựng một nội dung theo yêu cầu đề bài Nhiệm vụ của người học là nối (hay ghép) các nội dung của hai cột lại cho thích hợp

- Ưu, nhược điểm của trắc nghiệm Nối cột

+ Ưu điểm của loại này là dễ thiết kế va sử dụng trắc nghiệm; yếu tố may rủi, ngẫu nhiên giảm hẳn

+ Nhược điểm là mất nhiều thời gian cho việc thiết kế và xây dựng câu trắc nghiệm

- Yêu cầu khi thiết kế trắc nghiệm Nối cột: Khi soạn trắc nghiệm Nối cột cần phải sắp xếp nội dung của hai dãy một cách rõ ràng, mang tính đồng nhất, các mệnh đề nên được sắp xếp một cách ngẫu nhiên

1.2.4.3 Trắc nghiệm Điền khuyết

- Các dạng trắc nghiệm Điền khuyết:

+ Câu trả lời ngắn: Trả lời theo yêu cầu của bài bằng một từ hay cụm từ (đôi khi là các con số) cho một câu hỏi (mệnh đề yêu cầu) trực tiếp hay một câu nhận định chưa đầy đủ

Trang 26

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 26

+ Câu điền khuyết thiếu: Được trình bày dưới hình thức một câu phát biểu chưa đầy đủ (câu chưa hoàn thiện) và yêu cầu người học điền vào chỗ trống cụm từ hoặc con số cho trước hoặc không cho trước để được một câu hoàn thiện

Các phương án trả lời là các từ, cụm từ, các con số cho trước có thể tương đương hoặc không tương đương với số lượng chỗ trống Nếu các từ, cụm từ không cho trước thì đó phải là các từ, cụm từ có nghĩa trong thực tế

- Tính ưu việt của trắc nghiệm này là tạo cơ hội để người học trả lời các vấn đề đặt ra nên phát huy được tính sáng tạo Hạn chế hoặc triệt tiêu tính may rủi, đoán mò vì người học phải nhớ lại hoặc nghĩ ra câu trả lời

- Khái niệm mô hình ở đây được hiểu theo nghĩa rộng là sơ đồ, bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh, hình vẽ… Loại câu trắc nghiệm này sử dụng hình thức và

kĩ thuật xây dựng của các loại trắc nghiệm trên đặc biệt là trắc nghiệm Lựa chọn và trắc nghiệm Điền khuyết, song có sự hỗ trợ và thể hiện bằng các mô hình dạy học (tranh ảnh, hình vẽ, sơ đồ…) Do đó khi thiết kế trắc nghiệm mô hình cần phải phản ánh đầy đủ và chính xác các yêu cầu về kĩ thuật xây dựng của các trắc nghiệm đã nêu Có thể nói đây là loại trắc nghiệm khó soạn nhất trong năm dạng trắc nghiệm đã đề cập

- Tính ưu việt của loại trắc nghiệm này là khả năng hệ thống hoá, khái quát hoá nội dung bài học, phát triển tư duy cho người học, hơn nữa lại rất

Trang 27

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 27

phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học vì nhận thức của các

em chủ yếu là nhận thức cảm tính

Trong giáo dục ở Tiểu học hiện nay, trắc nghiệm mô hình được sử dụng chưa nhiều, tuy nhiên dạng trắc nghiệm này thích ứng và phù hợp với người học

1.2.5 Qui trình kiểm tra, đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan

- Xác định rõ mục đích kiểm tra, đánh giá

- Xác định hệ thống tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá tri thức người học

- Xác định hình thức kiểm tra, đánh giá

- Thiết kế các câu hỏi trắc nghiệm khách quan

- Xây dựng đáp án và biểu điểm

- Đánh giá kết quả làm bài của học sinh

1.2.6 Kĩ thuật xây dựng trắc nghiệm khách quan

1.2.6.1.Độ phân biệt

Khái niệm

- Độ phân biệt: một câu trắc nghiệm có độ phân biệt tức là có khả năng phân biệt được người học giỏi và người học kém theo mục đích đặt ra của bài trắc nghiệm

- Độ phân biệt được thể hiện: số người trả lời đúng ( nhóm người đạt điểm cao của toàn bài trắc nghiệm) nhiều hơn so với những người trả lời sai (nhóm người đạt điểm thấp của toàn bài trắc nghiệm) theo tiêu chí của bài trắc nghiệm

Cách tính độ phân biệt của bài trắc nghiệm

+ Cách 1:

C T D

n

Trong đó:

Trang 28

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 28

- D: Độ phân biệt

- C: Số người trả lời đúng của nhóm cao (gồm những người đạt điểm cao của toàn bài trắc nghiệm tính từ trên xuống, chiếm 27% số người tham gia làm bài trắc nghiệm – con số 27% là mặc định , đã được các nhà toán học nghiên cứu và chỉ dẫn)

- T: Số người trả lời đúng bài trắc nghiệm ấy của nhóm thấp (gồm những người đạt điểm thấp của toàn bài trắc nghiệm tính từ dưới lên, chiếm 27% tổng số người tham gia làm bài trắc nghiệm)

- n: Số người của mỗi nhóm (nhóm cao va nhóm thấp có số người như nhau)

- Nếu D < 0,19: kém, phải loại bỏ

1.2.6.2 Độ khó của câu trắc nghiệm

Đo lường độ khó của câu trắc nghiệm

Trang 29

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 29

Đo lường độ khó của câu trắc nghiệm là đo tỉ lệ phần trăm số người trả lời đúng câu trắc nghiệm ấy Tỉ lệ phần trăm được gọi là trị số P

- Chỉ số độ khó của bài trắc nghiệm càng nhỏ thì mức độ khó càng cao

- Độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm, được tính theo công thức sau:

- E: Tỉ lệ điểm may rủi, được tính bằng công thức:

E= 100: (Số lưa chọn trong mỗi câu)

* Độ khó của cả bài trắc nghiệm

- Độ khó bài trắc nghiệm < độ khó vừa phải: bài trắc nghiệm là khó so với trình độ chung cả lớp

- Độ khó của bài trắc nghiệm > độ khó vừa phải: bài trắc nghiệm là dễ đối với trình độ chung cả lớp

- Độ phân biệt có liên quan đến độ khó của bài trắc nghiệm:

Trang 30

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 30

+ Bài trắc nghiệm dễ - người học không làm được - điểm số đạt được sẽ chụm ở phần điểm cao: độ phân biệt kém

+ Bài trắc nghiệm khó - người học không làm được - điểm số chụm ở phần điểm thấp: độ phân biệt kém

+ Bài trắc nghiệm có độ khó trung bình - điểm số thu được sẽ dàn trải và rộng: độ phân biệt tốt

- Xác định độ khó của bài trắc nghiệm: đối chiếu điểm số trung bình của bài trắc nghiệm với điểm số trung bình lí tưởng Điểm trung bình lí tưởng là trung bình cộng của điểm số tối đa có thể có được và điểm may rủi mong đợi Điểm may rủi mong đợi bằng số câu hỏi của bài trắc nghiệm chia cho số lựa chọn của mỗi câu

1.2.6.2 Độ giá trị và độ tin cậy

- Độ giá trị là khái niệm cho biết mức độ mà một bài trắc nghiệm đo được đúng cái định đo Độ giá trị đề cập đến tính hiệu quả trong việc đạt được những mục đích xác định của bài trắc nghiệm

- Độ tin cậy là khái niệm cho biết bài trắc nghiệm khi đo ổn định đến mức nào Như vậy, độ tin cậy là mức độ chính xác của phép đo Xét về mặt lí thuyết, độ tin cậy có thể được xem như là một số đo về sự sai khác giữa điểm

số quan sát được và điểm số thực Trong đó:

+ Điểm số quan sát được là điểm số trên thực tế người học đã có được (điểm số của một bài trắc nghiệm trong nhiều bài)

+ Điểm số thực là điểm số lí thuyết mà người học sẽ phải có nếu phép

đo lường không mắc sai số Điểm số thực được ước tính trên cơ sở điểm số quan sát được

Bài trắc nghiệm có thể nói là không tin cậy khi điểm số quan sát được lệch khỏi điểm số thực với phạm vi lớn

Trang 31

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 31

1.2.7 Yêu cầu sƣ phạm của đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan

1.2.7.1 Những yêu cầu đối với việc kiểm tra

- Đảm bảo tính khách quan: Tính khách quan là sự phù hợp giữa kết quả kiểm tra với chất lượng học tập thực tế của học sinh

- Đảm bảo tính phát triển: Thông qua kiểm tra, học sinh có thể xác định được chất lượng thực tại của mình về trình độ kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, từ đó học sinh có hướng phấn đấu học tập, phát triển được tư duy, thái độ học tập của mình

- Đảm bảo tính cá biệt: Ta đã biết quá trình dạy học mang tính cá biệt do vậy việc kiểm tra, đánh giá học sinh phải đảm bảo tính cá biệt của học sinh Việc kiểm tra phải tiến hành đối với từng học sinh và lấy kết quả thực, tuyệt đối không lấy thành tích chung cả lớp, tổ, nhóm thay thế cho việc kiểm tra từng người

- Đảm bảo tính toàn diện: Tính toàn diện thể hiện việc kiểm tra của giáo viên phải phản ánh đầy đủ các mặt hoạt động nhận thức của học sinh Đó là: kiến thức, kĩ năng, thái độ thể hiện ở việc kiểm tra về:

+ Số lượng, chất lượng tri thức

+ Khả năng phát triển trí tuệ, năng lực hành động của học sinh

+ Hứng thú học tập, thời gian hoàn thành và hiệu quả công việc

- Đảm bảo tính hệ thống: Việc kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên và có tính hệ thống để phản ánh đúng thực trạng kết quả và điều chỉnh nhận thức, động cơ học tập, hứng thú học tập của học sinh

1.2.7.2.Những yêu cầu sư phạm của đề kiểm tra

- Câu hỏi phải rõ ràng, chính xác, tránh dẫn tới hiểu lầm ở học sinh

- Đảm bảo tính mục tiêu: Đối với mỗi bài học, mỗi chương, mỗi phần, mỗi lớp đều có mục tiêu cụ thể Vì vậy, kiểm tra phải hướng đến mục tiêu cụ thể của từng bài, chương, phần, lớp

Trang 32

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 32

- Đảm bảo tính vừa sức

- Đảm bảo tính phân hoá: Để đánh giá chính xác trình độ của mỗi học sinh thì đề kiểm tra phải có sự phân hoá Trong đề kiểm tra có các yêu cầu ở mức độ khác nhau (biết, hiểu, vận dụng)

- Đảm bảo thời gian: Đề kiểm tra phải chú ý đến thời gian làm bài của học sinh, tránh quá thừa hoặc quá thiếu thời gian làm bài

Tóm lại: Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh là một khâu có vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy học Toán nói chung, dạy học Toán ở Tiểu học nói riêng Vì vậy để đảm bảo nâng cao chất lượng hiệu quả của quá trình dạy học cần đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá, phải kết hợp hình thức kiểm tra truyền thống và kiểm tra trắc nghiệm khách quan Qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy - học trong nhà trường

Trang 33

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 33

Chương 2: MÔN TOÁN LỚP 4 VÀ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN TRONG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH

2.1 Môn Toán ở Tiểu học

2.1.1 Vị trí, vai trò của môn Toán

Trong các môn học ở Tiểu học, môn Toán có vị trí, vai trò quan trọng vì các kiến thức, kĩ năng môn Toán có nhiều ứng dụng trong đời sống, trong học tập Môn Toán còn giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian trong thế giới hiện thực Ngoài ra, nó còn góp phần rèn luyện phương pháp suy nghĩ, suy luận, phát triển trí thông minh và hình thành các phẩm chất tốt đẹp của con người lao động mới

2.1.2 Mục tiêu của môn Toán Tiểu học

- Về kiến thức: có những kiến thức cơ bản, ban đầu về số học, các số tự nhiên, phân số, số thập phân, các đại lượng thông dụng, một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản

- Về kĩ năng: hình thành kĩ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán

- Về thái độ: bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp

lí, cách giải quyết vấn đề khoa học…

2.1.3 Nội dung, chương trình môn Toán ở Tiểu học

- Chương trình môn Toán ở Tiểu học bao gồm 5 tuyến kiến thức: số học, đại lượng và đo đại lượng, yếu tố hình học, yếu tố thống kê, mô tả, giải bài toán

- Nội dung chương trình môn Toán đã quán triệt được tư tưởng của Toán học hiện đại và phù hợp với giai đoạn phát triển của học sinh Tiểu học

- Các kiến thức, kĩ năng được hình thành chủ yếu bằng hoạt động thực hành luyện tập

Trang 34

Nguyễn Thị Lan – K32A GDTH 34

2.2 Môn Toán lớp 4 với vấn đề sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

2.2.1 Đặc điểm của môn Toán lớp 4

2.2.1.1 Toán 4 mở đầu cho giai đoạn mới của dạy học Toán ở Tiểu học Quá trình dạy học Toán trong chương trình Tiểu học được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn các lớp 1,2,3 và giai đoạn các lớp 4,5

- Giai đoạn các lớp 1,2,3 là giai đoạn học tập cơ bản Học sinh chủ yếu chỉ nhận biết các khái niệm ban đầu, đơn giản qua các ví dụ cụ thể với sự hỗ trợ của các vật thực hoặc mô hình, tranh ảnh… Do đó chủ yếu chỉ nhận biết

“cái toàn thể, cái riêng lẻ” chưa làm rõ được các mối quan hệ, các tính chất của sự vật, hiện tượng

- Giai đoạn các lớp 4,5 có thể coi là giai đoạn học tập sâu (so với giai đoạn trước) Học sinh vẫn học tập các kiến thức, kĩ năng cơ bản của môn Toán nhưng ở mức sâu hơn, khái quát hơn, tường minh hơn Nhiều nội dung Toán học có thể coi là trừu tượng khái quát đối với học sinh ở giai đoạn các lớp 1,2,3 thì đến các lớp 4,5 lại trở nên cụ thể, trực quan và được dùng làm chỗ dựa (cơ sở để học các nội dung mới) Do đó tính trừu tượng khái quát của nội dung môn Toán các lớp 4,5 được nâng lên một bậc (so với các lớp 1,2,3) Học sinh có thể nhận biết và vận dụng một số tính chất của số, phép tính, hình học ở dạng khái quát hơn

Một trong những đổi mới trong dạy học Toán ở giai đoạn các lớp 4,5 của chương trình Tiểu học là không quá nhấn mạnh lí thuyết và tính hàn lâm như trước mà cố gắng tạo điều kiện để tinh giản nội dung, tăng hoạt động thực hành, vận dụng, tăng chất liệu thực tế trong nội dung Tiếp tục phát huy dạy học dựa vào học sinh để phát triển năng lực trí tuệ cá nhân và hợp tác trong nhóm với sư hỗ trợ có mức độ của thiết bị học tập

Ngày đăng: 28/11/2015, 15:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Vũ Thị Phương Anh – Đánh giá kết quả học tập ở Tiểu học – NXB Giáo dục, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả học tập ở Tiểu học
Tác giả: TS. Vũ Thị Phương Anh
Nhà XB: NXB Giáo dục
3. Bộ Giáo dục &amp; Đào tạo (2005) – Chương trình Giáo dục phổ thông bậc Tiểu học – NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Giáo dục phổ thông bậc Tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục & Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
7. Phó Đức Hoà – Đánh giá trong giáo dục Tiểu học – NXBĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trong giáo dục Tiểu học
Tác giả: Phó Đức Hoà
Nhà XB: NXBĐHSP
10. Nguyễn Phụng Hoàng, Vũ Ngọc Lan (2006) – Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra và đo lường kết quả học tập – NXB, ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra và đo lường kết quả học tập
Tác giả: Nguyễn Phụng Hoàng, Vũ Ngọc Lan
Nhà XB: NXB
Năm: 2006
11. Nguyễn Danh Ninh – Câu hỏi ôn tập và kiểm tra Toán 4 – NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu hỏi ôn tập và kiểm tra Toán 4
Tác giả: Nguyễn Danh Ninh
Nhà XB: NXBGD
12. Hoàng Phê - Từ điển Tiếng Việt 2008 – NXB Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2008
4. Đỗ Tiến Đạt, Vũ Văn Dương – Bài tập trắc nghiệm Toán 4 – NXB ĐHSPHN Khác
5. Trần Bá Hoành – Đánh giá trong giáo dục – NXBGD, HN Khác
6. Trần Diên Hiển (2006) – 10 chủ đề trắc nghiệm khách quan Toán 4 – NXB,ĐHSPHN Khác
8. Phó Đức Hoà – Lí thuyết trắc nghiệm khách quan và thiết kế bài tập trắc nghiệm trắc nghiệm ở Tiểu học – NXBGD,HN Khác
13. Phạm Đình Thực (2008) – 500 Bài toán trắc nghiệm thực hành 4 – NXB, ĐHSPHN Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Nhận thức của giáo viên của về tác dụng phương pháp trắc  nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán - Tìm hiểu thực trạng sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn toán lớp 4 của học sinh một số trường tiểu học khu vực thị xã phúc yên   vĩnh phúc
Bảng 1 Nhận thức của giáo viên của về tác dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán (Trang 41)
Bảng 2: Thực trạng xác định mục tiêu kiểm tra, đánh giá trong  kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh - Tìm hiểu thực trạng sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn toán lớp 4 của học sinh một số trường tiểu học khu vực thị xã phúc yên   vĩnh phúc
Bảng 2 Thực trạng xác định mục tiêu kiểm tra, đánh giá trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh (Trang 43)
Bảng 3: Thực trạng thiết kế đề kiểm tra trắc  nghiệm khách quan - Tìm hiểu thực trạng sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn toán lớp 4 của học sinh một số trường tiểu học khu vực thị xã phúc yên   vĩnh phúc
Bảng 3 Thực trạng thiết kế đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan (Trang 44)
Bảng 4: Thực trạng giáo viên dựa vào các tiêu chí đê thiết kế đề - Tìm hiểu thực trạng sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn toán lớp 4 của học sinh một số trường tiểu học khu vực thị xã phúc yên   vĩnh phúc
Bảng 4 Thực trạng giáo viên dựa vào các tiêu chí đê thiết kế đề (Trang 46)
Bảng 5: Thực trạng khó khăn khi giáo viên tự thiết kế đề - Tìm hiểu thực trạng sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn toán lớp 4 của học sinh một số trường tiểu học khu vực thị xã phúc yên   vĩnh phúc
Bảng 5 Thực trạng khó khăn khi giáo viên tự thiết kế đề (Trang 47)
Bảng 5: Thực trạng về cách thức lựa chọn thời điểm kiểm tra - Tìm hiểu thực trạng sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn toán lớp 4 của học sinh một số trường tiểu học khu vực thị xã phúc yên   vĩnh phúc
Bảng 5 Thực trạng về cách thức lựa chọn thời điểm kiểm tra (Trang 49)
Bảng  6:  Thực  trạng  đánh  giá  kết  quả  làm  bài  của  học  sinh  trong  kiểm tra có sử dụng trắc nghiệm khách quan - Tìm hiểu thực trạng sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn toán lớp 4 của học sinh một số trường tiểu học khu vực thị xã phúc yên   vĩnh phúc
ng 6: Thực trạng đánh giá kết quả làm bài của học sinh trong kiểm tra có sử dụng trắc nghiệm khách quan (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w