1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Môn Văn hóa dân gian: ỨNG XỬ DÂN GIAN

15 394 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 35,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ỨNG XỬ DÂN GIAN 1: Khái niệm. 1.1: Ứng xử dân gian. Ứng xử dân gian là những hành động,lời nói,cử chỉ giao tiếp trước các tình huống, sự việc xảy ra trong cuộc sống hằng ngày giữa con người với nhau. Là cách đối xử với người khác, thế giới xung quanh và với chính mình 1.2: Sinh hoạt dân gian. Sinh hoạt dân gian là những hoạt động diễn ra trong cuộc sống đời thường của người lao động: lao động sản xuất, vui chơi giải trí… 2: Ứng xử trong môi trường sinh hoạt dân gian chủ yếu. 2.1: Ứng xử giữa các thành viên trong gia đình. 2.1.1: Vợ chồng: Quan hệ vợ chồng là mối quan hệ cơ bản, chủ yếu trong việc xây dựng, gìn giữ, bồi đắp hạnh phúc gia đình. Cả hai người đều quan trọng,

Trang 1

ỨNG XỬ DÂN GIAN 1: Khái niệm.

1.1: Ứng xử dân gian.

Ứng xử dân gian là những hành động,lời nói,cử chỉ giao tiếp trước các tình huống, sự việc xảy ra trong cuộc sống hằng ngày giữa con người với nhau Là cách đối xử với người khác, thế giới xung quanh và với chính mình

1.2: Sinh hoạt dân gian.

Sinh hoạt dân gian là những hoạt động diễn ra trong cuộc sống đời thường của người lao động: lao động sản xuất, vui chơi giải trí…

2: Ứng xử trong môi trường sinh hoạt dân gian chủ yếu.

2.1: Ứng xử giữa các thành viên trong gia đình.

2.1.1: Vợ chồng:

Quan hệ vợ chồng là mối quan hệ cơ bản, chủ yếu trong việc xây dựng, gìn giữ, bồi đắp hạnh phúc gia đình Cả hai người đều quan trọng, “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm” Sự tiến bộ trong nhận thức xã hội về quyền bình đẳng khiến cho địa vị người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội đã thay đổi rất nhiều Người chồng cần tôn trọng, quan tâm, giúp đỡ, chia sẻ gánh nặng công việc gia đình với vợ nhiều hơn, tạo điều kiện cho vợ tham gia các hoạt động xã hội, học tập, phát triển Vợ chồng mong muốn thuận ý, thuận tình để “tát biển Đông cũng cạn”, cần lưu ý những điều rất đáng quan tâm trong ứng xử như: Thấu hiểu, cảm thông và hỗ trợ nhau, trong công việc cũng như đời sống, kinh tế, quan hệ gia đình, xã hội,… nhằm giải tỏa cho nhau những áp lực về tâm

lý Chia sẻ việc nhà để giữ gìn sức khỏe, sự thanh thản ở người bạn đời, nhờ đó gia đình êm ấm, tránh những xung đột, đôi khi dẫn đến bạo lực giữa vợ chồng Thấu hiểu, cảm thông nhiều bao nhiêu thì phải sẵn lòng tha thứ nếu có những sự

cố xảy ra giữa vợ chồng:

“Chồng giận thì vợ làm lành,

Miệng cười chúm chím rằng: Anh giận gì?”

Trang 2

Phải kiên định, thống nhất ý kiến Thành ngữ có câu: “Một trăm cái lý, không bằng một tí cái tình” với ý muốn chỉ ra rằng ai cũng có lý lẽ, tuy nhiên nếu cố chấp dễ dẫn đến đối kháng Trên hết vẫn là sự thấu hiểu, cảm thông nhau

Vợ chồng nếu lấy sự hòa thuận để đối xử sẽ tìm được tiếng nói chung:

“ Chồng giận thì vợ bớt lời, Cơm sôi bớt lửa, mấy đời cơm khê”

2.1.2:Cha mẹ và con cái:

Trong tâm thức của người Việt, vốn quí giá nhất của cha mẹ chính là con cái Cha mẹ phải có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục tư cách con từ tấm

bé đến khi trưởng thành Vì vậy, quan hệ giữa cha mẹ và con cái rất thiêng liêng, bao hàm mối quan hệ sinh thành, dưỡng dục, là sự nối tiếp giữa hai thế hệ “Cha truyền, con nối” Con cái yêu kính và biết cha mẹ đã dành cả đời cho mình nhưng thường chỉ khi “Có con mới biết lòng cha mẹ”, lúc đó mới hiểu nỗi gian nan, khổ cực của cha mẹ vì mình mà nghiệm được đức hy sinh vì con của bậc làm cha mẹ

- Cha mẹ ứng xử với con cái

Cha mẹ là người sinh ra con cái,nên phải có bổn phận chăm lo ,nuôi dưỡng đến khi con cái trưởng thành ,”đủ lông đủ cánh”

Làm gương cho con.Trong gia đình, cha mẹ phải chú ý rèn luyện, tu dưỡng

để mình là tấm gương sáng về đạo đức, nhân cách, là điểm tựa tinh thần của con

Đó là cách cư xử vừa thuyết phục, vừa tế nhị lại sâu sắc Nét uy nghiêm của cha, tình cảm của mẹ mà con cái cảm nhận được là biểu lộ của một chiều sâu cảm phục, trở thành hình ảnh lý tưởng, là thần tượng của con Cha mẹ dạy con đạo lý

ở đời là phải trung tín, thủy chung nhưng lại lừa gạt, sang đoạt, phụ nghĩa vợ chồng,… đó sẽ là những bài học vô nghĩa, đánh mất niềm tin ở con cái Khi con còn nhỏ ảnh hưởng này có thể làm lệch lạc nhân cách, con cái sẽ không phục, bất đồng, chống đối lại cha mẹ

Trang 3

- Con cái đối với cha mẹ

Đạo hiếu là truyền thống tốt đẹp, tự hào của dân tộc ta Cha mẹ là những người có công sinh thành, dưỡng dục con cái Con được nhận nuôi dù không sinh nhưng cha mẹ có công lao dưỡng dục Vì vậy, làm con phải biết bày tỏ lòng biết ơn đối với cha mẹ, thể hiện lòng hiếu kính chăm sóc, phụng dưỡng suốt đời Theo thời gian, sự biểu hiện của đạo hiếu ít nhiều biến đổi cho phù hợp với xã hội Chẳng hạn, xưa con có hiếu là không được cãi lời cha mẹ, nên “Áo mặc không qua khỏi đầu”hay “Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó”

- Bổn phận của con cái đối với cha mẹ:

Kính trọng:

+ Giữ lễ trong giao tiếp, nói năng chuẩn mực

+ Thường xuyên thăm viếng, nói chuyện, hỏi han Báo cho cha mẹ biết những việc vui mừng trong gia đình

+ Hỏi ý kiến cha mẹ trong những việc lớn, coi trọng ý kiến của cha mẹ Mời cha mẹ chủ trì những việc quan trọng, thay mặt gia đình tiếp xúc với ông bà, họ hàng giúp cha mẹ chăm lo hương khói tổ tiên

Hiếu thảo:

+ Còn bé: Học hành chăm chỉ, thực hiện bổn phận trong gia đình (phụ giúp cha mẹ việc nhà, việc sinh kế - nếu gia cảnh khó khăn, chăm sóc em út); chăm sóc, hỏi han khi cha mẹ ốm đau; anh chị em hòa thuận để cha mẹ vui lòng; cùng cha mẹ thực hiện việc phụng dưỡng ông bà

+ Khi trưởng thành:Phụng dưỡng cha mẹ khi sống chung Hiểu những khó khăn về sức khỏe, tâm tính của người cao tuổi như hay tủi thân, chạnh lòng, đãng trí,… để thương yêu cha mẹ hơn Chăm lo giấc ngủ, bữa ăn, thiết kế nơi ở phù hợp cho cha mẹ Nếu ở riêng nên phụ giúp cha mẹ về tiền bạc; tham gia đóng góp công sức vào việc lớn của gia đình mà cha mẹ phải chủ trì như cưới xin, tang, giỗ; thực hiện những điều cha mẹ mong muốn Anh chị em trong gia đình cần bàn bạc, tìm cách giải quyết khó khăn liên quan đến cha mẹ

Trang 4

Tu dưỡng bản thân, xây dựng gia đình riêng hạnh phúc để cha mẹ tự hào Giữ gìn sự đoàn kết trong anh chị em, cùng dạy cháu con hiếu thảo, thuận hòa

để cha mẹ vui sống Cùng cha mẹ chăm lo mồ mả tổ tiên, quan tâm đến dòng họ Cùng anh chị em chu toàn việc hậu sự khi cha mẹ qua đời

2.1.3: Ông bà với con cháu.

Quan hệ ông bà – cháu là mối quan hệ có tính chất tiếp nối về huyết thống Bên cạnh sự thương yêu, kỳ vọng, những khác biệt về tuổi tác, quan niệm sống, đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi tạo nên giữa thế hệ ông bà với thế hệ cháu có những khác biệt nhất định

Hoàn cảnh sống cũng tác động đối với quan hệ ông bà và cháu Ngược lại sự chăm sóc đối với ông bà của con cháu, đặc biệt là sự nâng đỡ về tinh thần cũng hạn chế Về đạo lý, việc chăm sóc phụng dưỡng ông bà, cha mẹ là bổn phận, trách nhiệm của con cháu

Những điều lưu ý về ứng xử của cháu đối với ông bà:tôn trọng, có thái độ đúng mực, lễ phép, kính trọng, biết ơn đối với ông bà Thăm viếng, chăm sóc, hỏi han, thông báo về sự tiến bộ của bản thân mình để tạo niềm vui, sự hãnh diện cho ông bà Trực tiếp tham gia chăm sóc ông bà khi ốm đau, bệnh tật Đối với cháu đã thành niên, lập gđình phải năng đưa chắt đến thăm các cụ, tham gia

tổ chức lễ mừng thọ ông bà để ông bà được vui mừng vì qua đó biết rằng con cháu ổn định, ăn nên làm ra nhờ phúc đức tổ tiên, mà ông bà an lòng vui sống

2.1.4: Ứng xử trong quan hệ anh chị em

Gia đình xưa thường đông con, các con cùng trong lứa tuổi Trong nhà, trẻ

em chơi với nhau,xung đột, hình thành phe phái đánh nhau, lại có lúc bênh vực cho nhau, Cha mẹ phải xử phạt, rồi dạy dỗ cho các con tình anh chị em, cách làm anh, phận làm em Nhờ đó trẻ được thực hiện, bổn phận theo vai trò, thứ bậc, tôn ti trật tự trong gia đình, hiểu được sự đoàn kết, tình thương yêu, biết chia sẻ, nhường nhịn lẫn nha, chia sẻ, giúp đỡ nhau lúc khó khăn, hoạn nạn, là điều kiện để tạo quan hệ tình cảm yêu thương gắn bó và xây dựng truyền thống đoàn kết của gia đình, thân tộc Dù là mối quan hệ huyết thống hay được nhận

Trang 5

nuôi, anh chị em trong gia đình, họ hàng đều cần được giáo dục cách ứng xử đoàn kết, thân ái Đó là:

- Hòa thuận.Thương yêu, thấu hiểu, giáo dục lẫn nhau, nương tựa vào nhau, không bất hòa sinh chia rẽ, góp ý, thuyết phục, lắng nghe, thẳng thắng phê bình

và tự phê bình, không gây bạo lực tinh thần, thể chất đối với nhau, không lừa dối lẫn nhau

- Tôn trọng.Thân kính đối với anh, chị, bao dung đối với các em, giữ gìn sự bình đẳng, coi trọng lẫn nhau giữa anh, chị, em

- Hợp tác.Cùng hợp sức để xây dựng gia đình, thân tộc, chăm lo phụng dưỡng ông bà cha mẹ, giải quyết việc chung của gia đình Biết lắng nghe, chia

sẻ ý kiến, kinh nghiệm, kỹ năng sống, hỗ trợ lẫn nhau không mưu lợi

- Tương trợ.Hướng dẫn nhau trong học hành, chia sẻ việc nhà theo khả năng (lúc còn bé) Lúc hữu sự, khó khăn kịp thời phối hợp, trợ giúp, biết nhường cơm, sẻ áo cho nhau Đồng cảm chia sẻ nỗi đau thương, động viên tinh thần, hun đúc ý chí lẫn nhau

2.2 Ứng xử giữa gia đình với cọng đồng ( văn hoá làng)

2.2.1 Đôi nét về thể chế làng xã

- Làng xã VN bắt nguồn từ công xã nông thôn,ra đời vào giai đoạn

tan rã của công cã nguyên thủy,tức vòa khoảng thiên niên kỷ thứ nhất TCN.Từ thế kỉ X trở đi,chế độ phong kiến trở nên hưng thịnh,công xã nông thôn trở thành đơn vị hành chính cơ bản của chính quyền phong kiến.Tên gọi chung

là xã,cũng có khi gọi là làng hay thôn

- Làng xã giữ vai trò trung gian nối các cá thể với nhà nước

- Làng xã là 1 thể chủ bền vững,tồn tại xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc.Làng xã cổ truyền là đơn vị tụ cư,là cộng đồng dựa trên quan hê láng giềng kết hợp với quan hệ huyết thống.Là mỗi trường sinh hoạt văn hóa xã hội của người Việt từ bao đời nay

Trang 6

- Làng là đơn vị xã hội mà người nông dân VN tập hợp lại để tạo sức mạnh cộng đồng trong khai phá đất hoang,đắp đê,đào kênh thủy lợi Đấy là những công trình lao động cần thiết cho 1 xh nông nghiệp mà đơn vị sản xuất gia đình nhỏ không đản đương được

2.2.2:Các đặc trưng của thể chế làng.

2.2.2.1 Chủ nghĩa tập thể.

- Trong ứng xử truyền thống của cộng đồng VN,ít thấy quan hệ trực tiếp giữa cá nhân với cộng đồng lớn mà thường là quan hệ trách nhiệm giữa các cấp cộng đồng.Gia đình,dòng tộc có trách nhiệm với làng xã,làng có trách nhiệm với nước và ngược lại.Bởi thế,vai trò của cá nhân trong cộng đồng lớn thường bị tan biến.Mọi lợi ích cái nhân đều mờ nhạt mà phải hi sinh cho cái lợi ích chung của làng xã

- Để duy trì quan hệ với cộng đồng,cá nhân thường phải hòa mình vào tập thể.Ngược lại,cơ chế làng xã phải đảm bảo quyền bình đẳng giữa các thành viên.Biểu hiện rõ nhất là người dân được tham gia bầu chọn người đại diện của

bộ máy quản lý làng xã,trước những quyết định hệ trọng,người dân được hỏi ý kiến

- Trong cơ chế bộ máy làng xã,”luật pháp” của làng là những phong tục tập quán,tục lệ được hình thành trong quá trình lâu dài.Công cụ điều chỉnh hành vi trong cộng đồng chủ yếu là dư luận,lời đồn đại,thái độ khích lệ hoặc chê bai của cộng đồng.Trong trường hợp đặc biệt,làng dùng biệt pháp phạt vạ,hoặc bêu rếu ,hạ nhục trước tập thể.Như vậy tập thể có vai trò “lập pháp” và “hành pháp” đối với mỗi người dân trong làng trong mqh ứng xử giữa mỗi cá nhân,gia đình với làng xã

2.2.2.2 Thể chế làng xã khó chấp nhận những cái mới và không có năng lực

tự biến đổi trước sự biến động của hoàn cảnh xã hội.

- Trong tổng thể mqh ứng xử giữa xá nhân,gia đình với làng xã,có thể thấy làng xã vận hành theo những quy tắc mặc định và cứng nhắc.Lệ làng “bóp nghẹt” mọi tiềm năng sáng tạo,mọi ý thức về cái tôi cá nhân của chủ thể.Nhân

Trang 7

cách và tính đa dạng của nhân cách bị tan biến,hòa lẫn trong tổng thể cộng đồng làng xã

==> Bởi vậy không nên đánh giá quá cao những yếu tố tương tự dân chủ của làng xã,vì cũng có thời gian nó chuyển hóa thành mặt đối lập

2.2.2.3 Tính tự quản.

- Tính tự quản thể hiện ở việc các thành viên tự giám sát lẫn nhau trở thành 1 yêu cầu tự nhiên và là biện pháp tự nhiên để duy trì kỉ cương

- Bộ máy quản trị làng xã gồm 1 cơ quan:Cơ quan quyết nghị và cơ quan chấp hành,cách thức tổ chức cũng như thành lập thể hiện rõ tính tự trị của làng xã.Tất cả các dân đinh trong làng xã đều có thể tham gia giải quyết công việc chung

- Cơ quan quyết định được gọi là “hội đồng kỳ mục” ,có nơi gọi là hội đồng

kỳ hào,hôi đồng làng không quy điịnh số lượng thân hào trong xã,là những người đã từng đỗ đạt như:cử nhân,tú tài đã làm quan hoặc đang làm quan.Người được tham gia hội đồng kỳ hào là người hội tụ đủ các điều kiện quy định trong hương ước của làng

(Hương ước:được xem như bộ luật của làng xã,nó xuất hiện vào thế kirb XV,khi triều Lê muốn xây dựng 1nhà nước tập quyền chặt chẽ,và muốn cột chặt làng xã vào chính quyền trung ương.Để tăng cường việc quản lý làng xã,nhà vua yêu cầu các làng xã phải có lệ làng,lệ ấy có hiệu lực tức là hương ước.Nội dung hương ước gồm các quy tắc liên quan đến đời sống làng xã.Khi thực dân Pháp đặt chân đô hộ nước ta,họ đã chú trọng tới việc tổ chức chính quyền cấp xã,nhận thức được tầm quan trọng của tính tự trị làng xã,họ đã tận dụng tínhtự trị này bằng cách tôn trọng cơ cấu tổ chức và hương ước của làng)

- Tính tự quản còn thể hiện trông mqh giữa làng xã với chính quyền trung ương.Về nguyên tắc,vua hay triều đình không giao dịch trực tiếp với làng mà phải thông qua đại diện làng

- Song tính tự quản của làng dễ bị biến thành tính tự trị,trong lịch sử cho thấy,làng xã tự quản theo “lệ làng “ mà không dựa theo “luật” của chính quyền

Trang 8

trung ương,tạo nên sự giãn cách giữa địa phương với trung ương.bước chuyển giữa Tự quản sang Tự rị trị đã đẻ ra tầng lớp cường hào nhiễu sách nhân dân,áp đặt trong mqh ứng xử giữa cá nhân với làng xã.Nhiều bi kịch khốn quẫn của người nông đân trong cộng đồng làng xã tự trị đã đi vào nhiều tác phẩm của các văn sĩ thuộc trường phái hiện thực như:Ngô Tất Tố,Nam Cao Nhìn chung,trong dòng chảy lịch sử,làng xã VN nổi lê như những “ốc đảo” tự trị

2.2.2.4 Chủ nghĩa cục bộ địa phương

- Đặc điểm này làm cho việc tiếp nhận các quy định chung của nhà nước trở nên bê trễ hoặc chỉ mang tính hình thức Bị áp dụng hoặc giải thích sai lệch về nội dung,bị uấn nắn theo quan điểm địa phương “Phép vua thua lệ lành” Trong không gian làng xã,mọi vấn đề phát sinh đều có thể quy về cái gọi là “giải quyết nội bộ” do phấp luật nhà nước bị đẩy xuống thứ yếub,thay thế vào đó là lệ làng được sử dụng

2.3.ứng xử giữa các làng trong quan hệ với quốc gia.

2.3.1: Tổ chức nông thôn theo huyết thống.

- Những người có cùng quan hệ huyết thống gắn bó mật thiết với nhau thành đơn vị cơ sở là Gia đình và đơn vị cấu thành là Gia tộc.Đối với người VN gia tộc trở thành cộng đồng gắn bó có vai trò quan trọng,thậm chí hơn cả gđình ,họ coi trọng các khái niệm:Trưởng họ,trưởng tộc,nhà thờ họ,từ đường

Ở VN, nhiều khi làng và gia tộc nhiều khi đồng nhất với nhau,dấu vết hiện tượng”lành là nơi ở của 1 họ” còn lưu lại trong hàng loạt tên làng:Làng Đặng Xá (là nơi ở của họ Đặng),Làng Ngô Xá,làng Đỗ Xá

Trong làng,người Vệt thích sống theo lối Đại gia đình,quần tụ 3,4 thế hệ trong 1 ngôi nhà (tam,tứ đại đồng đường).Ở Tây Nguyên còn xuất hiện hình thức nhà dài,1 gia tộc ở chung dưới 1 mái nhà

- Sức mạnh của gia tộc thể hiện ở tinh thần đùm bọc lẫn nhau,cưu mang về vật chất.tinh thần:

“sẩy cha còn chú,sẩy mẹ bú gì” hay “nó lú nhưng chú nó khôn”

Trang 9

Quan hệ huyết thông gia tộc được xếp theo hàng dọc trong gia phả với hệ thống tôn ti trật tự rất chi tiết,phân biệt rạch ròi các thế hệ vớ nhau Cao tằng tổ==>Tằng tổ==>Tổ phụ==>Phụ==>Ngã==>Tử==>Tôn==>Tằng tôn==>Huyền tôn

Song tính tôn ti thườn dẫn đến mặt trái là óc gia trưởng trong việc ứng xử trong gia đình và giữa họ tộc với nhau

2.3.2: Tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú

- Những người sống gần nhau có xu hướng liên kết chặt chẽ với nhau, sản phẩm của lối liên kết này chính là:Làng ,xóm.Các thành viên trong làng xóm gắn bó vớ nhau không chỉ bằng quan hệ máu mủ mà còn bằng quan hệ sản xuất

- Ở nông thôn phương Tây không sống theo kiểu làng xã mà theo hình thức trang trại,có quan hệ lỏng lẽo.K.Marx đã nhận xét rằng,ở nông thôn phương tây

là “1 bao tải khoai tây, mà trong đó mỗi gia đình là 1 củ khoai tây”.Ở Vn thì khác, để đối phó với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và nhu cầu nghề nghiệp là trồng lúa nước,người dân phải gắn kết với nhau trong công việc như đổi công cho nhau trong việc đồng áng.Chính vì thế, người Việt thường có câu”Bán anh

em xa,mua láng giềng gần:

- Cách tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú tạo nên tính tập thể,cộng đồng đoàn kết cao,song lại kéo theo mặt trái là thói dựa dẫm lẫn nhau,ỷ lại số đông,đố

kị hoặc cào bằng

2.3.3: Tổ chức theo nghề nghiệp

- Trong 1 làng,hầu hết người dân sống bằng nghề nông, nhưng cũng có 1 bộ phận sống bằng nghề khác, họ liên kết với nhau tạo thành đơn vị gọi là Phường.Ở các vùng nông thôn có nhiều phường như: Phường Gốm, phường Mộc,phường Mộc, phường Chài họ thường gắn kết chặt chẽ,giúp đỡ nhau trong công việc,nghề nghiệp riêng của phường mình

Trang 10

- Bên cạnh phường để liên kết những người cùng 1 nghề,làng xã còn 1 đơn

vị khác là Hội,là tổ chức liên kết những người có cùng thú vui, sở thích,đẳng cấp với nhau

Ví dụ:Hội Tư Văn (liên kết những quan văn trong cùng 1 làng),hội Võ Phả(liên kết những người theo nghề võ),hội Tổ Tôm,hội Bô Lão ==>Phường

và hội rất ngần nhau,nhưng phường mang tính chuyên môn sâu hơn và bao giờ cũng giới hạn trong quy mô nhỏ.Tổ chức nghề nghiệp và sở thích liên kết theo chiều ngang,nên đặc trưng của phường hội mang tính DÂN CHỦ_những người cùng phường hội có trách nhiệm tương hỗ,giúp đỡ lẫn nhau

2.3.4: Tổ chức nông thôn theo truyền thống nam giới.

- Đây là hình thức tổ chức xuất hiện muộn, nó tạo nên các đơn vị gọi là giáp.Đứng đầu là Câu đương, giúp việc là các Ông Lềnh, đặc điểm của giáp là chỉ có đàn ông tham gia, mang tính chất cha truyền con nối.Trong nội bộ giáp phân biệt 3 lớp tuổi chủ yếu:Ti ấu(nhỏ đến 18 tuổi) ,đinh hoặc tráng và lão Vinh dự tối cao trong là được lên lão,thông thường là 60 tuổi, có làng là 55,

50 hoặc 49 (bởi 49 thường là tuổi hạn) Lên lão sẽ được trọng vọng, ngồi chiếu trên Tuy Giáp ra đời muộn nhưng lại được xây dựng trên nguyên tắc TRỌNG TUỔI GIÀ, đó là truyền thống lâu đời Bởi cư dân nông nghiệp sống phụ thuộc vào thiên nhiên nên cần có những người có nhiều kinh nghiệm _đều chỉ có ở tuổi già

- Ở các dân tộc miền núi, các già làng, hội đồng già làng vẫn nắm toàn bộ quyền hành Ở miền xuôi, tuy quyền lực đã được chuyển giao cho lớp trẻ, nhưng truyền thống trọng lão vẫn được duy trì_”kính lão đắc thọ” “kính già,già để tuổi cho”.Các cụ già theo tuổi tác được tính ngang hàng với các chức quan như: 60 ngang vớ tú tài,70 ngang vớ cử nhân,80 ngang vớ tiến sĩ

2.2.5: Tổ chức nông thôn theo đơn vị hành chính.

Ngày đăng: 30/03/2021, 14:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w