1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương môn văn hóa dân gian

14 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 39,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể là: + 1846, W.Thoms đưa ra định nghĩa : VHDG bao gồm các phong tục tập quán, các nghi lễ, các tín ngưỡng, ca dao tục ngữ của người thời trước hay nói cách khác nó chỉ những di tíc

Trang 1

Đề cương môn văn hóa dân gian

1. Khái niệm văn hóa dân gian.

- Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần, là sản phẩm sáng tạo của con người từ khi xuất hiện đến nay

- VHDG là những giá trị vật chất và tinh thần do quần chính nhân dân sáng tạo ra được lưu truyền qua ngàn năm lịch sử, bằng hình thức truyền miệng, phục vụ nhu cầu giải trí của nhân dân, quý tộc

- VHDG tương đương với 2 từ “Folk Culture” và “Folk Lore” với 2 nghĩa rộng và hẹp khác nhau

+ VHDG với nghĩa rộng tương đương với từ “Folk Culture” Nó bao gồm các lĩnh vực vật chất và tinh thần do quần chúng nhân dân sáng tạo ra liên quan đến mọi mặt đời sống xã hội như phong tục tập quán, sinh hoạt, sản xuất của cải vật chất

Trang 2

+ VHDG với nghĩa hẹp tương đương với từ “Folk Lore” là những sáng tạo của dân chúng mang tính nghệ thuật Theo nghĩa hẹp, VHDG gồm 3 thành tố cấu thành là:

NT ngôn từ, NT diễn xướng, NT tạo hình

2. So sánh quan niệm của các trường phái về VHDG.

•Điểm giống nhau cơ bản của các trường phái:

- Đều quan niệm VHDG là sáng tạo của nhân dân, có tính truyền miệng và mang tính cộng đồng

- Đối tượng nghiên cứu của VHDG đều là những phong tục tập quán, tín ngưỡng

•Điểm khác nhau:

- Trường phái của Anh – Mỹ chịu ảnh hưởng của nhân học, nghiên cứu là toàn bộ lịch sử văn hóa không thành văn, những di tích văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của nhân dân Cụ thể là:

+ 1846, W.Thoms đưa ra định nghĩa : VHDG bao gồm các phong tục tập quán, các nghi lễ, các tín ngưỡng, ca dao tục ngữ của người thời trước hay nói cách khác nó chỉ những di tích của Văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của nhân dân

Nghĩa rộng: VHDG bao gồm toàn bộ lịch sử văn hóa không thành văn của dân tộc ở thời nguyên thủy ( bằng hình thức truyền miệng)

Nghĩa hẹp: VHDG bao gồm các phong tục tập quán, các lễ nghi, các tín ngưỡng thời cổ sơ được bảo lưu trong những bộ phận đông đảo cư dân thời kì đầu văn minh + 1879, với sự ra đời của hội Folklore (Anh) ở TP London thì VHDG được ghi nhận càng cụ thể hơn

Nghĩa rộng: Folklore là 1 khoa học về truyền thống Nó gần gũi, đồng nhất với dân tộc học

Nghĩa hẹp: Folklore là biểu thị của tín ngưỡng, truyền thống, nghi lễ, những câu chuyện cổ, những bài tình ca, dân ca, những câu tục ngữ

- Trường phái của Pháp chịu ảnh hưởng của xã hội học, nghiên cứu VHDG dưới toàn bộ lĩnh vực như 1 khoa học tổng hợp Cụ thể là:

+ A.V Genep: VHDG là tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, văn học, âm nhạc, xã hội, pháp luật & Nghệ thuật -> VHDG là 1 khoa học tổng hợp

+ VH bao gồm 2 mảng: VH của dân tộc nguyên thủy, VH của nhân dân các dân tộc văn minh

- Trường phái của Nga chịu ảnh hưởng của ngữ văn học, nghiên cứu truyền thống và những hiện tượng cổ xưa của dân tộc Thể hiện qua 2 khuynh hướng:

(1) Folklore và dân tộc học không có ranh giới, nghiên cứu truyền thống và những hiện tượng cổ xưa của dân tộc

Trang 3

(2) Cơ bản Folklore là nghệ thuật ngôn từ, không có sự khác biệt về bản chất giữa văn hóa và Folklore, điểm khác là Folklore thuộc truyền thống truyền miệng

 Folklore không giống với dân tộc học và không thể hoàn toàn giống với nghệ thuật ngữ văn

 Folklore gồm nhiều yếu tố gắn bó với nhau trong một chỉnh thể nguyên hợp

 Nhân dân sáng tạo và sống trong nhân dân

 Phân định được đối tượng độc lập của Folklore qua việc khẳng định tính nghệ thuật như 1 đặc trưng tiêu biểu

- Nghiên cứu văn hóa của Việt Nam tiếp thu ảnh hưởng của các trường phái khác nhau, nghiên cứu những sáng tạo văn hóa nghệ thuật dân gian của các dân tộc nước ta đặt trong mối quan hệ ảnh hưởng, tác động qua lại với văn hóa các nước, các dân tộc ở Đông Nam Á và thế giới Cụ thể là:

+ Folklore thuộc hệ thống các khoa học xã hội Việt Nam

+ VHNTDG là 1 bộ phận cấu thành văn hóa dân tộc, phân biệt với các lĩnh vực văn hóa khác (VH sinh tồn, VH giao tiếp, VH tư tưởng )

+ VHNTDG là 1 thực thể sóng, nảy sinh, tồn tại và phát triển gắn với văn hóa cộng đồng của quần chúng lao động -> Lý giải các hiện tượng Folklore phải gắn liền với môi trường sinh hoạt của quần chúng

3. Đặc trưng của VHDG Phân tích từng đặc trưng ( Phân tích tính nguyên hợp của VHDG)

a. Tính nguyên hợp.

- Tính nguyên hợp là nhận thức nguyên hợp về tổng thể vốn có của thế giới Là sự kết hợp, hòa trộn của nhiều yếu tố trong một chỉnh thể Các yếu tố này có sự gắn bó hữu

cơ với nhau Nếu tìm hiểu từng thành tố như một đối tượng độc lập thì không thể có được một nhận thức đầy đủ về chính xác về chúng

- Tính nguyên hợp trong VHDG là nhân thức ban đầu, sơ khai có tính chất tổng thể

về hiện thực Trong nhận thức ban đầu này, người ta chưa phân tích tổng thể hiện thực ra thành từng thành tố khác nhau

- Biểu hiện của tính nguyên hợp trong VHDG :

+ Thứ nhất, đó là sự kết hợp một cách nguyên hợp tính ích dụng và tính thẩm mỹ trong một hiện tượng VHDG, thể hiện trong hoạt động thực tiễn và sáng tạo nghệ thuật

VD : Bức tranh con bò của người nguyên thủy mang tính ích dụng là gắn với việc đi săn, có tính chất ma thuật kết hợp với tính thẩm mỹ là những hình ảnh sinh

Trang 4

động, cảm xúc mãnh mẽ Từ đó, có thể thấy, tính thẩm mỹ nảy sinh từ việc làm có tính ích dụng nhưng vượt qua mục đích ích dụng

+ Thứ hai, đó là sự kết hợp một cách nguyên hợp yếu tố không gian và thời gian lên một hiện tượng VHDG Không gian (địa phương) sẽ quy định sự hình thành các vùng văn hóa Thời gian (thời đại) sẽ tạo ra sự bồi đắp của quá trình sáng tạo và sự xuất hiện của các lớp văn hóa Tính sáng tạo tập thể sẽ khiến cho hiện tượng VHDG biến đổi lớp văn hóa lõi

VD : Hát quan họ sẽ mang đúng giá trị của nó nếu được các nghệ nhân quan họ Bắc Ninh hát trên dòng sông quê hương, trong những ngày đầu xuân diễn ra lễ hội Lim

+ Thứ ba, đó là sự kết hợp một cách nguyên hợp của nhiều thành tố trong một hiện tượng VHDG

VD : Lễ hội gồm nhiều yếu tố : âm nhạc, biểu diễn, văn học… Tất cả các yếu tố này nằm trong một tổng thể Hội và lễ đều nằm trong tổng thể nghi thức nên không thể tách rời lễ và hội, cũng không thể tách rời truyền thuyết với các yếu tố khác

- Như vậy, khi nói về tính nguyên hợp của VHDG là chúng ta đang xem xét VHDG trên 3 bình diện chủ yếu Một là mối quan hệ giữa nghệ thuật và thực tiễn trong quá trình sáng tạo VHDG Hai là mối quan hệ giữa các thành tựu thẩm mỹ khác nhau của những thời đại khác nhau và những địa phương khác nhau Ba là mối quan hệ giữa các thành tố của VHDG

b. Tính diễn xướng

- Tính diễn xướng chính là phương thức trao truyền của VHDG, vừa là tính chất, vừa là môi trường biểu diễn của VHDG

- Tính diễn xướng là không gian diễn ra mọi hoạt động của VHDG, giúp VHDG bộc

lộ được giá trị của nó

[ Mối quan hệ giữa tính nguyên hợp và tính diễn xướng]

- Nguyên hợp trong VHDG gắn với nghệ thuật diễn xướng bởi VHDG được lưu truyền bằng phương thức truyền miệng, chính vì vậy phải đan xen vào nghệ thuật trình diễn dân gian và nghệ thuật diễn xướng cụ thể trong môi trường sinh hoạt văn hóa của nó

- Môi trường diễn xướng chính là cái nôi sinh ra những câu chuyện, những loại hình nghệ thuật đúng trong khung cảnh của nó, đúng trong ngôn ngữ thuần túy mới thấy được hết giá trị của nó Nếu đặt trong môi trường khác nhau thì sẽ có cảm nhận khác nhau và giá trị khác nhau

Trang 5

- VD : Nghệ thuật biểu diễn múa rối nước diễn ra ở các thủy đình hay ao làng ở đồng bằng Bắc Bộ, nếu mang múa rối nước biểu diễn ở miền núi cao hay hát dân ca H’Mông, hát then của người Tày xuống vùng đồng bằng sẽ làm mất giá trị vốn có

- Như vậy, có thể nói, nghệ thuật diễn xướng là dạng tồn tại đích thực của VHDG Tuy nhiên không thể phủ nhận dạng tồn tại trong trí nhớ dân gian, tồn tại cố định bằng các hiện vật Trong diễn xướng, các phương tiện nghệ thuật của tác phẩm VHDG mới có điều kiện kết hợp với nhau tạo nên hiệu quả thẩm mỹ tổng hợp

c.Tính tập thể và tính dị bản.

- Tính vô danh của các tác phẩm VHDG là sự kết tinh của nhiều cá nhân nhưng không mang tính cá nhân Người Pháp nói rằng : VHDG là kết quả của cộng đồng sáng tạo giữa 1 người mà chúng ta không biết tên tuổi với những người mà tên tuổi chúng ta không biết

- Sáng tạo tập thể là sáng tạo của cộng đồng, trong đó vai trò cá nhân bị mờ đi Đó

có thể do 1 người bắt đầu và những người khác bổ sung, cộng đồng có thể thêm bớt nhưng vẫn được cả cộng đồng chấp nhận, cộng đồng vừa sáng tác vừa thưởng thức

- VHDG mang tính tập thể, là những sáng tác của nhân dân lao động, là sự sáng tạo liên tục bởi vô số những con người của các thời đại và địa phương khác nhau, vô hạn về thời gian và không gian

- Chủ thể thưởng thức cũng chính là người dân lao động, họ sáng tạo ra 1 nền VHDG để phục vụ nhu cầu giải trí tinh thần

- VHDG được truyền miệng qua nhiều thế hệ tiếp nối, không thành văn Chính vì vậy nó có tính dị bản Tính dị bản trong VHDG khi được lưu truyền sang các vùng văn hóa khác nhau thì nó dần thay đổi, có thể do phong tục, lối sống, ngôn ngữ, tư duy của các địa phương đó khác nhau nên họ thay đổi VHDG cho phù hợp với họ

d. Tính nghệ thuật

- VHDG bao gồm nghệ thuật biểu diễn dân gian, NT ngôn từ dân gian, NT tạo hình dân gian Điều này đã làm nên tính nghệ thuật trong VHDG

- Không chỉ tái hiện đơn giản lại hiện thực mà VHDG còn nhìn ở góc độ thẩm mỹ, hướng đến cái đẹp, cái sinh động Vì vậy, khi xem xét một hiện tượng VHDG, đòi hỏi ta phải cảm nhận bằng nhiều giác quan khác nhau

4. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành VHDG.

Có 3 nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành VHDG Việt Nam:

Điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội – lịch sử, điều kiện con người

a. Điều kiện tự nhiên :

Trang 6

- Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á với khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa là nền tảng hình thành nền văn minh thực vật được biểu hiện trong VHDG VN và khu vực Văn minh thực vật thể hiện trong ẩm thực với cơm là bữa ăn chính ; trong tín ngưỡng thờ thần cây, thờ mẹ lúa, thờ cây đa, cây cau, câu nêu ; trong trang phục được tạo ra từ nghề dệt lụa, trồng dâu nuôi tằm ; trong kiến trúc dân gian khi sử dụng các chất liệu tre, gỗ

- Nghề trồng lúa nước kết hợp với nghề đúc đồng, nghề đi biển cũng được biểu hiện trong VHDG Yếu tố sông nước tạo nên cách thức ăn uống với canh, cá và thói quen của người vùng biển là ăn mặn hơn với mục đích cho sức dẻo dai để lao động, kéo lưới và không lật cá khi ăn để tránh những rủi ro khi đi biển Nó cũng xuất hiện trong nghệ thuật dân gian múa rối nước, tín ngưỡng thờ thần sông, thờ cá chép, thờ con rồng, con rắn ; trong cách đặt tên các con sông như sông Cửu Long, sông Mê Kông ; trong các lễ hội đua thuyền, té nước ; trong truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh, ca dao, tục ngữ và trong phong tục thờ cúng tổ tiên khi trên bàn thờ không thể thiếu bát nước

- Yếu tố nữ thể hiện sự đề cao vai trò của người phụ nữ như trong tín ngưỡng Thờ Mẫu, trong văn học và đặc biệt là trong Tiếng Việt với sự xuất hiện của từ « Cái » Bên cạnh đó, VHDG còn thể hiện trong thuyết vạn vật hữu linh và trong tín ngưỡng phồn thực của người Việt

- Ngoài ra, Đông Nam Á là vùng dùng ngôn ngữ đơn âm với năng lực dồi dào để phát triển từ vựng cũng có nhiều ảnh hưởng đến ngôn ngữ VHDG Việt Nam

b. Điều kiện lịch sử - xã hội.

- Truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước trong lịch sử của người Việt đã tạo

ra 2 xu hướng trong VHDG Xu hướng thứ nhất là huyền thoại hóa nhân vật lịch sử hay lịch sử hóa nhân vật huyền thoại như thánh Gióng, mẫu Liễu Hạnh, bà chúa kho… Xu hướng thứ hai là địa phương hóa nhân vật lịch sử có thể kể đến Thiền sư Từ Đạo Hạnh Điều kiện lịch sử đã tạo nên dấu ấn lịch sử trong văn học, tạo nên tín ngưỡng thờ các vị anh hùng dân tộc, các lễ hội dân gian như lễ hội đền Trần, lễ hội Vân Đồn, trong ca dao cũng nhắc đến yếu tố lịch sử như « Con ơi nhớ lấy câu này/ Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan » Tất cả đã tạo cho VHDG đạt đến thời kì đỉnh cao

- Những gia đình tiểu nông sinh sống trong những làng xã tiểu nông ở Việt Nam cũng tạo ra môi trường sáng tạo nên VHDG Điều này thể hiện trong nhưng câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao như : « Bán anh em xa, mua láng giềng gần », « Một con ngựa đau

Trang 7

cả tàu bỏ cỏ » hay « Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống như chung một giàn » Ngoài ra, xã hội cũng được phản ánh trong VHDG qua nạn tảo hôn…

c.Điều kiện con người.

Người Việt xuất phát từ loại hình Nam Á chính là tổ tiên của người Lạc Việt chính là nhóm ngôn ngữ Việt - Mường và người Tây Âu chính là nhóm ngôn ngữ Tày – Nùng hỗn dung với các dân tộc khác Do đó VHDG của người Việt từ gốc thấy được

sự hỗn dung của yếu tố Việt và yếu tố Mường trước khi ảnh hưởng từ các dân tộc đến

từ Trung Quốc

5. Đặc trưng của ngữ văn dân gian (văn học dân gian)

- Văn học chỉ bộ phận sáng tạo nghệ thuật bằng chất liệu ngôn từ Dân gian đóng vai trò như là tính từ chỉ tính chất, đặc trưng đặc biệt của loại hình văn học này Văn học dân gian là thuật ngữ dùng để chỉ những thể loại sáng tác dân gian trong đó thành phần nghệ thuật ngôn từ (tức thành phần văn học ) chiếm vị trí quan trọng, song bao giờ nó cũng có mối quan hệ hữu cơ với các thành phần nghệ thuật và phi nghệ thuật khác

- Văn học dân gian có 5 đặc trưng cơ bản Thứ nhất, văn học dân gian là sáng tạo của tập thể Đây là tính chất đặc thù trong sáng tạo và lưu truyền văn học dân gian Lực lượng sáng tác là nhân dân lao động, tính tập thể thể hiện trong quá trình sáng tác, tiếp nhận và lưu truyền, trong không gian và thời gian

- Thứ hai, văn học dân gian là một nghệ thuật tổng hợp Văn học dân gian rộng hơn nghệ thuật, đó là sự nguyên hợp về nội dung Văn học dân gian không chỉ là văn học mà còn là ngọn nguồn của triết học, đạo đức, tôn giáo, khoa học, lịch sử, sinh học, nông học,

… Văn học dân gian còn là sự tổng hợp tự nhiên về mặt nghệ thuật trong việc sử dụng ngôn ngữ như là yếu tố quan trọng nhất để xây dựng hình tượng nghệ thuật Văn học dân gian là thứ văn học để thể hiện 4 phương thức diễn xướng : hát, kể, nói, diễn

- Thứ ba, tính truyền miệng là phương thức lưu truyền đặc biệt của văn học dân gian Truyền miệng là hình thức tồn tại đặc thù khi mà chưa có chữ viết, là sáng tác trực tiếp trong quá trình lao động sản xuất, chọn lọc tự nhiên và diễn xướng

- Thứ tư, văn học dân gian có tính chất thực hành trực tiếp Nảy sinh từ nhu cầu của thực tiễn lao động và sinh hoạt, văn học dân gian khi được hình thành lại trực tiếp tham gia trở lại các hoạt động thực tiễn như một phần của hoạt động thực tiễn đó, góp phần làm cho hoạt động đó trở nên có hiệu quả hơn Ví dụ như hò lao động để làm cho lao

Trang 8

động nhịp nhàng, vui vẻ ; tục ngữ nhằm tổng kết các kinh nghiệm trong đời sống một cách dễ nhớ, dễ thuộc ; hát ru có chức năng đưa trẻ vào giấc ngủ ; diễn xướng Mo là một phần trong lễ thức tang ma của người Mường

- Đặc trưng thứ năm của văn học dân gian là tính dị bản Cũng giống như VHDG nói chung, văn học dân gian được truyền miệng qua nhiều thế hệ tiếp nối, không thành văn Chính vì vậy nó có tính dị bản Tính dị bản trong văn học dân gian khi được lưu truyền sang các vùng văn hóa khác nhau thì nó dần thay đổi, có thể do phong tục, lối sống, ngôn ngữ, tư duy của các địa phương đó khác nhau nên họ thay đổi văn học dân gian cho phù hợp với họ Ví dụ như câu ca dao : « Trăm năm đành lỗi hẹn hò / Cây đa bến cũ con đò khác đưa » thể hiện sự tiếc nuối thì dị bản của nó là « Trăm năm dầu lỗi hẹn hò / Cây đa, bến cũ, còn đò vẫn đưa » lại thể hiện sự chờ đợi khắc khoải

6. Đặc trưng của người biểu diễn dân gian (nghệ thuật biểu diễn dân gian)

- Nghệ thuật biểu diễn dân gian có 4 đặc trưng cơ bản :

Tính biểu trưng, tính trữ tình, tính tổng hợp và linh hoạt, gắn liền với thực tiễn

a Tính biểu trưng

- Trong nghệ thuật biểu diễn dân gian, người ta thường thông qua người nghệ sĩ, người biểu diễn để phản ánh nội dung chủ đề nào đó Sân khấu dân gian thông qua biểu trưng có tính ước lệ để diễn đạt nội dung

- Tính biểu trưng thể hiện qua thủ pháp ước lệ tượng trưng, tức là chỉ dùng một bộ phận, một chi tiết để cho người xem hình dung ra dụng ý nghệ thuật Thông qua những đạo cụ, động tác trong nghệ thuật biểu diễn dân gian để mô phỏng hiện thực

- Tính biểu trưng còn thể hiện qua thủ pháp mô hình hóa thông qua cách gọi tên các nhân vật, cách phân vai, cách hóa trang của nhân vật Ví dụ trong nghệ thuật Tuồng, với

các vai đào thì có đào cảnh (mắt phượng, mày ngài, môi trái tim), đào chiến (mắt và lông

mày dựng đứng), đào ác (mắt ti hí, miệng rộng, lông mày cong lớn) Hệ thống vai kép thì

có các vai kép trắng, gồm kép văn (mắt, lông mày dịu dàng), kép võ (mắt và lông mày

hơi đứng), kép phản diện (mắt xếch, lông mày đứng).

- Tính biểu trưng cũng biểu hiện qua các lời ca của nhân vật trong Cải lương hay Vọng cổ

b Tính biểu cảm

Thông qua người nghệ sĩ biểu diễn, tình cảm, nội tâm của người nhân dân lao động sẽ được phản ánh Chủ đề trong nghệ thuật biểu diễn dân gian gần gũi, gắn bó với cuộc sống đời thường Âm nhạc và các làn điệu dân ca VN thiên về diễn tả tính

Trang 9

chất nội tâm tinh tế, chú trọng gợi tình cảm trong trong Múa cũng không ồn ào, ầm ĩ

mà rất nhịp nhàng, uyển chuyển, không có động tác nhảy cao, dài, rộng Cải lương cũng xuất hiện những bài vọng cổ chậm, bộc lộ rõ nội tâm

c Tính tổng hợp và linh hoạt

- Tính tổng hợp thể hiện khá rõ trong sân khấu truyền thống VN khi không có sự phân biệt các loại hình ca múa nhạc mà cùng một lúc trong vở diễn có sự tổng hợp của mọi thể thơ, mọi loại văn, mọi điệu hát, mọi phong cách đan xen vào nhau chặt chẽ và tùy hứng Sân khấu không phân biệt thể loại bi hay hài mà có sự kết hợp của cả hai Vai

hề có cả vai vừa cười vừa khóc như vai Thị Mầu lên chùa

- Tính linh hoạt thể hiện ở người diễn Người diễn sẽ phụ thuộc vào cảm xúc của khán giả Nếu khán giả khen thì kéo dài trò diễn, khán giả chê thì kết thúc trò diễn nhanh, khán giả ở ngoài cũng có thể tham gia vào biểu diễn Sân khấu truyền thống không đòi hỏi người diễn viên tuân thủ chặt chẽ, y nguyên như tích truyện mà cần linh hoạt theo từng vai diễn, cũng không đòi hỏi nhạc công chơi đúng bài bản mà chỉ cần cân đối

d Gắn liền với hoạt động thực tiễn

Các hoạt động trong nghệ thuật biểu diễn dân gian luôn gắn liền với hoạt động thực tiễn nhất là hoạt động lao động, sinh hoạt của nhân dân, gần gũi với nhân dân lao động

7. So sánh khái niệm niềm tin, tín ngưỡng, tôn giáo.

a. Sự giống nhau

- Một là, những người có tôn giáo và có sinh hoạt tín ngưỡng dân gian đều có niềm tin vào những điều mà tôn giáo đó và các loại hình tín ngưỡng đó truyền dạy, mặc dù họ không hề được trông thấy Chúa Trời, đức Phật hay cụ kỵ tổ tiên hiện hình ra bằng xương bằng thịt và cũng không được nghe bằng chính giọng nói của các đấng linh thiêng đó

- Sự giống nhau thứ hai giữa niềm tin, tôn giáo và tín ngưỡng là lòng tin tưởng, những tín điều của tôn giáo và tín ngưỡng đều có tác dụng điều chỉnh hành vi ứng xử giữa các cá thể với nhau, giữa cá thể với xã hội, với cộng đồng, giải quyết tốt các mối quan hệ trong gia đình trên cơ sở giáo lý tôn giáo và noi theo tấm gương sáng của những đấng bậc được tôn thờ trong các tôn giáo, các loại hình tín ngưỡng đó

b. Sự khác nhau

- Một là, nếu tôn giáo phải có đủ 4 yếu tố cấu thành, đó là: giáo chủ, giáo lý, giáo luật và tín đồ, thì niềm tin và các loại hình tín ngưỡng dân gian không có 4 yếu tố đó

Trang 10

Giáo chủ là người sáng lập ra tôn giáo ấy (Thích ca Mâu ni sáng lập ra đạo Phật, đức chúa Giê su sáng lập ra đạo Công giáo,…); giáo lý là những lời dạy của đức giáo chủ đối với tín đồ; giáo luật là những điều luật do giáo hội soạn thảo và ban hành để duy trì nếp sống đạo trong tôn giáo đó; tín đồ là những người tự nguyện theo tôn giáo đó

- Hai là, nếu đối với tín đồ tôn giáo, một người, trong một thời điểm cụ thể, chỉ có thể có một tôn giáo thì một người dân luôn luôn tồn tại niềm tin và có thể đồng thời sinh hoạt ở nhiều tín ngưỡng khác nhau Chẳng hạn, người đàn ông vừa có tín ngưỡng thờ cụ

kỵ tổ tiên, nhưng ngày mùng Một và Rằm âm lịch hàng tháng, ông ta còn ra đình lễ Thánh Cũng tương tự như vậy, một người đàn bà vừa có tín ngưỡng thờ ông bà cha mẹ, nhưng ngày mùng Một và Rằm âm lịch hàng tháng còn ra miếu, ra chùa làm lễ Mẫu,…

- Ba là, nếu các tôn giáo đều có hệ thống kinh điển đầy đủ, đồ sộ là những bộ kinh, luật, luận rất đồ sộ của Phật giáo; là bộ “Kinh thánh” và “Giáo luật” của đạo Công giáo… thì các loại hình tín ngưỡng chỉ có một số bài văn tế (đối với tín ngưỡng thờ thành hoàng), bài khấn (đối với tín ngưỡng thờ tổ tiên và thờ Mẫu) còn niềm tin chỉ hiện hữu trong ý thức của con người, không có sự cụ thể hóa thành văn nào

- Bốn là, nếu các tôn giáo đều có các giáo sĩ hành đạo chuyên nghiệp và theo nghề suốt đời, thì trong các sinh hoạt tín ngưỡng dân gian không có ai làm việc này một cách chuyên nghiệp, còn niềm tin chỉ mang tính chất cá nhân

8. Nguồn gốc hình thành tín ngưỡng phồn thực.

- Thời xa xưa, để duy trì và phát triển sự sống, ở những vùng sinh sống bằng nghề nông cần phải có mùa màng tươi tốt và con người được sinh sôi nảy nở Để làm được hai điều trên, những trí tuệ sắc sảo sẽ tìm các quy luật khoa học để lý giải hiện thực và họ đã xây dựng được triết lý âm dương, còn những trí tuệ bình dân thì xây dựng tín ngưỡng phồn thực (phồn nghĩa là nhiều, thực nghĩa là nảy nở)

- Tín ngưỡng phồn thực là tín ngưỡng dân gian cầu mong sự sinh sôi nảy nở của tự nhiên và con người Tín ngưỡng phồn thực ở Việt Nam được thể hiện ở hai dạng: thờ cơ quan sinh dục của cả nam lẫn nữ và thờ hành vi giao phối

- Các cơ quan sinh sản được đặc tả để nói về ước vọng phồn sinh Người xưa, qua trực giác, tin rằng năng lượng thiêng ở thiên nhiên hay ở con người có khả năng truyền

Ngày đăng: 29/03/2021, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w