khóa luận, luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, đề tài
Trang 2LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1 GS, TS VŨ VĂN HÓA
2 PGS, TS BÙI THIÊN SƠN
HÀ NỘI - 2013
Trang 3Tôi xin cam đoan bản luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án
là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Đặng Vũ Hùng
Trang 4Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt trong luận án
Danh mục các bảng, biểu, hình vẽ
MỞ ĐẦU 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGUỒN VỐN ODA VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG CHO VAY LẠI VỐN ODA
1.1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ NGUỒN VỐN ODA VÀ CHO VAY LẠI VỐN ODA
1.1.1 Khái niệm và quá trình hình thành nguồn vốn ODA
1.1.2 Vai trò của ODA trong cơ cấu vay nợ nước ngoài của Việt Nam
1.1.3 Cho vay lại nguồn vốn ODA
1.1.4 Cơ chế cho vay lại vốn ODA
1.2 RỦI RO VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG CHO VAY LẠI VỐN ODA
1.2.1 Khái quát về rủi ro
1.2.2 Rủi ro và quản lý rủi ro trong cho vay lại vốn ODA
1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG CHO VAY LẠI VỐN ODA
1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
1.3.2 Kinh nghiệm của Malaysia
1.3.3 Kinh nghiệm của Ba Lan
Trang 5TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TRONG CHO
CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 2.1 NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
2.1.1 Quá trình hình thành phát triển của Ngân hàng Phát triển
Việt Nam 2.1.2 Một số đặc điểm cơ bản của Ngân hàng Phát triển Việt
Nam
2.2 CHO VAY LẠI VỐN ODA TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
2.2.1 Tổng quan về cho vay lại vốn ODA tại Ngân hàng Phát
triển Việt Nam 2.2.2 Các hình thức cho vay lại vốn ODA tại Ngân hàng Phát
triển Việt Nam 2.2.3 Đánh giá tình hình cho vay lại vốn ODA tại Ngân hàng
Phát triển Việt Nam giai đoạn 2006-2012
2.3 THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG CHO VAY LẠI VỐN ODA CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
2.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro trong cho vay lại ODA 2.3.2 Rủi ro trong cho vay lại vốn ODA của Ngân hàng Phát triển
Việt Nam trong thời gian qua 2.3.3 Một số chỉ tiêu chủ yếu phản ánh mức độ rủi ro trong cho
vay lại ở Ngân hàng Phát triển Việt Nam thời gian qua 2.3.4 Rủi ro trong cho vay lại vốn ODA của Việt Nam 2006-2012
Trang 6
2.4 QUẢN LÝ RỦI RO TRONG CHO VAY LẠI VỐN ODA CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
2.4.1 Các biện pháp áp dụng để quản lý rủi ro trong cho vay lại
vốn ODA ở Ngân hàng Phát triển Việt Nam 2.4.2 Cơ chế xử lý rủi ro trong cho vay lại ODA ở Ngân hàng
Phát triển Việt Nam 2.4.3 Đánh giá thực trạng công tác quản lý rủi ro trong cho vay
lại vốn ODA của Ngân hàng Phát triển Việt Nam
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG CHO VAY LẠI VỐN ODA CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 3.1 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2015-2020
3.1.1 Định hướng phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam
3.1.2 Mục tiêu tổng quát 3.1.3 Định hướng sử dụng nguồn vốn ODA 3.1.4 Quan điểm định hướng và yêu cầu đối với quản lý rủi ro
trong cho vay lại vốn ODA ở Ngân hàng Phát triển Việt Nam
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG CHO VAY LẠI VỐN ODA CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
3.2.1 Nhóm giải pháp về phía Nhà nước 3.2.2 Nhóm giải pháp của Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Trang 7TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 KẾT LUẬN DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 173
Trang 8Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
ACB Ngân hàng TMCP Á Châu
ADB Ngân hàng Phát triển châu Á
Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn VNBIDV Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt NamDAC Ủy ban Hỗ trợ phát triển
ĐTPT Đầu tư phát triển
Eximbank Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam
F/S Báo cáo nghiên cứu khả thi
FDI Vốn Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GNP Thu nhập quốc dân
IMF Quỹ tiền tế quốc tế
MHB Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu longMilitary Bank Ngân hàng TMCP Quân Đội
NHPT Ngân hàng Phát triển Việt Nam
ODA Viện trợ phát triển chính thức
ODF Tài chính phát triển chính thức
OEDC Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế
Sacombank Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
TCTD Tổ chức tín dụng
TDĐT Tín dụng đầu tư
TDXK Tín dụng xuất khẩu
Techcombank Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam
VCB Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Vietinbank Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
VND Đồng Việt Nam
WB Ngân hàng Thế giới
Trang 9Số hiệu Nội dung Trang
Bảng 1.1: Cung cấp ODA của một số nước OECD năm 2004
Bảng 1.2: Các nhà tài trợ ODA cho Việt Nam
Bảng 1.3: Vốn ODA cam kết, ký kết và giải ngân cho VN 1996-2012
Bảng 2.1: Tăng trưởng tổng tài sản của 11 ngân hàng lớn nhất Việt Nam
Bảng 2.2: Cơ cấu giải ngân nguồn vốn ODA ở NHPT qua các năm
Bảng 2.3: Số dự án cho vay lại vốn ODA ở NHPT giai đoạn 2007-2012
Bảng 2.4: Số dự án cho vay lại không chịu rủi ro tín dụng
Bảng 2.5: Số các dự án cho vay lại chịu rủi ro tín dụng
Bảng 2.6: Số dự án cho vay lại vốn ODA bị nợ quá hạn ở NHPT
Bảng 2.7: Dư nợ và nợ gốc quá hạn trong cho vay lại ODA tại NHPT
Bảng 2.8: Một số chỉ tiêu phản ánh mức độ rủi ro trong cho vay lại
Bảng 2.9: Nợ quá hạn trong cho vay lại ODA của Việt Nam đến 2012
Bảng 2.10: Tình hình trích lập quỹ DPRR cho vay lại ODA ở NHPT
Trang 10Biểu 2.3: Tình hình vốn ODA cho vay lại tại NHPT 58Biểu 2.4: Cơ cấu vốn ODA cho vay lại theo ngành kinh tế 64Biểu 2.5: Tăng trưởng GDP và vốn đầu tư 74Biểu 2.6: Số trích DPRR tại NHPT 92Hình 2.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro của ngân hàng 73
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian qua (1993 đến nay), số vốn ODA do các nhà tài trợ quốc tế cam
kết hỗ trợ cho Việt Nam ngày càng tăng đã cho thấy sự tin tưởng, đồng tình và ủng hộ
của cộng đồng các Nhà tài trợ quốc tế đối với công cuộc đổi mới và các chính sách pháttriển kinh tế-xã hội của Việt Nam Việc sử dụng nguồn vốn ODA vào các mục tiêu pháttriển kinh tế xã hội đã thể hiện được vai trò ý nghĩa của nguồn vốn này đối với nền kinh
tế Việt Nam Tuy nhiên, quá trình quản lý và giải ngân nguồn vốn ODA mà cụ thể làhoạt động cho vay lại đang phải đối mặt với một số vấn đề lớn, đó là: tiến độ giải ngâncòn chậm, chưa phát huy được hiệu quả tốt nhất mà nguồn vốn ODA có thể mang lại, tỷ
lệ nợ quá hạn ngày một tăng, số dự án bị nợ quá hạn ngày càng nhiều, gây gánh nặng lớncho Ngân sách Nhà nước Tất cả những vấn đề trên có liên quan đến năng lực quản lý
và sử dụng nguồn vốn này Trong thực tế, năng lực quản lý sử dụng vốn ODA nói chung
và hệ thống quản lý rủi ro đối với hoạt động cho vay lại vốn ODA của Ngân hàng Pháttriển Việt Nam còn rất yếu kém Để nguồn vốn này phát huy hiệu quả hơn nữa, cần phảicải thiện, nâng cao năng lực quản lý nói chung và quản lý rủi ro trong quá trình giải ngânnói riêng, cần có những nghiên cứu bài bản và toàn diện về rủi ro và quản lý rủi ro tronghoạt động cho vay lại nguồn vốn quan trọng này ở Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Trong thời gian qua đã có một số đề tài nghiên cứu về quản lý rủi ro, về cơ cấu tổchức & họat động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, nhưng cho đến nay chưa có mộtnghiên cứu nào đề cập một cách toàn diện đến quản lý rủi ro đối với hoạt động cho vaylại vốn ODA ở Ngân hàng Phát triển Việt Nam Xuất phát từ thực tế đó, tác giả đã mạnh
dạn chọn đề tài: “Quản lý rủi ro trong cho vay lại vốn ODA của Ngân hàng Phát triển
Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu Luận án tiến sỹ.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu tổng quan về ODA và quản lý rủi ro trong cho vay lại vốn ODA.Đánh giá và phân tích thực trạng quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay lại vốnODA ở Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Đề xuất và kiến nghị một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao năng lựcquản lý rủi ro trong hoạt động cho vay lại vốn ODA ở Ngân hàng Phát triển Việt Nam
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài
Trang 12Phạm vi nghiên cứu: Quản lý rủi ro trong cho vay lại vốn ODA của Ngân hàngPhát triển Việt Nam giai đoạn từ khi thành lập (năm 2006) trở lại đây.
Đối tượng nghiên cứu: Quản lý rủi ro của Ngân hàng Phát triển Việt Nam gắn vớihoạt động cho vay lại vốn ODA
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1 Lý luận
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nguồn vốn ODA, quá trình hình thành và phát triểncủa ODA, vai trò của nguồn vốn ODA đối với các nước đang phát triển và đối với Việtnam
Khái quát hóa một số vấn đề về rủi ro và quản lý rủi ro đối với hoạt động cho vaylại vốn ODA Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro trong quá trình cho vay lạicủa ngân hàng Phát triển Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích hệ thống để làm
rõ vấn đề nghiên cứu Đồng thời, qua thu thập phân tích số liệu và luận giải các vấn đề,Luận án còn kết hợp phương pháp so sánh để giải quyết vấn đề
Quá trình nghiên cứu, phân tích được kết hợp giữa lý luận và thực tiễn nhằm luậngiải, đánh giá những vấn đề phục vụ mục đích nghiên cứu
Ngoài ra, Luận án còn sử dụng các phương pháp khác
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
án được chia thành 3 chương:
Trang 13Chương 1: Tổng quan về nguồn vốn ODA và quản lý rủi ro trong cho vay lại vốn
ODA
Chương 2: Thực trạng quản lý rủi ro trong cho vay lại vốn ODA của Ngân hàng
Phát triển Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro trong cho vay lại
vốn ODA của Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Trang 14TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Theo số liệu thống kê, số vốn ODA do các Nhà tài trợ quốc tế cam kết hỗ trợ cho
Việt Nam trong thời gian hơn một thập kỷ qua ngày càng tăng đã cho thấy sự tin tưởng,
đồng tình và ủng hộ của cộng đồng các Nhà tài trợ quốc tế đối với công cuộc đổi mới vàcác chính sách phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam Việc sử dụng nguồn vốn ODAvào các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đã thể hiện được vai trò ý nghĩa của nguồn vốnnày đối với nền kinh tế Việt Nam Quá trình giải ngân nguồn vốn ODA qua hệ thốngNHPT chủ yếu dưới dạng cho vay lại theo ủy quyền không chịu rủi ro tín dụng và chovay thông thường ngân hàng chịu rủi ro tín dụng
Tuy nhiên, kể từ khi Việt Nam tiếp nhận nguồn vốn ODA năm 1993 đến nay,hoạt động cho vay lại đang phải đối mặt với một số vấn đề, đó là: tỷ lệ giải ngân cònchậm nên chưa phát huy được hiệu quả tốt nhất lợi thế mà nguồn vốn ODA có thể manglại, tỷ lệ nợ quá hạn ngày một tăng, số dự án bị nợ quá hạn ngày càng nhiều, gây gánhnặng lớn cho Ngân sách Nhà nước Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trên đó
là năng lực quản lý sử dụng vốn ODA nói chung và hệ thống quản lý rủi ro đối với hoạtđộng cho vay lại vốn ODA của NHPT còn rất yếu kém Để nguồn vốn này phát huy hiệuquả hơn nữa, cần phải cải thiện, nâng cao năng lực quản lý nói chung và quản lý rủi rotrong quá trình giải ngân nói riêng Xuất phát từ thực tế đó, cần có những nghiên cứu bàibản và toàn diện về rủi ro và quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay lại vốn ODA ởNHPT
Cho đến nay, đã có nhiều đề tài đề nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quản lýrủi ro nói chung và quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA qua hệ thống NHPT nói riêng.Các đề tài đã được nghiên cứu và công bố trong thời gian qua bao gồm:
- Đề tài “Hạn chế nợ xấu trong hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước tại NHPT”,
Trung tâm Xử lý nợ - NHPT (2011), đề tài khoa học cấp ngành NHPT, Hà Nội
Đề tài trên tập trung nghiên cứu cơ sở lý thuyết về hạn chế nợ xấu trong hoạt
động tín dụng ĐTPT của Nhà nước tại NHPT Phân tích, đánh giá thực trạng hạn chế nợxấu trong hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước tại NHPT Đề xuất giải pháp tăngcường hạn chế nợ xấu trong hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước tại NHPT
Trang 15Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đối tượng nghiên cứu của đề tài
đó là: nợ xấu trong hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước tại NHPT, phạm vi nghiêncứu: toàn bộ mảng hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước tại NHPT, trong khoảng thờigian từ năm 2006 đến 2011 Như vậy, đề tài này chưa đề cập đến vốn ODA và rủi rotrong giải ngân vốn ODA
- Đề tài "Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước", Trần
Công Hòa Trưởng Ban Chính sách phát triển NHPT (2006), Luận án Tiến sỹ kinh tế Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội
-Đề tài này tác giả chủ yếu bàn về hiệu quả và nâng cao hiệu quả hoạt động tíndụng ĐTPT của Nhà nước, trong đó có đề cập đến rủi ro trong tín dụng nói chung, chưaphân tích rủi ro trong cho vay lại ODA
- Đề tài “Nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương
mại cổ phần Sài Gòn", 2010, Luận văn Thạc sỹ kinh tế - Đại học Kinh tế quốc dân,
Hà Nội
Với đề tài nghiên cứu này nhóm nghiên cứu tập trung vào đối tượng chủ yếu đó
là chất lượng quản trị rủi ro tín dụng Như vậy, đối tượng nghiên cứu khá gần với vấn đềcủa Luận án như phạm vi nghiên cứu lại tập trung ở Ngân hàng Cổ phần thương mại Sàigòn và lĩnh vực tín dụng được phân tích trong đề tài là tín dụng nói chung, tín dụngthông thường chứ không đề cập đến vốn vay ODA cũng như việc quản lý và sử dụngnguồn vốn này
- Đề tài “Tài trợ phát triển - Kinh nghiệm quốc tế và vận dụng vào điều kiện thực
tiễn của Việt Nam để hoàn thiện mô hình tổ chức hoạt động của NHPT”, Nguyễn Thị
Thúy Lan - Trưởng Ban Vốn nước ngoài - NHPT (2010), đề tài khoa học cấp ngànhNHPT, Hà Nội
Với đề tài nghiên cứu này, về đối tượng nghiên cứu chính là dòng vốn tài trợquốc tế, phạm vi thực tiễn áp dụng là NHPT nhưng Ban nghiên cứu đề tài chỉ tập trungnghiên cứu kinh nghiệm và thực tiễn tài trợ phát triển của thế giới thông qua các ngânhàng phát triển bằng việc nghiên cứu một số mô hình ngân hàng phát triển được đánh giá
là thành công nhất
- Đề tài "Chiến lược phát triển hoạt động của NHPT giai đoạn 2010-2015, tầm
nhìn đến năm 2020”, NHPT (2011), đề tài nghiên cứu cấp ngành NHPT, Hà Nội.
Trang 16Trong đề tài chủ yếu bàn về chiến lược phát triển của NHPT giai đoạn đến năm
2020, trên cơ sở đánh giá trực trạng phát triển hiện nay, không phân tích chi tiết về cácnội dung như rủi ro hoạt động
Tuy nhiên, mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là từ kinh nghiệm của một số ngânhàng phát triển của một số quốc gia trên thế giới và từ đó rút ra bài học kinh nghiệmtrong vấn đề tổ chức quản lý của NHPT Các kết luận của đề tài sẽ giúp cho các nhàquản lý, các nhà hoạch định chính sách và người đọc có cái nhìn toàn diện và hiểu hơn
về NHPT cũng như xu hướng hoạt động NHPT trong giai đoạn hiện nay Đề tài khôngbao quát và nghiên cứu về quy trình quản lý rủi ro tín dụng của NHPT
- Đề tài “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý rủi ro đối với hoạt động tín dụng
đầu tư trung và dài hạn của NHPT", Ban Tín dụng đầu tư - NHPT (2011), đề tài khoa
học cấp ngành NHPT, Hà Nội
Đề tài này được triển khai với mục đích nghiên cứu cụ thể: Một là, đánh giá toàn
diện thực trạng nợ vay trung và dài hạn của hệ thống NHPT thông qua cơ chế, chínhsách, cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị rủi ro được thể hiện bằng quy trình cụ thể như thẩmđịnh dự án, cấp vốn, giám sát việc sử dụng vốn vay, phân loại nợ, xử lý các khoản nợ
xấu Hai là, đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả công tác quản trị rủi ro
liên quan đến hoạt động tín dụng đầu tư trung và dài hạn của NHPT Mặc dù nhiều nộidung đề xuất đến công tác quản lý rủi ro nhưng đối tượng nghiên cứu đề xuất lại là hoạtđộng tín dụng đầu tư trung và dài hạn của ngân hàng chưa không đề cập đến dòng vốnviện trợ phát triển chính thức ODA
- Một số bài báo mà tác giả đã nghiên cứu và công bố "Những nét cơ bản về lập
và thẩm định dự án đầu tư", Tạp chí Hỗ trợ phát triển - NHPT (2007); "Quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam", Tạp chí Hỗ trợ phát triển - NHPT
(2011); "Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng
thương mại Việt Nam", Tạp chí Hỗ trợ phát triển - NHPT (2012).
Trong thời gian qua tác giả đã công bố một số bài nghiên cứu, trong đó đã chỉ ranhiều các nội dung liên quan đến nâng cao chất lượng công tác cho vay, quản lý rủi rotuy nhiên chỉ dùng ở mức độ tổng quan có thể áp dụng cho các ngân hàng thương mạithông thường, chưa nghiên cứu áp dụng đối với tổ chức tài chính đặc thù như NHPT
Trang 17- Về nghiên cứu ngoài nước: Cho đến nay cũng đã có khá nhiều tổ chức thực
hiên nghiên cứu về rủi ro và rủi ro tín dụng, điển hình như Ủy ban Basel thuộc Ngânhàng thanh toán quốc tế khi nghiên cứu về rủi ro và quản lý rủi ro đã đưa ra quan niệm
về rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối táckhông thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thỏa thuận
Trong các đề tài nghiên cứu kể trên, với các cách thức tiếp cận cũng như cáchnhìn nhận vấn đề và mục tiêu kỳ vọng khác nhau mà mỗi đề tài nghiên cứu đưa ra cáchgiải quyết vấn đề cũng rất khác nhau
Từ những phân tích trên về phạm vi, đối tượng nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứucũng như các đề xuất trong các nghiên cứu nêu trên chưa có một đề tài hay một nghiêncứu nào đề cập đến vấn đề quản lý rủi ro đối với hoạt động cho vay lại vốn ODA ởNHPT một cách đầy đủ và toàn diện Xuất phát từ lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài
"Quản lý rủi ro trong cho vay lại vốn ODA của Ngân hàng Phát triển Việt Nam" làm
đề tài nghiên cứu cho Luận án Tiến sỹ với mong muốn đưa ra các giải pháp hữu ích nhấtgóp phần hạn chế tối đa rủi ro trong cho vay lại vốn ODA nói chung và của NHPT nóiriêng
Nội dung nghiên cứu của Luận án đã mang lại cho Ngân hàng Phát triển ViệtNam có cái nhìn tổng quan và thực tế hơn về Quản lý rủi ro trong cho vay lại vốn ODAcủa mình, qua đó cũng đã đưa ra các nhóm giải pháp hỗ trợ nâng cao hiệu quả quản lýrủi ro trong cho vay lại của Ngân hàng Phát triển Việt Nam Theo nhận định, Luận án đã
có một số đóng góp mới cho khoa học có thể áp dụng vào thực tế, đó là:
- Đã hệ thống hóa một số nhân tố ảnh hưởng, một số chỉ tiêu đánh giá rủi ro trongcho vay lại vốn ODA, đặc biệt là đã đánh giá sát thực các tồn tại trong công tác quản lýrủi ro trong cho vay lại vốn ODA của Ngân hàng Phát triển Việt Nam: chưa xây dựngchiến lược quản trị; chưa phân định được 2 khâu quản lý tín dụng và thẩm định tín dụng;thẩm quyền của Ngân hàng Phát triển Việt Nam còn hạn chế, chủ yếu phụ thuộc vào Thủtướng và Bộ Tài chính
Trang 18- Nhận diện được, luận chứng và kiến nghị những giải pháp mang tính đột phácho công tác quản trị rủi ro trong cho vay lại ODA như: mở rộng đối tượng cho vay lạicho cả khu vực tư nhân; giảm sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động của Ngân hàngPhát triển Việt Nam; cơ chế trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ; thực hiện tái cấu trúc Ngânhàng Phát triển Việt Nam theo hướng đổi mới bộ máy quản trị, điều hành; thành lập Banquản lý rủi ro thuộc Hội sở chính và phòng quản lý rủi ro tại các Chi nhánh; hoàn thiện
mô hình quản trị theo Chi nhánh; thành lập Quỹ Hỗ trợ phát triển công nghệ thuộc trungtâm tin học và thành lập bộ phận hỗ trợ khách hàng
Trang 19Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGUỒN VỐN ODA VÀ QUẢN LÝ RỦI RO
TRONG CHO VAY LẠI VỐN ODA
1.1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ NGUỒN VỐN ODA VÀ CHO VAY LẠI VỐN ODA
1.1.1 Khái niệm và quá trình hình thành nguồn vốn ODA
1.1.1.1 Khái niệm ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance - ODA) là nguồn tài chính được nhà tài trợ nước ngoài hỗ trợ cho các nước đang phát triển để giúp các nước này phát triển kinh tế-xã hội theo con đường chính thức.
Theo đó, hỗ trợ được hiểu là các khoản đầu tư này là các khoản vay với điềukiện ưu đãi về lãi suất (lãi suất thấp hoặc không có lãi suất) với thời gian trả nợ và ân hạnkéo dài, đôi khi còn gọi là viện trợ không hoàn lại; "phát triển" là các khoản cho vaynhằm mục đích phát triển kinh tế-xã hội ở các nước thụ hưởng; "chính thức" là cáckhoản cho vay được thực hiện chỉ với đối tượng là nhà nước, chính phủ các nước đangphát triển
Năm 1969, khái niệm về Hỗ trợ phát triển chính thức được Ủy ban hỗ trợ pháttriển - DAC của Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế (OECD) xây dựng như sau “ODAchính là những giao dịch, trao đổi có tính chính thống với mục đích thúc đẩy phát triểnkinh tế và xã hội của các nước đang phát triển ODA bao gồm các dòng vốn tới các nướcđang phát triển và các tổ chức đa phương được tài trợ bởi các nhà nước, các chính phủ,trong đó mỗi giao dịch, trao đổi phải thỏa mãn điều kiện: a) mục tiêu chính là nhằm thúcđẩy phát triển kinh tế và tăng cường phúc lợi ở các nước đang phát triển, b) có các điềukhoản mang tính chất thỏa thuận và yếu tố viện trợ ít nhất là 25% của tổng số hỗ trợ”
Báo cáo nghiên cứu chính sách Ngân hàng Thế giới (WB) - 6/1999 đưa ra kháiniệm “ODA là một phần của của tài chính phát triển chính thức (ODF), trong đó có mộtphần là cho vay ưu đãi và một phần là viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25% tổng sốviện trợ" Còn tài chính phát triển chính thức Official Development Finance - ODF là tất
cả các nguồn tài chính mà tất cả các nước phát triển và các tổ chức đa phương dành chocác nước đang phát triển
Trang 20Các Văn bản pháp luật Việt Nam ban hành và được sử dụng trong quy chế quản
lý và sử dụng nguồn vốn ODA ban hành kèm theo nghị định số 17/2001/NĐ-CP ngày4/5/2001 của Chính phủ, đưa ra khái niệm: “Hỗ trợ phát triển chính thức ODA là hoạtđộng hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ Việt Nam với Nhà tài trợ, baogồm: Chính phủ nước ngoài, các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia Hình thứccung cấp ODA bao gồm: ODA không hoàn lại; ODA vay ưu đãi có yếu tố không hoànlại đạt ít nhất 25%”
Như vậy, từ các quan điểm trên có thể đưa ra một quan niệm chung nhất như sau:
“ODA là một nguồn tài chính mà các nhà tài trợ cung cấp cho các nước đang phát triển
hoặc các nước kém phát triển, trong đó bao gồm một phần là khoản cho vay ưu đãi (ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ…) và một phần là khoản viện trợ không hoàn lại hay còn gọi là yếu tố cho không và phần này phải chiếm ít nhất 25% tổng số vốn vay”.
Xuất phát từ các cách tiếp cận trên, ODA có đặc điểm đó là mang tính ưu đãi.Tính ưu đãi của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức thể hiện ở việc các nước khicung cấp ODA thường với mức lãi suất thấp, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ kéodài Bên cạnh đó, ODA còn có một phần gọi là viện trợ không hoàn lại với giá trị ítnhất là 25% tổng số gói hỗ trợ Tuy nhiên, một đặc điểm của nguồn vốn này đó là khi
sử dụng thường đi kèm với những ràng buộc mang tính chất kinh tế, chính trị từ phíanhà tài trợ, về cơ bản là nhằm phục vụ cho lợi ích của nhà tài trợ mặc dù mục tiêuchính của việc tài trợ ODA đó là để phát triển kinh tế xã hội ở các nước đang pháttriển
Lãi suất của nguồn vốn ODA được áp dụng rất thấp, thường là dưới 2%, trungbình từ 0,25%/năm với thời hạn cho vay dài từ 20 đến 40 năm, thời gian ân hạn từ 8 đến
10 năm
Trang 21Nguồn vốn ODA được các quốc gia sử dụng để đầu tư cho các chương trình, dự
án cải tạo, nâng cấp, hiện đại hóa kết cầu hạ tầng kinh tế xã hội làm nền tảng cho sự ổnđịnh và tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy đầu tư tư nhân trong và ngoài nước Bên cạnh
đó, nguồn vốn ODA cũng được sử dụng nhằm mục đích cải thiện chất lượng giáo dục, y
tế, môi trường, xóa đói giảm nghèo ở các nước đang phát triển nhằm hướng tới một thếgiới phát triển không có đói nghèo Về phía các nhà tài trợ, khi cung cấp nguồn vốnODA cho các nước đang phát triển thường phải gắn với những ràng buộc cụ thể mà thựcchất đó chính là nhằm đạt được các mục đích mang tính kinh tế chính trị, ví dụ như mởcửa thị trường cho hàng hóa của nhà cung cấp, xóa bỏ hàng rào thuế quan…
Nguồn vốn ODA có thể được cung cấp dưới các hình thức sau:
- Vay nợ và viện trợ:
Vay nợ hay còn gọi là ODA cho vay ưu đãi (tín dụng ưu đãi) là khoản vay mànước tiếp nhận phải trả cho nhà tài trợ khi đến hạn nhưng có yếu tố ưu đãi về lãi suất,thời gian ân hạn và thời gian trả nợ sao cho yếu tố không hoàn lại phải đạt ít nhất 25%tổng giá trị khoản vay Viện trợ chính là khoản ODA không hoàn lại tức là nước tiếpnhận không phải hoàn lại ODA cho nhà tài trợ Ngoài ra, còn có hình thức cung cấpODA hỗn hợp bao gồm cả khoản vay ưu đãi và khoản viện trợ không hoàn lại
- Hỗ trợ song phương và đa phương:
Hỗ trợ song phương được thực hiện khi chủ thể của bên cung cấp và bên tiếpnhận ODA là chính phủ các nước Hỗ trợ đa phương là việc cung cấp ODA cho cácnước đang phát triển được thực hiện thông qua các tổ chức tài chính quốc tế nhưNgân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Châu Á(ADB)
Trang 22Thông thường, nguồn vốn ODA khi được cung cấp có đi kèm với các ràng buộc
từ phía nhà tài trợ, do vậy để đạt được các cam kết về ODA thì phải có sự thỏa thuậngiữa nhà tài trợ và nước tiếp nhận Trong tổng số nguồn vốn ODA được cung cấpthường có một phần không có ràng buộc và một phần có ràng buộc Những ràng buộc cóthể là bên tiếp nhận ODA phải dùng khoản được hỗ trợ để mua hàng hóa và dịch vụđược sản xuất ở nước cung cấp Nên những ràng buộc thường là gắn với lợi ích của nhàtài trợ
1.1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển ODA
Nguồn vốn ODA được hình thành và phát triển trên cơ sở thỏa thuận của cácnước công nghiệp phát triển, điển hình là các nước thành viên của Tổ chức hợp táckinh tế và phát triển OECD, đối với các nước đang phát triển và các nước nghèo dướihình thức cho vay ưu đãi và viện trợ không hoàn lại OECD là khối các nước cung cấpODA lớn nhất trên thế giới, đã có cả những cam kết khung cho sự hợp tác toàn cầu vớinhững kế hoạch và lịch trình cụ thể về hành động của các nước thành viên trong việc
hỗ trợ các nước đang phát triển và kém phát triển, hướng tới một một thế giới pháttriển toàn diện, bền vững môi trường và xóa đói giảm nghèo OECD đã thành lập ra Ủyban Hỗ trợ phát triển, gọi tắt là DAC (Development Assistant Committee) để thực hiệnnhững cam kết về cung cấp ODA từ các nước thành viên của OECD cho các nướckhác
Hội nghị quốc tế về Tài trợ cho phát triển được tổ chức ở Monterrey (Mehico)năm 2002 do OECD tổ chức đã thông qua Thỏa thuận Monterrey Đây là khung thỏathuận cho các hành động quốc tế với nhiều cam kết quan trọng trong việc hỗ trợ pháttriển cho các nước đang phát triển Đặc biệt, thỏa thuận này công nhận việc gia tăng tàitrợ ODA là cần thiết, các nhà tài trợ cam kết cung cấp nguồn lực với mục tiêu dài hạn làđạt 0,7% GNP, đặc biệt là trong trường hợp các nước đang phát triển đạt được các mụctiêu phát triển theo các tiêu chuẩn quốc tế, bao gồm các các mục tiêu đã được thiết lậptrong Tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên hiệp quốc (với 8 mục tiêu cụ thể là: Xóa đóigiảm nghèo, phổ cập giáo dục tiểu học, tăng cường bình đẳng giới, giảm tỷ lệ tử vong ởtrẻ sơ sinh, cải thiện sức khỏe cho bà mẹ, đấu tranh với HIV/AIDS, bệnh sốt rét và cácbệnh truyền nhiễm khác, đảm bảo bền vững môi trường, phát triển hợp tác toàn cầu)
Trang 23Đến năm 2004, tổng số vốn ODA mà OECD cam kết cung cấp là 78,6 tỷ đô la,trong đó Hoa Kỳ là 19 tỷ (chiếm 0,16% GNP), Nhật Bản là 8,9 tỷ (chiếm 0,19 % GNP),Thụy Điển là 2,7 tỷ đô la (chiếm tới 0,77% GNP).
Bảng 1.1: Cung cấp ODA của một số nước OECD năm 2004
Trang 24Nguồn: OECD
Đối với Việt Nam, kể từ tháng 10 năm 1993 sau khi Việt Nam bình thườnghoá quan hệ với Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (USA) và các tổ chức tài chính tiền tệ
Quốc tế như: Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát
triển Châu Á (ADB) bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới mở rộng, đa phương hóa,
đa dạng hóa, đã nhận được sự ủng hộ hợp tác của cộng đồng quốc tế, đặc biệt làthông qua việc tài trợ ODA cho Việt nam Khái niệm ODA chính thức được hìnhthành và phát triển từ thời điểm đó Dưới hình thức đa phương và song phương,nguồn vốn ODA tạo nguồn lực quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế-xã hội củaViệt Nam
Tháng 11/1993, Hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam lần đầu tiên được tổchức tại Pari và từ đó đến nay hội nghị này được tổ chức thường niên vào tháng 12với tên gọi chính thức là Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ (gọi tắt là Hội nghịCG) Hội nghị này là nơi để các nhà tài trợ quốc tế và chính phủ Việt Nam trao đổi ýkiến về chính sách phát triển kinh tế xã hội, trong đó có quan hệ hợp tác phát triển,thực hiện ODA và các cam kết về ODA hàng năm nhằm phục vụ cho sự nghiệp pháttriển kinh tế xã hội và xóa đói giảm nghèo cho Việt Nam Bên cạnh đó, giữa kỳ cácnhà tài trợ còn tổ chức Hội nghị CG - hội nghị giữa kỳ không chính thức - tại các địaphương nhằm tạo sự tiếp cận giữa nhà tài trợ và người dân để nắm bắt những nhu cầu
cụ thể trong phát triển kinh tế xã hội của địa phương Chính phủ Việt Nam cũng đã
ký kết với các nhà tài trợ Điều ước quốc tế về ODA dưới các hình thức như hiệpđịnh, nghị định thư, chương trình, dự án… cho việc sử dụng nguồn vốn ODA đã camkết
Tính đến thời điểm 2010, cộng đồng tài trợ cho Việt Nam đã có 51 nhà tài trợ,trong đó có 28 nhà tài trợ song phương và 23 nhà tài trợ đa phương Các nhà tài trợnày hiện đang họat động thường xuyên tại Việt Nam Các nước thuộc Ủy ban hỗ trợphát triển DAC (OECD) là những nhà tài trợ truyền thống cho Việt Nam bên cạnhnhững nhà tài trợ mới nổi như Ấn Độ, Hungari, Séc, Trung Quốc…Trong đó, Ireland,Anh, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia là những nhà tài trợ ODA lớn cho ViệtNam (xem bảng 1.2)
Trang 25Bảng 1.2: Các nhà tài trợ ODA cho Việt Nam
Nha, Thái Lan,
Thuỵ Điển, Thuỵ
Sĩ, Trung Quốc,
Xin-ga-po
Ủy ban châu Âu (EC), Cao uỷ Liên hợp quốc
về người tỵ nạn (UNHCR), Quỹ Dân số củaLiên hợp quốc (UNFPA), Chương trình Pháttriển công nghiệp của Liên hợp quốc(UNIDO), Chương trình Phát triển của Liênhợp quốc (UNDP), Chương trình phối hợp củaLiên hợp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS), Cơquan Phòng chống ma tuý và tội phạm củaLiên hợp quốc (UNODC), Quỹ Đầu tư Pháttriển của Liên hợp quốc (UNCDF), Quỹ môitrường toàn cầu (GEF), Quỹ Nhi đồng Liênhợp quốc (UNICEF), Quỹ Quốc tế và Pháttriển nông nghiệp (IFAD), Tổ chức Giáo dục,Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc(UNESCO), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO),
Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực (FAO),
Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
Nhóm Ngân hàng Thếgiới (WB), Quỹ Tiền tệquốc tế (IMF), Ngân hàngPhát triển châu Á (ADB),Ngân hàng Đầu tư Bắc
Âu (NIB), Quỹ Phát triểnBắc Âu (NDF), Quỹ Pháttriển quốc tế của các nướcxuất khẩu dầu mỏ OPEC(OFID - trước đây là QuỹOPEC), Quỹ Kuwait;
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Có thể nói rằng, ODA từ lâu đã được Nhà nước Việt Nam rất quan tâm trongquản lý và sử dụng, coi đây là nguồn lực bên ngoài bổ sung đáng kể cho sự nghiệp pháttriển kinh tế-xã hội của Việt Nam Cùng với những nguồn lực trong nước, các nguồn lựcđầu tư nước ngoài như (FDI) và ODA đã có tác dụng hỗ trợ đáng kể cho Việt Nam thựchiện các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội
Bên cạnh đó, Việt nam đã và đang hội nhập ngày càng sâu và rộng với nền kinh
tế thế giới, điển hình là việc trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thếgiới (WTO), được bầu là Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên HợpQuốc, Việt Nam là thành viên tích cực của ASEAN, APEC, và nhiều Diễn đàn, tổ chứcquốc tế khác đã làm tăng triển vọng đón nhận các nguồn ODA từ các quốc gia khác
Trang 261.1.1.3 Vai trò của nguồn vốn ODA trong cơ cấu vay nợ nước ngoài của các quốc gia đang và chậm phát triển
Nguồn vốn ODA được đánh giá là nguồn ngoại lực rất quan trọng giúp các nướcnghèo và nhóm các nước đang và chậm phát triển thực hiện các chiến lược phát triểnkinh tế-xã hội của mình Vai trò của ODA đối với các nước này thể hiện trên các góc độ
- ODA giúp các nước đang phát triển đào tạo được nguồn nhân lực và bảo vệ môi trường.
Một lượng ODA lớn được các nhà tài trợ và các nước tiếp nhận ưu tiên dành chođầu tư phát triển giáo dục, đào tạo, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của lĩnh vựcnày, tăng cường một bước cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc dạy và học của các nướcđang phát triển Bên cạnh đó, một lượng ODA khá lớn cũng được dành cho các chươngtrình hỗ trợ lĩnh vực y tế, đảm bảo sức khoẻ cộng đồng Nhờ có sự tài trợ của cộng đồngquốc tế, các nước đang phát triển đã gia tăng đáng kể chỉ số phát triển con người củaquốc gia mình
- ODA giúp các nước đang phát triển xoá đói, giảm nghèo.
Xoá đói nghèo là một trong những tôn chỉ đầu tiên được các nhà tài trợ quốc tếđưa ra khi hình thành phương thức hỗ trợ phát triển chính thức Mục tiêu này biểu hiệntính nhân đạo của ODA Trong bối cảnh sử dụng có hiệu quả, tăng ODA một lượngbằng 1% GDP sẽ làm giảm 1% nghèo khổ, và giảm 0,9% tỷ lệ tỷ vong ở trẻ sơ sinh Và
Trang 27nếu như các nước giầu tăng 10 tỷ USD viện trợ hằng năm sẽ cứu được 25 triệu ngườithoát khỏi cảnh đói nghèo
- ODA là nguồn bổ sung ngoại tệ và làm lành mạnh cán cân thanh toán quốc tế của các nước đang và chậm phát triển.
Đa phần các nước đang phát triển rơi vào tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai,gây bất lợi cho cán cân thanh toán quốc tế của các quốc gia này ODA, đặc biệt cáckhoản trợ giúp của IMF có chức năng làm lành mạnh hoá cán cân vãng lai cho các nướctiếp nhận, từ đó ổn định đồng bản tệ
Trang 28- ODA được sử dụng có hiệu quả sẽ trở thành nguồn lực bổ sung cho đầu tư
tư nhân.
Ở những quốc gia có cơ chế quản lý kinh tế tốt, ODA đóng vai trò như nam châm
“hút” đầu tư tư nhân theo tỷ lệ xấp xỉ 2 USD trên 1 USD viện trợ Đối với những nướcđang trong tiến trình cải cách thể chế, ODA còn góp phần củng cố niềm tin của khu vực
tư nhân vào công cuộc đổi mới của Chính phủ Tuy nhiên, không phải lúc nào ODAcũng phát huy tác dụng đối với đầu tư tư nhân Ở những nền kinh tế có môi trường bịbóp méo nghiêm trọng thì nguồn viện trợ không những không bổ sung mà còn “loại trừ”đầu tư tư nhân Điều này giải thích tại sao các nước đang phát triển mắc nợ nhiều, mặc
dù nhận được một lượng ODA lớn của cộng đồng quốc tế song lại không hoặc tiếp nhậnđược rất ít vốn FDI
- ODA giúp các nước đang phát triển tăng cường năng lực và thể chế.
Thông qua các chương trình, dự án hỗ trợ công cuộc cải cách pháp luật, cải cáchhành chính và xây dựng chính sách quản lý kinh tế phù hợp với thông lệ quốc tế Nhiều
dự án hỗ trợ, cải cách luật pháp, hệ thống hành chính ở những quốc gia đang và chậmphát triển đã nhận được sự tài trợ của dòng vốn ODA, trong quá trình triển khai đã kháthành công
1.1.2 Vai trò của ODA trong cơ cấu vay nợ nước ngoài của Việt Nam
Với sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế, ngay từ khi được tiếp cận vớinguồn vốn ODA Việt Nam nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn ODA mà cácnhà tài trợ cam kết tài trợ cho Việt Nam Trên thực tế, những cam kết mới chỉ là sự ủng
hộ mang tính chính trị, vấn đề quan trọng là ở các hành động và kế hoạch triển khai và
sử dụng nguồn vốn này như thế nào để có thể giải ngân, đưa dự án đầu tư bằng nguồnODA đi vào thực tiễn tạo ra giá trị, sản phẩm kinh tế xã hội, nhằm đóng góp cho sự pháttriển, thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Trang 29Trong thời gian qua, ODA đã có những đóng góp tích cực vào sự nghiệp pháttriển kinh tế xã hội của Việt Nam Cụ thể là qua 15 Hội nghị CG thường niên, tổng sốvốn ODA mà các nhà tài trợ cam kết cung cấp cho Việt Nam là hơn 42 tỷ USD, với mứccam kết năm sau cao hơn năm trước Đặc biệt, tại Hội nghị CG năm 2008, các nhà tài trợquốc tế đã ký cam kết cung cấp cho Việt Nam khoản ODA có giá trị khoảng 5 tỷ USD -mức cam kết khá ấn tượng trong bối cảnh cuộc khủng hoảng toàn cầu, theo đó nâng tổng
số vốn ODA cam kết dành cho Việt Nam tính đến hết năm 2012 là trên 70 tỷ USD nhằm tiếp tục hỗ trợ Việt nam trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, đối phó vớinhững tác động xấu từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, đảm bảo sự tăng trưởng bềnvững và toàn diện (xem bảng 1.3)
-Bảng 1.3: Vốn ODA cam kết, ký kết và giải ngân cho VN 1996-2012
Đơn vị: Triệu USD
Năm/giai đoạn
Tổng số % tăng so với năm
2,6315,3121,209,97
-2.4181.8051.7572.5682.515
-25,4-2,6646,16-2,06
-1.5001.5281,4221.6501.787
1,87-6,9416,038,30
17,7922,55-1,14
2.8243.7594.340
12,2933,1111,46
1.7852.1762.253
-0,1132,903,54
Trang 30Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bảng 1.3 thể hiện tổng vốn ODA cam kết, ký kết và giải ngân từ cộng đồng quốc
tế trong giai đoạn 1996-2012 cho Việt Nam Nhìn chung, nguồn vốn này đã tăng đáng kểhàng năm cho thấy được các nhà tài trợ ủng hộ mạnh mẽ công cuộc đổi mới đất nướccủa Việt Nam Qua 15 Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ thường niên (CG), tổng sốvốn ODA mà các nhà tài trợ cam kết cung cấp cho Việt Nam là 70.122 triệu USD vớimức năm sau cao hơn năm trước ngay cả khi nền kinh tế thế giới gặp phải khó khăn nhưcuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 Kể cả khủng hoảng kinh tế toàn cầu trongnhững năm gần đây dòng vốn này vẫn tăng đáng kể
Từ bảng số liệu trên cho thấy được số giải ngân vốn ODA trong thời kỳ
1996-2012 đạt 35.139 triệu USD, chiếm 50,11 % tổng vốn cam kết và 74,25% tổng vốn ODA
ký kết trong thời kỳ này Như vậy, số giải ngân vốn ODA còn chậm và chưa đủ để triểnkhai các chương trình dự án khi mới chỉ chiếm đến một nửa số vốn cam kết (50,11%) vàtrên ½ số vốn ký kết (74,25%) Như vậy, việc cam kết cung cấp vốn ODA của các nhàtài trợ cho Việt Nam mới chỉ là sự ủng hộ mang tính chính trị, vấn đề quan trọng đó làviệc giải ngân nguồn vốn này để tạo ra được các sản phẩm, kết quả cụ thể về mặt kinh tế
xã hội nhằm đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước Điều này phụ thuộc vào nỗlực từ cả hai phía là chính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ quốc tế
Đối với Việt Nam, không thể phủ nhận được vai trò quan trọng của nguồn vốn hỗtrợ phát triển chính thức ODA trong vòng gần hai thập kỷ qua Đó là sự hình thành củanhiều công trình cơ sở hạ tầng, đạt được các mục tiêu về xóa đói giảm nghèo, nhữngthành tựu trong giáo dục, y tế, khoa học công nghệ, cải cách hành chính, bảo vệ môitrường, hỗ trợ sản xuất… góp phần thúc đẩy kinh tế và cải thiện đời sống người dân củaViệt Nam thời gian qua Trong giai đoạn 1993-2012, trải qua 19 năm phát triển, nguồnvốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA cùng với các nguồn vốn đầu tư trong và ngoàinước khác đã góp phần tích cực trong tăng trưởng kinh tế của nước ta với tốc độ tăngtrưởng 3,5% năm 1993 lên 6,23% năm 2008, gấp gần 2 lần, đặc biệt so với năm 2005 cótốc độ tăng trưởng GDP là 8,4% thì tỷ lệ này tăng lên gấp 2,4 lần so với năm 1993, tỷ lệđói nghèo giảm một nửa, xuất khẩu tăng lên 6 đến 7 lần…
Trang 31Nguồn vốn ODA được tiếp nhận, sử dụng tại Việt Nam từ năm 1993 cho đến nay cho thấy hiệu quả khá cao và Việt Nam trở thành một trong những nước khá thành công trong việc thu hút được nhiều nguồn vốn ODA so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới Điều đó cho thấy các nhà tài trợ đã tin tưởng vào khả năng phát triển kinh
tế của Việt Nam cũng như việc sử dụng khá hiệu quả nguồn vốn này
1.1.3 Cho vay lại nguồn vốn ODA
Nguồn vốn ODA được sử dụng để tài trợ cho những lĩnh vực quan trọng trongnền kinh tế mà chính phủ có chủ trương khuyến khích hoặc bắt buộc phải thực hiện đểtạo đà cho sự tăng trưởng kinh tế Đó là những lĩnh vực đầu tư khó khăn cần lượng vốnlớn, thời gian thu hồi dài và lợi nhuận không cao
Vì vậy cho vay lại nguồn vốn ODA là một trong những nội dung quan trọng củaquá trình quản lý và sử dụng nguồn vốn này Nghiệp vụ cho vay lại nguồn vốn ODA làmột mảng quan trọng trong hoạt động tín dụng của các tổ chức tài chính được ủy quyềnquản lý và sử dụng nguồn vốn ODA Hiện nay, được ủy quyền cho vay lại nguồn vốn
ODA ở Việt Nam có một số tổ chức tài chính như: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV), Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB), Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
(VCB) Trong đó, NHPT là tổ chức cho vay lại lớn nhất hàng năm số vốn ODA cho vaylại qua ngân hàng này chiếm trên 60% tổng lượng ODA cho vay lại Các quy định, chính
sách và cơ chế cho vay lại cơ bản được ban hành tại NHPT Trong nghiên cứu này nói
đến cho vay lại ODA nghĩa là nói đến một hoạt động quan trọng của NHPT, cho vay lại gắn với NHPT
Cho vay lại nguồn vốn ODA của các tổ chức tài chính ở Việt Nam có thể đượchiểu một cách chính thức như sau:
Cho vay lại vốn ODA là việc một ngân hàng hoặc một tổ chức tín dụng thay mặt
Bộ Tài chính / nhà tài trợ cho vay lại một phần hoặc toàn bộ phần vốn ODA để thực hiện các chương trình, dự án có khả năng thu hồi vốn hoặc theo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ.
- Về đối tượng cho vay lại nguồn vốn ODA là các chương trình, dự án phải đáp ứng được các điều kiện sau:
Thứ nhất, phù hợp với quy hoạch ĐTPT của Nhà nước đã được cấp có thẩm
quyền phê duyệt theo quy định hiện hành
Trang 32Thứ hai, phù hợp với điều kiện của nguồn vốn ODA và nội dung hợp đồng ủy
quyền NHPT đã ký với Bộ Tài chính/nhà tài trợ
Hiện nay, trong hoạt động cho vay lại có nhiều chương trình và dự án khác nhau
nhưng về tính chất của chủ dự án có thể chia ra thành hai nhóm: Một là: Chủ dự án là
những doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực ngành nghề được vay vốn ưu đãi theo
quy định Hai là, nhóm các cơ quan Nhà nước thuộc các địa phương đứng ra vay vốn
ODA để thực hiện các chương trình phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương, nhóm nàythường bao gồm Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
- Về nguyên tắc cho vay lại:
+ Nguyên tắc thứ nhất, NHPT và các tổ chức tài chính cho vay lại đối với các dự
án có hiệu quả kinh tế-xã hội, có khả năng hoàn trả vốn vay hoặc theo chỉ định của Thủtướng Chính phủ
+ Nguyên tắc thứ hai, Chủ đầu tư phải đảm bảo:1 Sử dụng vốn vay đúng mụcđích quy định trong hợp đồng tín dụng, 2 Hoàn trả nợ gốc, lãi vay và các khoản phải trảkhác đúng thời hạn đã ký kết trong hợp đồng tín dụng
- Về điều kiện cho vay lại ODA tại NHPT được thể hiện rõ ở một số nội dung sau:
Thứ nhất, mức vốn cho vay lại ghi trong hợp đồng tín dụng được xác định trên cơ
sở trị giá Hiệp định tài trợ ký với nhà tài trợ cho mỗi dự án Trường hợp Hiệp định tài trợ
ký cho nhiều dự án nhưng không quy định mức phân bổ cho từng chương trình, dự án thìtrị giá cho vay lại được xác định căn cứ vào quyết định phân bổ vốn vay, viện trợ củaChính phủ
Thứ hai, đồng tiền cho vay lại và trả nợ Về đồng tiền cho vay lại, Chủ đầu tư
được quyền chọn đồng tiền cho vay lại là ngoại tệ gốc vay của nước ngoài hoặc VNDtùy theo khả năng trả nợ Tỷ giá quy đổi từ đồng ngoại tệ sang VND là tỷ giá hạch toán
do Bộ Tài chính quy định tại thời điểm quy đổi Trường hợp dự án do NHPT thẩm định,quyết định cho vay và chịu rủi ro tín dụng, Tổng giám đốc NHPT quyết định đồng tiềncho vay lại Về đồng tiền trả nợ, theo nguyên tắc Chủ đầu tư nhận vay lại theo đồng tiềnnào thì trả nợ bằng đồng tiền đó Trong trường hợp Chủ đầu tư trả nợ bằng VND hoặcngoại tệ tự do chuyển đổi khác với đồng tiền nhận vay lại thì áp dụng tỷ giá hối đoái do
Bộ Tài chính quy định hoặc theo thỏa thuận với NHPT được quy định trong hợp đồngtín dụng
Trang 33- Về thời hạn cho vay lại, thời gian ân hạn:
Thời gian cho vay lại được xác định phù hợp với thời gian hoàn vốn của dự án,khả năng trả nợ của chủ đầu tư và các quy định tại hợp đồng ủy quyền ký giữa NHPT và
Bộ Tài chính/nhà tài trợ Thời gian ân hạn được xác định căn cứ vào thời gian xây dựng
dự án kể từ khi khởi công đến khi dự án được hoàn thành và đưa vào hoạt động Thờigian ân hạn nằm trong thời hạn cho vay nêu trên
- Về lãi suất cho vay lại Được chia thành các hình thức sau:
+ Đối với hình thức cho vay bằng VND, lãi suất được xác định cụ thể theo từngngành kinh tế và không vượt quá lãi suất tín dụng đầu tư của nhà nước quy định trongtừng thời kỳ Mức lãi suất này do Bộ Tài chính công bố theo từng thời kỳ phù hợp vớitình hình biến động của thị trường tài chính và tiền tệ (trừ trường hợp Nhà nước có quyđịnh khác)
+ Đối với hình thức cho vay bằng ngoại tệ, lãi suất được xác định bằng lãi suấtcho vay lại bằng VND quy định trên trừ đi mức rủi ro hối đoái tương ứng của đồng tiềncho vay lại, nhưng không thấp hơn mức lãi suất vay nước ngoài và không cao hơn haiphần ba (2/3) lãi suất thương mại tham chiếu (CIRR) do tổ chức hợp tác phát triển kinh
tế (OECD) công bố tại thời điểm xác định lãi suất cho vay lại Mức rủi ro hối đoái hàngnăm đối với ba loại ngoại tệ là USD, EUR, JPY do Bộ Tài chính công bố hàng năm
+ Trường hợp ngoại tệ gốc trong Hiệp định tài trợ khác với ba loại ngoại tệ nêutrên, mức rủi ro hối đoái được áp dụng theo mức rủi ro hối đoái của đồng USD
+ Trường hợp dự án do NHPT quyết định cho vay, mức lãi suất cho vay lại doTổng Giám đốc NHPT quyết định phù hợp với quy định hiện hành và các quy định tạiHợp đồng ủy quyền NHPT ký với Bộ Tài chính/nhà tài trợ
+ Lãi suất cho vay lại được xác định khi ký hợp đồng tín dụng và không thay đổitrong suốt thời gian vay lại
+ Lãi suất cho vay lại được tính trên dư nợ kể từ ngày rút vốn vay
- Lãi suất chậm trả Được xác định bằng 150% lãi suất cho vay lại hoặc là mức lãisuất chậm trả ghi trong hợp đồng ủy quyền, NHPT ký với Bộ Tài Chính/Nhà tài trợ tùytheo mức nào cao hơn và được tính trên số nợ (gốc và lãi) chậm trả tính từ ngày đến hạntrả nhưng chưa trả cho đến ngày thực tế trả nợ Lãi suất trả chậm được áp dụng đối với
nợ chậm trả từ 15 ngày trở lên
Trang 34Như vậy, cho vay lại nguồn vốn ODA thực chất là hoạt động nghiệp vụ tín dụngcủa ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng được ủy quyền của Chính phủ hoặc các nhà tài trợ.Cho vay lại vốn ODA có những khác biệt nhất định so với hoạt động tín dụng của cácngân hàng thương mại thông thường, sự khác biệt này có thể nhận thấy ở các điều kiện
cụ thể được quy định trong hợp đồng như: nguồn vốn cho vay, lãi suất vay, thời gian vay
và lĩnh vực cho vay Thứ nhất, nguồn vốn cho vay không phải là nguồn thuộc sở hữu của
tổ chức cho vay, không phải vốn huy động trên thị trường, đó là nguồn vốn mà tổ chức
cho vay được chính phủ hoặc nhà tài trợ ủy quyền Thứ hai, lãi suất vốn vay rất thấp so với mức tín dụng thông thường trên thị trường thường là từ 0,25% đến 2%/ năm Thứ
ba, thời hạn vay dài, thông thường vay từ nguồn ODA có thời hạn vay từ 20 đến 40 năm Thứ tư, về lĩnh vực cho vay chủ yếu là những lĩnh vực được ưu tiên phát triển như y tế,
giáo dục, nông lâm nghiệp, hạ tầng cơ sở Tuy nhiên, hoạt động cho vay lại vốn ODAcũng phải tuân thủ theo quy chế, quy định và cũng chịu những rủi ro nhất định Do đó,trong hoạt động cho vay lại vốn ODA của các tổ chức tài chính được uỷ quyền cho vaylại phải tính đến rủi ro xảy ra trên cơ sở đó phải xác định được những biện pháp quản lýrủi ro hiệu quả
1.1.4 Cơ chế cho vay lại vốn ODA
Xuất phát từ những hình thức cho vay lại vốn ODA khác nhau, việc xây dựng vàxác định cơ chế cho vay lại ODA đối với mỗi hình thức cũng cần thực hiện một cáchtương xứng Trong tổng thể cơ chế cho vay lại bao gồm việc xây dựng cơ chế cho vaylại vốn ODA và quy trình ký hết hợp đồng ủy quyền cho vay lại
Xây dựng cơ chế cho vay lại:
Đối với các dự án thuộc đối tượng thẩm định lại: Báo cáo kết quả thẩm định lại
dự án của NHPT gửi Bộ Tài chính là ý kiến chính thức về điều kiện cho vay lại cụ thểđối với dự án Trên cơ sở kết quả thẩm định lại, Bộ Tài chính quyết định điều kiện chovay lại cụ thể cho từng dự án hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ không bố trí vốn cho
dự án
Đối với các dự án không thuộc đối tượng thẩm định lại, Ban Vốn Nước ngoài NHPT chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan của NHPT tham gia ý kiến về cơ chếtài chính của dự án trình Lãnh đạo NHPT ký duyệt gửi cơ quan có thẩm quyền
-Ký hợp đồng ủy quyền cho vay lại ODA:
Thứ nhất, về nguyên tắc ký hợp đồng ủy quyền cho vay lại
Trang 35Hợp đồng ủy quyền là cơ sở pháp lý để NHPT tiến hành các bước thực hiện thủtục cho vay lại NHPT tham gia nội dung Hợp đồng ủy quyền do Bộ Tài chính dự thảotrước khi ký chính thức Việc tham gia này phải đảm bảo một số yêu cầu:
+ Phù hợp các quy định hiện hành của pháp luật
+ Phù hợp các quy định trong Hiệp định tài trợ
+ Xác định rõ vai trò, trách nhiệm của các biên liên quan đến dự án, phù hợpthẩm quyền, chức năng của từng cơ quan theo quy định của pháp luật
+ Phù hợp với thẩm quyền, chức năng của NHPT
+ Phù hợp với các quy chế nghiệp vụ của NHPT, thuận tiện cho việc triển khaithực hiện
Thứ hai, quy trình ký Hợp đồng ủy quyền cho vay lại
Quy trình ký hợp đồng ủy quyền cho vay lại căn cứ vào các văn bản sau:
+ Quyết định phê duyệt dự án của cấp có thẩm quyền
+ Hiệp định tài trợ và hiệp định vay phụ (nếu có)
+ Văn bản phê duyệt cơ chế tài chính của dự án
+ Thông tư hoặc văn bản hướng dẫn của dự án (nếu có)
Tại NHPT, Ban Vốn Nước ngoài rà soát nội dung dự thảo Hợp đồng ủy quyền:+ Trường hợp dự thảo Hợp đồng ủy quyền chưa phù hợp với các văn bản nêutrên, Ban Vốn nước ngoài dự thảo công văn tham gia ý kiến trình Lãnh đạo NHPT kýduyệt gửi Bộ tài chính
+ Trường hợp dự thảo hợp đồng ủy quyền phù hợp với các văn bản nêu trên, BanVốn nước ngoài trình Lãnh đạo NHPT ký và gửi Cục quản lý nợ và tài chính đối ngoại
Bộ Tài chính ký đối ứng
1.2 RỦI RO VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG CHO VAY LẠI VỐN ODA
1.2.1 Khái quát về rủi ro
1.2.1.1 Khái niệm rủi ro
Rủi ro có thể xuất hiện mọi lúc mọi nơi trong cuộc sống và hoạt động của conngười Xã hội càng phát triển, hoạt động của con người càng đa dạng, phong phú thì rủi
ro đối với con người càng nhiều và phức tạp
Trang 36Trong kinh doanh, các doanh nghiệp luôn phải đối phó với hàng loạt các sựkiện bất lợi, những nguy hiểm, bất trắc nằm ngoài sự mong đợi như: bão, lụt, đìnhcông, khủng hoảng kinh tế… Những sự kiện này ít nhiều ảnh hưởng đến lợi nhuận dựkiến của doanh nghiệp và được coi là rủi ro Trên thực tế, mọi quyết định kinh doanhcủa doanh nghiệp đều được đưa ra trong những điều kiện có rủi ro nhất định Đặcbiệt trong bối cảnh môi trường kinh doanh ngày càng mở rộng và liên tục biến đổiphức tạp thì rủi ro xảy ra thường xuyên và khó kiểm soát hơn Vấn đề đặt ra là nênnhận thức rủi ro cho các doanh nghiệp như thế nào để từ đó có những giải pháp hiệuquả.
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về rủi ro và những quan điểm nàykhông hoàn toàn thống nhất với nhau Có thể chia làm hai luồng quan điểm: quan điểmtruyền thống và quan điểm hiện đại
- Theo quan điểm truyền thống
“Rủi ro là sự không chắc chắn về tổn thất”
“Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất”
Trong từ điển Tiếng Việt do Trung tâm từ điển học Hà Nội xuất bản năm 1995thì: “Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến”
Như vậy, theo các quan điểm trên cho thấy, các khái niệm đều thống nhất khi đềcập tới hai thuộc tính cơ bản của rủi ro:
Một là, sự không chắc chắn (uncertainty): rủi ro là biến cố có khả năng xảy ra
trong tuơng lai và không ai có thể khẳng định một cách chắc chắn Nếu biến cố là chắcchắn và có tổn thất thì đương nhiên đó không phải là biến cố rủi ro Ví dụ, tài sản cốđịnh được tính khấu hao hàng năm và giá trị của nó sẽ giảm dần theo vòng đời hoạt độngcủa nó Như vậy biến cố hao mòn và sự giảm dần về giá trị của tài sản cố định là chắcchắn, vì thế nó không phải là biến cố rủi ro Như vậy, ở đây sự không chắc chắn của biến
cố rủi ro dùng để chỉ khả năng một biến cố xảy ra có xác suất nằm giữa 0 và 1, do vậy nóhoàn toàn mang tính khách quan
Hai là, kết quả là tổn thất, mất mát (loss): khi rủi ro xảy ra thì luôn đi kèm theo
đó là tổn thất và thiệt hại về của cải hoặc con người Tổn thất theo cách hiểu thôngthường là sự thiệt hại, mất mát, chịu ảnh hưởng bất lợi về vật chất, tinh thần, cơ hội hoặcmối quan hệ do rủi ro đưa đến