vay đầu tư, những rủi ro và quản trị rủi ro tín dụng phát triển của Ngân hàngPhát triển.Trên cơ sở thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vayđầu tư tại Ngân hàng Phát tr
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã
có những bước phát triển vượt bậc, lớn mạnh về mọi mặt, đã có những đónggóp xứng đáng vào công cuộc Công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền kinh tế nóichung và quá trình đổi mới, phát triển của các thành phần kinh tế nói riêng;trở thành ngành tiên phong trong quá trình đổi mới cơ chế kinh tế Đặc biệttrong những năm qua, hoạt động ngân hàng nhà nước ta đã góp phần tích cựchuy động vốn, mở rộng vốn đầu tư cho lĩnh vực sản xuất phát triển, tạo điềukiện thu hút vốn nước ngoài để tăng trưởng kinh tế trong nước Ngành ngânhàng đã xứng đáng là công cụ đắc lực hỗ trợ cho nhà nước trong việc kiềm
kế, đẩy lùi lạm phát, ổn định giá cả
Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu của Hệ thống ngân hàng ở nước
ta hiện nay, chiếm tỷ trọng lớn nhất (trên 60%) trong danh mục tài sản nhưngcũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất Ngân hàng Phát triển Việt Nam là ngân hàngchính sách của Chính phủ, mang những nét đặc thù, không hoàn toàn giốngnhư hoạt động của Ngân hàng thương mại nhưng cũng không phải là mộtngoại lệ
Thực tế sau 3 năm hoạt động cho thấy rủi ro trong hoạt động tín dụngđầu tư luôn hiện hữu, thể hiện qua tỷ lệ nợ quá hạn trong cho vay tín dụng đầu
tư của Ngân hàng Phát triển Việt Nam thời gian qua là khá cao và đang có xuhướng tăng lên Tính đến ngày 31/12/2008, dư nợ cho vay đầu tư của Ngânhàng Phát triển Việt Nam là 61.000 tỷ đồng, trong đó nợ gốc quá hạn trên
Trang 2vay đầu tư, những rủi ro và quản trị rủi ro tín dụng phát triển của Ngân hàngPhát triển.
Trên cơ sở thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vayđầu tư tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam, đề xuất các giải pháp tăng cườngquản trị rủi ro tín dụng troing hoạt động cho vay đầu tư nhằm nâng cao chấtlượng tín dụng, góp phần làm lành mạnh tình hình tài chính của Ngân hàngPhát triển Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản trị rủi ro trong hoạtđộng cho vay đầu tư tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: tập trung nghiên cứu thực trạng rủi ro trong hoạtđộng cho vay đầu tư, các biện pháp quản trị rủi ro trong hoạt động cho vayđầu tư của hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam trên cơ sở dữ liệu từ năm
2006 - Quý I/2010
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận là các vấn đề chung về rủi ro và quản trị rủi ro tín dụngphát triển của Ngân hàng Phát triển, dựa trên những cơ sở lý luận về rủi ro vàquản trị rủi ro tín dụng nói chung và đặc điểm của mô hình Ngân hàng Pháttriển và dự án phát triển
- Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợpvới việc điều tra, phân tích, so sánh để đánh giá thông qua số liệu, tài liệu vàcác báo cáo thống kê trong hệ thống NHPT, các tài liệu tham khảo khác cóliên quan
- Tham khảo mô hình quản trị rủi ro của một số Ngân hàng Phát triểntrên thế giới và một số Ngân hàng thương mại trong nước
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm những nội dung chính sau:
Trang 3Chương 1: Những vấn đề chung về quản trị rủi ro tín dụng phát triển
Chương 2: Thực trạng về rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay đầu tư tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đầu tư tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam
CHƯƠNG I
CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG PHÁT TRIỂN
1.1 Khái quát về Ngân hàng Phát triển
1.1.1 Sự cần thiết hình thành Ngân hàng Phát triển
Quá trình phát triển của các tổ chức tài chính gắn liền với quá trình pháttriển kinh tế Các ngân hàng như ngân hàng thương mại (NHTM), ngân hàngđầu tư, công ty tài chính… đóng vai trò ngày càng quan trọng trong thu húttiết kiệm và tài trợ cho phát triển, hạn chế rủi ro và tăng khả năng sinh lời.Phần lớn các trung gian tài chính hoạt động vì mục tiêu tối đa hoá lợi ích tàichính của chủ sở hữu Song có một số tổ chức hoạt động với các mục tiêu vàđối tượng phục vụ đặc biệt, hướng tới lợi ích kinh tế - xã hội Các tổ chức tàichính này được gọi là là "các công ty tài chính phát triển" Ngân hàng pháttriển (NHPT) là một tổ chức tài chính như vậy
NHPT là tổ chức tín dụng mà hoạt động chủ yếu là tài trợ trung và dài hạn cho các dự án phát triển.
Hoạt động của NHPTVN là huy động, tài trợ và làm các dịch vụ thanhtoán Mục tiêu hoạt động của NHPT là tài trợ có hiệu quả các chương trìnhphát triển kinh tế do Chính phủ hoạch định Phương thức hoạt động chủ yếu
là đầu tư trung và dài hạn cho các công trình kinh tế trọng điểm, hỗ trợ cácdoanh nghiệp phát triển thông qua đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ
Trang 4Không chỉ hiện diện ở những nước đang phát triển, Ngân hàng phát triển
đã, đang và sẽ tồn tại ở nhiều nước phát triển như Đức, Mỹ, Pháp, NhậtBản… Trong lĩnh vực tài trợ các dự án phát triển, các NHPT đã không ngừngphát triển với tư cách là các tổ chức tài chính Nhà nước như Ngân hàng Pháttriển Trung Quốc, NHPT Nhật Bản, hoặc với tư cách là tổ chức tài chính quốc
tế như Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng khu vực (Ngân hàng Phát triểnChâu Á, Ngân hàng Châu Phi)
NHPT được hình thành vì các lý do chủ yếu sau đây:
Nhu cầu vốn trung dài hạn cho phát triển kinh tế
Nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế, đặc biệt vốn trung và dài hạn là rấtlớn như nhu cầu cải tạo và xây dựng cơ sở hạ tầng cho phát triển (đường giaothông, bến cảng…) nhu cầu của các doanh nghiệp về đầu tư mới, trang bị máymóc, mở rộng quy mô sản xuất… Các nhu cầu này được đáp ứng chủ yếubằng tiết kiệm của doanh nghiệp, dân cư và Ngân sách Nhà nước (NSNN)dành cho đầu tư Tuy nhiên những nguồn này rất hạn chế, đặc biệt tại cácnước đang phát triển, nguyên nhân do:
- Thứ nhất, hệ thống NHTM với nguồn vốn ngắn hạn là chủ yếu, tập
trung cho vay ngắn hạn Tỷ trọng cho vay trung và dài hạn thấp và kỳ hạnthường chỉ từ 3-7 năm
- Thứ hai, thị trường vốn trung và dài hạn không có hoặc kém phát triển.
- Thứ ba, chi ngân sách cho phát triển kinh tế bị hạn chế do thu ngân
sách còn eo hẹp, khả năng đầu tư của Chính phủ cho phát triển kinh tế bị hạnchế Nhiều khoản chi đầu tư bị giảm hiệu quả rấtlớn do tình trạng tham nhũng
và trình độ quản lý yếu kém trong bộ máy của Chính phủ
Những lý do chủ yếu trên đã tạo ra khoảng cách lớn giữa cung và cầutrên thị trường tài chính dài hạn Một trong những chính sách giải quyết làxây dựng một loại hình tổ chức tài chính có khả năng thu hút và cung cấp cácnguồn vốn trung và dài hạn có hiệu quả cho các dự án phát triển Đó chính là
Trang 5Ngân hàng phát triển.
Thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội trong tài trợ dài hạn
Bên cạnh mục tiêu hiệu quả tài chính, phát triển kinh tế đòi hỏi phải thựchiện đồng bộ các mục tiêu kinh tế - xã hội như thay đổi cơ cấu kinh tế, xoáđói giảm nghèo, bảo vệ môi trường… nhằm bảo đảm tăng trưởng kinh tế bềnvững Việc đầu tư lồng ghép như vậy có thể phải chấp nhận mục tiêu sinh lờitrực tiếp thấp hơn so với các khoản đầu tư khác do:
- Thứ nhất, các dự án phát triển là rất cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu
phát triển kinh tế Các dự án này có khả năng sinh lời thấp, hoặc rủi ro cao,đặc biệt là dự án trong các ngành công nghiệp mũi nhọn và vùng nông thônrộng lớn
- Thứ hai, nhiều NHTM không sẵn sàng đầu tư vào dự án phát triển doi
phần lớn các khoản tín dụng của NHTM đòi hỏi phải có tài sản thế chấp vàphải đặt được hiệu quả tài chính theo cơ chế thị trường
NHPT là một tổ chức tài chính thực hiện chính sách tài trợ ưu tiên cóhạn chế của Chính phủ nhằm thực hiện các công cuộc đầu tư đặc biệt Cáchoạt động nhằm mục tiêu phi lợi nhuận càng nhiều thì tính hỗ trợ phải càngcao
Yêu cầu thực hiện các mục tiêu phát triển có hiệu quả
Một dự án phát triển thường chứa đựng nhiều mục tiêu (như tăng lợinhuận và công ăn việc làm…) mà các mục tiêu này trong nhiều trường hợp lạilàm giảm quy mô của nhau Điều này cản trợ hoạt động của các thể chế tàichính theo cơ chế thị trường Tuy nhiên các dự án này lại không thích hợphoàn toàn với phương pháp cấp phát ngân sách do có nguồn thu trực tiếp từbán sản phẩm của dự án Chínhphủ sử dụng nguồn vốn tín dụng nhằm làmtăng tính hiệu quả tài chính của dự án phát triển Lý do sử dụng nguồn vốn tíndụng trong tài trợ cho các dự án phát triển là:
- Thứ nhất, Ngân sách Nhà nước nghèo nàn và phải sử dụng ưu tiên cho
Trang 6các dự án không thể hoàn lại vốn Trong khi đó, nhiều dự án phát triển tạonguồn thu trực tiếp (có khả năng sinh lời), có khả năng hoàn trả, có thể và cầnthiết phải tiếp cận với nguồn vốn tín dụng.
- Thứ hai, phương pháp tài trợ bằng cách cho vay có nhiều ưu thế Trước
hết vốn của Nhà nước thường được cộng thêm vốn đối ứng huy động trên thịtrường, tạo điều kiện mở rộng quy mô tài trợ cho các dự án phát triển Kết quảcủa việc hoàn trả là nguồn vốn của Nhà nước lại được tái tạo, tiếp tục mộthoạt động tài trợ mới
Tài trợ ưu đãi qua chương trình tín dụng của Chính phủ được thực hiện
có hiệu quả thông qua hoạt động của NHPT Ngoài việc cung cấp các nguồnvốn trung và dài hạn cho các dự án, NHPT còn cung cấp với một số điều kiện
ưu đãi mà các tổ chức tín dụng (TCTD) hoạt động theo cơ chế thị trườngkhông thể thực hiện được Như vậy, NHPT được thành lập nhằm tài trợ cácloại hình đầu tư phát triển (ĐTPT) có hiệu quả tài chính
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng phát triển
Yêu cầu đối với nguồn vốn
Nguồn vốn của ngân hàng phải đảm bảo mối liên hệ giữa kỳ hạn và lãisuất Với hoạt động chủ yếu là tài trợ cho các dự án dài hạn có khả năng sinhlời thấp hoặc rủi ro cao, yêu cầu đặt ra cho NHPT là phải có nguồn vốn hỗnhợp với lãi suất tương đối thấp, thời gian sử dụng dài và chấp nhận rủi ro
Các hình thức huy động vốn
NHPT huy động vốn thông qua các hình thức sau:
- Huy động tiền gửi trên thị trường trong đó chủ yếu là tiền gửi trung và
Trang 7dài hạn.
- Phát hành giấy nợ trung và dài hạn
- Huy động các quỹ của Nhà nước: Nguồn vốn này tuy eo hẹp nhưng lại
có vai trò rất quan trọng, tạo ra nguồn vốn hỗn hợp với chi phí bình quân thấphơn các NHTM, tạo điều kiện để NHPT cho vay với lãi suất thấp hơn, hoặcgia tăng khả năng chấp nhận rủi ro
- Huy động các khoản tài trợ từ các tổ chức khác
- Vay nước ngoài (song phương, đa phương hoặc từ các tổ chức tài chínhphát triển)
- Tài trợ từ Ngân hàng Trung ương: thông qua các hình thức như mua lạicác khoản nợ, bảo lãnh, cấp vốn, cho vay lại… trong một số trường hợp
- Vốn và quỹ của ngân hàng
Quản lý nguồn vốn
Tìm kiếm và thực hiện các biện pháp gia tăng quy mô nguồn vốn với lãisuất thấp, kỳ hạn dài và ổn định là điều kiện sống còn của NHPT Chiến lượcnguồn vốn của ngân hàng là khai thác triệt để các nguồn hỗ trợ từ Chính phủ,các tổ chức tài chính, tiết kiệm trung và dài hạn của dân cư, huy động vốntrung và dài hạn
Quản lý kỳ hạn và chi phí của nguồn
NHPT cho vay trung, dài hạn là chủ yếu Để đảm bảo mức sinh lời hợp
lý, ngân hàng duy trì tài sản thanh khoản ở mức rất thấp Hơn nữa do yêu cầucho vay các dự án từ 10-20-30 năm trong khi nguồn vốn huy động với kỳ hạnngắn hơn (5-10 năm), ngân hàng phải thực hiện một kỹ thuật quan trọng làchuyển hoá các nguồn tiền từ các kỳ hạn ngắn hơn sang kỳ hạn dài hơn Dovậy, quản lý nguồn vốn bao gồm:
- Tính toán chi phí huy động nhằm đảm bảo nguyên tắc kinh doanh cólãi
- Quản lý thanh khoản
Trang 8- Tài trợ ngắn hạn: Quy mô tài trợ ngắn hạn nhỏ, chủ yếu trong các dự ánphát triển mà ngân hàng tài trợ trung và dài hạn.
- Tài trợ theo dự án (trung và dài hạn): Là hoạt động quan trọng củaNHPT, phản ánh mục tiêu và nội dung hoạt động chính của ngân hàng Tài trợtheo dự án có thể chia theo các tiêu thức khác nhau:
+ Tài trợ theo dự án đã được chỉ định trước của chủ tài trợ
+ Tài trợ theo dự án được ngân hàng khai thác và tìm kiếm
+ Tài trợ theo dự án với nguồn vốn ưu đãi
+ Tài trợ theo dự án với nguồn vốn thị trường
+ Tài trợ độc lập, hoặc đồng tài trợ, hoặc tài trợ qua ngân hàng đầu mối.Trong đó, tài trợ các dự án trong kế hoạch của Chính phủ và các dự ántìm kiếm luôn được ngân hàng quan tâm đặc biệt
- Các tài sản khác: đầu tư trực tiếp vào các ngành kinh tế, cho thuê
Quản lý tài sản:
- Xác định ngân quỹ của ngân hàng trong mối quan hệ với nhu cầu thanhkhoản trong trung và dài hạn
- Quản lý rủi ro lãi suất và rủi ro hối đoái
- Quản lý các khoản cho vay và tính sinh lời của tài sản
NHPT quan tâm đến khả năng sinh lời của các tài sản, đặc biệt là cáckhoản cho vay - loại tài sản mang lại thu nhập nhiều nhất cho ngân hàng Nộidung quản lý các khoản cho vay bao gồm:
Trang 9+ Xác định quy mô và tỷ trọng các khoản cho vay ưu đãi theo chỉ thị củaChính phủ.
1.1.3 Hoạt động Tín dụng phát triển của Ngân hàng phát triển
1.1.3.1 Khái niệm, đặc điểm của dự án phát triển
Các dự án phát triển kinh tế (Dự án phát triển) là dự án trực tiếp tạo rasản phẩm chiến lược, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của ngành, vùng, thúc đẩyquá trình thay đổi cơ cấu kinh tế hoặc cơ cấu thu nhập của nhiều bộ phận dân
cư Dự án phát triển thường có các đặc điểm sau đây:
- Dự án phát triển là những dự án lớn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của quốc gia.
Các dự án phát triển nằm trong kế hoạch phát triển kinh tế của quốc gia
Dự án phát triển có quy mô lớn, thời gian vận hành dài Tại nhiều nước đangphát triển, dự án phát triển do Chính phủ quyết định và thực hiện, vì vậy nómang tính chất dự án công Một số dự án do các tập đoàn kinh tế của Nhànước hoặc tư nhân thực hiện có sự hỗ trợ của Nhà nước
Dự án phát triển thực hiện chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia nhưchiến lược công nghiệp hoá, phát triển nông nghiệp và nông thôn, chiến lượcxuất khẩu hoặc thay thế hàng nhập khẩu, chiến lược giảm đói nghèo, bảo vệmôi trường…
- Dự án phát triển nhằm tới hai mục tiêu: Hiệu quả tài chính và hiệu quả
xã hội.
Trang 10Các dự án phát triển phải tạo ra thu nhập bù đắp toàn bộ chi phí và có lãi.
Do đó, các dự án này phải được thiết kế trên cơ sở tính toán được hiệu quả tàichính trực tiếp Khác với dự án thương mại, dự án phát triển phải thực hiệncác mục tiêu xã hội như phát triển cơ sở hạ tầng, thay đổi cơ cấu kinh tế…Chủ đầu tư thường là Nhà nước (hoặc các cơ quan phát triển) nên việc thựchiện đa mục tiêu là tất yếu đối với dự án phát triển
Các mục tiêu trong một số trường hợp lại mâu thuẫn với nhau, hoặc làmgiảm độ lớn của nhau Chủ đầu tư vì vậy phải xác định nhóm mục tiêu cơ bản,
có tính thống nhất cao
- Dự án phát triển nhận hỗ trợ trực tiếp từ Nhà nước.
Do tầm quan trọng đặc biệt đối với phát triển kinh tế, dự án phát triểnthường nhận hỗ trợ trực tiếp từ Nhà nước, như được ngân sách cấp vốn, đượcvay ưu đãi, vay không cần tài sản đảm bảo, được Chính phủ bảo lãnh (miễnphí) khi vay vốn, được đảm bảo vị thế độc quyền trong thời gian nhất định
Thứ nhất, sản phẩm của dự án áp dụng giá độc quyền (có thể cao hoặc
thấp hơn giá thị trường) để đảm bảo dự án có lãi, hoặc để các doanh nghiệp sửdụng sản phẩm của dự án có chi phí đầu vào thấp
Trang 11không còn khả năng thu hồi Do vậy, nếu chỉ tiêu này tăng thì RRTD củangân hàng là rất lớn.
dữ liệu mang tính cảnh báo để nhập vào một mô hình định sẵn để tính đượcxác suất không trả được nợ
+ EAD (Exposure at Default): Tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểmkhách hàng không trả được nợ
+ LGD (Loss Given Default) là tỷ trọng tổn thất ước tính: Đây là tỷtrọng phần vốn bị tổn thất trên tổng dư nợ tại thời điểm khách hàng không trảđược nợ, bao gồm tổn thất về khoản vay, tổn thất phát sinh khi khách hàngkhông trả được nợ (chi phí xử lý tài sản BĐTV, chi phí dịch vụ pháp lý,…).Với việc xác định tổn thất ước tính của khoản vay sẽ giúp tổ chức tíndụng xây dựng hiệu quả hơn Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng, nâng cao chấtlượng giám sát và tái xếp hạng khách hàng sau khi cho vay
Trang 12khách hàng cho thấy rủi ro "tiềm ẩn".
Các khoản cho vay có vấn đề
Mặc dù chưa đến hạn và chưa được coi là nợ quá hạn, song trong quátrình theo dõi, nhân viên ngân hàng nhận thấy nhiều khoản tài trợ đang có dấuhiệu kém lành mạnh, có nguy cơ trở thành nợ quá hạn Khoản cho vay có vấn
đề được xây dựng trên quy định của ngân hàng
Tính kém đa dạng của tín dụng
Đa dạng hóa là biện pháp hạn chế rủi ro Những thay đổi trong chu kỳcủa người vay là khó tránh khỏi Nếu ngân hàng tập trung tài trợ cho mộtnhóm khách hàng, của một ngành, hoặc một vùng hẹp thì rủi ro sẽ cao hơn sovới đa dạng hóa
1.3.3 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng của Ngân hàng phát triển
RRTD trong hoạt động tín dụng phát triển của NHPT có thể do nhiềunguyên nhân tạo ra, nhưng nhìn chung bao gồm các nhóm nguyên nhân sau:
1.3.3.1 Nguyên nhân thuộc về dự án phát triển và cơ chế chính sách về tín dụng phát triển
Nhóm nguyên nhân chính dẫn đến RRTD của NHPT là do đặc điểm củabản thân các dự án phát triển mà ngân hàng tài trợ và cơ chế chính sách về tíndụng phát triển của Nhà nước Có thể khái quát một số nguyên nhân sau:
- Thời hạn cho vay của NHPT đối với các dự án phát triển thường rấtdài, trung bình là 10 năm, có dự án lên tới 20 - 30 năm Điều này làm chohoạt động tín dụng phát triển trở nên rủi ro do NHPT không thể lường trướcđược hết những yếu tố biến động xẩy ra trong quá trình đầu tư và vận hànhcủa dự án
- Các dự án phát triển thường là các dự án có quy mô lớn và chỉ thuộcmột số ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn cần ưu đãi theo quy định của Chính phủ,
do vậy việc tài trợ cho các dự án phát triển của NHPT thường có mức độ tập
Trang 13trung vốn cao, nên mức độ rủi ro cũng cao hơn.
- Các dự án phát triển thường gắn liền với chính sách khuyến khích pháttriển kinh tế của quốc gia, trong đó nhiều dự án phát triển tập trung vào nhữngđối tượng như: khuyến khích đầu tư vào các vùng khó khăn, đặc biệt khókhăn; khuyến khích sản xuất các mặt hàng mới, xâm nhập vào thị trườngmới… do vậy các dự án này có mức độ rủi ro rất cao Điều đó dẫn đến hoạtđộng tín dụng phát triển cũng chứa đựng những rủi ro cao hơn
- Do thực hiện mục tiêu khuyến khích phát triển, nên lãi suất cho vayvốn tín dụng phát triển thường thấp hơn so với lãi suất thị trường Do vậyxuất hiện tâm lý chiếm dụng nguồn vốn "rẻ" của chủ đầu tư, từ đó dẫn đếnRRTD cho NHPT Bên cạnh đó cũng xuất hiện tâm lý trông chờ, ỷ lại vàonguồn vốn tín dụng phát triển mà ít quan tâm đến hiệu quả của dự án dẫn đếnmột số dự án được đầu tư kém hiệu quả, khả năng thu hồi vốn vay thấp Điềunày càng nghiêm trọng hơn đối với các dự án do các DNNN và Chính quyềnđịa phương làm chủ đầu tư
- Các chủ đầu tư vay vốn tín dụng phát triển tại NHPT thường không cótài sản đảm bảo tiền vay, ngoại trừ các tài sản hình thành từ vốn vay Tuynhiên, các tài sản này lại có tính thanh khoản rất thấp, do vậy nguy cơ RRTDcủa NHPT là rất cao
- Là tổ chức tín dụng chính sách, mạng lưới của NHPT được tổ chứctheo cấp chính quyền, và tại địa phương ảnh hưởng của chính quyền đối vớiquyết định đầu tư của NHPT là rất cao Về mặt nguyên lý, dự án phát triển cóảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế của quốc gia và địa phương (hoặcngành) nơi có dự án thường được hưởng lợi trực tiếp (như tạo công ăn việclàm, tăng thu nhập…) Vì vậy, trên thực tế, nhiều địa phương, ngành rất muốn
có dự án phát triển Do có quyền, nên nhiều địa phương hoặc Bộ chủ quản đãquyết định đầu tư cho dự án phát triển và tạo sức ép đối với NHPT coi nhẹhiệu quả tài chính của dự án
Trang 14- Ngoài ra do danh mục các ngành nghề được ưu đãi thay đổi theo từngthời kỳ, các sản phẩm của ngân hàng kém đa dạng nên NHPT khó duy trìđược mối quan hệ lâu dài với khách hàng… cũng là một nguyên nhân dẫn đếnRRTD cho NHPT.
1.3.3.2 Nguyên nhân từ phía Ngân hàng phát triển
Đây là nhóm nguyên nhân quan trọng dẫn tới RRTD Rất nhiều cáckhoản RRTD có thể phòng tránh nếu bản thân NHPT chủ động hạn chế tốtcác nguyên nhân chủ quan Điều này được phản ánh qua thực tế hoạt độngcủa nhiều NHPT trên thế giới với tỷ trọng nợ xấu chiếm ở mức rất thấp trongtổng dư nợ khi họ chú trọng các biện pháp ngăn chặn RRTD do chủ quan, baogồm:
- Sự thiếu chặt chẽ, hợp lý trong quy chế hoạt động hoặc quy trìnhnghiệp vụ cho vay của NHPT
Đây là một trong số các tiền đề để khách hàng lợi dụng lừa đảo, chiếmđoạt vốn của ngân hàng Hoạt động tín dụng phát triển gắn liền với các chiếnlược, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, địa phương trongtừng thời kỳ và có quan hệ mật thiết với các quy định của Nhà nước về đầu
tư, xây dựng, đấu thầu… và những quy định này thường xuyên được sửa đổi
bổ sung, nên yêu cầu về cải tiến, bổ sung và chỉnh lý quy định, quy trình hoạtđộng là nhu cầu cấp thiết Ngân hàng thiếu một chính sách cho vay rõ ràng,phù hợp với các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và các quy định khác cóliên quan của Nhà nước có thể dẫn tới hậu quả nghiêm trọng về RRTD Mộtchính sách cho vay không đồng bộ, thống nhất, đầy đủ dẫn tới việc cấp tíndụng không đúng đối tượng, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cho NHPT
Để thu hút khách hàng, tăng thu nhập, NHPT có thể bỏ quan các quytrình tín dụng, hạ thấp tiêu chuẩn đánh giá khách hàng, lẩn tránh hàng ràokiểm soát, thông tin sai lệch… nên gặp phải rủi ro
- Trình độ quản lý của ngân hàng không đảm bảo
Trang 15Trình độ quản lý yếu thể hiện ở việc buông lỏng trong quản lý, khoántrắng hoặc phó mặc cho cán bộ tín dụng trong quá trình xét duyệt các khoảnvay, kiểm soát cán bộ chưa sâu sát, xử lý cán bộ làm sai chưa nghiêm, đặcbiệt là sai phạm trong quy trình nghiệp vụ tín dụng Trong khi các dự án pháttriển thường là các dự án lớn, phức tạp và có mức độ rủi ro cao, nhưng một sốNHPT còn để tình trạng một cán bộ phải quản lý quá nhiều khách hàng vớinhiều ngành nghề, nhiều vùng khác nhau nên không thể tìm hiểu và theo dõichi tiết từng khách hàng.
- Chất lượng của đội ngũ cán bộ bao gồm trình độ và đạo đức nghềnghiệp không đảm bảo
Nguồn nhân lực với trình độ và kinh nghiệm non kém khiến NHPT cóthể đưa ra quyết định cho vay sai lầm, bởi vì sự an toàn của các khoản vaykhông chỉ phụ thuộc vào các quy định cho vay mà còn phụ thuộc vào bản thânhoạt động của khách hàng, của dự án phát triển Việc đánh giá khách hàngkhông chỉ đơn thuần dựa trên các con số báo cáo mà còn cần dựa trên kinhnghiệm thực tiễn, phân tích và phán đoán về khả năng, cơ hội thành công củakhách hàng Việc đánh giá hiệu quả của dự án phát triển thường rất phức tạp
do tính chất đa mục tiêu của dự án phát triển Do vậy việc đánh giá khôngđúng về hiệu quả, đặc biệt là hiệu quả tài chính của dự án phát triển, và do sự
"nhập nhèm" giữa hiệu quả tài chính và hiệu quả xã hội trong quá trình tài trợcho dự án phát triển là một nguy cơ dẫn đến RRTD
Nguồn nhân lực có trình độ cao là một yếu tố quyết định sự phát triểncủa NHPT Các NHPT lớn trên thế giới đều rất quan tâm đến việc tuyển chọncán bộ có trình độ cao, đồng thời thường xuyên đào tạo lại cán bộ để bắt kịptình hình thực tế Vì vậy, họ luôn đáp ứng được nhu cầu phát triển của thịtrường, đủ sức thẩm định các dự án phát triển, tránh được rủi ro
Mặt khác, có những nhân viên tín dụng chưa hiểu hết tầm quan trọng củanghiệp vụ tín dụng nên làm bừa, làm ẩu, thiếu tinh thần trách nhiệm dẫn tới
Trang 16việc cho vay mà không thu hồi được nợ Do các dự án phát triển thường đượctài trợ ưu đãi nhất là về lãi suất nên nhiều chủ đầu tư dự án đã mua chuộc, lôikéo các cán bộ NHPT để được sử dụng nguồn vốn tín dụng phát triển của Nhànước.
1.3.3.3 Nguyên nhân thuộc về người vay
Nguyên nhân từ phía người đi vay cũng là một trong những nguyên nhânquan trọng gây ra RRTD cho NHPT Đây là rủi ro khi người vay không thựchiện đúng hợp đồng tín dụng nguyên nhân là do trình độ yếu kém của ngườivay trong dự đoán các vấn đề kinh tế xã hội, yếu kém trong quản lý vận hànhcác dự án phát triển, chủ định lừa đảo cán bộ ngân hàng
Do các dự án phát triển thường là các dự án lớn, phức tạp, và thường đầu
tư vào các ngành nghề, lĩnh vực mới, các vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn;thời gian đầu tư thường dài… nên chủ đầu tư rất khó dự đoán được nhữngbiến động về kinh tế xã hội ảnh hưởng tới dự án, việc đánh giá hiệu quả của
dự án phát triển thường gặp nhiều khó khăn Do trình độ yếu kém của chủ đầu
tư trong việc dự đoán tình hình kinh tế - xã hội, trong thực hiện và vận hànhcác dự án phát triển dẫn đến nhiều dự án không có hiệu quả và không trả được
nợ hoặc trả không đầy đủ, đúng hạn cho NHPT
Do tính chất ưu đãi trong tài trợ cho các dự án phát triển đặc biệt là về lãisuất nên nhiều chủ đầu tư nhất là các DNNN và chính quyền địa phươngthường có tâm lý ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước; cố tình chây ì với hy vọng cóthể quỵt nợ hoặc sử dụng vốn vay càng lâu càng tốt, hoặc sử dụng vốn saimục đích…
Tài trợ cho các dự án phát triển là sự tài trợ ưu đãi, có hạn chế về đốitượng sử dụng Nên để được sử dụng nguồn vốn này, nhiều chủ đầu tư cố tìnhcung cấp thông tin sai sự thật về dự án phát triển, năng lực của chủ đầu tư…,thậm chí lôi kéo, mua chuộc cán bộ ngân hàng
Bên cạnh đó, việc thiếu cam kết của người hưởng lợi hoặc sự ủng hộ của
Trang 17chính quyền địa phương cũng là nhân tố dẫn đến RRTD cho NHPT Đầu tưphát triển tạo nên các công trình lớn, khó hoặc không thể di dời Các nhân tốchính trị xã hội địa phương, vì vậy ảnh hưởng lớn, lâu dài đến hiệu quả đầu
tư Người nông dân, vì lý do nào đó không cung cấp nguyên liệu cho nhàmáy, chính quyền không ủng hộ nhà máy trong việc đảm bảo an ninh… đềulàm giảm hiệu quả của công cuộc đầu tư, gây ra RRTD cho NHPT
1.3.3.4 Nguyên nhân khách quan khác
Những nguyên nhân bất khả kháng tác động tới người vay, làm cho họmất khả năng thanh toán cho NHPT Ví dụ như, thiên tai, chiến tranh hoặcnhững thay đổi tầm vĩ mô (thay đổi chính sách kinh tế, thay đổi về môi trườngpháp lý, môi trường kinh tế, lạm phát,…) vượt quá tầm kiểm soát của ngườivay và NHPT
Những thay đổi này thường xuyên xảy ra, tác động liên tục tới ngườivay, tạo thuận lợi hoặc khó khăn cho người vay Nhiều người vay, với bảnlĩnh của mình có khả năng dự báo, thích ứng, hoặc khắc phục những khókhăn Trong những trường hợp khác, người vay có thể bị tổn thất song vẫn cókhả năng trả nợ cho NHPT đúng hạn, đủ gốc và lãi Tuy nhiên, khi tác độngcủa những nguyên nhân khách quan đối với người vay là nặng nề, khả năngtrả nợ của họ bị suy giảm và NHPT gặp phải RRTD
1.3 Quản trị rủi ro tín dụng phát triển
1.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng phát triển
Có khá nhiều định nghĩa: Theo Kloman Haimes, quản trị rủi ro là quátrình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhậndạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, nhữngảnh hưởng bất lợi của rủi ro
Uỷ ban Basel cho rằng quản trị rủi ro là một quá trình liên tục cần đượcthực hiện ở mọi cấp độ của một tổ chức tài chính và là yêu cầu bắt buộc đểcác tổ chức tài chính có thể đạt được các mục tiêu đề ra, duy trì khả năng tồn
Trang 18tại và sự minh bạch về tài chính.
Theo quan điểm hiện đại được các ngân hàng áp dụng phổ biến, quản lýrủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, chính sáchquản lý và tín dụng nhằm tối đa hóa lợi nhuận trong phạm vi mức độ rủi ro cóthể chấp nhận được Kiểm soát rủi ro tín dụng ở mức có thể chấp nhận là việcngân hàng tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợquá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, nhằm tăng doanh thu, giảm thấpchi phí bù đắp rủi ro, nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh tín dụng cả trongngắn hạn và dài hạn "Hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng là một bộ phận quantrọng trong cách tiếp cận rủi ro tổng thể và được coi là đóng vai trò cốt tử cho
sự thành công của ngân hàng trong dài hạn" (Basel Committee on BankingSupervision, 2000)
Có thể đề cập khái niệm quản lý rủi ro tín dụng ở các góc độ khác nhau,nhưng bản chất là giống nhau và đứng trên góc độ của quản lý khoa học,chúng ta có thể diễn giải khái niệm quản trị rủi ro tín dụng phát triển là quátrình NHPT tiến hành hoạch định, tổ chức triển khai thực hiện và giám sátkiểm tra toàn bộ hoạt động tài trợ tín dụng phát triển, nhằm đạt được mục tiêucủa NHPT với mức rủi ro có thể chấp nhận
1.3.2 Đặc điểm của quản trị rủi ro tín dụng phát triển
- Hoạt động quản trị rủi ro là một quy trình liên tục, mang tính hệ thống.Kéo dài từ khi tiếp xúc khách hàng đến khi ký hợp đồng tín dụng, giải ngân
và chỉ chấm dứt khi Hợp đồng tín dụng đã được thanh lý
Rủi ro luôn luôn tiềm ẩn ở bất cứ mọi lúc trong suốt quá trình tín dụng.Khi tiếp xúc khách hàng, khách hàng thường che giấu khuyết điểm của mình
và đề cao những điểm mạnh để gây ấn tượng tốt ban đầu đối với cán bộ tíndụng Trong quá trình lập hồ sơ, khách hàng thường tạo ra sự chú ý, muốn tạolòng tin cho cán bộ tín dụng qua việc cung cấp các thông tin có lợi cho mình.Tại giai đoạn này, bao giờ ngân hàng cũng ở trong vị thế thông tin không cân
Trang 19xứng đối với khách hàng Chưa kể các mối quan hệ thân thiết có thể làm lu
mờ các thông tin cụ thể trong quá trình xem xét thẩm định hồ sơ vay vốn.Giai đoạn giải ngân, giám sát sau giải ngân cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro khicán bộ tín dụng không tuân thủ quy trình giám sát hoặc bản thân quy trìnhgiám sát của ngân hàng không chặt chẽ Cán bộ tín dụng sơ ý bỏ qua các lỗi
vi phạm của khách hàng trong việc sử dụng vốn,…
Vì vậy, công tác quản trị rủi ro tín dụng phải thường xuyên suốt từ khitiếp xúc khách hàng, thẩm định cho vay, ký hợp đồng, giải ngân, thu nợ vàchỉ chấm dứt khi đã thanh lý hợp đồng tín dụng
- Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng không bó hẹp trong phạm vi một bộphận, một phòng mà là quá trình xuyên suốt từ hoạt động của cán bộ đến cácphòng ban trong Chi nhánh và Hội sở chính
Rủi ro tín dụng không chỉ được tạo ra do sự tắc trách của cán bộ tíndụng, do sự non yếu về nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ tín dụng mà còn cóthể được tạo ra ngay trong cơ chế, chính sách tín dụng của ngân hàng Rủi rotín dụng tồn tại ở mọi lúc, mọi nơi và có thể phát sinh ở bất cứ lúc nào Vìvậy, việc quản trị rủi ro đồng hành từ khâu xây dựng cơ chế chính sách, quytrình nghiệp vụ cho đến quá trình thực thi Việc kiểm soát rủi ro không chỉ ởcán bộ tín dụng (người thực thi), các Giám đốc Chi nhánh mà còn bao gồmtrong các hoạt động cảnh báo, trong hệ thống báo cáo,… của các Ban Hội sởchính và cả quá trình quản lý tín dụng, quyết định duyệt vay theo phân cấpgiữa Chi nhánh và Hội sở chính
- Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng phải được thực hiện thường xuyên,liên tục và luôn luôn được cải tiến Hoạt động tín dụng chịu tác động rất lớn
từ môi trường Trong đó, không ít các nguyên nhân rủi ro tín dụng đều xuấtphát từ môi trường Mà môi trường hoạt động luôn biến đổi trong khi tàinguyên, nhân lực của ngân hàng không những có hạn mà luôn biến độngkhông theo kịp sự biến động của môi trường Vì vậy, hoạt động quản trị rủi ro
Trang 20tín dụng cũng phải thích nghi được với sự thay đổi và biến động đó Các ngânhàng đều có các chuyên gia phân tích môi trường, nhận diện rủi ro để tự cảithiện và xây dựng các chính sách đối phó thích hợp Trong đó có các chínhsách, hoạt động liên quan đến quản trị rủi ro tín dụng.
- Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng không chỉ là quá trình hoạch định,phân tích, tổ chức, kiểm soát mà còn phải xử lý tổn thất khi rủi ro xảy ra.Hoạt động tín dụng là dịch vụ, không có sản phẩm cụ thể Khi quyết định chovay, nếu có rủi ro xảy ra, ngân hàng không thể thay thế và sửa chữa nó nhưhoạt động sản xuất Vì vậy, các chính sách, công việc mà cán bộ tín dụng cầnphải thực hiện khi rủi ro xảy ra là một bộ phận không thể thiếu trong hoạtđộng quản trị rủi ro tín dụng Các nhà quản trị cấp cao rất quan tâm đến nộidung này và thường ban hành các chính sách có liên quan một cách cụ thểnhằm xử lý tổn thất một cách có hiệu quả nhất
- Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng luôn gắn kết với chiến lược kinhdoanh của ngân hàng, là một bộ phận không thể tách rời với công tác quản trịngân hàng Vì vậy, chính sách khách hàng là một bộ phận không thể tách rờitrong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng
- Quản trị rủi ro tín dụng trong mỗi bộ phận mang tính sáng tạo to lớn.Điều này có nghĩa là cùng với các điều kiện về con người và về vật chất kỹthuật như nhau nhưng quản trị rủi ro tín dụng của mỗi ngân hàng lại có thểkhai thác khác nhau, đem lại hiệu quả khác nhau Nói cách khác, với nhữngđiều kiện về nguồn lực như nhau, quản trị tốt sẽ phát huy hiệu quả của nhữngnguồn lực đó nhằm giảm thiểu rủi ro theo như mong muốn Còn quản trị tồi
sẽ không khai thác được thậm chí còn làm hao tổn nguồn lực, dẫn đến tổn thấttrầm trọng thêm
1.3.3 Nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng phát triển
Là một loại hình rủi ro trong hoạt động ngân hàng, quản trị rủi ro tíndụng của NHPT cũng phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của quản trị rủi
Trang 21ro trong hoạt động Ngân hàng nói chung bao gồm:
- Nguyên tắc chấp nhận rủi ro: Các nhà quản lý ngân hàng cần phải chấp
nhận rủi ro ở mức độ cho phép, nếu như mong muốn có được thu nhập phùhợp từ những hoạt động nghiệp vụ của mình Dĩ nhiên, mỗi nghiệp vụ cụ thểsau khi đánh giá mức độ rủi ro, các ngân hàng cần xây dựng chiến thuật
"phòng chống rủi ro"; Tuy nhiên, loại bỏ hoàn toàn rủi ro trong hoạt độngngân hàng là không thể, bởi vì rủi ro ngân hàng là sự hiện hữu khách quanvốn có trong các nghiệp vụ của ngân hàng Do đó, nguyên tắc đầu tiên trongquá trình quản lý rủi ro đối với các nhà quản lý ngân hàng là phải nhận biếtnhững "rủi ro cho phép" Việc chấp nhận mức độ rủi ro, nhận biết các loại rủi
ro là điều kiện quan trọng để điều tiết những tác động tiêu cực của chúngtrong quá trình quản lý rủi ro
- Nguyên tắc điều hành rủi ro cho phép: Nguyên tắc này đòi hỏi phần
lớn rủi ro trong "gói rủi ro cho phép" phải có khả năng điều tiết trong quátrình quản lý mà không phụ thuộc vào những hoàn cảnh khách quan và chủquan Chỉ đối với những loại rủi ro như vậy thì các nhà quản lý ngân hàngmới có thể sử dụng tất cả những "vũ khí", "nghệ thuật" của mình để điều tiếtchúng Ngoài ra, đối với các loại rủi ro không còn khả năng "điều chỉnh" cầnphải được chuyển, đẩy sang lĩnh vực khác phù hợp hơn; Ví dụ: chuyển sangcác Công ty bảo hiểm
- Nguyên tắc quản lý độc lập các rủi ro riêng biệt: Một trong những
nguyên lý cơ bản của lý thuyết quản lý rủi ro là các loại rủi ro khá độc lập vớinhau và sự thiệt hại do một loại nào đó trong "gói rủi ro cho phép" gây nênkhông nhất thiết sẽ làm tăng xác suất xảy ra với các loại rủi ro khác Nói cáchkhác, về nguyên tắc sự thiệt hại đối với ngân hàng do các loại rủi ro khácnhau gây nên là khá độc lập với nhau và quá trình quản lý chúng cần phảiđược điều tiết riêng biệt, không thể gộp các loại rủi ro khác nhau vào mộtnhóm để đưa ra cùng một phương pháp điều hành
Trang 22- Nguyên tắc phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và mức độ thu nhập:
Nguyên tắc này là nền tảng của lý thuyết quản lý rủi ro Các ngân hàngtrong quá trình hoạt động của mình chỉ được phép chấp nhận các loại, mức độrủi ro mà thiệt hại khi chúng xảy ra ở mức không được cao quá mức thu nhậpphù hợp Có nghĩa là, tất cả các loại rủi ro có mức độ cao hơn mức độ thunhập mong đợi cần phải được loại bỏ
- Nguyên tắc phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và khả năng tài chính:Giá trị thiệt hại mà ngân hàng mong muốn từ những khoản rủi ro phải
phù hợp với phần vốn mà ngân hàng có thể trích dự phòng cho những thiệthại khi chúng xảy ra Khi rủi ro xảy ra, kéo theo sự thiệt hại thu nhập, giảmlợi nhuận và giảm nhịp độ phát triển của ngân hàng Do đó, giá trị thiệt hạiphải phù hợp với mức vốn dự phòng của ngân hàng và ngân hàng phải xácđịnh được mức độ (dự báo) phù hợp, bao gồm cả những khoản rủi ro khôngthể chuyển được sang cho đối tác hay các công ty bảo hiểm bên ngoài
- Nguyên tắc hiệu quả kinh tế: Mục đích cơ bản của việc quản lý rủi ro
ngân hàng là điều tiết những tác động tiêu cực của rủi ro khi nó xảy ra Cùngvới nó, chi phí của ngân hàng bỏ ra để giảm thiểu rủi ro phải thấp hơn giá trịthiệt hại do những rủi ro xảy ra và thậm chí ở mức độ thấp nhất khi chúng xảyra
- Nguyên tắc hợp lý về thời gian: Thời gian tồn tại của một nghiệp vụ
ngân hàng càng lâu thì biên độ xảy ra rủi ro càng lớn, khả năng điều tiếtnhững tác động tiêu cực của nó và tính kinh tế của quản lý rủi ro càng thấp.Khi bắt buộc phải tồn tại các nghiệp vụ này thì ngân hàng phải đảm bảo mức
độ thu nhập phụ trội cần thiết, không chỉ vì lợi nhuận mà còn vì mục đích bùđắp những chi phí để điều tiết tác động xấu của rủi ro trong trường hợp chúngxảy ra
- Nguyên tắc phù hợp với chiến lược chung của ngân hàng: Hệ thống
quản lý rủi ro cần phải được dựa trên nền tảng những tiêu chí chung của chiến
Trang 23lược hoạt động và phát triển của ngân hàng cũng như các chính sách điềuhành trong hoạt động của ngân hàng.
- Nguyên tắc chuyển đẩy các loại rủi ro không cho phép: Nguyên tắc này
đòi hỏi các loại rủi ro phải nằm trong “gói rủi ro cho phép”, phải có khả năngtính chuyển đẩy cao Các loại rủi ro không tương thích với khả năng của ngânhàng trong việc điều tiết những hậu quả tiêu cực khi chúng xảy ra hay khôngphù hợp với những yêu cầu cụ thể của chiến lược và chính sách điều hànhhoạt động của ngân hàng cần phải được loại bỏ khỏi “gói rủi ro cho phép”.Hay nói cách khác, chúng chỉ được cho phép rủi ro khi có khả năng chuyểnđẩy cao sang các đối tác khác hoặc các công ty bảo hiểm bên ngoài
Trên đây là 9 nguyên tắc cơ bản để từ đó mỗi ngân hàng xây dựng chomình một chính sách quản lý hay quản lý rủi ro riêng biệt
1.3.4 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng phát triển
Theo nguyên lý chung trong quy trình quản lý rủi ro tín dụng, phải bảođảm thực hiện đồng bộ các khẩu (i) xác định rủi ro, (ii) tìm hiểu, (iii) đolường rủi ro, (iv) phân tích rủi ro, (v) theo dõi, (vi) quản lý và (vii) báo cáo.Mặc dù có sự phân đoạn trong quy trình quản lý rủi ro tín dụng song mộtnguyên tắc có tính xuyên suốt là các khâu được phân ra trong quy trình phải
luôn có sự liên hệ gắn bó với nhau, tạo thành một chu trình liên tục, có vậy
mới bảo đảm kiểm soát được rủi ro theo mục tiêu đã định RRTD một khi đãxác định thì cần phải phân tích, đo lường và đưa ra các biện pháp quản lý theodõi Cũng trong quá trình quản lý theo dõi, hệ thống quản lý rủi ro tín dụngphải có khả năng xác định, tìm ra các nguy cơ rủi ro mới, và công việc củaquản lý rủi ro lại được lặp lại
Trên thực tế, có những tài liệu khác phân quá trình quản lý rủi ro ra
thành 4 khâu: xác định; đo lường; quản lý và kiểm soát Nội dung cụ thể, cách
phân đoạn đã giúp một số khâu trong cách phân đoạn của cách thứ nhất vàolàm một phân đoạn; ví dụ: khâu tìm hiểu, đo lường và phân tích được gộp
Trang 24chung vào khâu đo lường Cho dù là cách phân đoạn nào, thì điều quan trọngquá trình quản lý rủi ro tín dụng muốn đạt hiệu quả phải bảo đảm rằng cáccông đoạn như phát hiện kịp thời, xác định được rủi ro đang tồn tại, phân tích
và định lượng nó để từ đó đề ra biện pháp ứng phó Quản lý rỉ ro tín dụnghiệu quả không có nghĩa là rủi ro không xảy ra mà là rủi ro có thể xảy ranhưng xảy ra trong mức độ dự đoán trước và ngân hàng đã chuẩn bị đủ nguồnlực để bù đắp các rui ro có thể xảy ra đó
+ Phát hiện RRTD là việc nhận biết được các nguy có rủi ro tồn tại tronghoạt động tín dụng Sự phát triển của công nghệ, thị trường và xu hướng toàncầu hóa làm cho số lượng rủi ro ngày càng gia tăng và khả năng xảy ra rủi ro
sẽ thường xuyên hơn Vì vậy, một hệ thống quản lý rủi ro có hiệu lực, hiệuquả phải là hệ thống có khả năng nhận biết hết các rủi ro hiện hữu trong tíndụng Ngân hàng nắm được tình hình rủi ro của danh mục tín dụng, ngân hàngcần xác định rõ lý do RRTD: do đánh giá tín dụng chưa tốt? do thoái trào kinhdoanh? Do gian lận? hay do chất lượng tài sản thế chấp kém?
+ tìm hiểu, đo lường, phân tích là các bước tiếp theo sau khi đã phát hiệnđược nguy cơ rủi ro Trên thực tế các bước này khá gần gũi với nhau vàthường được gộp chung lại trong quá trình thực hiện tác nghiệp Mục đích củacác bước này là giúp cho bộ máy quản lý rủi ro hiểu chính xác và nhất quánnguy cơ rủi ro đã xác định, phân tích rõ nguyên nhân và quan trọng nhất làlực lượng hóa mức độ rủi ro có thể xảy ra đối với ngân hàng
+ Theo dõi: sau khi đã xác định, phân tích và hình thành các chỉ tiêu đolường, rủi ro cần phải được theo dõi thường xuyên Mục đích của khâu nàygiúp cho bộ máy quản lý rủi ro nắm được tình trạng rủi ro
+ Quản lý, báo cáo, kiểm soát rủi ro: Đây là những khâu thể hiện rõ nhấttính chiến lược, cũng như tư tưởng của ngân hàng về rủi ro tín dụng Trướchết ngân hàng cần xây dựng được hệ thống các công cụ quản lý nhằm hạn chếrủi ro Bên cạnh đó là chính sách chuẩn bị nguồn lực để bù đắp rủi ro
Trang 25Kiểm soát RRTD là việc giám sát một cách độc lập RRTD và quản lý rủi
ro đó Quá trình kiểm soát RRTD phải đảm bảo đánh giá một cách độc lậpnhằm tuân thủ các mục tiêu và yêu cầu của ban lãnh đạo ngân hàng
1.4 Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng tại một số ngân hàng phát triển.
1.4.1 Ngân hàng phát triển Nhật Bản
NHPT Nhật Bản (Development Bank of Japan - DBJ) được thành lậptheo Luật NHPT Nhật Bản ngày 01/10/1999 với nhiệm vụ chính tài trợ chocác dự án đủ điều kiện theo chính sách của Nhà nước (chủ yếu trong các lĩnhvực: phát triển cộng đồng, bảo vệ môi trường, công nghệ mới) thông qua việccho vay và cung cấp dịch vụ hỗ trợ khác với thời hạn dài, lãi suất thấp và cốđịnh đối với các dự án đáp ứng được yêu cầu của chính sách Nhà nước; hỗ trợ
tư vấn lập dự án; thực hiện các nghiên cứu, khảo sát về tình hình KT - XH …Ngoài ra DBJ còn cung cấp các dịch vụ khác giống như các tổ chức tài chínhthông thường
Là một tổ chức tài chính thực thi chính sách của Chính phủ theo quyđịnh của Luật NHPT Nhật Bản và không thuộc đối tượng điều chỉnh của LuậtNgân hàng hay Luật về cứu vãn sự tồn tại của hệ thống tài chính, nhưng DBJrất chú trọng đến công tác QLRR
Để có sự phù hợp với từng loại rủi ro riêng biệt, DBJ đã phát triển hệthống quản lý tài sản Nợ - Có và QLRR, trong đó phân định rõ trách nhiệmcủa mỗi vụ đối với từng loại rủi ro Vụ kế hoạch tài chính - Tổng hợp theo dõitoàn diện các hoạt động quản lý tài sản Nợ - Có và QLRR Uỷ ban quản lý tàisản Nợ - Có, bao gồm các quan chức điều hành và Thống đốc DBJ quy địnhcác chính sách cơ bản liên quan đến sự quản lý toàn diện đối với tài sản Nợ -
Có và rủi ro, đồng thời chỉ đạo việc theo dõi thường xuyên đối với mỗi loạirủi ro
Trang 26Trong quản lý RRTD, DBJ thực hiện quản lý đối với từng khoản vayriêng lẻ cũng như toàn bộ danh mục cho vay.
Đối với từng khoản vay riêng lẻ, khi thực hiện cho vay, ngoài việc xemxét sự phù hợp với chính sách của dự án và các phúc lợi do dự án mang lại,DBJ còn xem xét xét tính khả thi và khả năng sinh lợi của dự án dựa trênnhững quan điểm công bằng và trung lập DBJ cũng áp dụng hệ thống xếphạng nội bộ trong đó khách hàng được phân chia thành 8 hạng Kết quả xếphạng nội bộ là căn cứ để xác định mức cho vay Dựa trên việc xếp hạng nội
bộ, DBJ tiến hành phân loại nợ vay (gồm 4 loại), từ đó xác định khoản trích
dự phòng để có thể XLRR khi khoản vay gặp rủi ro
Trong quản lý danh mục cho vay, DBJ thực hiện việc phân tích toàn diệnđối với dữ liệu được sử dụng trong xếp hạng nội bộ và tính toán khả năng xây
ra RRTD đối với toàn thể danh mục cho vay RRTD có thể được phân chiathành 2 loại là tổn thất lường trước (tổn thất trung bình dự kiến trong một thờihạn cho vay nhất định) và tổn thất không lường trước (tổn thất lớn nhất có thểxẩy ra ở một mức sinh lời nhất định) Kết quả tính toán các tổn thất được báocáo lên Uỷ ban Quản lý tài sản Nợ - Có Việc theo dõi và quan tâm đến cácbiện pháp đối phó cho phép DBJ kiểm soát được rủi ro và đề ra biện pháphiệu quả để hạn chế tổn thất do rủi ro gây ra
Đối với rủi ro thị trường (bao gồm rủi ro lãi suất và rủi ro hối đoái): DBJ
sử dụng phân tích khe hở kỳ hạn, phân tích độ nhậy của lãi suất và các biệnpháp khác để phòng ngừa rủi ro hối đoái
Để phòng ngừa rủi ro thanh khoản, DBJ cũng áp dụng nhiều biện phápkhác nhau: huy động vốn chủ yếu dựa vào các nguồn vốn dài hạn (vốn từchương trình đầu tư và cho vay của ngân sách, vốn trái phiếu do Chính phủbảo lãnh…); thực hiện đầu tư ngắn hạn đối với vốn tạm thời nhàn rỗi; sử dụng
hệ thống thanh toán của Ngân hàng trung ương Nhật Bản để đảm bảo thanhtoán ngay cho các giao dịch
Trang 271.4.2 Ngân hàng tái thiết Đức
Ngân hàng tái thiết Đức (KfW) là ngân hàng chính sách của Chính phủCộng hòa Liên bang Đức, thành lập năm 1948, với số vốn điều lệ là 3.750triệu EUR, trong đó Chính phủ Liên bang đóng góp 80% và 20% là của Chínhquyền các bang
Ngân hàng tái thiết Đức thực hiện nhiệm vụ đầu tư phục vụ phát triểnkinh tế, xã hội và môi trường của Cộng hòa Liên bang Đức Thực hiện nhiệm
vụ tài trợ xuất nhập khẩu của Cộng hòa Liên bang Đức và tài trợ tín dụng pháttriển cho các nước đang phát triển và các nước chuyển đổi nền kinh tế
Cơ quan giám sát cao nhất đối với KfW là Bộ tài chính Liên bang và Hộiđồng giám sát Bộ tài chính cũng là cơ quan toàn quyền thực hiện mọi biệnpháp để đảm bảo KfW hoạt động theo đúng các quy định của pháp luật
Hội đồng giám sát là cơ quan giám sát, hoạch định chiến lược và chínhsách hoạt động của hoạt động của KfW, phê duyệt các khoản vay “rất lớn”.Giúp việc Ban giám đốc điều hành là các Ban chức năng như: Ban tài chính,Nhân sự, kiểm toán, kho quỹ, các Ban phụ trách theo khu vực, quản trị và xử
lý rủi ro, thông tin tin học… KfW được xây dựng theo mô hình một tập đoàn
có 4 nhánh hoạt động chính là ngân hàng phát triển, ngân hàng doanh nghiệpnhỏ và vừa, ngân hàng xúc tiến và ngân hàng xuất khẩu Hoạt động của chínhcủa KfW bao gồm: hoạt dộng tài trợ doanh nghiệp nhở và vừa, hoạt động tíndụng xuất khẩu, hoạt động tài trợ thúc đẩy trong nước, hoạt động hợp tác tàichính và hỗ trợ phát triển với các nước đang phát triển
Đối với hoạt động quản trị rủi ro: hệ thống quản trị rủi ro của KfW cũngtương tự như của các NHTM và thông lệ quốc tế hiện nay Nền tảng cho hệthống quản trị rủi ro của KfW là hệ thống đánh giá và xếp hạng khách hàng
Hệ thống chấm điểm này là cơ sở để xác định lãi suất cho vay và để trích lậpDPRR hệ thống đánh giá và xếp hạng này của KfW hiện tập trung vào các rủi
ro về tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro tác nghiệp hàng ngày Cơ cấu lãi suất
Trang 28cho vay của KfW được xác định trên cơ sở đảm bảo đủ nguồn để trích lập dựphòng rủi ro Cũng tương tự như các NHTM khác, việc trích lập dự phòng rủi
ro được xác định theo hai mức:
- Trích lập dự phòng rủi ro cụ thể cho từng khoản vay có rủi ro (mứctrích tối đa bằng 100% giá khoản vay đối với trường hợp dự kiến sẽ phải xóanợ)
- Trích lập dự phòng rủi ro tổng thể cho toàn bộ Ngân hàng (ở một mức
độ nhất định nhằm bù đắp cho các rủi ro không thể lường trước)
Toàn bộ các tiêu chí, chuẩn mực cũng như thiết kế hệ thống quản trị rủi
ro của KfW hiện tại tuân thủ theo các quy định về giám sát ngân hàng hiệuquả quy định tại Hiệp ước Basel II Hiện tại, KfW đang ở trong giai đoạnhoàn chỉnh hệ thống quản trị rủi ro để hoàn toàn thực hiện theo Basel II vàonăm 2008
Về cơ cấu tổ chức, KfW đã thành lập Uỷ ban quản trị rủi ro với chứcnăng quản trị toàn diện rủi ro của ngân hàng Uỷ ban này đã ban hành cẩmnang quản trị rủi ro và các hướng dẫn cụ thể tới từng cán bộ chuyên quản đểthực hiện các công việc phục vụ cho hệ thống quản trị rủi ro Theo quy địnhtại cẩm nang, việc thực hiện các báo cáo cập nhật định kỳ là bắt buộc đối vớitất cả các cán bộ ngân hàng để xây dựng một cơ sở dữ liệu thông tin quản trịrủi ro
1.4.3 Một số bài học kinh nghiệm
Qua nghiên cứu hoạt động quản trị rủi ro của Ngân hàng phát triển NhậtBản và Ngân hàng tái thiết Đức, ta có thể rút ra một số nhận xét sau:
Mặc dù cả hai ngân hàng đều không chịu sự điều chỉnh của Luật ngânhàng nhưng cả hai đều đã và đang áp dụng một hệ thống quản trị rủi ro hoàntoàn tuân thủ theo các quy định, tiêu chuẩn quốc tế về quản trị ngân hàng.Theo đó hệ thống này được hình thành từ các nhân tố cơ bản sau đây:
Trang 29- Hệ thống đánh giá và xếp hạng tín nhiệm khách hàng theo đúng chuẩnmực quốc tế.
- Hệ thống thông tin, tin học phát triển, đủ khả năng tổng hợp, cập nhật,
xử lý thông tin và đưa ra các bó cáo phục vụ công tác quản lý và quản trị rủiro
- Phương thức trích lập dự phòng phù hợp với thông lệ ngân hàng đảmbảo có đủ nguồn để bù đắp tổn thất khi rủi ro xẩy ra
- Tự nguyện áp dụng hệ thống báo cáo tài chính được lập theo chuẩnmực kế toán quốc tế (song song với hệ thống báo cáo tài chính theo đúng quyđịnh áp dụng đối với tổ chức tài chính đặc biệt), phản ánh được đầy đủ cácnghiệp vụ của ngân hàng cũng như DPRR của ngân hàng
- Thành lập Uỷ ban quản lý tài sản Nợ - Có của Ngân hàng trực thuộcHội đông quản trị để quản trị toàn diện rủi ro của ngân hàng, theo định hướngtập trung vào phòng ngừa, cảnh báo sớm hơn là XLRR sau khi xẩy ra
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG PHÁT TRIỂN
TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về ngân hàng phát triển Việt Nam
Ngân hàn Phát triển Việt Nam (NHPTVNVN) được thành lập theo quyếtđịnh số 108/QĐ-TTg ngày 19/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổchức lại Quỹ Hỗ trợ phát triển với chức năng, nhiệm vụ được quy định nhưsau:
- Huy động, tiếp nhận vốn của các tổ chức trong và ngoài nước để thựchiện chính sách TDĐT phát triển và TDXK của nhà nước theo quy định củaChính phủ
Trang 30- Thực hiện chính sách TDĐT: Cho vay đầu tư; Hỗ trợ sau đầu tư; Bảolãnh TDĐT.
- Thực hiện chính sách TDXK: Cho vay xuất khẩu (cho nhà xuất khẩu vànhà nhập khẩu vay); Bảo lãnh TDXK; Bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiệnhợp đồng xuất khẩu
- Nhận uỷ thác quản lý nguồn vốn ODA được chính phủ cho vay lại;nhận uỷ thác, cấp phát cho vay đầu tư và thu hồi nợ của khách hàng từ các tổchức trong và ngoài nước thông qua hợp đồng nhận uỷ thác giữaNHPTVNVN với các tổ chức uỷ thác
- Uỷ thác cho các tổ chức tài chính, tín dụng thực hiện nghiệp vụ tíndụng của NHPT
- Cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng và tham gia hệ thốngthanh toán trong nước và quốc tế phục vụ các hoạt động của NHPTVN theoquy định của pháp luật
- Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực TDĐT phát triển vàTDXK
- Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Thủ tướng Chính phủ giao
Hệ thống NHPTVN chính thức đi vào hoạt động trên phạm vi cả nước từngày 017/2006 theo điều lệ tổ chức và hoạt động được Thủ tướng Chính phủphê duyệt tại quyết định số 110/2006/QĐ-TTg ngày 19/5/2006 Bộ máy củaNHPTVN được tổ chức thành hệ thống từ Trung ương đến các tỉnh, thành phốtrực thuộc TW Hoạt động của NHPTVN tập trung hỗ trợ vào các ngành, lĩnhvực, chương trình kinh tế lớn của đất nước và các vùng, miền khó khăn cầnkhuyến khích đầu tư
Hoạt động của NHPTVN không vì mục đích lợi nhuận; tỷ lệ dự trữ bắtbuộc bằng % (không phần trăm); không thải tham gia bảo hiểm tiền gửi; đượcchính phủ đảm bảo khả năng thanh toán, được miễn phí nộp thuế và cáckhoản nộp NSNN theo quy định của pháp luật
Trang 31NHPTVN được cấp vốn điều lệ là 10.000 tỷ đồng, được cấp bù chênhlệch lãi suất, cấp vốn hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, được bù đắp rủi ro tín dụng donguyên nhân khách quan khi thực hiện cho vay đầu tư và bảo lãnh tín dụngđầu tư Đồng thời, với tính chất cho vay ưu đãi, hoạt động cho vay đầu tư củaNHPTVN luôn có lãi suất thấp hơn lãi suất cho vay thương mại trên thịtrường Nhà nước sẽ cấp bù cho NHPTVN phần chênh lệch lãi suất do lãi suấtcho vay thấp hơn lãi suất huy động.
Cơ cấu tổ chức của NHPTVN gồm có: Hội đồng quản lý, ban kiểm soát,
bộ máy điều hành (Hội sở chính đặt tại thủ đô hà nội; Sở giao dịch I, II; Chinhánh và văn phòng đại diện tại Tp Hồ Chí Minh)
- Hội đồng quản lý: gồm 07 thành viên, trong đó có 04 thành viên
chuyên trách là Chủ tịch HĐQL, Uỷ viên HĐQL kiêm Tổng Giám đốc, Uỷviên HĐQL kiêm Trưởng ban Kiểm soát, Uỷ viên chuyên trách HĐQLNHPTVN và 03 thành viên bán chuyên trách là các Thứ trưởng các Bộ Tàichính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Bộ phận giúpviệc Hội đồng quản lý có 03 chuyên trách và 3 thành viên bán chuyên trách làlãnh đạo cấp Vụ của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhànước Việt Nam
- Ban Kiểm soát: Có tối đa thành viên chuyên trách
- Ban lãnh đạo: Gồm tổng Giám đốc, 7 phó Tổng giám đốc và 01 kế
toán trưởng
- Bộ máy điều hành
Hội sở chính đặt tại Thủ đô Hà Nội; Văn phòng đại diện tại TP Hồ ChíMinh 02 Sở Giao dịch, 05 Chi nhánh khu vực và 49 Chi nhánh NHPTVN tạicác tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Hoạt động của NHPTVN chịu sự quản lý nhà nước của các cơ quan Nhànước như sau:
Trang 32Thủ tướng chính phủ quyết định quy chế quản lý tài chính của ngân hàngphát triển theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Bộ Tài chính: Giám sát, kiểm tra, thanh tra các hoạt động của Ngân hàngphát triển Giám sát việc quản lý, sử dụng vốn và tài sản của nhà nước do BộTài chính giao hoặc uỷ nhiệm cho ngân hàng phát triển cho vay lại và thu hồi
nợ hoàn trả vốn cho ngân sách nhà nước; hướng dẫn thực hiện chế độ kế toáncủa ngân hàng phát triển; làm đầu mối xử lý những vấn đề chung và nhữngvấn đề liên ngành của ngân hàng phát triển trước khi trình thủ tướng chínhphủ quyết định
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn Ngân hàng Phát triển thựchiện các nghiệp vụ có liên quan đến hoạt động tín dụng đầu tư phát triển vàtín dụng xuất khẩu; Giám sát ngân hàng phát triển trong việc thực hiện cácnghiệp vụ theo quy định của pháp luật
Bộ Nội vụ: Hướng dẫn ngân hàng phát triển thực hiện đúng các chế độ,chính sách quản lý và đào tạo cán bộ, viên chức
Bộ lao động - Thương binh và xã hội: Hướng dẫn Ngân hàng Phát triểnthực hiện các chính sách, chế độ về lao động, tiền lương và phụ cấp; kiểm tra,giám sát ngân hàng phát triển trong việc thực hiện các quyết định của Thủtướng chính phủ về chế độ tiền lương và phụ cấp cho cán bộ, viên chức củangân hàng phát triển
Các Bộ, cơ quan chức năng khác thực hiện quản lý nhà nước đối vớingân hàng phát triển theo chức năng và thẩm quyền
2.2 Thực trạng hoạt động của NHPTVN giai đoạn 2006 - 2010
2.1.1 Kết quả hoạt động của NHPTVN giai đoạn 2006 - 2009
NHPTVN hoạt động theo kế hoạch được Thủ tướng chính phủ giao hàngnăm; trong những năm qua, kế hoạch của NHPTVN được giao khá lớn, nămsau lớn hơn năm trước, nhằm mục tiêu hỗ trợ ngày càng nhiều hơn cho tăngtrưởng và xuất khẩu
Trang 33Bên cạnh các nhiệm vụ thường xuyên, NHPTVN cũng thực hiện cácnhiệm vụ khác được Thủ tướng Chính phủ giao như: quản lý cấp phát, thanhtoán các dự án thành phần thuộc dự án Thủy điện Sơn La, bao gồm: di dân táiđịnh cư, xây dựng nhà máy, làm đường giao thông tránh nhập, đồng thời, từnăm 2008, NHPTVN cũng thực hiện việc cho vay và đầu tư xây dựng đường
ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng và xây dựng dự án tuyến đảo Tân Vũ - LạchHuyện Từ năm 2009, NHPTVN được giao thêm nhiệm vụ bảo lãnh chodoanh nghiệp vay vốn của NHTM và cho doanh nghiệp vay vốn để thanh toántiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp thôi việc
Kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao hàng năm của NHPTVN
Đơn vị: tỷ đồng
Năm 2009
Trang 34đầu tư trong nước nước toàn xã hội và 7% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội củagiai đoạn này; bằng 1,83 lần so với giai đoạn 2003 * 2005 Tính chung trong
3 năm qua, số vốn được huy động mới tăng trưởng bình quân 18%/năm Kếtquả huy động cụ thể như sau:
Biểu huy động vốn trong nước
2005 là 36 tháng; năm 2006 là 48 tháng; năm 2007: 61,1 tháng; năm 2008:50,3 tháng Tại thời điểm 31/12/2008, thời hạn bình quân còn lại của số dưvốn của số dư vốn huy động là 53 tháng Cơ cấu doanh số vốn huy động tronggiai đoạn 2006 - 2009 như sau:
Các chi nhánh, Sở Giao dịch và Hội sở chính cùng thực hiện huy độngvốn từ thị trường trong phạm vi khung lãi suất được NHPTVN quy định, phùhợp với khung lãi suất TPCP do Bộ Tài chính công bố để NHPTVN huy độngtrong từng thời kỳ Thời gian qua, vốn huy động NHPTVN chủ yếu từ pháthành TPCP và vay các đối tác truyền thống như: Tiết kiệm bưu điện, bảohiểm xã hội, kho bạc Nhà nước; các nguồn huy động khác chủ yếu là vốnngắn hạn và quy mô khoản huy động nhỏ Tại thời điểm 31/122008, số dưvốn huy động của các tổ chức này chiếm tới 15,8% số dự nguồn vốn huyđộng của toàn ngành (BHXH: 6,7%; TKBĐ: 4,2%, Quỹ tích luỹ trả nợ nước
Trang 35ngoài: 2%; KBNN: 2,9%); số dư nguồn vốn huy động từ TPCP chiếm 72,2%,các nguồn huy động khác chiếm 12%.
* Vốn ODA cho vay lại và Quỹ quay vòng
Trong gần 3 năm triển khai nghiệp vụ này (từ 01/7/2006 đến31/12/2008), NHPTVN đang quản lý cho vay lại đối với 376 dự án với 1,15
tỷ USD so với thời điểm mới thành lập Các dự án được thực hiện trên 58tỉnh, thành phố trên cả nước, trong đó tập trung chủ yếu vào Thành phố HồChí Minh do Sở Giao dịch II quản lý, thành phố Hà Nội do Sở giao dịch Iquản lý, các chi nhánh có số dự án, mức vốn cho vay lớn là Hải Dương, CầnThơ, Thành phố Đà Nẵng…
Tình hình vốn ODA cho vay lại tại quỹ HTPT/ NHPTVN
- Quỹ đầu tư ngành giống nguồn vốn viện trợ không hoàn lại từ chính
phủ Đan Mạch trị giá 8,4 triệu USD tập trung cho vay các doanh nghiệp sảnxuất giống cây lương thực;
- Quỹ Phà nguồn vốn viện trợ không hoàn lại từ Chính phủ Đan Mạch trị
giá 187 tỷ đồng do Danida uỷ thác cho NHPTVN thực hiện từ năm 2003, tập
Trang 36trung cho vay các dự án đóng mới phà hoạt động ở vùng Đồng bằng sông CửuLong;
- Chương trình phát triển khu vực tư nhân nguồn vốn do chính phủ Đan
Mạch ủy thác trực tiếp trị giá 26,5 tỷ VND chủ yếu cho vay đối với các doanhnghiệp tư nhân Việt Nam có hợp tác, liên doanh với đối tác Đan Mạch;
- Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, nguồn vốn ODA Chính
phủ Đức giai đoạn I - trị giá 7 triệu EUR, tập trung hỗ trợ vốn cho các doanhnghiệp vừa và nhỏ để đầu tư cho các lĩnh vực chế biến nông lâm thủy hải sản
và thủy điện nhỏ;
- Quỹ quay vòng cấp nước đô thị WB trị giá 10 triệu USD được triển
khai từ năm 2005 để cho vay đầu tư các dự án cấp nước tại đô thị nhỏ, thịtrấn, thị tứ;
- Dự án đầu tư cấp nước Phần Lan - giai đoạn I nguồn vốn viện trợ
không hoàn lại của Chính phủ Phần Lan trị giá 5,5 triệu EUR, được triển khai
từ tháng 01/2004, đầu tư cho các tỉnh đồng bằng sông Hồng và các tỉnh miềnnúi;
- Dự án cấp nước và hỗ trợ kỹ thuật của AFD: gồm 28 triệu EURO hỗ
trợ xây dựng hệ thống cấp nước sạch cho 7 tỉnh đồng bằng sông cửu long vàkhoảng 2 triệu EURO để hỗ trợ kỹ thuật cho các tỉnh đồng bằng sông Hồng
và các tỉnh miền núi;
- Dự án cấp và hỗ trợ kỹ thuật của AFD: gồm 28 triệu EURO hỗ trợ xây
dựng hệ thống cấp nước sạch cho 7 tỉnh đồng bằng sông cửu long và khoảng
2 triệu EURO để hỗ trợ kỹ thuật cho các chủ đầu tư để nâng cao năng lực
- Quản lý, kiểm soát chi và trực tiếp giải ngân từ tài khoản đặc biệt chocác tiểu dự án, cụ thể là các dự án/chương trình: (i) Dự án Năng lượng nôngthôn II, vốn vay WB; (ii) Chương trình cấp nước đô thị, vốn vay WB
* Tín dụng xuất khẩu:
Trang 37NHPTVN luôn nỗ lực hoàn thành kế hoạch TDXK hàng năm do Thủtướng Chính phủ giao Đặc biệt năm 2007, NHPTVN đã hoàn thành vượt15% so với chỉ tiêu dư nợ bình quân TDXK mà Thủ tướng chính phủ giao;năm 2008 đã hoàn thành ở mức 128% kế hoạch Thủ tướng giao.
Kết quả cho vay TDXK
đó tập trung vào cho vay lĩnh vực nông-lâm-thủy sản (77%); riêng mặt hànggạo cũng chiếm tỷ trọng tương đối lớn (8%) Hoạt động cho vay TDXK cũngchuyển dịch theo cơ cấu ngành từ chỗ hỗ trợ xuất khẩu nhóm hàng nông-lâm-thủy sản là chính sang các mặt hàng công nghiệp Hiện nay mặt hàng gạo đãkhông thuộc danh mục mặt hàng vay vốn TDXK Các mặt hàng thủy hải sản,điều, cà phê… thường chiếm tỷ trọng lớn nay có xu hướng giảm dần sang cácsản phẩm công nghiệp như cơ khí trọng điểm (đóng tàu biển), máy tínhnguyên chiếc, dây điện, cáp điện… NHPTVN cũng đã cho vay mặt hàng quạtđiện, máy vi tính nguyên chiếc trả chậm 05 năm sang Cuba, dây cáp điện sangthị trường Irắc Riêng đối với mặt hàng cá basa, NHPTVN đã cho vay gần
Trang 386.000 tỷ đồng để đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng chủ lực của khu vực Đồngbằng Sông Cửu Long ra nhiều nước trên thế giới.
Các doanh nghiệp vay vốn TDXK tại NHPTVN chủ yếu là DNNN,chiếm tới hơn 35%, phần lớn là các Tổng công ty thực hiện các khoản vaytheo Hiệp định Chính phủ; các công ty TNHH và công ty cổ phần chiếmtương ứng 24,8% và 34,8% doanh số cho vay năm 2008
* Bảo lãnh tín dụng đầu tư
Trong hơn 6 năm triển khai, kết quả thu được đối với hình thức bảo lãnhtín dụng đầu tư rất ít ỏi, tổng số chỉ có 05 dự án được bảo lãnh tín dụng đầu tưvới số vốn 32,5 tỷ đồng; tập trung vào lĩnh vực sản xuất, chế biến nông sản.Đến nay, các dự án hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đối với các tổ chức cho vay vàchấm dứt quan hệ bảo lãnh tín dụng
* Bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn các NHTM theo quyết định 14
Qua hơn 1 tháng triển khai, NHPTVN đã ký thoả thuận hợp tác với 30NHTM về lĩnh vực bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp, đến nay,NHPTVN đã phát hành 320 thông báo chấp nhận bảo lãnh (trong đó 31 dự án
và 289 phương án) với số tiền 2.132 tỷ đồng và phát hành 190 chứng thư bảolãnh (chứng thư cho 9 dự án và 181 phương án) với số tiền 1.142 tỷ đồng Từchối bảo lãnh 89 hồ sơ bảo lãnh Hiện nay NHPTVN đang thẩm định 320 hồ
sơ với số tiền là đề nghị bảo lãnh là 2.520 tỷ đồng
* Tình hình thực hiện hỗ trợ sau đầu tư
- Trong giai đoạn 2006 - 2009, đến ngày 31/12/2009 NHPTVN đã kýhợp đồng HTSĐT 406 dự án, với số vốn hỗ trợ cho cả dự án là 220 = 1332 tỷđồng (bình quân một dự án được hưởng HTSĐT khoảng 3 tỷ đồng) trên tổng
số dự án được ký hợp đồng HTSĐT từ năm 2000 đến 31/12/2009 là 2872 dự
án, với số vốn hỗ trợ cho cả dự án là: 3.734 tỷ đồng Số vốn HTSĐT thực cấptrong giai đoạn 2006 - 2009 là 914,705 tỷ đồng
Trang 39- Hỗ trợ LSSĐT tăng trưởng rất nhanh qua các năm, riêng giai đoạn
2006 - 2009 số dự án tăng bình quân 5%/năm; tổng số vốn theo hợp đồng hỗtrợ tăng bình quân 29%/năm; số vốn thực cấp tăng bình quân 40%/năm
tỷ đồng, năm 2010: 336,2 tỷ đồng; số vốn còn cấp cho các dự án trong cácnăm giai đoạn 2011 – 2015 là: 1.124 tỷ đồng Phần lớn các dự án đề nghịđược hỗ trợ LSSĐT thuộc các ngành sản xuất, chế biến nông lâm thủy sản,đầu tư thiết bị thi công xây dựng, xây dựng công nghiệp
2.3 Hoạt động cho vay đầu tư tại NHPT
2.3.1 Cơ chế, chính sách của Nhà nước về cho vay đầu tư tại NHPTVN
Cùng với sự đổi mới của đất nước, quá trình phát triển của nền kinh tế
-xã hội, những chính sách ưu tiên phát triển của Nhà nước cũng có nhiều thayđổi nhằm tối ưu hóa tác động của hoạt động tín dụng Hoạt động cho vay đầu
tư nói riêng và hoạt động tín dụng Nhà nước nói chung được thực hiện trên cơ
sở các Nghị định do Chính phủ ban hành:
Trang 40- Nghị định 106/2004/NĐ-CP ngày 01/04/2004 của Chính phủ về tíndụng đầu tư phát triển của nhà nước thay thế cho Nghị đinh số 43/1999/NĐ-
CP ngày 29/06/1999 về tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước
Đối tượng cho vay đầu tư theo NĐ 106/2004/NĐ-CP tập trung chủ yếuvào các dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp: dệt, in nhuộm hoàn tất; cấp nướcsạch phục vụ sinh hoạt; sản xuất ô tô, đóng mới tàu biển, sản xuất động cơdiezel,… các dự án thuộc chương trình kiên cố hóa kênh mương, tôn nền vượtlũ
Đồng tiền cho vay là Việt Nam đồng
Lãi suất vay vốn được Bộ Tài chính xác định tương đương 70% lãi suấtcho vay trung và dài hạn bình quân của các ngân hàng thương mại nhà nước.Theo các quyết định của Bộ Tài chính ban hành là 5,4%và sau đó là 6,6%.Mức vốn cho vay tối đa là 70% tổng số vốn đầu tư của dự án
Thời hạn cho vay xác định theo khả năng thu hồi vốn phù hợp với đặcđiểm sản xuất, kinh doanh của dự án và khả năng trả nợ của chủ đầu tư nhưngtối đa khôn quá 12 năm; riêng các dự án trồng rừng tối đa không quá 15 năm.Các chủ đầu tư khi vay vốn đầu tư hoặc được bảo lãnh tín dụng đầu tưđược dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm tiền vay
Về xử lý rủi ro: Chủ đầu tư được xem xét gia hạn nợ, khoanh nợ, xóa nợhoặc miễn, giảm lãi tiền vay, do nguyên nhân bất khả kháng: thiên tai, hỏahoạn, tai nạn bất ngờ gây thiệt hại tài sản; do nhà nước điều chỉnh chính sách;hoặc các trường hợp chuyển đổi sở hữu, xử lý khó khăn về tài chính cho cácdoanh nghiệp có sử dụng đầu tư phát triển của nhà nước thì thực hiện theoquy định của chính phủ như đối với các khoản nợ ngân hàng thương mại.Quỹ dự phòng rủi ro được trích hàng năm tối đa bằng 0,2% trên dư nợbình quân cho vay đầu tư