1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG NAM BỘ Nhóm Xtiêng

17 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 37,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến nay tộc danh của người Xtiêng chưa được giải thích có nghĩa là gì.Nhưng một số người liên tưởng đó là tên của một vị anh hung giải phóng dân tộc hoặc thủy tổ của một cộng đồng có tên

Trang 1

BÀI TẬP MÔN: VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG NAM BỘ

Nhóm Xtiêng

I.Nguồn gốc,tộc danh( tên gọi) và địa bàn cư trú

Dân tộc Xtiêng hay còn gọi là người của cao nguyên miền thượng thuộc nhóm ngữ hệ Môn-Khơ me Với tên gọi khác là Xa điêng, Bu lơ,Bu díp, Bu đêh,bu lanh,ray,Bà Rá, Dalmer,Rong ah,Bu le.Có ngừoi phân chia cộng đồng Xtiêng thành

4 nhóm: ( Bu đíp,Bu dêh,Bu lach,Bu Lơ) trong khi đó có ngừơi khẳng định thực chất chỉ có 2 nhóm Bu lơ và Bu đêh

Người Xtiêng phân bố hầu hết ở các tỉnh miền đông nam bộ và là tộc người

có số dân đông nhất ở khu vực này Cụ thể:

-Bình phước : 63.733 người chiếm 8,7% số dân toàn tỉnh và 95% số người Xtiêng của cả nước

-Tây ninh: 1.469 người

-Đông nai: 1.135 người

Đến nay tộc danh của người Xtiêng chưa được giải thích có nghĩa là gì.Nhưng một số người liên tưởng đó là tên của một vị anh hung giải phóng dân tộc hoặc thủy tổ của một cộng đồng có tên là Điêng

Với những truyền thuyết,những nghi ngờ về tộc danh của người xtiêng đã gợi cho giới khoa học những phán đoán về cộng động người Xtiêng vốn là cư dân bản địa trong khu vực tiếp giáp giữa rừng và biển ,là hướng di chuyển của tộc ngừời Môn-Khơ me đi từ lục địa ra biển hoặc ngược lại

Trong các cuộc kháng chiến của dân tộc như kháng chiến chống Pháp, chống

Mỹ ( 1954-1975) ,người Xtiêng đã góp công sức của mình vào thắng lợi của dân tộc

II Khái quát kinh tế của người Xtiêng.

Trang 2

Nguồn lương thực chính là lúa gạo, khoảng 80% lúa gạo do rẫy cung cấp

Trang 3

a Trồng trọt:

Xưa kia, tương tự các tộc ít người khác ở miền Đông Nam bộ, người Stiêng làm nương rẫy du canh Họ ăn nước trời, ăn rừng, đến mùa làm nương rẫy, bà con dựng chòi tại đây để đỡ mất công đi lại, tiện chăm sóc lúa và hoa màu, xa nhà suốt

vụ trồng tỉa

Rẫy gọi là miar, mir; rẫy mới là miar mây, rẫy cũ là miar puh Đi chọn đất làm rẫy là ông tộc trưởng tom yau (đứng đầu căn nhà dài gồm nhiều gia đình nhỏ) và một số người lớn tuổi Họ chọn bãi đất tương đối rộng, bằng phẳng, chất đất có màu đen (nhiều mùn hữu cơ), có lồ ô mọc thì đó là đất tốt Nếu đang phát hoặc đã phát xong rẫy mà có con cù lần hoặc con trăn tới thì người ta bỏ ngay vì sợ xui: mùa thất, bệnh tật ốm đau

Tháng giêng, tháng hai âm lịch bà con bắt tay chặt hạ cây cối, phát sạch lùm bụi và cỏ Lúc đó bà con cúng làm đất rẫy với lời cầu khấn mộc mạc:

"Yang bri yang te nar ơi hây uynh mi lơ miar lơ klanh xac ê lơ par tanh ê lơ tach yâng tach tây ghe lơ miar lơ bar ôi muôi coi an kmay đac xe pai iar an kmay xa "

"Hỡi thần rừng, thần đất, hôm nay tôi xin đất làm rẫy được tốt, xin các vị đừng làm (tôi) bệnh, làm đứt chân đứt tay; (tôi) làm rẫy làm lúa mai mốt cho ông bà có rượu, thịt gà ăn ”

Khoảng một, hai tháng sau cây cối bị chặt hạ khô đi Khoảng từ giữa tháng ba

âm lịch, nhà nhà đốt rẫy Khói bốc nghi ngút từng đám, thành cột lên bầu trời quang quẻ cuối mùa khô

Tháng tư âm lịch, khi trời bắt đầu mưa lác đác một số trận, nhắm có thể trồng tỉa được, bà con cúng rẫy trước khi trồng tỉa Lễ vật là gà, rượu, trầu cau, bánh nếp Chủ nhà khấn khứa ngắn:

"Yang boh yang bar nar ơu hay kzưr til xăm huon măt tac ria ê an rô rưt tx'ưt

um xăm huon râng ban khay ban xnăm "

Trang 4

III Văn hóa vật thể người Xtiêng.

1 Nhà ở và các công trình kiến trúc

Nhà ở của người Xtiêng không đồng nhất giữa các khu vực Chẳng hạn ở Bù

Lơ người Xtiêng sống trong nhà đất dài với gia đình lớn theo chế độ phụ hệ; ở Đắc Kia người Xtiêng cư trú trong nhà sàn,nha nua va nhà đất ngắn với gia đình nhỏ; ở

Bù Đeh người Xtiêng lại sống trong nhà sàn dài với gia đình lớn theo chế độ mẫu hệ.Bộ khung nhà người Xtiêng dù nhà sàn hay đất đều trên cơ sở vì hai cột (không

có kèo) Căn cứ vào cấu tạo của bộ khung nhà đất của người Xtiêng hiện nay còn thấy thì nhà đất của người Xtiêng là rất thô sơ Nhà đất của người Xtiêng chỉ như

là một cái chòi, mái được kéo gần sát mặt đất Cửa ra vào rất thấp, mở ở hai đầu hồi và một cửa ở mặt trước nhà, mái trên cửa cũng phải cắt bớt hoặc làm vòng lên như ở nhà người Mnông.Đối với loại nhà dài,tức là nhà của các gia đình nhỏ có cấu trúc cao thấp không quy định cụ thể( có khi cao tới 2 m),có cửa sổ ở chính giữa nhà,mái sà sát đất.Trong nhà thường phân đôi dọc theo chiều dài,một phần để ngủ cho các hộ gia đình sẽ có ngăn riêng,một phần để tiếp khách ,vui chơi ,đánh chiêng.Nhà làm bằng tre,gỗ,lợp lá tranh Tuy nhiên,trong quá trình phát triển,hiện nay người Xtiêng đã xuất hiện những ngôi nhà độc lập của từng hộ gia đình hạt nhân,với tiện nghi sinh hoạt ngày càng đầy đủ hơn

2 Trang phục

Trang phục của người Xtiêng mang phong cách như của một số tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn –Khơ me nên khá đơn giản, đàn bà mặc váy, đàn ông đóng khố Mùa đông người ta choàng một tấm vải để chống rét Người Xtiêng để tóc dài búi sau gáy, tai sâu lỗ, hoa tai bằng gỗ, ngà voi và xăm mặt, xăm mình với

Trang 5

những hoa văn giản đơn Mọi người nam, nữ, già, trẻ đều thích đeo các loại vòng Trẻ em còn nhỏ đeo lục lạc ở hai cổ chân

Ngày nay,trang phục của người Xtiêng đã có sự biến đổi nhưng khá hiếm hoi.Thiếu nữ mặc áo chui đầu màu chàm có hoa văn ở cầu vai,nách và gấu áo,đầu quấn dải băng nhỏ,mảnh,váy dài quá bắp chân màu đỏ được chia thành ba phần nằm ngang Đây là loại vải quấn quanh than từ phải sang trái khi mặc

3.Ẩm thực

Trong xã hội cổ truyền,người Xtiêng nấu ăn bằng nồi đất hoặc ống tre.Bát cơm làm bằng vỏ quả bầu khô Người Xtiêng ăn cơm tẻ, cơm nếp Thực phẩm thường ngày của họ chủ yếu là những thứ kiếm được trong rừng và sông suối (nay

có mua ở chợ hay của thương nhân).Người Xtiêng ăn thịt voi rừng săn được ,còn nếu thịt voi nhà chết họ sẽ không ăn mà đem đi chôn Điều này có thể giải thích theo 2 hướng : 1 là người Xtiêng cấm kỵ ăn thịt voi nhà vì liên quan tới tâm linh Trường hợp 2 là do voi là con vật nuôi có ích với người dân,gần gũi với họ nên họ không ăn thịt chúng

Thức uống truyền thống nước lã, rượu cần.Các ché rượu cần khi dùng xong thường bỏ ngoài vườn ,khi làm rượu mới sẽ đem vào nhà chế biến và bảo quản lại Người Xtiêng còn hút thuốc lá,thuốc lá là loại tự trồng được.Sau khi thu hoạch xong,lá thuốc khô được chà xát bằng dao cật nứa cho vào ống tre,nén lại để dùng trong thời gian dài Chính vì thế,thuốc lá của người Xtiêng rất nặng

Phương tiện vân chuyển : Các loại gùi rất thông dụng, cách gùi như ở các tộc Thượng khác Nhóm gần người Việt và Khơ Me, các loại xe gỗ 2 bánh dùng đôi bò kéo từ lâu đã trở thành một phương tiện vận chuyển phổ biến

IV Văn hóa tinh thần của người Xtiêng.

1.Ngôn ngữ,chữ viết

Trang 6

Ngôn ngữ của người XTiêng thuộc nhóm ngữ hệ Môn-Khơ me Nhiều người XTiêng biết nói tiếng Mnông,Mạ,hiện tượng song ngữ Việt-Xtiêng ngày càng được

sử dụng phổ biến Nguời Xtiêng không có chữ viết riêng

2.Tôn giáo tín ngưỡng

Người Xtiêng trước đây theo tín ngưỡng cổ truyền,đã tiến hành cả ba lễ cúng trong năm gồm lễ chuẩn bị chọn đất làm rẫy ( pôl-nong) lễ cầu mùa(Broh ba) lễ cúng cơm mới ( Pư ba khiêu)

Lễ cúng lúa được người Xtiêng ở vùng cao gọi là lớp Prăk Pa,vùng thấp gọi là Nktao Khe.Nếu như trước đây lễ cúng được tiến hành 3 lần trong một năm và cứ 3 năm lại đảo lệ ,tổ chức to hơn năm trước thì bây giờ chỉ còn cúng một lần trong năm ,lễ cúng vào ngày thu hoạch ,được gùi lúa lần đầu

Người Xtiêng tin tưởng vào thần linh( Prak) có chức năng bảo hộ ,giúp đỡ và đào tạo cho hạt hạt lúa thật to,cây lúa nặng hạt Ngoài ra họ còn thờ thần rừng,thần sét,thần trời…Truớc khi chon nơi gieo hạt,người Xtiêng cúng vái ông bà rừng để được phá rừng làm rẫy

Họ quan niệm: Trong chu kỳ sinh hoạt của một đời người ,từ khi sinh ra cho tới lúc nhắm mắt xuôi tay họ sẽ phải giữ gìn được các hình thức tín ngưỡng riêng của mình như cúng ngày sinh,cúng đầy tháng,đầy năm,cúng đặt tên,cúng cà rang,cúng khi bệnh cúng sau khi cưới và cúng bỏ mả

Người Xtiêng quan niệm vạn vật hữu linh nên chú trọng vào việc thờ cúng các thần

3 Văn hóa,nghệ thuật dân gian

Người Xtiêng rất yêu âm nhạc Nhạc cụ quan trọng nhất, đồng thời là một trong số gia tài quý ở xã hội truyền thống, là cồng và chiêng; nhóm Bù Lơ chủ yếu dùng chiêng, mỗi bộ 6 chiếc, nhóm Bù Ðek (Bù Ðêk) chủ yếu dùng cồng, mỗi bộ 5 chiếc Riêng trong đám ma, chỉ dùng 3 cồng hoặc 3 chiêng Ngoài ra, còn có tù và, trống, khèn bầu, các loại đàn Người Xtiêng cũng có kho tàng truyện cổ khá phong

Trang 7

phú, có những điệu hát của mình Tuy nhiên, đến nay, tương tự như nhiều nơi khác, ngay cả cồng, chiêng cũng chỉ còn rất ít so với xưa kia

Kho tàng văn học dân gian Xtiêng ở Bình Phước rất phong phú với đủ thể loại như thần thoại, truyền thuyết, sử thi, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, thơ ca, hát nói dân gian Người Xtiêng thường kể về nguồn gốc ra đời dân tộc mình, về sự tích các vị thần, về những lễ hội, kiêng kỵ và sinh hoạt thường ngày,

về tình yêu nam nữ Những già làng và các cụ bà người Xtiêng là những người còn nhớ và thuộc nhiều vốn văn học quý giá này Thêm một điểm đáng quan tâm nữa là cộng đồng người Xtiêng rất phổ biến lối hát nói, hát ru, hát kể (Tâm – pớt) do một người hoặc hai người cùng thể hiện Đây là một hình thức truyền tải lịch sử tộc người cùng những tâm tư, tình cảm của người Xtiêng với những người trong cộng đồng của mình

4 Lễ hội

Người Xtiêng cũng có nhiều lễ hội như lễ hội đâm trâu với tục hiến sinh để tạ

ơn và cầu xin thần linh.Lễ hội đâm trâu của người Xtiêng có nghi thức quay đầu trâu như là một hình thức trả ân nghĩa trong cộng đồng

Lễ hội cầu mưa (người Xtiêng) là một lễ hội của người đồng bào dân tộc

Xtiêng Là lễ hội rất quan trọng, do đó công việc chuẩn bị phải chu đáo Thời gian

cứ mùa khô, đầu mùa mưa Các vị già làng và trưởng làng quy định thời gian hành

lễ, sau đó họp cả bon để phân công công việc và tổ chức theo từng bon (Wăng) Trai tráng và một số nghệ nhân làm cột cây nêu và những công việc nặng nhọc khác Phụ nữ chuẩn bị củi, nước, gạo nếp, ống nứa để nấu cơm lam, một ché rượu cần để cúng lễ Trâu buộc chặt vào cây nêu, mọi người đứng thành vòng tròn chứng kiến nghi lễ Đến giờ, cả làng tập trung đầy đủ, Già làng (Bu Kuông) tuyên

bố lý do buổi lễ 1 đến 3 người đàn ông ở độ tuổi trung niên cầm lao hoặc chà gạc

để giết trâu, Già làng lấy máu bôi lên cột cây nêu, dùng gạo trắng và muối rải lên mình trâu Sau đó ngồi bên ché rượu cần để cúng các vị thần lúa, thần mưa, thần

Trang 8

rừng, cầu cho mưa thuận gió hòa để dân làng có một mùa vụ năm mới bội thu, cầu cho vạn vật sinh sôi nảy nở.Sau khi lễ hội kết thúc, mọi người xẻ trâu lấy thịt nướng, uống rượu cần, biểu diễn cồng chiêng, những điệu múa cùng các nghệ nhân

và nam nữ Già làng giáo huấn về luật tục và xướng sử thi cho đến sáng hôm sau

Lễ hội Hao Trol Va hay Lễ hội lên nhà lúa là một lễ hội của người đồng bào

dân tộc Xtieng Màu sắc tín ngưỡng phồn thực nông nghiệp Hiện thất truyền, đang

có ý đinh phục dựng lại

Phần lễ mang ý nghĩa nhân văn và nghệ thuật được thể hiện trong không khí trang nghiêm và thành kính

Phần hội mang nhiều hoạt động sinh hoạt cộng đồng: dân ca, dân vũ, múa dân gian với lễ phục truyền thống

V.Văn hóa xã hội và thiết chế làng Xtiêng.

1.Thiết chế làng

Thiết chế làng của người Xtiêng được tổ chức theo các làng ,có nơi gọi theo sóc của người Khơ me hay buôn của người Mnông Mỗi làng có khoảng 30 gia đình ,mỗi gia đình có nhiều hộ và theo nếp Đứng đầu làng là già làng,giúp việc cho gia làng là hội đồng già làng Già làng là người cao tuổi trong các tộc người, dòng họ, làng bản Sống gương mẫu, có công trong việc hình thành và phát triển cộng đồng làng bản Am hiểu việc làng, việc nước, phong tục tập quán, lễ nghi của dòng họ và của dân tộc mình hoặc các dân tộc cùng sống trong làng bản Có khả năng và kinh nghiệm xử lý hài hòa, hiệu quả việc làng, việc nước, quan hệ dòng họ

và các dân tộc Được dân cư trong làng kính trọng, suy tôn là “Già làng” một cách

tự nhiên, trên nguyên tắc tự nguyện Thực tế cho thấy, vai trò của Già làng được trọng thị chính từ sự hiểu biết và gương mẫu của họ Bằng khả năng và kinh nghiệm, họ xử lý hài hòa giữa việc làng và việc nước, luật tục và luật pháp, việc dòng họ và tộc người; Họ biết thuyết phục và động viên, nói dân nghe, làm dân tin,

Trang 9

dân phục và dân theo

Như vậy, vai trò của Già làng thường xuyên có tác động quan trọng đến nhiều mặt của cuộc sống cộng đồng làng bản, giúp ổn định chính trị - xã hội để phát triển kinh tế - văn hoá, không chỉ với hiện tại mà còn lâu dài Có một số việc làng bản, việc dòng họ và tộc người nếu không có già làng làm thì khó ai làm thay được Đây chính là “cầu nối” rất tốt giữa Đảng và Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội với người dân, làm cho nhiều việc được giải quyết “thấu tình đạt lý”

2.Quan hệ xã hội

Mỗi cặp vợ chồng và con cái là một "bếp" (nak) Nhiều bếp hợp thành một nhà (yau) Mỗi làng xưa gồm một vài nhà, càng về sau số nhà càng tăng do việc

tách hộ ở riêng Mỗi người không chỉ thuộc về một "bếp", một nhà, một làng, mà còn là thành viên của một dòng họ nhất định và nằm trong các mối quan hệ họ hàng nhất định và nằm trong các mối quan hệ họ hàng khác nữa Về tổ chức xã hội truyền thống, làng là đơn vị bao trùm và nổi bật: trong tự bảo quản ở thì ông "già làng" và các bô lão có uy tín cao khác đóng vai trò quan trọng đặc biệt Xưa kia, ngoài một số ít người giàu có và đa số thuộc lớp nghèo, xã hội Xtiêng đã có những

"nô lệ gia đình" do phải ở đợ, hoặc bị mua về

Các quan hệ xã hội Xtiêng bao gồm

a.Quan hệ giữa thành viên với cộng đồng làng

Là mối quan hệ thể hiện sự gắn bó và lệ thuộc cá nhân vào cộng đồng trách nhiệm và nghĩa vụ cảu mỗi cá nhân là tuân thủ lợi ích và danh dự của cộng đồng buôn làng

Các hành động đều gắn đến sự gắn kết cộng đồng, ngăn ngừa việc li khai cộng đồng hoặc xão trộn cộng đồng

b.quan hệ giữa các thành viên với nhau:

Trang 10

+ Người cao niên trong buôn làng được các thnàh viên kính trọng => họ là những người lớn tuổi giàu kinh nghiệm

+người nghèo khổ mồ côi ,được cộng đồng buôn làng giúp đỡ , chia sẻ

c.mối quan hệ giữa các buôn làng Xtiêng :

Mối quan hệ giữa các buôn làng là giải quyết sự tranh chấp giữa các buôn làng

VD : Người buôn A lây bệnh cho người buôn làng B thì buôn A phải bồi thường cho buôn làng B

Trước đây để giải quyết tranh chấp các buôn làng không dễ dàng ,kết thúc bằng cuộc cướp phá ,đốt nhà bắt tù binh lam tôi tớ

VI Phong tục,tập quán của người Xtiêng.

1 Lễ tết

- Người xtieng có rất nhiều lễ cúng lớn khác nhau

- Tết của người xtieng được gọi là lễ cúng rơm sau khi tuốt lúa rẫy xong,trước khi đốt rẫy vụ sau

- Vao ngày mồng một đầu năm,con chúa họ hàng các nơi đều đổ về nhà người cao tuổi nhất rồi tỏa ra các hàng xóm,anh,em để gửi đến nhau những lời chúc mừng năm mới,nhận những món quà lì xì từ người thân

- Sau đó họ lại tiếp tục ngồi cùng với nhau bên chén rượu ngâm từ cây rừng,chiếc bánh và những ống cơm lam để nhâm nhi,thưởng thức hương vị mùa xuân

- Mồng 2 và mồng 3 họ cũng vẫn quây quần,vui chơi bên nhau như vậy

2 Cưới xin

- Sau thời gian yêu đương và tìm hiểu khi quyết định cưới nhau,chàng trai về thông báo với cả dòng họ,bà con thân thiết để xin cưới cô gái.Cả dòng họ nhà trai

sẽ quyết định dựa vào các yếu tố như:cô gái có siêng năng,giỏi giang,xinh đẹp và

Ngày đăng: 29/03/2021, 16:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w