MỤC LỤC: I Kiến trúc chùa Khmer Nam Bộ: 2 1. Đặc điểm kiến trúc ngôi chùa Khmer Nam Bộ: 2 2. Đặc điểm nghệ thuật trang trí, điêu khắc: 8 3. Kiến trúc chùa KhLeang ở Sóc Trăng: 9 IILàm rõ nhận định “ Văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng”: 12 1.Các sắc thái văn hóa tộc người 13 2.Các sắc thái văn hóa vùng 14 3.Đa dạng văn hóa và sự phát triển xã hội 15 a Từ đa dạng sinh học tới đa dạng văn hóa 15 b Đa dạng và thống nhất của văn hóa 15 c Đa dạng văn hóa và sự giao lưu, hội nhập 17 d Tính đặc thù và khả năng phát triển 18 e Về mô hình tổng thể phát triển văn hóa các dân tộc ở nước ta 20 III. Một số hình ảnh minh họa.: 20 IV.Tài liệu tham khảo: 30
Trang 1MỤC LỤC:
I/ Kiến trúc chùa Khmer Nam Bộ:
Trong kho tàng di sản kiến trúc ở Đồng bằng sông Cửu Long, ngôi chùa Khmer cómột vị trí hết sức quan trọng bởi ý nghĩa lịch sử, nghệ thuật và xã hội của nó trong đờisống người dân Ngôi chùa không những là nơi sinh hoạt tôn giáo mà còn là một trungtâm sinh hoạt văn hóa của cộng đồng dân cư trong khu vực Nơi đây thường diễn ra cáchoạt động văn hóa lễ hội, thể dục thể thao trong năm Ngôi chùa như một biểu tượng vănhóa tinh thần và vật chất của dân cư trong khu vực với những đặc điểm kiến trúc hết sứcđộc đáo và có nhiều nét riêng biệt, đặc sắc
1 Đặc điểm kiến trúc ngôi chùa Khmer Nam Bộ:
Ngôi chùa là một công trình công cộng quan trọng bậc nhất trong phum sóc Đến vùng
cư trú của người Khmer, điều gây ấn tượng mạnh mẽ đầu tiên là ngôi chùa Từ xa, thấpthoáng ẩn hiện trong vùng rừng cây dầu, thốt nốt hay dừa là bộ mái cao vút rất ấn tượngcủa ngôi chùa
Nếu như ngôi chùa Việt thường được xây dựng ở những nơi có phong cảnh sơn thủyhữu tình hoặc tuân theo những nguyên tắc của phong thủy thì vị trí xây dựng của ngôichùa Khmer Nam Bộ thường là nơi được cho là có tụ linh khí của đất trời, trên một khu
đất rộng, được bao bọc bởi những hàng cây dầu, cây thốt nốt hay rừng tràm tốt tươi (Ảnh
1, 21) , ngoài ra, chùa còn tuân thủ một số nguyên tắc trong triết lý Phật giáo Tiểu thừa
cũng như phong tục tập quán của người Khmer Bên cạnh đó, vị trí ngôi chùa phải phùhợp với điều kiện tự nhiên của địa bàn cư trú
Trang 2Ngôi chùa Khmer thường có các hạng mục công trình như: ngôi chánh điện là điệnthờ chính; sala (nhà hội), nơi tín đồ dâng cúng lễ và cũng là nơi dùng bữa vào dịp lễ củanhà sư cùng phật tử; trai đường (thọ trai) nơi các sư tập trung thực phẩm và dùng bữa saukhi khất thực; dãy nhà tăng (tăng xá), nơi ở các sư; nhà ở của các lục cả, lục nhì (trụ trìtrưởng, phó); lớp học cho các sư cũng là trường học cho trẻ em ở phum, sóc; tháp cốt,tháp thiêu, nơi đựng tro hài cốt sau hỏa táng; cổng chính, tường rào và cuối cùng là miếuthờ Ông Tà (Neakta).
Ngôi chùa Khmer có bố cục phân tán nhưng vẫn tuân thủ những nguyên tắc riêng của
nó Từ ngoài vào phía đông là cổng chính, được kiến tạo khá phong phú, mang đậmphong cách dân tộc Nối với cổng là con đường xuyên qua khu rừng nhỏ thâm u khá dài,đây là con đường “nhất chính đạo” tượng trưng cho con đường duy nhất dẫn tới phật đài.Cuối đường là trung tâm ngôi chùa Chánh điện nằm bên trái đường chánh đạo, chạy dọctheo hướng đông - tây Theo quan niệm của Phật giáo Tiểu thừa: Phật ở phương tây, ngồinhìn về phương đông để giáo hóa, ban ân huệ Hướng đông còn là hướng của thần thánh,hướng linh thiêng Chánh điện là trung tâm của bố cục, đối diện với chánh điện phía bênkia đường chánh đạo - các lớp học của sư Mặt tiền lớp học hướng về phía nam là phươngcủa Bát Nhã - tức trí tuệ nhằm thu hút năng lực vô biên, khai sáng trí tuệ, thông hiểu phậtpháp, tiến tới thức tỉnh, gạt bỏ sân si, giữ tâm trong sạch… Bên cạnh còn có ngôi trườngtiểu học dành cho trẻ em trong khu vực dân cư Quan trọng thứ hai là ngôi sala, côngtrình được xây dựng đầu tiên trong chùa Sala nằm về phía sau góc tây - bắc của chùa.Tậptrung trước chánh điện là vườn tháp cốt của các nhà sư đã viên tịch Do số lượng sư sãi tutại chùa khá đông nên trong khuôn viên chùa còn có nhiều tăng xá, các tăng xá thườngnằm phía sau hoặc bên phải chánh điện Trong chùa còn có miếu thờ Neakta với kiến trúcđơn giản, nằm ở gần cổng chính, góc đông - bắc chùa Đây là minh chứng cho việc cộngsinh văn hóa giữa tín ngưỡng dân gian và Phật giáo Ấn Độ Ngoài ra trong chùa còn cónhiều giếng nước ngọt để lấy nước sinh hoạt hằng ngày
Nóc chùa được thiết kế theo một tổng thể hình tam giác cân, mái chùa có ba cấp, mỗicấp được chia thành ba nếp, nếp giữa lớn hơn, hai nếp phụ hai bên bằng nhau, không có
Trang 3tháp nóc Ở bốn góc nóc mái chính điện được trang trí hình tượng bốn đuôi rồng uốn
lượn tạo cảm giác uyển chuyển, mềm mại cho ngôi chùa (Ảnh 2, 21)
Đặc điểm kiến trúc ngôi chánh điện:
Mặt bằng ngôi chánh điện có dạng hình chữ nhật, chiều dài gần gấp đôi chiều rộng.Bên ngoài có một đến hai tường rào ngăn cách giữa các cấp nền khác nhau Để đến nền
sân chánh điện, phải đi qua các cổng ở đầu hồi tường rào (Ảnh 3, 22)
Sân chánh điện có hình chữ nhật, trong sân ngoài tháp cốt của các sư còn có các hòn
đá linh nhằm xác định ranh giới khu vực chánh điện, người Khmer gọi là đá kiết giới(seima) Việc chôn cất các seima này rất quan trọng Các hòn đá linh có thể được chônchìm hoặc nổi trên sân, hay được đặt trong một am nhỏ Sân nền chung quanh chánh điện
là nơi các tín đồ tụ tập, cầu nguyện và hành lễ giống như lối chạy đàn thứ nhất ở stupacủa Ấn Độ
Có 3 loại chánh điện: chánh điện có hành lang xung quanh, chánh điện chỉ có hànhlang hai đầu và chánh điện không có hành lang Hành lang rộng từ 1,8 - 2,5m có chứcnăng làm nơi chạy đàn trong quá trình hành lễ, là nơi các tín đồ chuẩn bị lễ vật, vì trongcác ngày lễ lớn chỉ các nhà sư có trách nhiệm mới được vào chánh điện
Đối với các ngôi chánh điện có hành lang xung quanh và hành lang ở hai đầu hồi thìhành lang ở đầu hồi hướng đông là tiền sảnh có lối vào chính, với hai bộ cửa đối xứng haibên trục dọc Nội thất trong chánh điện gồm có 7 gian với 8 hàng cột Từ ngoài vào 3gian đầu là không gian tiền đường, hai gian tiếp theo là không gian thiêu hương và haigian còn lại là phật điện Tại đây đặt tượng phật Thích Ca chính và các tượng phật Thích
Ca nhỏ khác Bệ tượng cách tường hồi khoảng hơn một mét là lối chạy đàn, giống nhưtrong các điện thờ ở các Chaitya Phật giáo Ấn Độ Chiều rộng chánh điện gồm 3 bước (4hàng cột) được chia ra không gian chính dành cho các sư chủ trì buổi lễ, và các tín đồ làm
lễ xuất gia, thọ giới, hai bên cánh với khẩu độ nhỏ hơn là gian để các tín đồ phật tử ngồi
hành lễ (Ảnh 4, 22)
Trang 4Đối với loại chánh điện thứ ba khép kín thì chỉ là biến thể của hai loại trên mà thôi.Nhìn chung nội thất loại này, đều có chiều dài 7 gian và chiều rộng gồm 5 bước.
Muốn vào chánh điện, trước hết phải qua các cổng Có loại chánh điện cổng ở 4 bên,trùng với 4 hướng đông, tây, nam, bắc với hai lớp tường rào (chùa Kleang, Sóc Trăng).Nhưng cũng có loại chánh điện chỉ có cổng vào ở hai đầu hồi và chỉ có một lớp tường rào(chùa Âng, chùa Hang, chùa Vũng Liêm) Đây là loại phổ biến nhất Riêng chùa Phướn
có tới 4 cổng từ hai hướng đông, tây Và cuối cùng là loại không có cổng và tường rào(chùa Dơi, chùa Trà Tiên, Sóc Trăng)
Ngôi chánh điện thường đứng trên nền cao từ 0,5 - 1m và như được cao thêm bởihàng cột đứng thẳng bên ngoài hành lang Trên các đầu cột ở bốn góc được trang trí hình
tượng chim thần Krud (Ảnh 5, 23) mình người đầu chim, trên đầu cột còn lại là các tượng
nữ thần có cánh Keynor
Các hình tượng này ở tư thế vươn lên đỡ lấy diềm mái, tạo sự chuyển tiếp giữaphương đứng của các cột và phương ngang của mái Diềm mái được trang trí đầy hoa vănhoa lá chạy suốt chiều dài ngôi chánh điện Trên mặt đứng chánh điện ở hai đầu hồi đông,tây là hai bộ cửa đối xứng nhau với kích thước trung bình từ 1,5 x 2,4m, đôi khi có cửacòn cao hơn Mặt bên trổ các cửa sổ bằng gỗ hai cánh, kích thước trung bình rộng từ 1,0 -1,2m, cao 1,4 - 2,4m Trên mi cửa còn được trang trí các hoa văn Do cách bố trí cửa nhưvậy, nên ánh sáng lọt vào bên trong vừa đủ để tạo nên một không gian tôn kính, thâmnghiêm nơi chánh điện
Cuối cùng, bộ phận kiến trúc nổi bật và gây ấn tượng mạnh mẽ nhất ở mặt đứng ngôi
chánh điện chính là bộ mái (Ảnh 7, 23) Độ dốc của bộ mái chính tới 600 và bộ mái phụ
300 thật sự hiệu quả cho việc che chắn mưa nắng tại vùng đất phương Nam Nhờ bộ mái
có tỷ lệ hài hòa với thân nhà cùng với các bước cột của chiều dài nhà tạo nên vẻ đẹp đầy
ấn tượng Mái thường được lợp ngói tráng men màu vàng hoặc đỏ điểm xuyến với màuxanh tựa như những chiếc vảy rồng lấp lánh dưới ánh mặt trời, trông khá đẹp mắt Trên
bờ nóc, bờ chảy, nghệ nhân Khmer trang trí các hình tượng rắn thần Naga (Ảnh 6, 23).
Trang 5Đỡ lấy bộ mái cao lớn của ngôi chánh điện là hệ khung cột kèo đơn giản, thuộc dạng
“xuyên trính”, giống ngôi nhà người Việt Một bộ vì kèo thường có sáu hàng cột, trong
đó có hai cột cái đỡ vì kèo tam giác, hai cột con đỡ hai gian hai bên và ngoài cùng là cáccột hành Nét đặc thù của bộ mái chùa Khmer chính là có độ dốc cao lại được phân ranhiều cấp và nhiều nếp Có loại đến bốn tầng mái liền với ba nếp mái chồng lên nhau, cóloại có ba tầng mái với ba nếp mái hoặc không có nếp mái nào Đặc biệt có loại lại cótháp nóc ở giữa các tầng mái như chùa Hang ở Trà Vinh, chùa Trường Khánh ở SócTrăng Đây là loại chịu ảnh hưởng kiến trúc của các ngôi chùa ở Thái Lan và Campuchia
Kiến trúc tháp (Ảnh 8, 24):
Những ngôi tháp mộ, tháp thiêu thường thấy ở các ngôi chùa Khmer là hình ảnh thunhỏ và biến thể của tòa stupa Ấn Độ Tháp mộ có quy mô phụ thuộc vào vai vế trong xãhội và khả năng tài chính của người đã khuất Tháp có bệ hình vuông, mỗi cạnh dài 2m.Phần trên còn được trang trí hình ảnh Reahu lấy trong điển tích Phật giáo Thân tháp làmột khối vuông thon dần lên trên, phía trước có chừa một hốc nhỏ để đưa hũ cốt vào, tiếpđến là một khối hình thuôn hoặc hình quả chuông úp, bề mặt để trơn hoặc trang trí hoavăn Trên quả chuông là các đĩa tròn nhỏ dần lên tới đỉnh Phần lớn trên đỉnh được trangtrí đầu tượng thần Mahaprum bốn mặt, đầu đội mũ nhọn Đấy là những nét cơ bản, cònthực tế, tháp mộ rất đa dạng về hình thức cũng như trang trí hoa văn
Sala (nhà hội)
Sala (Ảnh 9, 24) là ngôi nhà đầu tiên được xây dựng trong chùa Đây là nơi thờ phật,
đồng thời cũng là chỗ sinh hoạt của các vị sư sãi trong lúc chính điện và các hạng mụckhác chưa có điều kiện xây dựng Kiến trúc sala mang dấu ấn của ngôi nhà sàn dài truyềnthống của người Khmer, có cốt nền cao hơn mặt đất khoảng 1 - 2m Cột chống bằng gỗhoặc gạch, xây vòm cuốn hay bằng bêtông cốt thép Tầng hầm dùng làm kho Sàn đượclàm bằng cách ghép các thanh gỗ lại với nhau Mặt bằng sala rộng rãi với diện tích có khicòn lớn hơn cả chánh điện Thông thường, có ba bước cột, khoảng giữa lớn nhất, cácbước hai bên nhỏ hơn Chiều dài sala có từ 5 - 7 gian, cá biệt đến 11 gian như ở chùa
Trang 6Phướn Gian cuối của khoảng giữa có bàn thờ Phật hướng đông Mặt bằng sàn sala khôngđồng đều mà được phân chia thành các khu vực có cốt nền khác nhau, phù hợp với chứcnăng sử dụng và chức sắc sư sãi trong chùa.
Kết cấu sala tương tự như kết cấu ngôi chánh điện, có loại theo kiểu kết cấu xuyêntrính, có loại theo kiểu nọc ngựa của ngôi nhà dân gian người Việt ở đồng bằng sông CửuLong
Loại thứ hai, xây dựng bằng vật liệu bêtông cốt thép Mặt bằng hình chữ nhật hoặcvuông Đây cũng là dạng biến thể của ngôi thala truyền thống, tuy nhiên trên đỉnh mái cócác tháp dạng Angkor nhiều tầng và được trang trí rắn thần Nagar
Loại thứ ba, đơn giản hơn hai loại trên và mang dáng dấp một cổng tam quan củangười Việt Dạng này có kết cấu bằng bêtông cốt thép, đặc biệt trên tấm đan bêtông có batháp kiểu Angkor
Dù ở dạng nào thì kết cấu cổng tam quan của chùa Khmer vẫn toát lên tư tưởng triết
lý Phật giáo Đó là ba nguyên tắc tư duy của trí tuệ Tam quan (thật ra là tam quán) baogồm: không quan, mang ý nghĩa lối nhìn về bản thể, uyên nguyên; giả quan: lối nhìn vềquy luật vô thường và trung quan: cách nhìn thấu suốt đạt chân lý là phật pháp
Trang 7Cột cờ (Ảnh 11, 25) là một kiến trúc tuy nhỏ nhưng khá độc đáo, dùng để treo cờ ngũ
sắc của Phật giáo Vị trí của nó thường rất tự do nhưng phải gần ngôi chánh điện Cột cờ
có khi đơn giản chỉ là cột sắt trên nền xi măng, trên đỉnh thường có chim thần Hoặc cầu
kỳ như ở chùa Quy Nông có đế được xây như một ngôi chánh điện thu nhỏ Trên phầngiao nhau của mái có cột cờ, trên đỉnh được trang trí chim thần, hay sư tử… Cột cờ còn
có ý nghĩa khác là tượng trưng cho trục vũ trụ, trục linh thiêng nhằm thu hút sinh khí củatrời đất đem phân phát cho chúng sinh
2 Đặc điểm nghệ thuật trang trí, điêu khắc:
Trong không gian chánh điện, nghệ thuật trang trí, tượng hoa văn được tập trung chủyếu ở phật điện Tuy được chia ra nhiều tầng cấp nhưng chỉ có một hình ảnh tượng Thích
Ca với các chủ đề khác nhau mà thôi
Ở các cột được sơn mài màu đen, tô vẽ nhũ vàng với các hình rồng, hoa sen nở cùngphối với những đường diềm hoa văn hình thoi cũng được nhũ vàng Trên các bức cửavõng ở bệ thờ được chạm lộng cực kỳ tỉ mỉ hình hoa lá sơn son thếp vàng lộng lẫy Ngoàitượng phật, trong chùa còn sử dụng các tượng linh thú khác để trang trí như Krud thânngười đầu chim, tượng Keynor có dáng tiên nữ mình chim với gương mặt hiền lành đẹp
đẽ giống tượng vũ nữ Apsara, đội nón chóp nhiều tầng, mình mặc áo xà rông hoặc haibên hông có cánh
Reahu là hình tượng trang trí độc đáo và rất phổ biến tại chùa Khmer Nhân vật Reahugắn liền với thần thoại cổ, mang màu sắc tín ngưỡng bản địa Tượng Reahu có dạngchung là mặt mày dữ tợn, đội mắt trợn trừng, miệng rộng với răng nhọn lởm chởm, chỉ cóđầu, không có mình, hai tay cầm mặt trời hay mặt trăng đưa vào miệng để nuốt; hay ởdạng đang thổi một luồng cuồng phong được cách điệu Hình tượng này thường xuất hiệntrên cổng, vòm cửa mặt tiền chánh điện, trên bàn thờ phật hay trên các mặt tháp
Tượng Chằn (Yeak) (Ảnh 12, 25), hình dáng được nhân cách hóa, dưới dáng vẻ của
một võ tướng có thân hình cao to, chắc khỏe, toàn thân mặc giáp tục, vẻ mặt hung tợn,
Trang 8mắt lồi, mày xếch, miệng rộng nhe nanh nhọn, tay cầm chày vồ Tượng Chằn đứng trướccổng chùa hay xung quanh chánh điện, có nhiệm vụ bảo vệ chùa.
Trên diềm mái được trang trí hoa văn dạng hoa lá hay những dãy mũi giáo hướngxuống Còn ở trường hồi tam giác thì trang trí các đề tài có liên quan đến sự tích ra đờicủa Phật giáo như thái tử cưỡi cổ xe ngựa, phật tọa thiền trên đài sen hay đơn giản chỉ là
hoa sen, phật Thích Ca và Chư Tiên, Reahu (Ảnh 13, 26) phun gió nuốt trăng.
3 Kiến trúc chùa Kh'Leang ở Sóc Trăng:
Chùa Kh'Leang (Ảnh 14, 26) tọa lạc trên một khuôn viên rộng 3.825m2, được xây
dựng từ năm 1533 Lúc đầu chỉ là ngôi chùa lợp lá sau nhiều lần trùng tu được xây cấtbằng gạch ngói Kiến trúc hiện nay là do lần trùng tu cách đây hơn 80 năm
Sóc Trăng là vùng đất có nhiều chùa chiền, gần như là tỉnh có nhiều ngôi chùa nhấtcủa Đồng bằng sông Cửu Long, hầu hết là chùa với lối kiến trúc mang đậm phong cáchKhmer Nam Bộ Chỉ riêng ở khu vực thành phố Sóc Trăng đã có hơn 20 ngôi chùa .Chùa với đồng bào Khmer mang ý nghĩa rất thiêng liêng Ngôi chùa, ngoài việc dùng để
cử hành các nghi lễ tôn giáo, còn là nơi lưu giữ các giáo lý nhà Phật; các tác phẩm vănhọc nghệ thuật; là nơi diễn ra các lễ hội mang tính văn hóa đặc trưng của dân tộc Khmer.Chùa có kiến trúc gần giống như các chùa Phật giáo Nam Tông ở Thái Lan vàCampuchia Chùa Kh’leang xứng đáng là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia vớinhững đặc trưng riêng biệt - Ngôi chính điện được xây dựng từ năm 1918, với chiều dài
24 m, chiều rộng 13 m, hiện nay không còn vết tích của ngôi chính điện cũ
+ Ngôi chính điện ( Ảnh 15, 27) được xây trên mặt bằng cao hơn mặt đất gần 2 mét, được tráng xi măng, có bậc tam cấp để đi lên (Ảnh 16, 27).
Bậc một cao 1m, các bậc hai 7m tạo thành vòng sân đường nội bộ (để làm lễ), bậc haicao 0,8 m cách nền ba là 4,5m có dựng hàng rào bao quanh và trang trí hoa văn
Trang 9Bậc nền 3 là mặt bằng ngoài tráng một lớp xi-măng vôi có trang trí hoa văn theo cáchoạ tiết riêng biệt hình cánh sen hoặc các hình khối, tạo thành những đường viền cáchvách chính điện 1,50 m thành một vòng hành lang xung quanh chính điện.
- Mặt bằng chính điện hình chữ nhật chạy dài theo hướng Đông –Tây, có cửa vào quay
Chân vách phía bên ngoài được chạm nổi những dãy hoa văn kết hợp thành mộtđường viền bao quanh ngôi chánh điện có chiều cao 1,30 m, chỗ giới hạn trên đường viềnđược đặt cửa sổ dọc theo tường dài, mỗi bên có 07 khung, cửa ra vào được đặt ở hai đầuchính điện, mỗi đầu có 02 khung, cửa sổ có kích thước theo tỉ lệ 1÷2 (1,2 m x 2,4 m), cửacái cũng có tỉ lệ kích thước là 1÷2 (1,6 m x 3,2 m)
+ Ngôi chánh điện được dựng bằng 07 hàng cột ngang ở phía trước, mỗi hàng có 10cây cột trụ kéo dài ra phía sau
- Các hình ảnh, hoa văn được trang trí bên trong chánh điện đạt đến đỉnh cao khi xét
về độ tinh xảo
+ Các bức tường thấp được xây dựng theo hành lang theo hình cánh sen hoặc các hìnhkhối, tạo thành những đường viền cách vách chánh điện 1,5 m
Trang 10+ Phía trên mỗi khung cửa là một ô trang trí hoa văn được đắp nổi bằng xi-măng dạngchiếc mũ sơn màu vôi đỏ hình tam giác cân, hai cạnh bên lõm vào, hai góc đáy cong lên.
- Toàn bộ khung và cánh cửa của ngôi chính điện chùa là một kì công của nghệ thuậtkhắc gỗ
+ Trên hai cánh cửa gỗ, các nghệ nhân thể hiện cuộc giao đấu giữa tiên nữ và chằn
(Yeak) (Ảnh 18, 28) Hai nhân vật một đại diện cho cái thiện, một cho cái ác quyết tâm
giao đấu một mất, một còn
+ Bên cạnh đó là một hệ thống hoa văn chi chít những hoạ tiết, bố cục gọn gàng đầy
đủ, đường nét uốn lượn, uyển chuyển, nét đục chắc khoẻ, tỉ mỉ, làm ta liên tưởng đến đôibàn tay khéo léo, sự kiên nhẫn lâu dài, bộ óc thông minh sáng tạo của người nghệ sĩ
+ Bộ mái chùa (Ảnh 19, 29) cũng được xây dựng theo thể thức tam cấp và mỗi cấp lại
có 3 nếp Nếp giữa lớn hơn nếp phụ ở hai bên và không có tháp nóc chùa Các góc máichùa được đắp hình đuôi rắn cong vút Trên mái có các trang trí như là hình vượn, rồngđược xếp ở những ranh giới mà mái được nâng lên Hình tượng rồng của người Khmer cóđầu rồng mảnh mai, có sừng nhọn, uốn lượn, thân rồng là thân của một loại cá (poo-cor)nên rồng không có chân, trên lưng giương những đao móc nhọn cong về phía đuôi, hìnhtượng rồng cũng được bố trí theo chiều dài đòn dông, nhưng đây là sự kết thúc của tầngmái có độ cao nhất Ở đây hình đầu rồng được đơn giản hoá, chỉ còn mang hình dáng vàchỉ lấy đặc trưng làm cơ sở để biểu hiện
+ Ngoài ra, chung quanh chính điện còn có các tượng khác
Trên tấm đà ngang ở cổng rào bậc nền hai và dưới chân cột ngôi chính điện có cáchình tượng với gương mặt hung dữ như thần Reahu được đắp nổi bằng xi-măng với đôimắt nổi trợn trừng, nhe răng thè lưỡi, tóc dựng ngược phun ra những trận cuồng phong.Trên đầu hàng rào người ta còn dựng các tượng chằn bằng xi-măng cao khoảng 1,3mét đứng cầm trượng chống đất trong tư thế bảo vệ chính điện và đức Phật, mình mặcgiáp trụ gương mặt trông thật hung tợn
Trang 11+ Ngoài và trong chính xuất hiện những mô típ tượng khác: hình chim muông hoa lá,hình tiên nữ đang múa trên bầu trời, nhất là bao quanh phía trong chánh điện có các hìnhhoạ mô tả về các tích của đức Phật Thích Ca từ lúc sinh ra cho đến khi đắc đạo.
+ Trên các khung cửa ngôi chánh điện được khắc chạm các nhân vật trong phục trangcủa người Khmer cổ
+ Chung quanh chánh điện còn có các tượng Phật, các tượng chằn trong tư thế bảo vệ
chánh điện.( Ảnh 20, 29)
Trong chánh điện còn có tượng Phật cao tới 6,8m, phần thân tượng cao 2,7m được đúcvào năm 1916
Bên cạnh đó, còn có những hình tượng khác như: hình chim muông hoa lá, hình tiên
nữ đang múa trên bầu trời
+ Trên 12 thân cột trong chánh điện được trang trí hoa văn thể hiện sự giao thoa nghệthuật của 3 dân tộc Kinh – Khmer - Hoa
Chùa Kh’leang còn là nơi lưu trữ một kho tàng tư liệu cổ bao gồm sách cổ, vật cổ vàcác tư liệu cổ
- Đặc biệt, một bản sao tài liệu ghi chép từ thư tịch gốc tìm hiểu về địa danh SócTrăng, sự kiện xây dựng chùa đầu tiên và các nhân vật có liên quan trực tiếp đến nhàchùa, vật cổ và hơn 50 tượng Phật làm bằng đồng do Phật tử cúng chùa
Chùa Kh’leang còn có một số công trình xây dựng khác như: Sa –la (nhà hội của sư
sãi và tín đồ) (Ảnh 21, 30), nhà tụng của sư sãi, nhà của vị đại đức trụ trì và các vị sư, lò
thiêu và các tháp để tro cốt người chết Ngoài ra, chùa còn là nơi cử hành các nghi thức
lễ truyền thống của dân tộc Khmer: Tết Chôl – Chnăm – Thmây, lễ hội Dolta, Lễ Ooc –
Om – Boc và đua ghe Ngo,
Trang 12II/Làm rõ nhận định “ Văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng”:
Việt Nam gồm 54 dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ, mỗi dân tộc một sắc tháiriêng, cho nên văn hoá Việt Nam là một sự thống nhất trong đa dạng Ngoài văn hoá Việt
- Mường mang tính tiêu biểu, còn có các nhóm văn hoá đặc sắc khác như Tày - Nùng,Thái, Chàm, Hoa - Ngái, Môn - Khơme, H’Mông - Dao, nhất là văn hoá các dân tộc TâyNguyên giữ được những truyền thống khá phong phú và toàn diện cuả một xã hội thuầnnông nghiệp gắn bó với rừng núi tự nhiên Dưới đây là cái nhìn khái quát về các lĩnh vựcvăn hoá chủ yếu:
1 Các sắc thái văn hóa tộc người
Việt Nam từ thời lập quốc với quốc hiệu Văn Lang - Âu Lạc (cách ngày nay khoảng2.500 năm) đã là quốc gia đa tộc người Các dấu hiệu văn hóa hiện tại còn nhận biết đượcqua các di vật khảo cổ học cho thấy, có thể cư dân của các quốc gia cổ đại ấy nói cácngôn ngữ khác nhau thuộc ngữ hệ Môn - Khmer cổ, Việt - Mường cổ, Tày - Thái cổ.Cùng với việc mở rộng và củng cố cương vực của các triều đại phong kiến, thì tính đatộc người của quốc gia Việt Nam càng trở nên rõ rệt hơn Theo công bố chính thức củaNhà nước vào năm 1972, nước Việt Nam có 54 tộc người, thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ -tộc người khác nhau: Việt - Mường, Môn - Khmer, Tày - Thái, Nam Đảo, Mông - Dao,Tạng - Miến, Hán, với những sắc thái văn hóa rất phong phú, đa dạng Sắc thái văn hóa
đa dạng ấy thể hiện trên ba cấp độ: nhóm ngôn ngữ - tộc người, tộc người và của nhómđịa phương
Từ góc độ tộc người và văn hóa, Việt Nam giống như một Đông Nam Á thu nhỏ, bởi
vì trên lãnh thổ Việt Nam hiện tồn tại đầy đủ các đại diện của các nhóm ngôn ngữ - tộcngười (ngữ hệ và ngữ tộc) lớn của Đông Nam Á, như Nam Á (trong đó có Môn - Khmer,Việt - Mường, Thái, Mông - Dao), Nam Đảo (Austronesien) và Hán - Tạng (Tạng - Miến,Hán)
Trang 13Từ các mối quan hệ tộc người, sự tương đồng về những đặc trưng văn hóa cũng thểhiện khá rõ Mỗi tộc người thường hình thành các nhóm địa phương, giữa chúng cónhững khác biệt nhất định về thổ ngữ (phương ngữ), trang phục, phong tục tập quán, nghi
lễ Tình trạng đó khiến cho tính đa dạng và phong phú của văn hóa tộc người càng trởnên sống động và rõ rệt hơn
Như vậy, xét từ góc độ nguồn gốc và lịch sử, Việt Nam là nơi hội tụ giữa các tộcngười bản địa (Việt - Mường, Môn - Khmer) với các tộc từ phía bắc di cư xuống (Thái,Mông - Dao, Tạng - Miến, Hán) và từ biển phía nam lên (Nam Đảo) Tình trạng cư trúxen cài giữa các tộc người, một mặt, tạo môi trường thuận lợi cho sự giao lưu văn hóa;mặt khác, làm tách biệt giữa các nhóm địa phương của tộc người, góp phần làm suy giảmđáng kể tính thống nhất và cố kết văn hóa giữa các nhóm địa phương của tộc người,khiến bức tranh văn hóa càng trở nên phức tạp hơn
Do lịch sử phân bố và di cư của các tộc người, ở Việt Nam đã hình thành nên các vùngsinh thái - tộc người khác nhau, như: Cư dân - tộc người đồng bằng và ven biển (Việt -Mường), cư dân - tộc người thung lũng (Tày - Thái), cư dân - tộc người rẻo núi giữa vàcao nguyên (Môn - Khmer, Nam Đảo), cư dân - tộc người rẻo núi cao (Mông - Dao, Tạng
- Miến) Chính nhân tố sinh thái tộc người này đã tạo nên những truyền thống văn hóakhác nhau, góp phần làm phong phú, đa dạng hơn văn hóa các tộc người Việt Nam
2 Các sắc thái văn hóa vùng
Văn hóa vùng (hay văn hóa địa phương) là một thực thể văn hóa, hình thành và tồn tạitrong một không gian lãnh thổ nhất định, thể hiện qua một tập hợp các đặc trưng văn hóa
về cách thức hoạt động sản xuất; về ăn, mặc, ở, đi lại; về cách tổ chức xã hội cổ truyền vàgiao tiếp cộng đồng; về tín ngưỡng, phong tục và lễ hội; về các sinh hoạt văn hóa nghệthuật; về vui chơi giải trí; về các sắc thái tâm lý của cư dân, từ đó có thể phân biệt vớicác đặc trưng văn hóa của vùng khác Những đặc trưng văn hóa đó hình thành và địnhhình trong quá trình lịch sử lâu dài, do cư dân các dân tộc trong vùng thích ứng với cùng
Trang 14một điều kiện môi trường, có sự tương đồng về trình độ phát triển xã hội, đặc biệt là giữa
họ có mối quan hệ giao lưu văn hóa mật thiết
Trên cơ sở những quan niệm lý thuyết nêu trên có thể phân vùng văn hóa Việt Namthành 7 vùng văn hóa lớn, trong mỗi vùng lại có thể phân chia thành các tiểu vùng vănhóa nhỏ hơn, khoảng 23 tiểu vùng, bao gồm: vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ, vùng vănhóa Việt Bắc, vùng văn hóa Tây Bắc và miền núi Thanh - Nghệ, vùng văn hóa Bắc Trung
Bộ, vùng văn hóa Nam Trung Bộ, vùng văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên, vùng văn hóaNam Bộ
3 Đa dạng văn hóa và sự phát triển xã hội
a- Từ đa dạng sinh học tới đa dạng văn hóa
Việt Nam nằm trong vùng chuyển tiếp giữa lục địa Đông Á, Nam Á với lục địa Úcchâu, do vậy tính đa dạng về tự nhiên, thế giới động, thực vật càng thể hiện rõ rệt hơn Hệsinh thái của con người ở đây là “hệ tạp”, thức ăn của con người thuộc hệ sinh thái nàycũng là “ăn tạp”, tức là con người tìm kiếm, sản xuất và tiêu thụ nhiều loại thực phẩmkhác nhau cho bữa ăn hằng ngày
Nếu coi văn hóa là kết quả, là sự thể hiện quá trình thích ứng của con người trong môitrường tự nhiên nhất định, thì từ đa dạng sinh học đến đa dạng văn hóa là thuộc về quyluật và mối quan hệ bản chất Điều đó cũng có nghĩa, muốn bảo tồn và làm giàu tính đadạng văn hóa thì phải bắt nguồn từ việc bảo tồn và làm giàu đa dạng sinh học
Con người Việt Nam không phải là con người thuần nhất, mà thuộc về các tộc người,các nhóm địa phương, bộ phận dân cư, nghề nghiệp, tôn giáo, khác nhau Do vậy, cho
dù cùng một điều kiện tự nhiên, mỗi tộc người, nhóm dân cư đều có cách thích ứng riêng,mang truyền thống và bản sắc riêng của cộng đồng của mình
Cho nên, nếu hiểu khái niệm “sinh học” theo nghĩa bao quát, tức là không chỉ độngthực vật, mà cả con người với tư cách là một bộ phận của tự nhiên, thì từ đa dạng sinh