Quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Mã số: 60 34 04 03
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Hường
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tác giả xin chân thành cảm ơn tới Quý Thầy giáo, Cô giáo Học viện Hành chính Quốc gia đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt những kiến thức bổ ích trong suốt thời gian học tập, đó chính là những kiên thức nên tảng
để tác giả hoàn thành luận văn này
Xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn TS Nguyễn Thị Hường đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, giải đáp những thắc mắc trong suốt quá trình nghiên cứu để tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn tới phòng văn hóa huyện Hà Nội, thành phố Hà Nội, UBND các xã trong huyện đã giúp đỡ, đã tạo điều kiện giúp tác giả về thông tin, số liệu và góp ý để tác giả hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã động viện, khích lệ, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn, Một lần nữa tác giả xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2017
Tác giả luận văn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tƣ liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và rõ ràng Đề tài nghiên cứu một cách độc lập, không có sự sao chép kết quả của bất cứ để tài nào đã có trong lĩnh vực này Lời cam đoan này của tôi là đúng sự thật và tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Trang 5
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CẤP HUYỆN 9
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 91.1.1 Khái niệm văn hóa và văn hóa các dân tộc thiểu số 91.1.2 Đặc điểm văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam 161.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CẤP HUYỆN 171.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về văn hóa 171.2.2 Quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số 191.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số ở cấp huyện
……….241.3 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO HUYỆN BA VÌ, HÀ NỘI 311.3.1 Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể ở huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn 311.3.2 Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở huyện Phong Thổ, Lai Châu… ……… 361.3.3 Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số ở huyện Con Cuông, Nghệ An……… 371.3.4 Những bài học kinh nghiệm đối với huyện Ba Vì 43TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 45
Trang 6Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA CÁC
DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ 46
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HUYỆN BA VÌ 46
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 46
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 47
2.1.3 Các dân tộc thiểu số ở huyện Ba Vì 49
2.1.4 Đặc trưng giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì……… 50
2.2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ 61
2.2.1 Tổ chức bộ máy và việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì 61
2.2.2 Việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách của Nhà nước về bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số 63
2.2.3 Tổ chức hoạt động tuyên truyền, quảng bá sản phẩm văn hóa các dân tộc thiểu số…… 66
2.2.4 Huy động các nguồn lực xã hội tham gia vào việc bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số 68
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ 69 2.3.1 Những kết quả đạt được 69
2.3.2 Những hạn chế 70
2.3.3 Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cần giải quyết 71
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 73
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ 74
Trang 73.1 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN
HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ 74
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ 77 3.2.1 Nhận thức có tính hệ thống và tính khoa học đối với các giá trị văn hóa dân tộc thiểu số cần được bảo tồn và phát huy 77
3.2.2 Xây dựng và triển khai hệ thống chính sách, pháp luật về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc thiểu số một cách cụ thể, phù hợp 80
3.2.3 Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý văn hóa các dân tộc thiểu số 81
3.2.4 Tăng cường huy động các nguồn lực phục vụ quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số 84
3.2.5 Phát huy văn hóa dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch, phát triển kinh tế làng nghề 86
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 89
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 8Sở VHTTDL : Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với các nguồn lực kinh tế, tài nguyên thiên nhiên, quốc phòng an ninh… Văn hóa với hạt nhân cơ bản là phẩm chất, trí tuệ và những giá trị sáng tạo được tích lũy từ hàng ngàn thế hệ của con người, cũng được xem là một nguồn lực nội sinh quan trọng Nó quyết định đến sự phát triển bền vững của đất nước Một dân tộc nếu để mai một truyền thống văn hóa, sẽ khó giữ được bản sắc của dân tộc mình Văn hóa suy thoái sẽ gây trở ngại trực tiếp đến tiến trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó
Việt Nam là một quốc gia thống nhất đa dân tộc, với nền văn hóa nhiều màu sắc của 54 dân tộc anh em Các dân tộc cùng nhau chung sống từ lâu đời,
có chung một sứ mệnh lịch sử, cùng chung một sự nghiệp, cho nên đã nảy sinh một cách khách quan những mối quan hệ về các mặt trong đời sống xã hội, tạo nên nền văn hóa chung thống nhất từ sự đa dạng các sắc thái, bản sắc của nhiều tộc người Năm 1961, trong bài trả lời phỏng vấn báo Nhân đạo thường trú tại Hà Nội, trước câu hỏi của phóng viên về nguyên nhân làm nên sức mạnh kỳ diệu của nhân dân trong chín năm kháng chiến chống Pháp,
để bảo vệ chính quyền non trẻ cũng như khí thế mãnh liệt của dân tộc Việt Nam trong công cuộc xây dựng đất nước sau khi hòa bình lập lại, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã nhấn mạnh: “Nhân dân nước chúng tôi có ý chí phi thường là do
lòng tự trọng muốn sống làm người chứ không chịu làm nô lệ Điều này cũng đúng với những nhà tri thức nước chúng tôi thiết tha với nền văn hóa dân tộc,… Có lẽ phải để lên hàng đầu những cố gắng của chúng tôi nhằm phát triển văn hóa,… Nền văn hóa nảy nở hiện thời là điều kiện cho nhân dân chúng tôi tiến bộ” [17, tr 190] Những khẳng định đó của Người đã nói lên
Trang 10tộc, cũng như trong công cuộc hòa bình xây dựng chủ nghĩa xã hội Sứ mệnh lịch sử hiện nay là xây dựng nền kinh tế phát triển mạnh mẽ và nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Do vậy, đòi hỏi chúng ta phải biết kế thừa vốn văn hóa cổ truyền tốt đẹp, biết chủ động tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại, kết hợp hài hòa giá trị văn hóa của các dân tộc trong nền văn hóa chung thống nhất, tạo điều kiện để các dân tộc phát triển Đây cũng là nội dung quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước hiện nay
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chính sách liên quan đến công tác bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số, có tác dụng tích cực đối với việc kế thừa, phát triển truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc thiểu
số, đồng thời thúc đẩy bình đẳng, đoàn kết, tiến bộ toàn dân tộc Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, các cấp chính quyền và người dân bản địa đã gặp không ít khó khăn trong việc cân bằng giữa phát triển kinh tế với bảo tồn văn hóa, giữ gìn sự phong phú, đa dạng của văn hóa dân tộc
Trong số các quận, huyện, thị xã của Hà Nội, Ba Vì – một huyện nằm ở tận cùng phía Tây Bắc của Hà Nội, là nơi có nhiều người dân tộc thiểu số nhất với hơn 22 nghìn người sinh sống ở 7 xã miền núi Đời sống, nếp sinh hoạt, phong tục tập quán … của họ mang những sắc thái riêng, tạo nên sức hấp dẫn
và sự phong phú cho văn hóa Thủ đô Thế nhưng, cùng với sự bùng nổ của tiến bộ khoa học kỹ thuật, sự phát triển đa dạng của các phương tiện nghe nhìn, sự phát triển của nền kinh tế thị trường… đã ảnh hưởng làm thay đổi phương thức sản xuất, nếp sống, phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Sự giao lưu văn hóa giữa các vùng miền, lãnh thổ ngày càng mở rộng, đặt văn hóa các dân tộc thiểu số ở Ba Vì đứng trước một thách thức lớn, đó là sự mai một những giá trị văn hóa truyền thống tiểu biểu Nếu không có giải pháp gìn giữ và phát huy thì sẽ có nguy cơ mai một thậm chí
Trang 11mất hẳn Hơn nữa, hiện nay, sự quản lý của nhà nước, chính sách của các cấp chính quyền đối với lĩnh vực văn hóa các dân tộc thiểu số còn rất hạn chế
Xuất phát từ thực tế đó, tác giả xin chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về văn
hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội” làm đề
tài luận văn tốt nghiệp cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về văn hóa dân tộc thiểu số đã trở thành đề tài thu hút sự quan tâm nghiên cứu của Đảng, Nhà nước, các nhà nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Mỗi công trình có những góc
độ tiếp cận, phạm vi và cấp độ nghiên cứu khác nhau Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
Thứ nhất, nhóm các giáo trình về văn hóa, cung cấp cơ sở lý luận, những
kiến thức tổng quan về văn hóa, văn hóa các dân tộc Việt Nam, như:
- Trần Ngọc Thêm (1996), Giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb
Giáo dục;
- Giáo trình Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng (2000),
Nxb Chính trị Quốc gia;
- Vũ Ngọc Khánh, Giáo trình Văn hóa dân gian người Việt (2007), Nxb
Quân đội nhân dân
- Trần Quốc Vượng (2010), Giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb
Giáo dục;
Các cuốn giáo trình này cung cấp cho người đọc hiểu một cách khái quát
về đặc điểm, cũng như những nét độc đáo về văn hóa Việt Nam thông qua các phong tục, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống của dân tộc Việt Nam
Trang 12Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về văn hóa các dân tộc Việt
Nam có thể kể đến các công trình sau:
- Lê Ngọc Thắng, Lê Bá Nam (1994), Bản sắc văn hóa các dân tộc ở
Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc;
- Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa, tộc người,
Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội;
- Nguyễn Văn Huy (1998), Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam,
Nxb Giáo dục;
- Trường Lưu (2003), Toàn cầu hóa về vấn đề bảo tồn văn hóa dân tộc,
Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội;
- Hoàng Vinh (2007), Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn
hóa dân tộc, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội;
- Trần Ngọc Bình (2008), Văn hóa các dân tộc Việt Nam, Nxb Thanh
niên;
- Ngô Trọng Báu (2012), Phong tục tập quán và lễ hội của người Việt,
Nxb Văn hóa Thông tin
Các công trình nghiên cứu này giúp cho độc giả hiểu nhiều hơn về một nền văn hóa có truyền thống lâu đời, bền vững, gồm những tinh hoa được chắt lọc qua suốt chiều dài lịch sử, được biểu hiện thông qua phong tục, tập quán,
lễ hội, tín ngưỡng Từ đó, nâng cao nhận thức, góp phần giữ gìn và phát huy nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Ngoài ra, còn có một số đề tài thạc sỹ chuyên ngành chính sách công và quản lý công nghiên cứu về vấn đề giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số như:
Trang 13- Phạm Thái An (2012), Chính sách văn hóa đối với các dân tộc thiểu số
trên địa bàn tỉnh Lào Cai
- Vũ Ngọc Lan (2014), Quản lý nhà nước về bảo tồn, phát triển văn hóa
các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
- Hoàng Việt Hà (2015), Quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy di sản
văn hóa trên địa bàn huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam
Các công trình nghiên cứu trên đã hệ thống một cách khoa học, sâu sắc
về các vấn đề văn hóa, văn hóa các dân tộc thiểu số, các vấn đề về bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc thiểu số Đây là nguồn tài liệu quý giá, giúp tác giả tìm hiểu và nghiên cứu ở nhiều góc độ lý luận và thực tiễn khác nhau Qua đó,
có sự kế thừa, tổng hợp, phát triển các nội dung quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số gắn với đặc thù và tình hình phát triển kinh tế - xã hội riêng trên địa bàn huyện Ba Vì Tuy nhiên chưa có công trình nào đề cập trực tiếp đến hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, do đó việc lựa chọn đề tài này hoàn toàn không trùng lặp với bất cứ công trình nào đã được công bố
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì
Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Các dân tộc thiểu số sống quần cư ở vùng ven chân núi Tản gồm 7 xã miền núi của huyện Ba Vì gồm các xã: Ba Trại, Ba Vì, Tản Lĩnh, Minh Quang, Khánh Thượng, Vân Hòa, Yên Bài Do đó, không gian nghiên cứu cũng tập trung vào địa bàn 7 xã này
Trang 14 Về thời gian: Ba Vì trước đây là huyện thuộc tỉnh Hà Tây, kể từ ngày 01/8/2008 khi địa giới hành chính thủ đô Hà Nội được mở rộng, Ba Vì trở thành huyện thuộc Hà Nội Do đó, trong công tác quản lý nhà nước nói chung, quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số nói riêng có những thay đổi nhất định Do đó, Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số ở Ba Vì kể từ tháng 8/2008 đến nay (2017)
Về nội dung: Nghiên cứu tổ chức bộ máy việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện; việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách của Nhà nước về bảo tồn
và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số; việc tổ chức hoạt động tuyên truyền, quảng bá sản phẩm văn hóa các dân tộc thiểu số; việc huy động các nguồn lực
xã hội tham gia vào việc bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Luận văn hướng tới mục đích làm rõ công tác quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì giai đoạn từ năm 2008 đến nay Trên cơ sở đó, kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước đối với công tác này trong thời gian tới
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Một là, xây dựng khung lý luận cơ bản về văn hóa, dân tộc thiểu số, quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số làm cơ sở triển khai đề tài luận văn…
Hai là, trình bày, phân tích thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn 7 xã miền núi thuộc huyện Ba Vì Tiếp
Trang 15đó, nghiên cứu, đánh giá các mặt đạt được, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng đó
Ba là đề xuất các phương hướng, kiến nghị một số giải pháp, biện pháp nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì trong thời gian tới
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận nghiên cứu: Luận văn được thực hiện trên cơ sở
phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, pháp luật của Nhà nước, lý luận về quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa
Mác-5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận văn sử dụng một số phương
pháp nghiên cứu cụ thể, bao gồm: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, khảo sát, đánh giá, điều tra xã hội học, quan sát thực tiễn, nghiên cứu tài liệu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận:
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần hệ thống hóa lý luận về văn hóa, lý luận về dân tộc thiểu số, lý luận về văn hóa dân tộc thiểu số, lý luận về vấn đề bảo tồn, quản lý, phát huy văn hóa dân tộc thiểu số…
Luận văn là sự vận dụng lý luận nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa vào một trường hợp cụ thể là: các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trang 16Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ bổ sung, gợi mở, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì
Luận văn đưa ra các giải pháp, kiến nghị, giúp cho các cơ quan chức năng làm tốt công tác quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số của huyện Ba Vì nói riêng, cả nước nói chung
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy
ở các khóa đào tạo và các chương trình bồi dưỡng cho cán bộ văn hóa
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu thành 4 phần, cụ thể: Phần mở đầu, nội dung chính, kết luận và tài liệu tham khảo Trong đó, phần nội dung chính của Luận văn được chia thành 3 chương, bao gồm:
Chương 1 Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CẤP HUYỆN
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU
SỐ
1.1.1 Khái niệm văn hóa và văn hóa các dân tộc thiểu số
1.1.1.1 Khái niệm văn hóa
Thuật ngữ “văn hóa” bắt nguồn từ từ “Cultura” trong tiếng Latinh, có nghĩa là sự cày cấy, vun trồng Theo sự phát triển của lịch sử về mọi mặt, ngày càng có nhiều cách tiếp cận, cách quan niệm khác nhau về thuật ngữ này Mỗi nghiên cứu, phụ thuộc vào mục đích riêng, cách tiếp cận riêng mà đưa ra những khái niệm khác nhau, phản ánh các giác độ khác nhau của thuật ngữ văn hóa Bản chất của “văn hóa”, do đó, hết sức đa dạng, các khái niệm
về văn hóa chỉ mang tính tương đối, và mỗi khái niệm chỉ phù hợp với một hoặc một số trường hợp xác định, cụ thể
Ở nghĩa bao hàm nhất, rộng lớn nhất, văn hoá được hiểu là những giá trị
do con người sáng tạo, bắt đầu từ khi hình thành xã hội loài người
Ở phương Đông, thuật ngữ văn hoá đã xuất hiện từ rất sớm Trong Chu
Dịch, quẻ Bi đã có từ văn và từ hoá: Xem dáng vẻ con người, lấy đó mà giáo
hoá thiên hạ (Quan hồ nhân văn dĩ hoá thành thiên hạ) Người được coi là sử dụng thuật ngữ văn hoá sớm nhất là Lưu Hướng (sống khoảng giai đoạn từ năm 77 TCN đến năm thứ 6 TCN), thời Tây Hán Ông sử dụng thuật ngữ này với nghĩa như một phương thức giáo hoá con người - văn trị giáo hoá Văn
Trang 18hoá ở đây được dùng đối lập với vũ lực (phàm dấy việc võ là vì không phục tùng, dùng văn hoá mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết)
Ở phương Tây, để chỉ đối tượng mà chúng ta nghiên cứu, người Pháp, người Nga có từ “kuitura” Những chữ này lại có chung gốc Latinh là chữ
“cultus animi” là trồng trọt tinh thần Vậy chữ “cultus” là văn hoá với hai khía cạnh: trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo
cá thể hay cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên, và họ có những phẩm chất tốt đẹp
Trong “Tuyên bố về những chính sách văn hoá”, UNESCO (1982) xác định: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hoá làm cho chúng
ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hoá mà chúng ta xét đoán được những giá trị và thực thi những sự lựa chọn Chính nhờ văn hoá mà con người
tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [24, tr.169]
Ở Việt Nam, cũng đã có một số nhà nghiên cứu đưa ra các cách hiểu khác nhau về khái niệm văn hóa, có thể kể đến như:
Trang 19Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, giải thích từ “Văn hóa” với 5 góc độ: Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử Nói một cách tổng quát là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống và tinh thần Nói khái quát về tri thức, trình độ cao trong sinh hoạt xã hội là biểu diện cao về văn minh Trong trình
độ chuyên môn khái niệm văn hóa dùng để chỉ nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử được xác định trên cơ sở một tổng thể di vật lưu lại được có những đặc điểm giống nhau [18, tr 358]
Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần
do con người sáng tạo ra trong lịch sử” [25, tr.345]
Trong cuốn Xã hội học văn hóa, tác giả Đoàn Văn Chúc cho rằng: “Văn hóa - vô sở bất tại: Văn hóa - không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất
cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con người nơi đó có văn hóa” [6, tr.46]
Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [21, tr.45]
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm văn hoá được hiểu theo cả ba nghĩa rộng, hẹp và rất hẹp:
Theo nghĩa rộng: “Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [17, tr.5]
Trang 20Theo nghĩa hẹp, văn hoá là những giá trị tinh thần Người viết: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề cần chú ý đến, cũng phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá Nhưng văn hoá là một kiến trúc thượng tầng (báo Cứu quốc, tháng 8- 1945)” [17, tr.2]
Theo nghĩa rất hẹp, văn hoá đơn giản chỉ là trình độ học vấn của con người được đánh giá bằng trình độ học vấn phổ thông, thể hiện ỏ việc Hồ Chí Minh yêu cầu mọi người “phải đi học văn hóa”, “xóa mù chữ”
Đặc biệt, năm 1943 Hồ Chí Minh viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công
cụ cho sinh hoại hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn
bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [17, tr.27] Đây có thể coi là định nghĩa văn hóa của Hồ Chí Minh, và đây cũng là lần duy nhất, không thấy Hồ Chí Minh trở lại định nghĩa văn hóa này
Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác
xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra và được con người thừa nhận, bao gồm trong đó là Chân – Thiện – Mỹ
Trang 21Như vậy, trên thực tế, có rất nhiều quan niệm, cách định nghĩa thuật ngữ văn hóa Nhưng cho đến nay, vẫn chưa có được một sự nhất trí chung và cũng chưa có định nghĩa nào thoả mãn được cả về định tính và định lượng Điều
đó, theo chúng tôi, có thể xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:
Trước hết, trong số những người nghiên cứu văn hóa, hoặc, như người ta thường gọi, những nhà văn hóa, ngoài những định kiến và những hạn chế có tính chất lịch sử, rất nhiều người bị mắc những bệnh nghề nghiệp Họ thường qui văn hóa vào những lĩnh vực hạn hẹp cụ thể, thường bói văn hóa, cũng như bói cuộc sống nói chung, theo kiểu thầy bói xem voi, bằng cách xem xét những bộ phận cá biệt của nó chứ chưa có một cách tiếp cận tổng thể
Thứ hai, văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, rất phong phú và phức tạp, do
đó khái niệm văn hóa cũng đa nghĩa Khi đề cập đến nó mỗi người có một cách hiểu riêng tùy thuộc vào góc độ tiếp cận của họ là điều dễ hiểu
Thứ ba, giống như tất cả các ngành khoa học xã hội khác, ngành văn hóa học có lịch sử phát sinh và phát triển lâu dài trong lịch sử loài người Trong quá trình lịch sử đó nội dung của khái niệm văn hóa cũng thay đổi theo
Trong phạm vi Luận văn này, thuật ngữ văn hóa được hiểu theo cách định nghĩa của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc
(UNESCO) Theo đó, “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và
sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn
ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ,
nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống
mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình” [24,
tr.57]
1.1.1.2 Khái niệm văn hóa các dân tộc thiểu số
Trang 22 Thứ nhất, khái niệm “Dân tộc”
Khi xem xét khái niệm “Dân tộc”, các nhà nghiên cứu đưa ra hai cách tiếp cận khác nhau, gắn vứi phạm vi, mục đích nghiên cứu cụ thể Theo đó:
Tiếp cận ở nghĩa hẹp, dân tộc chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ
chặt chẽ và bền vững, có chung sinh hoạt kinh tế, có ngôn ngữ riêng, có những nét đặc thù về văn hoá; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó Theo nghĩa này dân tộc là một bộ phận của quốc gia, là dân tộc-tộc người
Tiếp cận ở nghĩa rộng, dân tộc chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước Theo nghĩa này, dân tộc là dân cư của một quốc gia nhất định, là quốc gia-dân tộc hay dân tộc-quốc gia
Thuật ngữ “Dân tộc thiểu số” hiện nay được sử dụng tương đối phổ biến
ở tầm quốc gia lẫn quốc tế, trong đó, có những cách hiểu mang tính chất khoa học, đúng đắn, những cũng có nhiều cách hiểu lệch lạc, sai lầm
Có không ít người khi bàn về thuật ngữ “dân tộc thiểu số” thường cho rằng đó là các tộc người, nhóm người lạc hậu, chậm tiến, kém phát triển hoặc chậm phát triển Họ thường sử dụng thuật ngữ này với hàm ý miệt thị, coi thường các nhóm người, dân tộc cụ thể nào đó, xuất phát từ nguyên nhân hạn
Trang 23chế về nhận thức, tư tưởng, ý thức hệ hoặc xuất phát từ mục đích chính trị vốn
bị chi phối bởi quan điểm của giai cấp thống trị ở mỗi quốc gia
Tuy nhiên, đây không phải là cách hiểu được chấp nhận trong các ngành khoa học liên quan
Theo chuyên ngành Dân tộc học này, thuật ngữ “dân tộc thiểu số” chỉ có
ý nghĩa biểu thị tương quan về mặt dân số giữa dân tộc này với dân tộc khác trong từng phạm vi xác định nhất định
Đứng trên phương diện nhân chủng học, các nhà nghiên cứu cho rằng dân tộc thiểu số chia làm 2 thành phần:
Một là, dân tộc thiểu số có nguồn gốc lịch sử (minorités historiques) là
tập thể tộc người đã có mặt trên vùng lãnh thổ từ lâu đời mà người ta thường gọi là dân tộc bản địa (peuples autochtones)
Hai là, dân tộc thiểu số di cư (minorités immigrées) là những người
nước ngoài sang định cư tại một quốc gia có chủ quyền
Năm 1992, Hội Đồng Liên hợp quốc thông qua khái niệm về “dân tộc thiểu số” bằng cách dựa quan điểm mà Gs Francesco Capotorti (đặc phái viên của Liên hợp quốc) đã đưa ra vào năm 1977: “Dân tộc thiểu số là thuật ngữ
ám chỉ cho một nhóm người từ một quốc gia khác đến cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ là công dân của quốc gia này”
Năm 1995, Liên minh châu Âu cũng đưa ra khái niệm về dân tộc thiểu
số tương đối gần nghĩa với quan điểm của Liên Hiệp Quốc: “Dân tộc thiểu số
ám chỉ cho một nhóm người từ một quốc gia khác đến cư trú trên lãnh thổ của quốc gia thuộc Liên minh châu Âu và có quốc tịch của khối châu Âu”
Trang 24Khi xem xét với hàm nghĩa tương quan giữa các nhóm dân tộc trong một quốc gia thì “dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia cụ thể
Từ các quan niệm, cách hiểu khác nhau về khái niệm văn hóa và khái
niệm dân tộc thiểu số, có thể đưa ra định nghĩa: Văn hóa các dân tộc thiểu số
là sự phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá trình phát triển của lịch sử, cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó mỗi dân tộc thiểu số tự khẳng định bản sắc riêng của mình
1.1.2 Đặc điểm văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam
Thứ nhất, diễn ra trong không gian tương đối hẹp Đây là đặc điểm tất
yếu xuất phát từ số lượng cư dân của các nhóm dân tộc thiểu số Với dân số ít nên sự quần cư của các nhóm dân tộc thiểu số chiếm một khoảng không gian chật hẹp hơn nhiều so với các nhóm dân tộc đa số Do không gian sinh hoạt nhỏ hẹp nên các giá trị văn hóa vật thể của các dân tộc thiểu số thường được tập trung với mật độ cao, gắn liền với không gian sinh hoạt chung
Thứ hai, diễn ra ra ở các địa bàn vùng đồi núi tương đối hiểm trở Do
những khác biệt về tín ngưỡng, tính cảnh giác, nhu cầu về sự an toàn trong mối tương quan với các nhóm đa số, các dân tộc thiểu số thường lựa chọn các vùng đồi núi tương đối hiểm trở, khó khăn về giao thông, đi lại để làm nơi sinh sống của mình Chẳng hạn, dân tộc H’Mông thường chọn các rẻo cao, những đỉnh núi cao được quan niệm là nơi tiếp giáp giữa đất trời làm nơi sinh
Trang 25sống Đặc điểm này cũng phù hợp với lịch sử các cuộc di cư của người H’Mông trong quá trình cạnh tranh về nơi sinh tồn với các dân tộc khác
Thứ ba, có tính tương đối khép kín, hướng nội Các nhóm dân tộc thiểu
số thường có tính cách chung là tương đối dè dặt trong việc tiếp xúc với các nhóm khác Trái lại, họ thường chú trọng đến các giao tiếp trong nội bộ nhóm mình, chú trọng tạo ra các liên kết bền chặt giữa các thành viên trong nhóm
Thứ tư, có tính cố kết, sự tương tác các thành viên trong cộng đồng rất
cao Bắt nguồn từ tính tương cận về huyết thống trong các cộng đồng nhỏ ban đầu, cùng với tính hướng nội và khép kín đã hình thành nên sự cố kết rất cao giữa các thành viên trong cộng đồng các dân tộc thiểu số Bên cạnh đó, nhu cầu về sự hợp tác trong lao động làm cho xu hướng xích lại gần nhau cũng luôn được đảm bảo duy trì
Thứ năm, có các truyền thống tinh thần, các phong tục tập quán phân
biệt rõ nét với các dân tộc khác và được bảo tồn, lưu giữ từ lâu đời một cách gần như nguyên vẹn, đặc biệt là các tục lệ trong các dịp lễ hội
Thứ sáu, có ít dữ liệu, thông tin lịch sử về các di tích, hiện vật Đây là
đặc điểm xuất phát từ thực tế là hầu hết các dân tộc thiểu số Việt Nam không
có hệ thống chữ viết riêng hoặc có những chưa hoàn thiện, không được truyền lại một cách đầy đủ cho các thế hệ đời sau
1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU
SỐ Ở CẤP HUYỆN
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về văn hóa
Trang 26“Quản lý” là đối tượng của nhiều ngành nghiên cứu tự nhiên và xã hội,
vì vậy mỗi ngành khoa học đều định nghĩa về “quản lý” dưới các góc độ tiếp cận riêng của mình Tuy vậy, quan niệm chung nhất về “quản lý” được khoa điều khiển học đưa ra Theo đó, “quản lý” là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định
Hoạt động quản lý diễn ra ở nhiều cấp độ, do nhiều chủ thể tiến hành trong những phạm vi nhất định, hướng đến những mục đích, mục tiêu xác định, trong đó bao gồm hoạt động quản lý của chủ thể nhà nước
Thuật ngữ “quản lý nhà nước” khi được đưa ra xem xét trong các nghiên cứu được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp khác nhau:
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là toàn bộ mọi hoạt động của nhà nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nước nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Theo nghĩa này, chủ thể của quản lý nhà nước là tất cả các cơ quan nhà nước
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước hoặc các cơ quan thực hiện chức năng hành pháp trong bộ máy nhà nước
Trong phạm vi nghiên cứu này, để phù hợp với đối tượng nghiên cứu,
“quản lý nhà nước” được hiểu là các hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật, tác động đến đối tượng quản lý nhằm đạt các mục tiêu quản lý đã được xác lập một cách cụ thể Như vậy, “quản lý nhà nước” được hiểu tương đương với thuật ngữ “hành chính nhà nước”
Trang 27Xem xét từ góc độ các bộ phận chủ yếu của nền văn hóa, quản lý nhà nước về văn hóa bao gồm quản lý đối với hoạt động văn hóa-nghệ thuật, văn hóa-xã hội và di sản văn hóa
Hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa mang những đặc điểm chung của hoạt động quản lý nhà nước nói chung, bao gồm: tính lệ thuộc vào chính trị; tính pháp quyền; tính liên tục, ổn định tương đối và thích ứng; tính chuyên nghiệp; tính hệ thống thứ bậc chặt chẽ; tính nhân đạo; tính không vụ lợi
Song, xuất phát từ các mục đích quản lý cụ thể và đặc tính của đối tượng quản lý mang tính đặc thù nên hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa sẽ được phân biệt với hoạt động quản lý nhà nước ở các lĩnh vực đời sống xã hội khác
Như vậy, quản lý nhà nước về văn hóa là các hoạt động của các cơ quan
hành chính nhà nước, trên cơ sở các quy định của pháp luật, thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực văn hóa nhằm xây dựng, giữ gìn các giá trị bản sắc, cốt lõi và phát triển nền văn hóa Việt Nam
1.2.2 Quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số
1.2.2.1 Khái niệm
Quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số là tổng hòa sự tác động có mục đích của nhà nước đối với các giá trị văn hóa, các bộ phận cấu thành văn hóa các dân tộc thiểu số nhằm tạo ra các giá trị văn hóa đa dạng, phong phú, trực tiếp góp phần vào xây dựng, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Việt Nam
1.2.2.2 Vai trò của quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số
Trang 28Thứ nhất, là một bộ phận quan trọng của quản lý nhà nước về văn hóa
Khi phân loại khách thể của quản lý nhà nước về văn hóa thành các nhóm văn hóa của các dân tộc khác nhau thì quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trở thành một bộ phận hữu cơ của quản lý nhà nước về văn hóa
Cũng như khi xem xét mọi hiện tượng khác nhau trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, văn hóa luôn được đặt trong tính cấu trúc tổng thể của
nó mà việc bỏ qua hay xem nhẹ bất kỳ cấu phần nào đều không đưa đến cách đánh giá chính xác, đầy đủ về văn hóa Nền văn hóa Việt Nam tuy nói là thống nhất nhưng là sự thống nhất trong sự đa dạng của sự hợp thành nhiều nền văn hóa nhỏ của mỗi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Với sự gắn bó tương đối ấy của văn hóa, hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa cũng phải đảm bảo tính thống nhất, song phải phù hợp với tính đa dạng về văn hóa Bởi vậy nên có sự phân loại hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa theo khách thể là văn hóa của mỗi nhóm dân tộc Nhìn khái quát, có thể chia quản lý nhà nước về văn hóa thành 2 loại cơ bản là quản lý nhà nước
về văn hóa dân tộc đa số và quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số Trong đó, mỗi bộ phận đều có những nhiệm vụ đặc thù của mình trong việc góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Thứ hai, trực tiếp thực hiện chức năng của nhà nước trong công tác quản
lý đối với mọi mặt đời sống xã hội Nhà nước là một chủ thể quyền lực đặc biệt, ra đời nhằm thực hiện các công việc mà các tổ chức hoặc cá nhân khác không thể thực hiện hoặc không muốn thực hiện Trong bối cảnh đó, hoạt động quản lý nhà nước có phạm vi rất rộng với nhiều khách thể quản lý trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó bao gồm lĩnh vực văn hóa
Trang 29Trong một xã hội có tổ chức, với các nguồn lực khan hiếm, yêu cầu đặt
ra là cần phải có các kế hoạch, thể hiện rõ mục tiêu và các phương tiện cần thiết để đạt mục tiêu đó, liên quan đến từng mảng, từng lĩnh vực nhất định nhằm tạo ra sự ổn định tương đối và động lực phát triển liên tục cho xã hội Nếu thiếu đi hoạt động này sẽ trực tiếp làm cho xã hội rơi vào tình trạng hỗn loạn, không có tổ chức, đem đến hậu quả là sự kém phát triển về mọi mặt
Quản lý nhà nước về văn hóa, tức là quản lý nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa, bao gồm cả quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số, là một dạng hoạt động quản lý quan trọng bởi văn hóa liên quan đến tất cả các phương diện lao động, sinh hoạt của con người trong xã hội
Khi xem xét văn hóa ở nghĩa rộng nhất, hoạt động quản lý nhà nước có phạm vi hẹp hơn và là một bộ phận của văn hóa Tuy nhiên, đó là bộ phận có
vị trí đặc biệt và vai trò vô cùng quan trọng trong các nền văn hóa, các giai đoạn phát triển văn hóa có nhà nước Như vậy, thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa cũng chính là một biểu hiện hay một hiện tượng của văn hóa nói chung
Thứ ba, góp phần quan trọng, quyết định trong việc bảo tồn, phát huy
các giá trị văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số là một mục tiêu quan trọng, đồng thời là biểu hiện của tính nhân văn Để đạt được mục tiêu đó, cần thiết phải có các kế hoạch được tổ chức triển khai thực hiện trên thực tế với những nguồn lực cần thiết thông qua chủ thể xác định, trong trường hợp này là nhà nước
Thứ tư, góp phần bảo đảm tính đa dạng trong nền văn hóa Việt Nam
Với chủ trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân
Trang 30tộc, hoạt động quản lý nhà nước phải góp phần đảm bảo tạo ra đặc trưng chung trong nền văn hóa của tất các dân tộc Song, không thể vì vậy mà làm
“hòa tan” đặc sắc văn hóa của từng dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đặc biệt là các dân tộc thiểu số
Công tác quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số sẽ trực tiếp xây dựng các cơ chế để có thể vừa đảm bảo tính thống nhất văn hóa về bản chát, vừa đảm bảo tính đa dạng văn hóa về hình thức sinh hoạt của mỗi dân tộc
1.2.2.3 Yêu cầu đối với quản lý văn hóa các dân tộc thiểu số
Một là, tôn trọng các giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc thiểu số Giá trị
văn hóa của các dân tộc thiểu số chính là đối tượng của hoạt động quản lý, là cái mà hoạt động quản lý nhắm đến với mục tiêu tạo ra những thay đổi nhất định về chất hoặc về lượng, hoặc nhằm hạn chế các tác động ngoại lai xâm hại đến đặc sắc văn hóa dân tộc thiểu số Như vậy, các giá trị văn hóa có tính đặc sắc của các dân tộc thiểu số không phải là loại đối tượng quản lý chịu sự điều chỉnh hay kìm hãm mà cần có thái độ tôn trọng, gìn giữ và bảo vệ
Muốn vậy, trước hết chủ thể quản lý nhà nước phải có cách hiểu, nhận thức đúng đắn và đầy đủ về hệ thống các giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu
số Từ đó, phân loại, sàng lọc và lựa chọn những giá trị văn hóa nào là đặc sắc, đặc trưng cần được bảo tồn, phát huy, những giá trị nào hiện nay không còn phù hợp nữa, cần phải điều chỉnh, thay đổi, làm cho văn minh hơn, tiến
bộ hơn, phù hợp hơn Đó là một quá trình rất dài và bên cạnh chủ thể quản lý nhà nước, cần có sự tham mưu, tham vấn của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, các nghệ nhân dân gian và chính những người dân tộc thiểu số Quá trình này cũng đòi hỏi chủ thể quản lý nhà nước phải tiến hành rất cẩn trọng, chuẩn bị
Trang 31kỹ lưỡng bởi những quyết định quản lý trong lĩnh vực bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số nếu có sai lầm thì thường rất khó khắc phục Bên cạnh đó, chủ thể quản lý phải nhận thức đúng tầm mức giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số trong hệ thống giá trị văn hóa các dân tộc Việt Nam, xem xét tính phù hợp, tính thích ứng của từng giá trị trong mối quan hệ với bản sắc văn hóa dân tộc ta
Hai là, đảm bảo tính đa dạng, không trùng lặp về văn hóa và tính phù
hợp, thống nhất văn hóa chung của dân tộc Việt Nam Trong bối cảnh phát triển hiện nay, đời sống vật chất giữa các nhóm dân tộc, dù đa số hay thiểu số, đang có xu hướng xích lại gần nhau, từng bước xóa bỏ cách biệt nhằm tạo ra mức sống đồng đều cho từng người dân Do vậy, đặc trưng văn hóa là yếu tố
cơ bản nhất để phân biệt dân tộc này với các dân tộc khác
Hoạt động quản lý phải đảm bảo giữ được tính độc lập về văn hóa của các dân tộc thiểu số, không để cho quá trình đồng hóa, nhất thể hóa về văn hóa giữa các dân tộc diễn ra, đặc biệt là với các dân tộc thiểu số có ít và rất ít người Bởi, giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số không những giúp tạo ra và duy trì một đời sống tinh thần phù hợp với dân tộc đó mà còn là nơi lưu giữ các thông tin về lịch sử của từng dân tộc, nếu để mất đi thì sẽ tạo nên những khoảng trống về lịch sử phát triển văn hóa
Tuy nhiên, với tính cách là một quốc gia thống nhất về lãnh thổ, đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam cũng phải đồng thời đảm bảo phù hợp với bản sắc văn hóa chung Chẳng hạn như
hệ thống các giá trị về tính cần cù, tính đoàn kết, lòng yêu nước… của dân tộc
ta
Trang 32Ba là, có lộ trình phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số phù hợp với trình
độ phát triển kinh tế - xã hội đất nước và địa phương Xã hội luôn luôn vận động và phát triển theo chiều hướng tiến lên, điều đó đồng nghĩa với yêu cầu phải có các mục tiêu và giải pháp phát huy các giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số trong tiến trình chung đó
Trên thực tiễn, quá trình phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số có thể tương đương với quá trình phát triển chung, có thể diễn ra chậm hơn hoặc nhanh hơn Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra là phát huy giá trị văn hóa không làm cản trở phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời phát triển kinh tế - xã hội cũng không tạo ra các trở ngại trong việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số ở cấp huyện
1.2.3.1 Tổ chức bộ máy thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý văn hóa các dân tộc thiểu số
Tổ chức bộ máy quản lý là quá trình dựa trên các chức năng, nhiệm vụ
đã được xác định của bộ máy quản lý để xắp xếp về lực lượng, bố trí về cơ cấu, xây dựng về mô hình và giúp cho toàn bộ hệ thống quản lý hoạt động như một chỉnh thể có hiệu quả nhất Việc tổ chức bộ máy được tiến hành trên
cơ sở tính khoa học và hợp lý, vừa đảm bảo hiệu quả, gọn nhẹ, vừa đảm bảo phát huy tối đa nguồn lực sẵn có của tổ chức (nghĩa là cơ quan quản lý nhà nước ở cấp huyện)
Bộ máy quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số thường không được tổ chức riêng mà nằm trong hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về văn hóa, phối hợp với quản lý nhà nước về công tác dân tộc thống nhất từ trung
Trang 33ương đến địa phương Việc tổ chức bộ máy quản lý nhà nước trong lĩnh vực này có vai trò rất quan trọng nhằm hiện thực hóa các mục tiêu, kế hoạch thông qua các chức năng, nhiệm vụ mà nó đảm nhận
Theo phân cấp, Phòng Văn hóa và Thông tin là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân huyện thực hiện quản lý nhà nước về Văn hóa đối với các lĩnh vực như
Sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch (ở một số địa phương, bao gồm Hà Nội tách thành Sở Văn hóa và Thể thao và Sở Du lịch) nhưng trong phạm vi huyện Cụ thể:
Trình UBND huyện ban hành quyết định, chỉ thị, các văn bản hướng dẫn
kế hoạch dài hạn, 05 năm năm và hàng năm đề án, chương trình phát triển văn hóa, gia đình, xuất bản , chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện cải cách hành chính , xã hội hóa trong lĩnh vực quản lý nhà nước được giao;
Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch
đề án, chương trình đã được phê duyệt, hướng dẫn, phổ biến giáo dục pháp luật về quản lý, hoạt động phát triển sự nghiệp văn hóa, chủ trương xã hội hóa hoạt động văn hóa;
Hướng dẫn các tổ chức, đơn vị và nhân dân trên địa bàn huyện thực hiện phong trào văn hóa, văn nghệ, xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội , xây dựng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa, khu phố văn hóa, đơn vị văn hóa” Bảo vệ các di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn huyện;
Trang 34Hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của các Trung tâm văn hóa, các thiết chế văn hóa cơ sở, các cơ sở hoạt động dịch vụ văn hóa và các lĩnh vực văn hóa khác thuộc phạm vi quản lý của phòng trên địa bàn huyện;
Giúp UBND huyện quản lý nhà nước đối với tổ chức kinh tế tập thể, tư nhân liên quan đến hoạt động kinh doanh văn hóa trên địa bàn huyện;
Hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ về lĩnh vực văn hóa đối với các chức danh chuyên môn thuộc UBND xã, phường, thị trấn;
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về hoạt động văn hóa trên địa bàn huyện Giải quyết các đơn thư, khiếu nại, tố cáo của công dân về lĩnh vực phòng quản lý;
Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo và các nhiệm vụ khác do UBND huyện và ngành dọc cấp trên giao
Liên quan đến nội dung quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu
số, Phòng Dân tộc là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện phối hợp với Phòng Văn hóa và Thông tin, trong đó Phòng Dân tộc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau:
Thứ nhất, chủ trì xây dựng và trình Ủy ban nhân dân cấp huyện: Dự thảo
các quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch, đề án dài hạn, 05 năm và hàng năm, chính sách, chương trình, dự án thuộc lĩnh vực công tác dân tộc; chương trình, biện pháp tổ chứcthực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước thuộc lĩnh vực công tác dân tộc; Dự thảo các văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về công tác dân tộc trên địa bàn
Thứ hai, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch,
kế hoạch, chính sách, chương trình, dự án sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt; công tác định canh, định cư đối với đồng bào dân tộc thiểu số;
Trang 35thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực công tác dân tộc; chủ trì, phối hợp vận động đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Thứ ba, tổ chức thực hiện các chính sách, chương trình, dự án, đề án, mô
hình thí điểm đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, hỗ trợ ổn định cuộc sống đối với đồng bào dân tộc thiểu số; theo dõi, tổng hợp, sơ kết, tổng kết và đánh giá việc thực hiện các chương trình, dự án, chính sách dân tộc; tham mưu, đề xuất các chủ trương, biện pháp thích hợp để giải quyết các vấn đề xóa đói, giảm nghèo, định canh, định cư, di cư đối với đồng bào dân tộc thiểu số và các vấn
đề dân tộc khác trên địa bàn huyện
Thứ tư, tổ chức tiếp đón, thăm hỏi, giải quyết các nguyện vọng của đồng
bào dân tộc thiểu số theo chế độ chính sách và quy định của pháp luật; định
kỳ tham mưu tổ chức Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số của huyện theo hướng dẫn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; lựa chọn đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng các tập thể và cá nhân tiêu biểu ở vùng dân tộc thiểu số có thành tích xuất sắc trong lao động, sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, giữ gìn an ninh, trật tự và gương mẫu thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Thứ năm, tổ chức ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ; xây dựng hệ
thống thông tin, lưu trữ phục vụ quản lý nhà nước về công tác dân tộc theo chuyên môn, nghiệp vụ được giao
Thứ sáu, kiểm tra việc thực hiện chính sách, chương trình, dự án và các
quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham
Trang 36nhũng, lãng phí trong lĩnh vực công tác dân tộc theo quy định của pháp luật
và phân công của Ủy ban nhân dân cấp huyện
Thứ bảy, thực hiện công tác thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất về
tình hình thực hiện nhiệm vụ về công tác dân tộc trên địa bàn huyện và nhiệm
vụ được giao theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ban Dân tộc hoặc Phòng Dân tộc thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (ở những tỉnh không đủ tiêu chí thành lập Ban Dân tộc)
Thứ tám, quản lý tổ chức bộ máy, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ
cấu ngạch công chức, thực hiện chế độ tiền lương, chính sách, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo và bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ đối với công chức thuộc phạm vi quản lý của Phòng Dân tộc theo quy định của pháp luật và theo phân công của Ủy ban nhân dân cấp huyện
Thứ chín, quản lý tài chính, tài sản được giao và tổ chức thực hiện ngân
sách được phân bổ theo quy định của pháp luật và phân công, phân cấp của
Ủy ban nhân dân cấp huyện
Thứ mười, thực hiện các nhiệm vụ khác do Ủy ban nhân dân cấp huyện
số Chính phủ là cấp ban hành chính sách cao nhất, làm tiền đề để mỗi địa phương căn cứ xây dựng các chương trình, kế hoạch cụ thể phù hợp với điều kiện đặc thù của địa phương mình
Trang 37Ở địa phương, chủ yếu là cấp tỉnh và cấp huyện, việc thực hiện chính sách của trung ương thường diễn ra dưới hai hình thức cơ bản: một là, thực hiện một cách thụ động đối với các nội dung chính sách có tính chất bắt buộc; hai là, thực hiện một cách chủ động đối với các nội dung chính sách có tính chất hướng dẫn, khuyến nghị Ở phương thức thứ hai, mỗi cấp chính quyền có thể ban hành các chính sách cụ thể, có phạm vi và nội dung trực tiếp trong địa bàn quản lý của cấp mình Những chính sách này vừa phải đảm bảo thống nhất, không trùng lặp, không trái với chính sách của cấp trên, vừa phải đảm bảo phù hợp với điều kiện đặc thù của địa phương liên quan đến văn hóa các dân tộc thiểu số
Chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số có thể bao gồm nhiều loại hình chính sách, áp dụng cho từng dân tộc, hoặc áp dụng cho từng nhóm dân tộc và luôn gắn với những mục tiêu chính sách cụ thể, dựa trên các nguồn lực thực hiện chính sách trong mỗi giai đoạn phát triển
Đối với chính sách do trung ương và cấp tỉnh ban hành, cấp huyện tham gia chính sách với tính cách là chủ thể được phân cấp chính sách, trực tiếp tổ chức thực hiện chính sách Còn đối với các chính sách được ban hành trong thẩm quyền của mình, cấp huyện vừa đồng thời là chủ thể ban hành, vừa là chủ thể tổ chức thực hiện chính sách
1.2.3.3 Tổ chức hoạt động tuyên truyền, quảng bá sản phẩm văn hóa các dân tộc thiểu số
Với đặc điểm khép kín, hướng nội của các dân tộc thiểu số, việc tiếp cận các giá trị văn hóa của họ như ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán, lối sống, các ngày lễ hội, ý nghĩa của nhà ở, trang phục… thường gặp nhiều khó khăn Do đó, tuyên truyền, quảng bá sản phẩm văn hóa các dân tộc thiểu số là
Trang 38một nội dung quản lý góp phần vào việc bảo tồn, lưu giữ văn hóa dân tộc thiểu số
Hoạt động tuyên truyền, quảng bá sản phẩm văn hóa các dân tộc thiểu số nhằm hai mục đích cơ bản:
Một là, giúp cho mọi người dân, trong đó bao gồm chính những đồng bào dân tộc thiểu hiểu rõ về các sản phẩm văn hóa dân tộc thiểu số Từ đó có nhận thức đúng đắn, thái độ phù hợp trong việc tham gia bảo tồn, phát huy Hai là, giúp cho cán bộ, công chức làm công tác quản lý văn hóa các dân tộc thiểu số có nhận thức đầy đủ về văn hóa các dân tộc thiểu số để làm cơ sở cho việc tổ chức triển khai thực hiện các quy định pháp luật và chính sách của Nhà nước về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc thiểu số
Hoạt động tuyên truyền, quảng bá không chỉ nhằm đưa đến hiểu biết cho thế giới bên ngoài về các đặc trưng văn hóa, các sản phẩm văn hóa của các dân tộc thiểu số mà còn là quá trình đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu, tìm hiểu đối với những người làm công tác quản lý văn hóa dân tộc thiểu số nhằm đảm bảo tính hiệu quả, phù hợp trong quá trình tham mưu và ban hành các chính sách cụ thể
Để đảm bảo phù hợp với các nhóm đối tượng khác nhau, thời điểm khác nhau, các hình thức tuyên truyền, quảng bá cũng cần được sử dụng một cách
đa dạng và linh hoạt Trong đó có thể bao gồm: tuyên truyền qua báo chí, sách
vở, các ấn phẩm chuyên môn, truyền thanh - truyền hình, mạng internet, hội chợ, triển lãm, lễ hội truyền thống…
1.2.3.4 Huy động các nguồn lực xã hội tham gia vào việc bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số
Trang 39Huy động và sử dụng các nguồn lực cần thiết nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc thiểu số có vai trò tích cực trong việc thúc đẩy tính hiệu quả của hoạt động quản l.ý nhà nước là một nội dung nhằm đảm bảo cung cấp các điều kiện vật chất hiện thực để quá trình quản lý có thể diễn ra một cách liên tục, ổn định và có hiệu quả
Nội dung này được thực hiện nhằm hai mục đích: thứ nhất, giảm bớt gánh nặng cho nguồn ngân sách hạn hep của nhà nước; thứ hai, khai thác tối
đa các nguồn lực vật chất và phi vật chất trong xã hội, nhân dân phục vụ trực tiếp cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc thiểu số
Việc huy động các nguồn lực xã hội có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức, thông qua nhiều chương trình cụ thể, gắn liền với các mức độ ưu tiên, ưu đãi, khuyến khích hoặc tạo điều kiện thuận lợi nhất định của chủ thể quản lý đối với các chủ thể tham gia đóng góp các nguồn lực
1.3 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO HUYỆN BA VÌ, HÀ NỘI
1.3.1 Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể ở huyện Hữu Lũng - Lạng Sơn
Hữu Lũng là huyện nằm ở phía Tây - Nam của tỉnh Lạng Sơn, có toạ độ địa lý từ 21023’ đến 21045’ vĩ độ Bắc, từ 106010’ đến 106032’ kinh độ Đông với diện tích tự nhiên là 806,74 km2, một trong những tiểu vùng văn hóa tiêu biểu của vùng Đông Bắc nói riêng và cả nước nói chung, là tỉnh có bề dày lịch sử văn hóa truyền thống lâu đời, mảnh đất hội tụ và sinh tồn của Có 07 dân tộc chủ yếu cùng chung sống hoà thuận là Nùng, Kinh, Tày, Dao, Hoa, Cao Lan, Sán Dìu ; trong đó dân tộc Nùng chiếm 52,3%, dân tộc Kinh
Trang 4038,9%; dân tộc Tày 6,6%, dân tộc Cao Lan chiếm 1,23%, dân tộc Dao chiếm 0,44%, dân tộc Hoa chiếm 0,14%, còn lại các dân tộc khác chiếm 0,39% dân
số toàn huyện và các dân tộc ít người khác Mỗi dân tộc tuy không hình
thành nên những địa bàn định cư riêng biệt những có sự tập trung ở một số vùng nhất định, với những bản sắc văn hóa riêng Bên cạnh đó, nhìn chung đại bộ phận các dân tộc trên địa bàn sinh sống hòa thuận, quây quần bên nhau tạo nên sự giao thoa văn hóa hết sức đa dạng Đồng thời, với vị trí địa lý thuận lợi, là cửa ngõ giao lưu văn hóa, kinh tế với Trung Quốc, điểm giao thoa hội tụ của nhiều nền văn hóa đã hình thành nên một diện mạo văn hóa
Xứ Lạng đa dạng trong thống nhất, mang tính đặc thù riêng của vùng
Trải qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, bằng ý chí độc lập, tự cường đồng bào nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn đã gắn bó keo sơn, đoàn kết một lòng, không ngừng xây dựng, bồi đắp, hun đúc và từng bước khẳng định những phẩm chất, tinh hoa văn hóa truyền thống của mình trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam
Ngày nay, những di sản văn hóa truyền thống ở Hữu Lũng đã trở thành một nét tiêu biểu của nền văn hóa Việt Nam Có thể ví Hữu Lũng như một
“bảo tàng sống” hiện hữu và tiềm ẩn các giá trị văn hóa hết sức phong phú và
đa dạng về cả giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể Các giá trị văn hóa ấy luôn được bảo lưu trao truyền, bổ sung, sáng tạo qua các thế hệ theo chiều hướng tích cực trong, hòa chung trong “dòng chảy” của cộng đồng văn hóa của các dân tộc Việt Nam
Hữu Lũng có khá nhiều di tích đình, đền, chùa như Đền Bắc lệ (xã Tân Thành); Đền Quan Giám Sát, Đến Chầu Lục (xã Hòa Lạc); Chùa Cã (xã Minh Sơn); Đền Suối Ngang (xã Hòa Thắng); Đền Phố Vị (xã Hồ Sơn); Đền Chúa
Cà Phê, Đền Voi Xô (xã Hòa Thắng); Đền Ba Nàng (xã Cai Kinh); lễ hội Chò