1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giải pháp thực hiện có hiệu quả chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững trên địa bàn huyện pác nặm tỉnh bắc kạn

135 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH NINH HỒNG PHẤN NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ CH

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NINH HỒNG PHẤN

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO NHANH VÀ BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN

Chuyên ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Mã số: 60.31.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS NGÔ XUÂN HOÀNG

THÁI NGUYÊN - 2011

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ

rõ nguồn gốc

Tác giả

Ninh Hồng Phấn

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu giải pháp thực hiện có hiệu quả chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững trên địa bàn huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn”, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các

cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Nhà trường, Khoa Sau đại học, các thầy cô giáo trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên, đặc biệt là thầy giáo TS Ngô Xuân Hoàng, đã nhiệt tình hướng dẫn chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài của mình

Trong quá trình thực hiện đề tài tôi còn nhận được sự giúp đỡ và cộng tác của các cá nhân và tập thể: Phòng Thống kê huyện Pác Nặm, Phòng Tài nguyên và môi trường huyện Pác Nặm và các hộ gia đình đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình điều tra thu thập số liệu, cũng như nghiên cứu thực hiện đề tài, tôi xin cảm ơn

Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè và gia đình đã giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 11 năm 2011

Tác giả luận văn

Ninh Hồng Phấn

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ viii

ĐẶT VẤN ĐỀ Error! Bookmark not defined 1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

4 Bố cục của đề tài 4

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ GIẢM NGHÈO, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CHO HỘ NÔNG DÂN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

1.1 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân 5

1.1.1 Hộ nông dân và các vấn đề về hộ nông dân 5

1.1.2 Giảm nghèo và giảm nghèo bền vững 10

1.1.3 Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho hộ nông dân (Nghị quyết 30a) 18

1.1.4 Kinh nghiệm giảm nghèo của một số nước trên thế giới và ở Việt Nam 28

1.2 Phương pháp nghiên cứu 36

1.2.1 Phương pháp chung 36

1.2.2 Phương pháp điều tra chọn mẫu 36

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.2.3 Phương pháp thu thập thông tin 37

Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PẮC NẶM TỈNH BẮC KẠN 38

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn 38

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 38

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 42

2.1.3 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội đến giảm nghèo, giảm nghèo bền vững ở huyện Pác Nặm 56

2.2 Thực trạng triển khai chương trình giảm nghèo và giảm nghèo bền vững tại huyện Pác Nặm 60

2.2.1 Thực trạng một số chương trình giảm nghèo tại huyện Pác Nặm giai đoạn 2006 - 2008 60

2.2.2 Thực trạng triển khai chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững (chương trình 30a) tại huyện Pác Nặm 65

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO NHANH VÀ BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PẮC NẶM TỈNH BĂC KẠN 95

3.1 Định hướng, mục tiêu và dự kiến kết quả thực hiện chương trình 30a và huyện Pác Nặm 95

3.1.1 Mục tiêu 95

3.1.2 Phát triển các ngành và lĩnh vực đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 của huyện Pác Nặm

3.2 Nhóm giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả chương trình 30a 102

3.2.1 Giải pháp chung 102

3.2.2 Nhóm giải pháp cụ thể 108

KẾT LUẬN 116

TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Chuẩn nghèo đói của Việt Nam qua các thời kỳ 12

Bảng 1.2: Những kết quả chủ yếu của chương trình mục tiêu Quốc gia xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010 35

Bảng 2.1: Diện tích các loại đất của huyện Pác Nặm năm 2007 - 2009 39

Bảng 2.2: Tình hình dân số và lao động của huyện năm 2008 - 2009 43

Bảng 2.3: Hệ thống cơ sở hạ tầng y tế của huyện Pác Nặm năm 2009 45

Bảng 2.4: Giá trị sản xuất các ngành của huyện giai đoạn 2007 - 2009 46

Bảng 2.5: Năng suất, diện tích, sản lượng một số cây trồng năm 2009 49

Bảng 2.6: Tình hình thực hiện kế hoạch đàn gia súc gia cầm của huyện Pác Nặm giai đoạn 2007 - 2009 50

Bảng 2.7: Kết quả sản xuất ngành thủy sản giai đoạn 2007 - 2009 51

Bảng 2.8: Sản phẩm lâm nghiệp chủ yếu của huyện giai đoạn 2007 - 2009 54

Bảng 2.9: Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá hiện hành 2007 - 2009 55

Bảng 2.10: Kết quả một số chương trình giảm nghèo tại huyện Pác Nặm giai đoạn 2006 - 2008 62

Bảng 2.11: Tình hình giải ngân vốn đầu tư phát triển năm 2009 - 2010 71

Bảng 2.12: Kết quả thực hiện khai hoang, phục hóa đất sản xuất năm 2009 - 2010 72

Bảng 2.13: Tổng hợp các mô hình khuyến nông thực hiện theo Chương trình 30a tại huyện Pác Nặm năm 2009 - 2010 74

Bảng 2.14: Hỗ trợ gạo cho hộ nhận trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng theo chương trình 30 của huyện Pác Nặm năm 2010 76

Bảng 2.15: Kinh phí hỗ trợ làm chuồng trại, cải tạo ao năm 2009 - 2010 76

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Bảng 2.16: Công tác dạy nghề cho lao động nông thôn tại huyện Pác

Nặm năm 2009- 2010 78 Bảng 2.17: Tình hình đói nghèo của huyện sau 2 năm thực hiện chương

trình 30a 82 Bảng 2.18: Tình hình cung cấp dịch vụ thiết yếu dành cho người nghèo

sau 2 năm thực hiện chương trình 30a 83 Bảng 2.19: Tình hình lao động và việc làm sau 2 năm thực hiện chương

trình 30a 84 Bảng 2.20: Tình hình giáo dục và y tế của huyện 2008 - 2010 86 Bảng 3.1 Mục tiêu giảm nghèo đến năm 2020 của huyện Pác Nặm 101

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ

Hình 1.1: Một số mô hình phát triển bền vững 16 Biểu đồ 2.1: Cơ cấu đất nông nghiệp năm 2009 38 Biểu đồ 2.2: Cơ cấu nhóm đất phi nông nghiệp năm 2009 38

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách

về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc, nhóm dân

cư Năm 1986, Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường trong sản xuất nông nghiệp thực hiện giao khoán đến hộ đã nhảy vọt từ nước đang thiếu lương thực vươn lên thành nước xuất khẩu gạo, và giữa vị trí trong ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới từ đó đến nay, an ninh lương thực đã vững vàng Tuy nhiên, đến nay vẫn còn tỷ lệ đói nghèo (bao gồm cả thiếu lương thực) mà

đa số phân bố ở các xã thuộc chương trình 135 (xã nghèo)

Đầu thập niên 1990, Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nguy cơ đói nghèo đã được nhận rõ, mà trước hết là

số liệu trẻ em suy dinh dưỡng đã ở mức báo động (gần 50%) Ngay đầu năm

1991, vấn đề xoá đói giảm nghèo đã đề ra trong các diễn đàn, các nghiên cứu,

và triển khai thành phong trào xoá đói giảm nghèo Nghị quyết Quốc hội Việt Nam về nhiệm vụ năm 1993 đã đánh giá cao tinh thần cộng đồng, tương thân tương ái "trong nhân dân đã phát triển nhiều hoạt động từ thiện giúp đỡ nhau

và phong trào xoá đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa " Sáng kiến của Thủ tướng Chính phủ được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lấy ngày 17 tháng 10 là

"Ngày vì người nghèo", đó cũng là ngày Liên hợp quốc chọn là ngày "Thế giới chống đói nghèo" Ngày 21 tháng 5 năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt "Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo" Đây

là chiến lược đầy đủ, chi tiết phù hợp với mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDG) của Liên Hợp Quốc công bố Trong quá trình xây dựng chiến lược có

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

sự tham gia của chuyên gia các tổ chức quốc tế tại Việt Nam như IMF, UNDP, WB, tổng hợp thành các mục tiêu phát triển Việt Nam Vấn đề là cụ thể hoá chiến lược bằng các chương trình, dự án được triển khai, được giám sát và đánh giá thường xuyên Các nghiên cứu đã lập được bản đồ phân bố đói nghèo đến từng xã, từng hộ

Để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xoá đói giảm nghèo, tại phiên họp ngày

18 tháng 11 năm 2008, Chính phủ đã thảo luận và quyết nghị về việc triển khai thực hiện Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện

thuộc 20 tỉnh có số hộ nghèo trên 50% Với mục tiêu: "Tạo sự chuyển biến

nhanh hơn về đời sống vật chất, tinh thần của người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, bảo đảm đến năm 2020 ngang bằng các huyện khác trong khu vực Hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững, theo hướng sản xuất hàng hoá, khai thác tốt các thế mạnh của địa phương Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp với đặc điểm của từng huyện; chuyển đổi cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả theo quy hoạch; xây dựng xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; bảo đảm vững chắc an ninh, quốc phòng"

Huyện Pác Nặm thuộc tỉnh Bắc Kạn là một là một huyện nghèo có số hộ nghèo trên 50% (56,02%) nằm trong "Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh

và bền vững đối với 61 huyện nghèo" của chính phủ với mục tiêu giảm hộ nghèo xuống ngang bằng mức trung bình của khu vực Chương trình đã được triển khai bước đầu được triển khai ở huyện Pác Nặm, nhưng trong quá trình triển khai đã xuất hiện một số vướng mắc Nhằm góp phần thực hiện một

chính sách lớn của nhà nước em đã lựa chọn đề tài "Nghiên cứu giải pháp

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

thực hiện có hiệu quả chương trình giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng và tìm ra giải pháp để triển khai có hiệu quả chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững trên địa bàn huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về giảm nghèo nhanh và bền vững

- Đánh giá thực trạng triển khai và một số kết quả bước đầu của chương trình giảm nghèo bền vững ở huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế theo hướng giảm nghèo bền vững

- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chương trình giảm nghèo bền vững cho các hộ nông dân trên địa bàn huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2012

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Tình hình đói nghèo và chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững (30a) cho các hộ nông dân của huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Nghiên cứu hiện trạng giảm nghèo và hiện tượng tái

nghèo tại huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn cùng với những nguyên nhân của tình trạng này Nghiên cứu việc thực hiện chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững tại các xã trong huyện và đưa ra các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả chương trình này

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Về thời gian và không gian: Điều tra việc thực hiện chương trình giảm

nghèo nhanh và bền vững tại huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn từ năm2009 - 2010

4 Bố cục của đề tài

Luận văn bao gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, các bảng phụ lục và 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học về giảm nghèo, giảm nghèo bền vững cho hộ

nông dân và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng việc triển khai chương trình giảm nghèo và giảm

nghèo bền vững cho các hộ nông dân trên địa bàn huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn

Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện có hiệu quả chương

trình giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ GIẢM NGHÈO, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CHO HỘ NÔNG DÂN

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân

1.1.1 Hộ nông dân và các vấn đề về hộ nông dân

* Theo Frank Ellis (1988) Hộ nông dân là các hộ gia đình có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất, sử dụng lao động chủ yếu là trong gia đình, trong sản xuất nông trại, nằm trong một nền kinh tế rộng lớn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần thị trường hoạt động với trình độ hoàn chỉnh không cao Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

xuất, vừa là đơn vị tiêu dùng, vừa là một đơn vị kinh doanh, vừa là một đơn vị

xã hội

b Khái niệm về kinh tế hộ nông dân

* Theo Frank Eliss: “Kinh tế hộ nông dân là kinh tế của những hộ gia đình có quyền sống trên mảnh đất sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình Sản xuất của họ nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ không hoàn hảo vào hoạt động của thị trường”

* K.Max và PL.Anghen nghiên cứu hộ các ông cho rằng: “Kinh tế hộ nông dân vốn bị hạn chế nên cần được cải tạo nó mới có thể phát triển nông nghiệp xã hội ngày càng cao” Lúc đầu các ông dự toán kinh tế hộ nông dân hoàn toàn bị phá bỏ trong điều kiện phát triển nền đại công nghiệp sau đó các ông thừa nhận Ở Anh cho thấy phát triển nông nghiệp không giống phát triển công nghiệp trong đó phát triển nông nghiệp họ tỏ ra ưu thế hơn

* Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất kinh tế - xã hội, trong đó các nguồn lực đất đai, lao động tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất: Có chung chân quỹ,

ở chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội là tuỳ thuộc vào chủ hộ, được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện để phát triển

Do vậy tự những thành viên trong hộ lao động nên không có khái niệm tiền lương và không tính được lợi nhuận, địa tô, lợi tức Hộ nông dân chỉ có thu nhập chung của tất cả các hoạt động kinh tế Đó là sản xuất lương thực thu được hàng năm của hộ trừ đi chi phí mà họ đã bỏ ra để phục vụ cho quá trình sản xuất

c Đặc điểm cơ bản của kinh tế hộ nông dân

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Từ những khái niệm hộ đã nói lên những đặc trưng cơ bản của nó Những đặc trưng này mang tính lịch sử, gắn liền với các quá trình tiến triển của khái niệm về hộ qua các giai đoạn lịch sử Ở Việt Nam trên 67,76% dân

số sống ở nông thôn, bởi vậy nghiên cứu về kinh tế hộ có ý nghĩa chiến lược quan trọng Kinh tế hộ là tế bào, là cơ sở tổ chức kinh tế nông nghiệp ở nông thôn Cấu trúc của kinh tế hộ đa dạng có thể là thuần nông, hoặc đan xen với hoạt động kinh doanh, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Tính đa dạng phức tạp của kinh tế hộ phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển trong vùng, trình độ của chính bản thân hộ

Phát triển kinh tế hộ nông dân rất đa dạng, mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương nhưng đều tựu trung lại, kinh tế hộ nông dân có những đặc trưng sau:

Thứ nhất: Sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu và quá trình quản

lý, sử dụng các yếu tố sản xuất Sở hữu trong kinh tế hộ là sở hữu chung, tất

cả mọi thành viên trong hộ đều có quyền sở hữu tư liệu sản xuất vốn có cũng như những tài sản khác của hộ Mặt khác do dựa trên cơ sở kinh tế chung và

có chung nhân quỹ nên các thành viên của hộ thường có ý thức trách nhiệm rất cao và việc bố trí sắp xếp công việc trong hộ cũng rất linh hoạt và hợp lý

Từ đó hiệu quả sử dụng lao động trong kinh tế hộ nông dân là rất cao

Thứ hai: Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ

với nhau theo quan hệ huyết thống, kinh tế hộ nông dân lại tổ chức với quy

mô nhỏ hơn các loại hình doanh nghiệp nông nghiệp khác cho nên sự việc điều hành sản xuất và quản lý cũng đơn giản gọn nhẹ Trong hộ nông dân vừa làm điều hành quản lý sản xuất vừa là người trực tiếp lao động sản xuất nên tính thống nhất giữa lao động quản lý và lao động trực tiếp rất cao

Thứ ba: Kinh tế hộ nông dân có khả năng thích nghi và sự điều chỉnh

rất cao Do kinh tế hộ nông dân có quy mô nhỏ nên bao giờ cũng có sự thích

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ứng dễ dàng hơn so với các doanh nghiệp nông nghiệp quy mô lớn với điều kiện thuận lợi hộ nông dân có thể tập trung mọi nguồn lực, thậm chí đôi khi

cả khẩu phần tất yếu của mình để mở rộng sản xuất Khi gặp các điều kiện bất lợi thì cũng có khả năng tư duy bằng cách thu hẹp quy mô sản xuất có khi quy về sản xuất tự cung tự cấp

Thứ tư: Có sự gắn bó chặt chẽ giữa quá trình sản xuất với lợi ích của

người lao động Trong kinh tế hộ nông dân mọi người gắn bó với nhau cả trên

cơ sở kinh tế, huyết tộc và cùng chung ngân quỹ nên dễ dàng đồng tâm hiệp lực để phát triển kinh tế nông hộ Vì vậy có sự gắn bó chặt chẽ giữa kết quả sản xuất với lợi ích người lao động và lợi ích kinh tế đã trở thành động lực thúc đẩy của mỗi cá nhân, là nhân tố nâng cao hiệu quả sản xuất kinh tế hộ nông dân

Thứ năm: Kinh tế hộ nông dân là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng

hiệu quả Quy mô nhỏ không đồng nghĩa với lạc hậu và năng xuất thấp Kinh

tế hộ vẫn có khả năng cho năng xuất cao hơn các doanh nghiệp có quy mô lớn, kinh tế hộ nông dân vẫn có khả năng ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để cho hiệu quả kinh tế cao thì đó lại là biểu hiện của sản xuất lớn Thực tế kinh tế hộ nông dân là loại hình thích hợp nhất đối với đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, với cây trồng vật nuôi trong quá trình sinh trưởng, phát triển cần sự tác động kịp thời

Thứ sáu: Kinh tế hộ nông dân sử dụng sức lao động và tiền vốn của hộ

là chủ yếu, song kinh tế hộ nông dân cũng có giới hạn nhất định, đặc biệt trong sản xuất đòi hỏi các hộ phải có sự hợp tác, đoàn kết thì mới làm được Một số hộ nông dân riêng lẻ khó có thể giải quyết các vấn đề thuỷ lợi, phòng trừ sâu bệnh - dịch hại, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất tiêu thụ nông sản hàng hoá, phòng trừ thiên tai trong sản xuất kinh doanh Ở đây lại nổi lên

sự cần thiết của kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế tư nhân cũng như

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nhiều nhân tố khác nhau trong quan hệ hướng dẫn và hỗ trợ kinh tế hộ nông dân phát triển Vì vậy khi nghiên cứu kinh tế hộ nông dân chúng ta phải nắm được những đặc điểm cơ bản của hộ và kinh tế hộ, cũng như phải thấy được

sự khác nhau giữa kinh tế hộ với những khu vực kinh tế khác

d Một số đặc điểm của kinh tế hộ vùng cao

* Về điều kiện tự nhiên: Với địa hình đồi núi phức tạp, có rất ít diện tích bằng phẳng để có thể sản xuất lúa nước như vùng đồng bằng Do vậy các hộ nông dân phải làm nương dẫy trên các triền núi dốc, nên chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện tự nhiên nhất là vào mùa mưa

* Về điều kiện sản xuất: Phần lớn cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, giao thông đi lại khó khăn, khả năng tiếp cận thị trường kém, nguồn thông tin

bị hạn chế đã dẫn đến kinh tế chậm phát triển

* Về đời sống của hộ nông dân vùng cao: Các hộ dân vùng cao chủ yếu

là sản xuất nông - lâm nghiệp, tỷ trọng sản xuất nông nghiệp tương đối cao chiếm khoảng > 80% tổng giá trị sản phẩm, cây công nghiệp dài ngày có tốc

độ phát triển tương đối nhanh Nhưng người dân vùng cao vẫn đặt vấn đề an ninh lương thực tại chỗ lên hàng đầu, do đây là vùng có tỷ lệ nghèo đói tương đối cao

Tóm lại từ những đặc điểm cơ bản của các hộ nông dân vùng cao để phát triển có được một nền nông - lâm nghiệp bền vững thì ngoài sự cố gắng của người dân, họ cần có sự quan tâm, hỗ trợ của Nhà nước, của các ban ngành để

có những định hướng và các giải pháp phát triển cho từng vùng cụ thể

e Vai trò của kinh tế hộ trong nền kinh tế nước ta hiện nay

Cung cấp các sản phẩm không thể thiếu được cho xã hội loài người, nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trường và tạo nguồn nguyên liệu cho các ngành kinh tế quốc dân

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Cung cấp và duy trì các nguồn lực như: đất đai, lao động, góp phần vào phân công lao động xã hội và nông thôn

Phát triển kinh tế hộ nông dân vùng cao sẽ góp phần vào bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn tài nguyên rừng, nước, đảm bảo an ninh quốc phòng

Là thị trường rộng lớn cho các ngành kinh tế quốc dân Góp phần vào quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá mà nhà nước ta đang hướng tới

1.1.2 Giảm nghèo và giảm nghèo bền vững

a Khái niệm về đói nghèo

* Nghèo: Là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện

thoả mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện Một cách hiểu khác: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia

- Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thoả mãn một phần

nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện

- Xã nghèo là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn 40% số hộ của xã; không có

hoặc thiếu rất nhiều những công trình cơ sở hạ tầng như: Điện sinh hoạt, đường giao thông, trường học, trạm y tế và nước sinh hoạt; trình độ dân trí thấp, tỷ lệ người mù chữ cao

- Vùng nghèo: là vùng dân cư nằm ở vị trí rất khó khăn, giao thông

không thuận tiện, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, không có điều kiện phát triển sản xuất để đảm bảo cuộc sống

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Ở Việt Nam thì nghèo được chia thành các mức khác nhau: Nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu

+ Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo

không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, đi lại Mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận, tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và tập tục của từng địa phương Điểm cơ bản của nghèo đói tuyệt đối là sự không thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người

+ Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có

mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét

+ Nghèo có nhu cầu tối thiểu: Đây là tình trạng một bộ phận dân cư có

những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một

số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu

* Đói: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống cực thấp dưới

mức nhu cầu tối thiểu: chịu đói và chịu đứt bữa, không đủ mặc và có mức cung cấp thấp khoảng 1500- 2000 calo/người/ngày Theo cách hiểu này thì đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống hàng ngày

Ngoài ra, còn có dưới cả mức đói bình thường đó là đói gay gắt: Là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu của cuộc sống không đủ ăn, không đủ mặc, chịu đứt bữa và có hàm lượng calo được cung cấp cho hàng ngày một người là rất thấp, dưới 1500 calo

b Chuẩn nghèo ở nước ta qua các thời kỳ

Chuẩn nghèo có thể thay đổi theo thời gian, phụ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế và kết quả thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo Tuy nhiên việc xác định chuẩn mực đói nghèo phải đảm bảo hai yêu cầu: Phản ánh đúng thực trạng đói nghèo và khả năng giải quyết theo mục tiêu của

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

chương trình quốc gia xoá đói giảm nghèo, từng bước tiếp cận và vận dụng chuẩn quốc tế

Năm 1993 theo Tổng cục thống kê lấy mức tiêu dùng là 2.100 calo nếu quy đổi tương đương với lượng tiêu dùng lương thực, thực phẩm theo giá phù hợp với từng thời điểm, từng địa phương thì người dân Việt nam phải có thu nhập bình quân tối thiểu là 50.000đồng/người/tháng ở vùng nông thôn và 70.000 đồng đối với khu vực thành thị, để làm ranh giới xác định giữa người giàu và người nghèo Theo cách tính này thì mức thu nhập bình quân đầu người ở các hộ khu vực nông thôn nước ta được quy ra tiền để xác định ranh giới giữa những hộ giàu và hộ nghèo như sau:

- Loại hộ nghèo: Là loại hộ có mức thu nhập bình quân đầu người dưới 50.000/người/tháng Hộ đói dưới 30.000/người/tháng

Bảng 1.1: Chuẩn nghèo đói của Việt Nam qua các thời kỳ

Giai đoạn Đơn vị tính Hộ đói Hộ nghèo

1 Giai đoạn 1993-1994 Dưới mức Dưới mức

2 Giai đoạn 1995-1997

3 Giai đoạn 1997-2000

4 Giai đoạn 2001-2005

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Nguồn: Chương trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo

- Loại hộ dưới trung bình: Là loại hộ có mức thu nhập bình quân đầu người từ 50.000-70.000/người/tháng

- Loại hộ trung bình: Là loại hộ có mức thu nhập bình quân đầu người

+ Hộ đói: Là hộ có mức thu nhập bình quân theo đầu người dưới 13 kg gạo/tháng tương đương 45.000/tháng đối với tất cả các vùng

+ Hộ nghèo: Là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người 15kg gạo/người/tháng tương đương 55.000đ ở khu vực nông thôn, miền núi; 20kg

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

gạo/người/tháng đối với khu vực nông thôn đồng bằng và trung du; 25kg gạo/người/tháng đối với khu vực thành thị

Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát thực tế và sau khi thảo luận thì tại quyết định số 1143/2000 QĐLĐTBXH ngày 1.11.2000 của Bộ trưởng Bộ LĐ-TBXH đã phê duyệt chuẩn mức đói nghèo mới giai đoạn 2001-2005 theo mức thu nhập bình quân đâu người cho từng vùng cụ thể như sau:

- Vùng nông thôn miền núi hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng tương đương 960.000đ/năm

- Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng tương đương 1.200.000đ/năm

- Vùng thành thị: 150.000 đồng/người/tháng tương đương 800.000đ/năm Những hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới tiêu chuẩn trên thì xếp vào hộ nghèo đói Theo tiêu chuẩn này thì tính đến năm 2000, cả nước có khoảng 4 triệu hộ nghèo, chiếm tỷ lệ từ 24-25% tổng số hộ trong cả nước Trong đó 4 vùng có tỷ lệ đói nghèo trên 30% Đặc biệt, tỷ lệ hộ đói nghèo ở các xã miền núi, vùng sâu và vùng xa tỷ lệ này còn cao hơn mức trung bình của cả nước: Bắc trung Bộ 38,6%; Tây Nguyên 36,1%; Miền núi phía bắc 34,1%; Duyên hải miền trung 31,9%

Theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày

27 tháng 9 năm 2001, trong đó phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói và giảm nghèo giai đoạn 2001-2005", thì những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 80.000 đồng/người/tháng (960.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực nông thôn đồng bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người

từ 100.000 đồng/người/tháng (1.200.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 150.000 đồng/người/tháng (1.800.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày

8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm)trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo

Đầu năm 2010 QĐND - Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội cho biết, mức chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010 do Chính phủ ban hành năm 2005 đã không còn phù hợp nữa do biến động kinh tế và chỉ số giá tiêu dùng đã tăng hơn 40% so với thời điểm ban hành Vì vậy, Bộ đã đề xuất phương án điều chỉnh chuẩn nghèo áp dụng cho năm 2010 như sau: Khu vực nông thôn là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 300.000 đồng/người/tháng (dưới 3,6 triệu đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; Khu vực thành thị là những hộ

có mức thu nhập bình quân từ 390.000 đồng/người/tháng (dưới 4.680.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo Dự kiến, theo điều chỉnh chuẩn nghèo này, tỉ lệ hộ nghèo cả nước sẽ là khoảng 16-17%, tương ứng với 3,2-3,4 triệu hộ nghèo

Tháng 1 năm 2011 Thủ tướng Chính phủ ký quyết định ban hành chuẩn

hộ nghèo, hộ cận nghèo mới áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 Theo đó, hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4,8 triệu đồng/người/năm) trở xuống Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6 triệu đồng/người/năm) trở xuống Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401 nghìn đồng đến 520.000 đồng/người/tháng Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501 nghìn đồng đến 650.000 đồng/người/tháng Mức chuẩn nghèo quy định nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

c Giảm nghèo bền vững

Giảm nghèo bền vững là giảm nghèo đi đôi với phát triển bền vững Phát triển bền vững bao gồm ba thành phần cơ bản là môi trường bền vững,

xã hội bền vững và kinh tế bền vững[1]

* Môi trường trong phát triển bền vững: đòi hỏi chúng ta duy trì sự cân

bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép môi trường tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho con người và các sinh vật sống trên trái đất

* Xã hội của phát triển bền vững: cần được chú trọng vào sự phát triển

sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận được

Có khá nhiều sơ đồ biểu diễn nội dung phát triển bền vững đã được nghiên cứu, dưới đây là 3 sơ đồ mô hình phát triển bền vững được đề cập nhiều nhất hiện nay

Hình 1.1: Một số mô hình phát triển bền vững

MÔ HÌNH CỦA HỘI ĐỒNG THẾ GIỚI VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MÔ HÌNH CỦA NGÂN HÀNG THẾ GIỚI MÔ HÌNH THƯỜNG ĐƯỢC SỬ DỤNG

* Kinh tế bền vững đóng một vai trò không thể thiếu trong phát triển

bền vững Nó đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc với những nguồn tài nguyên được tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động kinh tế được chia

sẻ một cách bình đẳng Khẳng định sự tồn tại cũng như phát triển của bất cứ

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ngành kinh doanh, sản xuất nào cũng được dựa trên những nguyên tắc đạo lý

cơ bản Yếu tố được chú trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền

cơ bản của con người

Tóm lại, giảm nghèo bền vững là quá trình giải quyết đồng bộ hai vấn đề: giảm số lượng hộ nghèo và hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng tái nghèo Trong đó, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thiết yếu của người nghèo, nâng cao trình độ, năng lực sản xuất cho các hộ nghèo để họ có thể tự

“lo cho bản thân” ngày càng tốt hơn Tính bền vững không chỉ thể hiện ở kết quả giảm tỉ lệ nghèo liên tục mà còn đòi hỏi chất lượng cuộc sống của xã hội nói chung, của người nghèo nói riêng cũng phải được cải thiện liên tục

1.1.3 Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho hộ nông dân (Nghị quyết 30a)

1.1.3.1 Bối cảnh ra đời và mục tiêu của chương trình

a, Bối cảnh: Nghị quyết 30a là nghị quyết của Chính phủ số 30a/2008/NQ-CP

ngày 27 tháng 12 năm 2008 về việc hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện đặc biệt khó khăn có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% với mục tiêu đầu

tư xây dựng cơ bản và hỗ trợ phát triển sản xuất Các huyện trên đều nằm ở vùng núi, địa hình chia cắt, diện tích tự nhiên rộng, nhưng diện tích đất canh tác ít; điều kiện thời tiết không thuận lợi, thường xuyên xảy ra lũ quét, lũ ống; dân số gồm 2,4 triệu người, trong đó trên 90% là đồng bào dân tộc thiểu số, sống phân tán, thu nhập thấp (bình quân 2,5 triệu đồng/người/năm) chủ yếu từ nông nghiệp nhưng trình độ sản xuất còn lạc hậu; cơ sở hạ tầng vừa thiếu, vừa kém; thu ngân sách trên địa bàn mỗi huyện bình quân 3 tỷ đồng/năm, nguồn

hỗ trợ của Nhà nước còn phân tán, thiếu đồng bộ, hiệu quả thấp, chưa hỗ trợ

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

đúng mức cho phát triển sản xuất; đội ngũ cán bộ cơ sở còn yếu và thiếu cán

bộ khoa học, kỹ thuật; chưa thu hút được các doanh nghiệp đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh đó, tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước ở một bộ phận cán bộ và dân cư còn nặng nên đã hạn chế phát

huy nội lực và sự nỗ lực vươn lên

b, Mục tiêu: Để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xóa đói giảm nghèo, tại phiên

họp ngày 18 tháng 11 năm 2008, Chính phủ đã thảo luận và quyết nghị về việc triển khai thực hiện Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện thuộc 20 tỉnh có số hộ nghèo trên 50% như sau:

* Mục tiêu tổng quát: Tạo sự chuyển biến nhanh hơn về đời sống vật

chất, tinh thần của người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, bảo đảm đến năm 2020 ngang bằng các huyện khác trong khu vực Hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững, theo hướng sản xuất hàng hóa, khai thác tốt các thế mạnh của địa phương Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù với đặc điểm của từng huyện; chuyển đổi cơ cấu kinh tế

và các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả theo quy hoạch; xây dựng xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao,

môi trường sinh thái được bảo vệ; bảo đảm vững chắc an ninh, quốc phòng

* Mục tiêu cụ thể đến năm 2010: Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 40%

(theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8 tháng 7 năm 2005); cơ bản không còn hộ dân ở nhà tạm; cơ bản hoàn thành việc giao đất, giao rừng; trợ cấp lương thực cho người dân ở những nơi không

có điều kiện tổ chức sản xuất, khu vực giáp biên giới để bảo đảm đời sống Tạo sự chuyển biến bước đầu trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân trên cơ sở đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, bảo vệ và phát triển rừng, đẩy mạnh một bước xây dựng kết cấu hạ

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

tầng kinh tế - xã hội nông thôn; tăng cường nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tạo bước đột phá trong đào tạo nhân lực; triển khai một bước chương trình xây dựng nông thôn mới; tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo, tập huấn, huấn luyện đạt trên 25% (hay gọi tắt là chương trình hỗ trợ

giảm nghèo)

c, Nhiệm vụ chủ yếu: Chương trình được thực hiện thông qua 4 chính sách sau:

- Hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập

- Chính sách giáo dục, đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí

- Chính sách cán bộ đối với các huyện nghèo

- Chính sách, cơ chế đầu tư cơ sở hạ tầng ở cả thôn, bản, xã và huyện.Thời gian thực hiện chương trình từ năm 2009 đến 2020

1.1.3.2 Chính sách và chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững

a, Chương trình 1: Hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập

* Chính sách hỗ trợ thông qua khoán chăm sóc, bảo vệ rừng, giao rừng

c) Đối với hộ nghèo nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng, được giao rừng và giao đất để trồng rừng sản xuất, ngoài chính sách được hưởng theo quy định tại các điểm a, b nêu trên còn được hỗ trợ: 15 kg gạo/khẩu/tháng trong thời gian chưa tự túc được lương thực; 05 triệu đồng/ha/hộ để tận dụng tạo đất sản xuất lương thực trong khu vực diện tích nhận khoán chăm sóc, bảo

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

vệ, rừng và đất được giao để trồng rừng sản xuất; 50% lãi suất tiền vay tại ngân hàng thương mại nhà nước để trồng rừng sản xuất

* Chính sách hỗ trợ sản xuất

a) Bố trí kinh phí cho rà soát, xây dựng quy hoạch sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện cụ thể của từng huyện, xã, nhất là những nơi có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thường xuyên bị thiên tai;

b) Đối với vùng còn đất có khả năng khai hoang, phục hóa hoặc tạo ruộng bậc thang để sản xuất nông nghiệp được hỗ trợ 10 triệu đồng/ha khai hoang; 05 triệu đồng/ha phục hóa; 10 triệu đồng/ha ruộng bậc thang;

c) Hỗ trợ một lần toàn bộ tiền mua giống, phân bón cho việc chuyển đổi cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao; ưu tiên hỗ trợ trồng lúa lai, ngô lai;

d) Ngân sách nhà nước hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay tại ngân hàng thương mại nhà nước để phát triển sản xuất nông nghiệp, đầu tư cơ sở chế biến, bảo quản và tiêu thụ nông sản;

đ) Đối với hộ nghèo, ngoài chính sách được hưởng theo quy định tại khoản 1, các điểm a, b, c, d khoản 2 còn được hỗ trợ phát triển chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và phát triển ngành nghề:

- Được vay vốn tối đa 05 triệu đồng/hộ với lãi suất 0% trong thời gian 2 năm để mua giống gia súc hoặc giống gia cầm chăn nuôi tập trung hoặc giống thủy sản; hỗ trợ một lần: 01 triệu đồng/hộ để làm chuồng trại chăn nuôi hoặc tạo diện tích nuôi trồng thủy sản và 02 triệu đồng/ha mua giống để trồng cỏ nếu chăn nuôi gia súc;

- Hỗ trợ 100% tiền vắc xin tiêm phòng các dịch bệnh nguy hiểm đối với gia súc, gia cầm;

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Đối với hộ không có điều kiện chăn nuôi mà có nhu cầu phát triển ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp tạo thu nhập được vay vốn tối đa 05 triệu đồng/hộ, với lãi suất 0%

* Đối với hộ nghèo ở thôn, bản vùng giáp biên giới trong thời gian chưa tự túc được lương thực thì được hỗ trợ 15 kg gạo/khẩu/tháng

* Tăng cường, hỗ trợ cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y, vệ sinh an toàn thực phẩm cho các huyện nghèo để xây dựng các trung tâm khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư thành những trung tâm chuyển giao khoa học kỹ thuật, công nghệ và dịch vụ thúc đẩy phát triển sản xuất trên địa bàn Bố trí kinh phí khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư cao gấp 2 lần so với mức bình quân chung các huyện khác;

hỗ trợ 100% giống, vật tư cho xây dựng mô hình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; người dân tham gia đào tạo, huấn luyện được cấp tài liệu, hỗ trợ 100% tiền ăn ở, đi lại và 10.000 đồng/ngày/người; mỗi thôn, bản được bố trí

ít nhất một suất trợ cấp khuyến nông cơ sở

* Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại đầu tư sản xuất, chế biến, kinh doanh trên địa bàn huyện nghèo: được hưởng các điều kiện thuận lợi và ưu đãi cao nhất theo quy định hiện hành của nhà nước; đối với cơ sở chế biến nông, lâm, thủy sản đầu tư trên địa bàn các huyện nghèo được ngân sách nhà nước hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay tại ngân hàng thương mại nhà nước

* Hỗ trợ mỗi huyện 100 triệu đồng/năm để xúc tiến thương mại, quảng

bá, giới thiệu sản phẩm, nhất là nông, lâm, thủy đặc sản của địa phương; thông tin thị trường cho nông dân

* Khuyến khích, tạo điều kiện và có chính sách ưu đãi thu hút các tổ chức, nhà khoa học trực tiếp nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

học công nghệ ở địa bàn, nhất là việc tuyển chọn, chuyển giao giống cây trồng, giống vật nuôi cho sản xuất ở các huyện nghèo

* Chính sách xuất khẩu lao động: hỗ trợ đào tạo nghề, đào tạo ngoại ngữ, bồi dưỡng văn hóa, đào tạo định hướng… để lao động các huyện nghèo tham gia xuất khẩu lao động; phấn đấu mỗi năm đưa khoảng 7.500 - 8.000 lao động ở các huyện nghèo đi làm việc ở nước ngoài

b, Chương trình 2: Chính sách giáo dục, đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí

* Chính sách giáo dục, đào tạo, nâng cao mặt bằng dân trí: bố trí đủ giáo viên cho các huyện nghèo; hỗ trợ xây dựng nhà “bán trú dân nuôi”, nhà ở cho giáo viên ở các thôn, bản; xây dựng trường Dân tộc nội trú cấp huyện để đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn cán bộ tại chỗ cho các huyện nghèo; tăng cường, mở rộng chính sách đào tạo ưu đãi theo hình thức cử tuyển và theo địa chỉ cho học sinh người dân tộc thiểu số, ưu tiên các chuyên ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, y tế, kế hoạch hóa gia đình, đào tạo giáo viên thôn, bản, trợ giúp pháp lý để nâng cao nhận thức pháp luật

* Tăng cường dạy nghề gắn với tạo việc làm: đầu tư xây dựng mỗi huyện 01 cơ sở dạy nghề tổng hợp được hưởng các chính sách ưu đãi, có nhà

ở nội trú cho học viên để tổ chức dạy nghề tại chỗ cho lao động nông thôn về sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, ngành nghề phi nông nghiệp; dạy nghề tập trung để đưa lao động nông thôn đi làm việc tại các doanh nghiệp và xuất khẩu lao động

* Chính sách đào tạo cán bộ tại chỗ: đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên môn, cán bộ y tế cơ sở cho con em ở các huyện nghèo tại các trường đào tạo của Bộ Quốc phòng; ưu tiên tuyển chọn quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân

sự là người của địa phương để đào tạo, bổ sung cán bộ cho địa phương

c, Chương trình 3: Chính sách cán bộ đối với các huyện nghèo

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Thực hiện chính sách luân chuyển và tăng cường cán bộ tỉnh, huyện về

xã đảm nhận các cương vị lãnh đạo chủ chốt để tổ chức triển khai thực hiện

cơ chế, chính sách đối với các huyện nghèo; thực hiện chế độ trợ cấp ban đầu đối với cán bộ thuộc diện luân chuyển; có chế độ tiền lương, phụ cấp và chính sách bổ nhiệm, bố trí công tác sau khi hoàn thành nhiệm vụ

Có chính sách hỗ trợ và chế độ đãi ngộ thỏa đáng để thu hút khuyến khích trí thức trẻ về tham gia tổ công tác tại các xã thuộc huyện nghèo

d, Chương trình 4: Chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng ở cả thôn, bản, xã và huyện

* Đẩy nhanh thực hiện quy hoạch các điểm dân cư ở những nơi có điều kiện và những nơi thường xảy ra thiên tai; nâng cao hiệu quả đầu tư

* Sử dụng nguồn vốn đầu tư phát triển trong cân đối ngân sách hàng năm, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn từ các chương trình, dự án, vốn ODA để

ưu tiên đầu tư cho các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội sau đây:

a) Đối với cấp huyện: trường trung học phổ thông; trường Dân tộc nội trú huyện có quy mô đáp ứng nhu cầu học tập của con em đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn; cơ sở dạy nghề tổng hợp huyện; bệnh viện huyện, bệnh viện khu vực, trung tâm y tế dự phòng huyện đạt tiêu chuẩn; trung tâm dịch

vụ tổng hợp về nông, lâm, ngư nghiệp; các công trình thủy lợi quy mô cấp huyện, liên xã; đường giao thông từ tỉnh đến huyện, từ trung tâm huyện tới

xã, liên xã; các trung tâm cụm xã

b) Đối với cấp xã và dưới xã: đầu tư các công trình hạ tầng cơ sở thiết yếu ở tất cả các xã trên địa bàn huyện bao gồm: trường học; trạm y tế xã đạt tiêu chuẩn; đường giao thông liên thôn, bản, đường vào các khu kinh tế, sản xuất tập trung; thủy lợi phục vụ tưới và tiêu cho sản xuất nông nghiệp; điện phục vụ sản xuất và dân sinh; công trình nước sinh hoạt; chợ trung tâm xã;

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

trạm chuyển tiếp phát thanh xã; nhà văn hóa xã, thôn, bản; xử lý chất thải, tạo mặt bằng các cụm công nghiệp, làng nghề

1.1.3.3 Bộ máy tổ chức thực hiện

Để tổ chức thực hiện chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững Thủ tướng Chính phủ đã xây dựng một bộ máy tổ chức thực hiện bao gồm: Ban chỉ đạo, các bộ, ban ngành có liên quan và các tỉnh, huyện được hưởng lợi Chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận trong bộ máy như sau:

* Ban chỉ đạo: chỉ đạo xây dựng kế hoạch 5 năm, hàng năm để triển khai và tổ chức thực hiện các chương trình trong giai đoạn 2006-2010; nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách, giải pháp để giải quyết về nguồn nhân lực và tiêu chí phân bổ ngân sách hàng năm của chương trình; chỉ đạo, triển khai thực hiện, đôn đốc, kiểm tra và đánh giá hoạt động của các Bộ, ngành, địa phương; báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ và tình hình triển khai thực hiện công tác giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 và phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006-2010

* Các Bộ, ban ngành có liên quan:

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan thường trực các Chương trình giảm nghèo, chủ trì, phối hợp với các Bộ liên quan tổ chức thực hiện, theo dõi, đánh giá hiệu quả của Chương trình

Bộ Kế hoạch và Đầu tư: chủ trì, phối hợp với Ban Chỉ đạo thực hiện các Chương trình giảm nghèo thành lập các tổ công tác liên ngành để thẩm tra các đề

án của 62 huyện nghèo trong quý I năm 2009; chủ trì, phối hợp với các Bộ liên quan nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về đầu tư, đấu thầu phù hợp với đặc thù và năng lực tổ chức thực hiện ở các huyện nghèo

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các Bộ liên quan phân bổ vốn sự nghiệp cho các huyện nghèo

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Ủy ban Dân tộc chủ trì, chỉ đạo, triển khai tổ chức thực hiện và xây dựng, sửa đổi, bổ sung các chính sách hiện hành theo hướng nâng cao định mức các chương trình, chính sách dân tộc hiện có

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Bộ liên quan chỉ đạo, hướng dẫn việc quy hoạch sản xuất ở các huyện nghèo

Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Y tế và các địa phương liên quan tổ chức đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho y, bác sĩ, cán bộ y tế cơ sở cho các xã thuộc huyện nghèo

Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các Bộ nghiên cứu, sửa đổi pháp luật về xây dựng phù hợp với đặc thù và năng lực tổ chức thực hiện ở các huyện nghèo; cùng với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ đạo, hướng dẫn, bố trí vốn giải quyết cơ bản nhu cầu nhà ở cho hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số từ nay đến năm 2010 trên địa bàn các huyện nghèo

Bộ Giao thông vận tải rà soát, bổ sung, hoàn thiện quy định quy hoạch phát triển giao thông trên địa bàn các huyện; ưu tiên bố trí nguồn vốn để đầu

tư các tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ và đường giao thông đến trung tâm xã phục vụ phát triển kinh tế và đời sống trên địa bàn các huyện nghèo

Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các Bộ liên quan trình, ban hành chính sách ưu đãi đối với giáo viên, học sinh; chỉ đạo ưu tiên bố trí nguồn vốn trái phiếu Chính phủ để đến năm 2010 cơ bản hoàn thành đầu tư xây dựng cơ sở vật chất các trường học đạt tiêu chuẩn

Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các Bộ liên quan trình, ban hành chính sách ưu đãi về y tế; chỉ đạo bố trí nguồn vốn trái phiếu Chính phủ để đến năm 2010 hoàn thành dự án đầu tư xây dựng bệnh viện huyện và bệnh viện

đa khoa khu vực, các trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia

Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các Bộ liên quan trình, ban hành chính sách luân chuyển, tăng cường cán bộ chủ chốt cho các xã thuộc huyện nghèo

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ liên quan trình, ban hành chính sách tín dụng ưu đãi đối với các hộ nghèo, hộ sản xuất kinh doanh và các doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại đầu

tư phát triển sản xuất, kinh doanh trên các địa bàn huyện nghèo

Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ liên quan trình, ban hành chính sách khuyến công, chính sách thu hút đầu tư phát triển các ngành công nghiệp và hướng dẫn xúc tiến thương mại, quảng bá, giới thiệu sản phẩm của các huyện nghèo

Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất các cơ chế, chính sách chuyển giao công nghệ, nghiên cứu phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có hiệu quả, phù hợp với điều kiện đặc thù của từng địa phương

Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ liên quan trình, ban hành chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật

- Xây dựng Đề án hỗ trợ giảm nghèo bền vững trên địa bàn trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; chỉ đạo xây dựng kế hoạch hàng năm, tổng hợp nhu cầu từ dưới lên, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt; chỉ đạo và phê duyệt kế hoạch hàng năm của cấp xã; thành lập Ban Chỉ đạo của huyện (gồm lãnh đạo cấp ủy, chính quyền, đại diện các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp) để chỉ đạo tổ chức thực hiện Đề án

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.1.4 Kinh nghiệm giảm nghèo của một số nước trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.4.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

Một thực tế cho thấy rằng hầu hết những người nghèo đều tập trung ở khu vực nông thôn, bởi vì đây là khu vực hết sức khó khăn về mọi mặt như: điện, nước sinh hoạt, đường, trạm y tế ở các nước đang phát triển với nền kinh tế sản xuất là chủ yếu thì sự thành công của chương trình xoá đói giảm nghèo phụ thuộc vào chính sách của Nhà nước đối với chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn của các quốc gia Thực tế cho thấy rằng các con rồng Châu Á như: Hàn Quốc, Singapo, Đài Loan; các nước ASEAN và Trung Quốc đều rất chú ý đến phát triển nông nghiệp và nông thôn Xem đó không những là nhiệm vụ xây dựng nền móng cho quá trình CNH-HĐH, mà còn là

sự đảm bảo cho phát triển bền vững của nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên không phải nước nào cũng ngay từ đầu và trong suốt quá trình vật lộn để trở thành các con rồng đều thực hiện sự phát triển cân đối, hợp lý ở từng giai đoạn, từng thời kỳ giữa công nghiệp với nông nghiệp Dưới đây là kết quả và bài học kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

* Hàn Quốc: sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, chính phủ Hàn Quốc

không chú ý đến việc phát triển nông nghiệp nông thôn mà đi vào tập trung phát triển ở các vùng đô thị, xây dựng các khu công nghiệp tập trung ở các thành phố lớn, thế nhưng 60% dân số Hàn Quốc sống ở khu vực nông thôn, cuộc sống nghèo đói, tuyệt đại đa số là tá điền, ruộng đất tập trung vào sở hữu của giai cấp địa chủ, nhân dân sống trong cảnh nghèo đói tột cùng Từ đó gây ra làn sóng di dân tự do từ nông thôn vào thành thị để kiếm việc làm, chính phủ không thể kiểm soát nổi, gây nên tình trạng mất ổn định chính trị -xã hội Để ổn định tình hình chính trị -xã hội, chính phủ Hàn Quốc buộc phải xem xét lại các chính sách kinh

tế -xã hội của mình, cuối cùng đã phải chú ý đến việc điều chỉnh các chính sách về

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

phát triển kinh tế -xã hội ở khu vực nông thôn và một chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn được ra đời gồm 4 nội dung cơ bản:

- Mở rộng hệ thống tín dụng nông thôn bằng cách tăng số tiền cho hộ nông dân vay

- Nhà nước thu mua ngũ cốc của nông dân với giá cao

- Thay giống lúa mới có năng suất cao

- Khuyến khích xây dựng cộng đồng mới ở nông thôn bằng việc thành lập các HTX sản xuất và các đội ngũ lao động để sửa chữa đường xá, cầu cống và nâng cấp nhà ở

Với những nội dung này, chính phủ Hàn Quốc đã phần nào giúp nhân dâncó việc làm, ổn định cuộc sống, giảm bớt tình trạng di dân ra các thành phố lớn dể kiếm việc làm Chính sách này đã được thể hiện thông qua kế hoạch 10 năm cải tiến cơ cấu nông thôn nhằm cải tiến cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, từng bước đưa nền kinh

tế phát triển nhằm xoá đói giảm nghèo cho dân chúng ở khu vực nông thôn

Hiện nay Hàn Quốc đã trở thành một nước công nghiệp phát triển nhưng chính phủ vẫn coi trọng những chính sách có liên quan đến việc phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn nhằm xoá đói giảm nghèo cho dân chúng

ở khu vực nông thôn, có như vậy mới xoá đói giảm nghèo cho nhân dân tạo thế ổn định và bền vững cho nền kinh tế

* Đài Loan: là một trong những nước công nghiệp mới (NIES), nhưng

là một nước thành công nhất về mô hình kết hợp chặt trẽ giữa phát triển công nghiệp với phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn (mặc dù Đài Loan không

có các điều kiện thuận lợi như một số nước trong khu vực) đó là chính phủ Đài Loan đã áp dụng thành công một số chính sách về phát triển KT-XH như:

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Đưa lại ruộng đất cho nông dân, tạo điều kiện hình thành các trang trại gia đình với quy mô nhỏ, chủ yếu đi vào sản xuất nông phẩm theo hướng sản xuất hàng hoá

- Đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn, mở mang thêm những ngành sản xuất kinh doanh ngoài nông nghiệp cũng được phát triển nhanh chóng, số trang trại vừa sản xuất nông nghiệp, vừa kinh doanh ngoài nông nghiệp chiếm 91% số trang trại sản xuất thuần nông chiếm 90% Việc tăng sản lượng và tăng năng suất lao động ttrong nông nghiệp đến lượt nó lại tạo điều kiện cho các nghành công nghiệp phát triển

- Đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội để phát triển nông thôn Đài Loan rất coi trọng phát triển mạng lưới giao thông nông thôn

cả về đường bộ, đường sắt và đường thuỷ

Trong nhiều thập kỷ qua, Đài Loan coi trọng việc phát triển giao thông nông thôn đều khắp các miền, các vùng sâu vùng xa, công cuộc điện khí hoá nông thôn góp phần cải thiện điều kiện sản xuất, điều kiện sinh hoạt ở nông thôn Chính quyền Đài Loan cho xây dựng các cơ sở sản xuất công nghiệp ngay ở vùng nông thôn để thu hút những lao động nhàn rỗi của khu vực nông nghiệp, tăng thu nhập cho những người nông dân nghèo, góp phần cho họ ổn định cuộc sống Đài Loan áp dụng chế độ giáo dục bắt buộc đối với những người trong độ tuổi, do đó trình độ học vấn của nhân dân nông thôn được nâng lên đáng kể, cùng với trình độ dân trí được nâng lên và điều kiện sống được cải thiện, tỷ lệ tăng dân số đã giảm từ 3,2%/năm (1950) xuống còn 1,5%/năm (1985) Hệ thống ytế, chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân cũng được quan tâm đầu tư thích đáng

*Các nước ASEAN: ngoài Hàn Quốc, Đài Loan còn một số nước

ASEAN cũng có những chương trình phát triển kinh tế -xã hội bằng con đường

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

kết hợp giữa những ngành công nghiệp mũi nhọn với việc phát triển kinh tế nông thôn với mục đích xoá đói giảm nghèo trong dân chúng nông thôn Điều đặc trưng quan trọng của các nước ASEAN là ở chỗ những nước này đều có nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, bước vào công nghiệp hoá có nghĩa là vào lúc khởi đầu của quá trình công nghiệp hoá Tất cả các nước ASEAN (trừ Singapo) đều phải dựa vào sản xuất nông nghiệp, lấy phát triển nông nghiệp

là một trong những nguồn vốn cho phát triển công nghiệp, điền hình là những nước như Thái Lan, Inđônêxia, Philippin và Malaixia Tất cả những nước này phần lớn dân cư sống ở khu vực nông thôn, đời sống kinh tế nghèo nàn lạc hậu, thu nhập chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp Chính vì vậy mà chính phủ các nước này trong quá trình hoạch định các chính sách kinh tế -xã hội họ đều rất chú trọng đến các chính sách nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn , giành cho nông nghiệp nông thôn những ưu tiên cần thiết về vốn đầu tư

để tiến hành cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp Tuy nhiên khi bước vào giai đoạn 2 của quá trình công nghiệp hoá, tất cả các nước ASEAN đều nhận thấy rằng không thể đi lên chỉ bằng con đường nông nghiệp mà phải đầu

tư cho các ngành công nghiệp, dịch vụ Chính vì lẽ đó mà các chính sách về phát triển nông nghiệp nông thôn cũng như các chương trình phát triển khác như chương trình xoá đói giảm nghèo không được chú trọng như ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá Do vậy khoảng cách về thu nhập của những người giàu với những người nghèo là rất lớn Sự phân tầng xã hội là rõ rệt gây mất ổn định về tình hình chính trị xã hội, từ đó làm mất ổn định trong phát triển kinh tế

Sự phồn vinh của Băng Cốc, Manila được xây dựng trên nghèo khổ của các vùng nông thôn như ở vùng đông bắc Thái Lan, ở miền trung đảo Ludon Cho đến nay sự bất bình đẳng về thu nhập ở Thái Lan vẫn tiếp tục gia tăng, các thành phố lớn, các khu công nghiệp vẫn có tỷ lệ tăng trưởng cao, năm

Ngày đăng: 26/03/2021, 13:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN