Cụ thể như: Củng cố, kiện toàn tổ chức quản lý công trình thuỷ lợi cơ sở; Tập trung đầu tư sửa chữa nâng cấp các công trình, hệ thống công trình thủy lợi để phát huy tối đa năng lực công
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
CÀ VĂN THƯỞNG
NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG QUẢN LÝ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN - NĂM 2019
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
CÀ VĂN THƯỞNG
NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG QUẢN LÝ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 8 62 01 16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS LÊ SỸ TRUNG
THÁI NGUYÊN - NĂM 2019
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng 8 năm 2019
Tác giả
Cà Văn Thưởng
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức của UBND huyện Pác Nặm, Phòng Nông nghiệp& PTNT huyện, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, Phòng kinh tế & hạ tầng, Ban lãnh đạo các cấp, các phòng ban của huyện, xã, tổ dùng nước và những người dân địa phương đã cung cấp những thông tin cần thiết và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đề tài trên địa bàn
Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã chia sẻ những khó khăn và động viên tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, ngày tháng 8 năm 2019
Tác giả Luận văn
Cà Văn Thưởng
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ ix
BẢN TRÍCH YẾU LUẬN VĂN THẠC SĨ x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
Chương 1.CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
1.1.1 Một số khái niệm 4
1.1.2 Vai trò của ngành thủy lợi trong sản xuất nông nghiệp và trong nền kinh tế quốc dân 6
1.1.3 Đặc điểm và phân loại các công trình thuỷ lợi 7
1.1.4 Đặc điểm kinh tế của hoạt động tưới tiêu 11
1.1.5 Nội dung quản lý và sử dụng công trình thủy lợi 16
1.1.6 Yêu cầu nội dung nâng cấp sử dụng các công trình thủy lợi 13
1.1.7 Các vấn đề trong sử dụng các công trình thủy lợi 14
1.1.8 Sự cần thiết của công tác quản lý công trình thủy lợi 12
1.2 Cơ sở thực tiễn 17
1.2.1 Kinh nghiệm về quản lý và sử dụng công trình của một số nước trên thế giới 17
1.2.2 Thực tiễn quản lý và sử dụng công trình thủy lợi ở Việt Nam 20
1.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan 32
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho việc quản lý và sử dụng các công trình thủy
lợi trên địa bàn huyện Pác Nặm 33
Chương 2.ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 35
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Pác Nặm 35
2.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội của huyện Pác Nặm 38
2.1.3 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Pác Nặm 41
2.2 Nội dung nghiên cứu 45
2.3 Phương pháp nghiên cứu 45
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 45
2.3.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 48
2.3.3 Phương pháp phân tích 48
2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 48
2.4.1 Hiệu quả trong quản lý 48
2.4.2 Hiệu quả trong sử dụng 49
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 49
3.1 Thực trạng quản lý và sử dụng hệ thống công trình thuỷ lợi trên địa bàn huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn 49
3.1.1 Đặc điểm phát triển hệ thống công trình thuỷ lợi của huyện 49
3.1.2 Tình hình quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi 51
3.1.3 Thực trạng công tác quản lý và sử dụng công trình thủy lợi tại 3 xã nghiên cứu 64
3.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý và sử dụng công trình thủy lợi của huyện 75
3.2.1 Bộ máy quản lý công trình thủy lợi 75
3.2.2 Cơ chế, chính sách trong quản lý 76
3.2.3 Sự tham gia và ý thức bảo vệ công trình của cộng đồng hưởng lợi 79
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
3.2.4 Đánh giá chung 81 3.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi tại huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn 83 3.3.1 Củng cố, kiện toàn tổ chức quản lý công trình thuỷ lợi cơ sở 83 3.3.2 Tập trung đầu tư sửa chữa nâng cấp các công trình, hệ thống công trình thủy lợi để phát huy tối đa năng lực công trình 85 3.3.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực hiện quản lý công trình thủy lợi 86 3.3.4 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức và trách nhiệm của người dân trong việc sử dụng, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi 87 3.3.5 Huy động tối đa sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi vào việc quản lý
và sử dụng các công trình thuỷ lợi nội đồng 88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại các công trình thủy lợi ở Việt Nam 10
tỉnh 24Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất của huyện Pác Nặm 37Bảng 2.2 Tình hình dân số, lao động của huyện Pác Nặm giai đoạn 2016-
2018 40Bảng 2.3 Tổng hợp phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 46Bảng 3.1 Tình hình quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi trên địa bàn
huyện Pác Nặm năm 2018 55Bảng 3.2 Đánh giá mức độ hư hỏng các công trình thủy lợi năm 2018 56Bảng 3.3 Tình hình duy tu bảo dưỡng và sửa chữa các công trình thủy lợi
của Huyện giai đoạn 2016 - 2018 59
đoạn 2016- 2018 64Bảng 3.5 Tình hình sử dụng các công trình thủy lợi ở 3 xã nghiên cứu 65
nghiên cứu 67Bảng 3.7 Kết quả đầu tư kiên cố hóa kênh mương của 3 xã nghiên cứu 69Bảng 3.8 Kết quả tại các vùng đã cứng hóa kênh mương của 3 xã nghiên
cứu 72
tưới tại 3 xã nghiên cứu 75
công trình thuỷ nông ở 3 xã nghiên cứu 75Bảng 3.11 Một số chỉ tiêu của các hộ điều tra tại vùng đã cứng hóa và chưa
cứng hóa kênh mương ở 3 xã nghiên cứu 78
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Bảng 3.12 Kết quả nghiên cứu từ người dân về quản lý và sử dụng CTTL 78Bảng 3.13 Sự tham gia của hộ về quản lý và sử dụng CTTL 80
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về thủy lợi 21
Hình 1.2: Mô hình tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi 25
Hình 3.1: Mạng lưới CTTL trên địa bàn huyện 51
Hình 3.2 Bộ máy quản lý CTTL tại Bắc Kạn 53
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
BẢN TRÍCH YẾU LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Cà Văn Thưởng
Tên đề tài luận văn:“Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp trong quản lý khai
thác công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn”
Chuyên ngành: Phát triển nông thôn- Mã số: 8 62 01 16
Tên cơ sở đào tạo: Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
1 Mục đích nghiên cứu
Nâng cao công tác quản lý, khai thác có hiệu quả công trình thủy lợi trên địa bàn huyện, góp phần phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho người nông dân tại huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn
2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp Thu thập số liệu thứ cấp, Thu thập số liệu sơ cấp, Phương pháp thu thập nhằm quản lý khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn Đồng thời luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu, Phương pháp phân tích, Phương pháp thống kê mô tả, Phương pháp thống kê so sánh, Phương pháp phân tích kinh tế công cộng
3 Những phát hiện chính
- Công tác quản lý và sử dụng các công trình thuỷ lợi của huyện chủ yếu là do Phòng NN&PTNT, UBND xã và các Tổ dùng nước trực tiếp quản lý, sử dụng Hiện nay huyện có 161 công trình thủy lợi, các công trình thủy lợi cung cấp nước tưới cho 430,60 ha lúa hai vụ, trong đó lúa vụ Xuân là 280,40 ha và lúa vụ Mùa 150,20 ha Hầu hết các công trình thủy lợi có hiệu quả phục vụ thấp, tưới không ổn định, diện tích lúa được tưới ổn định hàng năm chỉ đạt khoảng 60- 70% diện tích cần được tưới Đội ngũ cán bộ quản lý mang tính chất kiêm nhiệm, chưa được đào tạo chuyên sâu
- Công trình thủy lợi do các địa phương quản lý và sử dụng là các công trình
có quy mô phục vụ nhỏ Hệ thống kênh mương của huyện đã được kiên cố hóa khoảng 70%, sử dụng tương đối đa dạng, nhưng đang bị xuống cấp, nhiều đoạn kênh còn bị
vỡ Các công trình thủy lợi sau đầu tư đã được bảo vệ và quản lý, vận hành và duy tu bảo dưỡng; những công trình thủy lợi bị hư hỏng xuống cấp đã được tổ quản lý chủ động tu sửa, bảo dưỡng và kịp thời phục vụ nước tưới kịp mùa vụ
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Các yếu tố ảnh hưởng chính đến hiệu quả quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi: Bộ máy quản lý CTTL; Cơ chế, chính sách trong quản lý; Sự tham gia và ý thức bảo vệ công trình của cộng đồng hưởng lợi
- Đề tài đã đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Cụ thể như: Củng cố, kiện toàn tổ chức quản lý công trình thuỷ lợi cơ sở; Tập trung đầu tư sửa chữa nâng cấp các công trình, hệ thống công trình thủy lợi để phát huy tối đa năng lực công trình; Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực hiện quản lý công trình thủy lợi; Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức và trách nhiệm của người dân; Huy động tối đa
sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi vào việc quản lý và sử dụng các công trình thuỷ lợi nội đồng
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam với đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt, thường xuyên xảy ra lũ lụt và hạn hán thì hệ thống thủy lợi lại càng thể hiện rõ vai trò then chốt trong việc điều hòa hệ thống tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp
Được sự quan tâm, đầu tư của Đảng và Nhà nước, hệ thống thủy lợi nước ta
đã có sự phát triển vượt bậc với hàng ngàn công trình: Kênh mương, hồ chứa nước, cống tưới tiêu, đê, kè, bờ bao…Hệ thống công trình thủy lợi đã phát huy tác dụng, góp phần không nhỏ vào việc điều tiết nước tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp, ngăn chặn lũ lụt, bảo vệ đời sống người dân và góp phần cần bằng hệ sinh thái môi trường Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đạt được, hiện nay sự lãng phí trong quản lý
và sử dụng các công trình thủy lợi vẫn còn là một thực trạng đáng báo động Kênh mương không phát huy được tác dụng hay sự phân bố các hồ chứa không phù hợp gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp.Chất lượng các công trình thủy lợi cũng là một vấn đề cần được quan tâm nhiều hơn nữa
Pác Nặm là một huyện miền núi, cách trung tâm thành phố Bắc Kạn 90 km
về phía bắc, huyện có diện tích đất tự nhiên 47.539 ha trong đó đất nông nghiệp chiếm 9,35%; đất lâm nghiệp chiếm 74%, đất chưa sử dụng chiếm 14,06%, đất phi nông nghiệp chiếm 2,18% Huyện bao gồm 10 đơn vị hành chính xã với 118 thôn, dân số 31.236 người, có 6.283 hộ bao gồm 7 dân tộc cùng sinh sống (Tày, Mông, Dao, Nùng, Sán Chỉ, Kinh, Hoa) Tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số chiếm 98,9%; tỷ lệ hộ nghèo năm 2017 là 42,57% và năm 2018 là 38,95% (2.769 hộ nghèo) (UBND huyện
Pác Nặm (2016, 2017, 2018), Báo cáo tình hình phát triển KTXH của huyện Pác Nặm) Thu nhập của các hộ dân chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp là chính (trên 95%
là hộ thuần nông) Hiện nay huyện Pác Nặm có 154 công trình thủy lợi, trong đó có
108 công trình thủy lợi có năng lực tưới từ 1ha trở lên, đảm bảo tưới cho 329,73 ha lúa hai vụ Cùng với hiện tượng biến đổi khí hậu dẫn đến lượng mưa giảm, phân bố không đồng đều và sự thay đổi cơ cấu mùa vụ, hệ số quay vòng đất tăng lên dẫn đến hiện nay lượng nước cần dùng để tưới cho 1 ha tăng từ 1,2 đến 1,4 lần so với giai
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
đoạn 2006- 2010 (theo kết quả tính toán phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch xây dựng
và phát triển thủy lợi huyện Pác Nặm giai đoạn 2006-2010, định hướng đến năm
2020 được phê duyệt tại Quyết định số 1164/QĐ-UBND ngày 28 tháng 7 năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn phân cấp quản lý khai thác các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn) Trong năm 2018 nói chung và 6 tháng cuối năm 2018 nói riêng để đảm bảo nước phục vụ sản xuất nông nghiệp từ các công trình thủy lợi các địa phương, các ban quản lý công trình thủy lợi bằng các nguồn vốn tích cực sửa chữa nâng cấp công trình từng bước nâng cao năng lực, hiệu quả tưới
Tuy nhiên các hoạt động quản lý khai thác công trình thuỷ lợi còn nhiều mặt hạn chế như tổ chức quản lý còn cồng kềnh, kém hiệu quả, mối quan hệ giữa doanh nghiệp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi với địa phương, các tổ chức hợp tác, hộ dùng nước còn lỏng lẻo, sử dụng nước còn lãng phí, tuỳ tiện, trách nhiệm trong bảo vệ công trình không được quan tâm, công tác duy tu bảo dưỡng công trình trông chờ vào
sự quan tâm đầu tư của Nhà nước Vì những yêu cầu cấp thiết trên, tôi đã chọn đề tài
“Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp trong quản lý khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn” để nghiên cứu với hy vọng góp phần giải
quyết được những tồn tại nêu trên trong công tác quản lý các công trình thủy lợi của huyện trong thời gian tới
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được thực trạng quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn;
- Phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện;
- Đề xuất được một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện giai đoạn 2020 - 2025
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi tại huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
3.2.1 Phạm vi không gian nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tại các xã đại diện trong công tác quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn
3.2.2 Phạm vi thời gian nghiên cứu
+ Số liệu thứ cấp thu thập trong 3 năm 2016- 2018
+ Số liệu sơ cấp thu thập năm 2018
4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn
4.1 Ý nghĩa khoa học
Cung cấp cơ sở khoa học về:hệ thống cơ sở lý luận, thực trạng tổ chức quản
lý và sử dụng các công trình thủy lợi, đặc biệt là các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý sử dụng
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Tổng kết và rút ra bài học kinh nghiệm trong quản lý, sử dụng các công trình thủy lợi tại huyện Pác Nặm, qua đó đề ra một số giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi tại huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn
Là tài liệu tham khảo trong công tác giảng dạy, nghiên cứu cho những lĩnh vục liên quan
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Một số khái niệm
* Thuỷ lợi
Thủy lợi được hiểu là những hoạt động liên quan đến ý thức con người trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước để phục vụ lợi ích của mình (Nguyễn Đức Châu, 2013) Những biện pháp khai thác nước bao gồm khai thác nước mặt và nước ngầm thông qua hệ thống bơm hoặc cung cấp nước tự chảy
Thủy lợi trong nông nghiệp là các hoạt động kinh tế - kỹ thuật liên quan đến tài nguyên nước được dùng trong nông nghiệp Điểm quan trọng của thủy lợi trong nông nghiệp là sử dụng hợp lý nguồn nước để có năng suất cây trồng và năng suất vật nuôi cao (Đoàn Thế Lợi, Nguyễn Tuấn Anh và Hoàng Thị Thùy Linh, 2013) Các nội dung của thuỷ lợi trong nông nghiệp bao gồm:
- Xây dựng hệ thống thủy lợi:
+ Tạo nguồn nước thông qua việc xây đập làm hồ chứa hoặc xây dựng trạm bơm
+ Xây dựng trạm bơm tưới và hệ thống kênh mương dẫn nước
- Thực hiện việc tưới và tiêu khoa học cho đồng ruộng Làm tăng năng suất cây trồng vật nuôi và phát triển các ngành kinh tế khác
- Quản lý hệ thống thủy lợi (tùy thuộc vào điều kiện cụ thể và quy mô phục vụ từng công trình mà áp dụng các biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả công trình về mặt tưới tiêu cũng như tính bền vững của công trình)
Cho đến nay chưa có một quy định thống nhất về quy mô các công trình thuỷ lợi Theo quy mô phục vụ, mức vốn đầu tư, người ta thường phân chia thuỷ lợi thành 3 cấp: lớn, vừa và nhỏ (Đoàn Thế Lợi, Nguyễn Tuấn Anh và Hoàng Thị Thùy Linh, 2013)
* Thủy nông: Hệ thống công trình thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
được gọi là thủy nông.Sản phẩm của công trình thủy lợi là nước tưới, nước tưới là yếu tố hàng đầu và không thể thiếu đối với sản xuất nông nghiệp
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
* Hệ thống thuỷ nông là tập hợp các công trình làm nhiệm vụ lấy nước từ
nguồn nước, dẫn vào đồng ruộng tưới cho cây trồng và tiêu hết lượng nước thừa trên đồng ruộng, bao gồm công trình lấy nước, hệ thống kênh mương lấy nước tưới tiêu
và các công trình phục vụ trên hệ thống đó
* Công trình lấy nước: Nguồn nước tưới trong nông nghiệp có thể là nước sông
ngòi, nước trong các hồ chứa, nước thải của các thành phố, các nhà máy công nông nghiệp và nước ngầm ở dưới đất Tuỳ theo nguồn nước và các điều kiện địa hình, thuỷ văn ở từng vùng mà các công trình lấy nước có thể xây dựng khác nhau, để phù hợp với khả năng lấy nước, vận chuyển nước về khu tưới và các địa điểm cần nước khác Người ta thường gọi chúng là công trình đầu mối của hệ thống tưới
* Hệ thống kênh mương dẫn nước bao gồm hệ thống tưới và hệ thống tiêu Hệ
thống tưới làm nhiệm vụ vận chuyển nước từ công trình đầu mối về phân phối cho hệ thống điều tiết nước mặt ruộng trên từng cánh đồng trong khu vực tưới Hệ thống tiêu làm nhiệm vụ vận chuyển nước thừa trên mặt ruộng do tưới hoặc do mưa gây nên, ra khu vực chứa nước
Theo tiêu chuẩn thiết kế hệ thống kênh tưới Việt Nam TCVN 4118- 85, hệ thống kênh tưới được phân ra như sau:
- Kênh đầu mối: Dẫn nước từ nguồn đến kênh cấp 1
- Kênh cấp 1: Lấy nước từ kênh đầu mối phân phối nước cho kênh cấp 2
- Kênh cấp 2: Lấy nước từ kênh nhánh cấp 1 phân phối nước cho kênh nhánh cấp 3
- Kênh cấp 3: Lấy nước từ kênh nhánh cấp 2 phân phối cho cấp kênh cuối cùng
- Kênh nhánh cấp 4: Còn là kênh nội đồng: Đây là cấp kênh tưới cố định cuối cùng trên đồng ruộng, phụ trách tưới cho khoảnh ruộng, thửa ruộng
* Khai thác các công trình thuỷ nông: Là một quá trình vận hành, sử dụng và
quản lý các công trình thuỷ nông nhằm đảm bảo cung cấp và tiêu thoát nước đúng kế hoạch tưới tiêu, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho khu vực tưới tiêu và xã hội
* Thuỷ lợi phí: Là một phần phí dịch vụ về nước của công trình thuỷ lợi, để
góp phần chi phí cho công tác tu bổ, vận hành và bảo vệ công trình thuỷ lợi (Đoàn Thế Lợi, Nguyễn Tuấn Anh và Hoàng Thị Thùy Linh, 2013)
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.1.2 Vai trò của ngành thủy lợi trong sản xuất nông nghiệp và trong nền kinh tế quốc dân
Trong những năm cuối của thế kỷ XX và nhưng năm đầu của thế kỷ XXI, loài người trên trái đất cần phải quan tâm và giải quyết 5 vấn đề to lớn mang tính chất toàn cầu đó là:
- Vấn đề về hoà bình
- Vấn đề về lương thực thực phẩm
- Vấn đề về bùng nổ dân số
- Vấn đề về ô nhiễm môi trường
- Vấn đề về năng lượng, nhiên liệu
Trong khuôn khổ của nền kinh tế quốc dân, thuỷ lợi là một ngành có đóng góp đáng kể để giải quyết các vấn đề nêu trên Nghị quyết đại hội Đảng đã chỉ ra rằng nông nghiệp phải là mặt trận hàng đầu.Vì phát triển nông nghiệp là vấn đề giải quyết vấn đề lương thực thực phẩm Bên cạnh các biện pháp thâm canh tăng năng xuất cây trồng như cơ giới hoá nông nghiệp, phân bón, bảo vệ thực vật, thì thuỷ lợi phải là biện pháp hàng đầu
Khi công tác thuỷ lợi đã thực sự phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, mức
độ sử dụng nguồn nước cao (tỷ trọng giữa nguồn nước tiêu dùng và lượng nước nguồn
do thiên nhiên cung cấp) thì không những từng quốc gia mà phải tiến hành liên quốc gia để giải quyết vấn đề lợi dụng tổng hợp nguồn nước phục vụ cho phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thuỷ sản Ngoài ra thuỷ lợi còn đóng góp to lớn trong việc cải tạo và bảo vệ môi trường nước bị ô nhiễm
Xuất phát từ vai trò của ngành thuỷ lợi trong hệ thông kinh tế quốc dân ngành thuỷ lợi có bốn nhiệm vụ chính sau đây:
- Cung cấp nước cho dân sinh, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông thuỷ với khối lượng và chất lượng cần thiết
- Dẫn và xử lý nước thải để bảo vệ nguồn nước tránh bị ô nhiễm
- Hồi phục và bổ sung nguồn nước để lợi dụng theo kế hoạnh
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Phòng chống lũ lụt, bảo vệ bờ biển, tránh những thiệt hại về người, tài sản của nhân dân và tài sản xã hội chủ nghĩa
Thuỷ lợi phục vụ nhiều mục đích như: Yêu cầu tưới tiêu, phát điện, cung cấp nước cho đời sống, phát triển giao thông thuỷ, chống lũ lụt bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân
Xây dựng thuỷ lợi là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt, nó sản xuất trực tiếp ra tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân Ngành thuỷ lợi góp phần trực tiếp cải thiện đời sống của nhân dân thông qua các công trình, tạo ra tích luỹ cho xã hội
từ lợi nhuận của các hoạt động sản xuất kinh doanh
Ngành thuỷ lợi góp phần thực hiện đường lối kinh tế, chính trị, văn hoá, quốc phòng của Đảng đồng thời thuỷ lợi quản lý một khối lượng lớn vốn đầu tư nhà nước, thường chiếm khoảng 8-10% vốn đầu tư xây dựng của các ngành trong nền kinh tế quốc dân.Thuỷ lợi đã tạo ra một giá trị sản phẩm xã hội bằng 11% -12% Tổng sản phẩm quốc dân cả nước và tiêu phí từ 14-16% tổng số lao động
1.1.3 Đặc điểm và phân loại các công trình thuỷ lợi
1.1.3.1 Đặc điểm của công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp
Thuỷ lợi là ngành kinh tế tổng hợp nhằm khai thác sử dụng hợp lý và bảo
vệ tài nguyên nước Các lĩnh vực chính của công tác thuỷ lợi là quy hoạch nguồn nước, khảo sát thiết kế, xây dựng công trình, quản lý khai thác công trình, quản lý lưu vực, bảo vệ và phát triển môi trường, chỉnh trị sông, bờ biển và phòng chống bão lụt
Công trình thuỷ lợi là những công trình phục vụ các lĩnh vực thuộc công tác thuỷ lợi, thể hiện tác động của con người vào thiên nhiên nhằm khai thác nguồn nước phục vụ các lợi ích của con người (Nguyễn Đức Châu, 2013)
Đề cập đến công trình thuỷ lợi là đề cập đến tính chất đa ngành của công trình, phục vụ cho nhiều ngành kinh tế quốc dân như nông nghiệp, điện năng, giao thông, cấp thoát nước, phòng chống lũ lụt, cải tạo môi trường, du lịch, Thật khó phân biệt
rõ ràng đối tượng phục vụ của công trình thuỷ lợi Khi muốn nghiên cứu riêng một lĩnh vực nào đó của công trình thuỷ lợi nói chung, người ta thường quan tâm đến các khía cạnh có liên quan đến lĩnh vực đó nhằm làm nổi bật ý nghĩa của thuỷ lợi đối với
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
đối tượng nghiên cứu Chẳng hạn muốn đề cập đến lĩnh vực phục vụ là nông nghiệp, nông thôn của công trình thuỷ lợi, người ta thường nhấn mạnh đến nhiệm vụ tưới tiêu nước cho các đối tượng của sản xuất nông nghiệp, khai hoang, cải tạo đất, bảo vệ sản xuất nông nghiệp, phục vụ dân sinh nông thôn, Khi đó, công trình thuỷ lợi được hiểu như công trình thuỷ nông để làm nổi bật tính chất phục vụ của công trình Tuỳ thuộc vào quy mô, chức năng và phạm vi ảnh hưởng mà hệ thống công trình thuỷ lợi được phân thành các cấp độ khác nhau
Như vậy, các công trình thuỷ nông thực chất là các công trình thuỷ lợi nhưng nhấn mạnh tính chất liên quan đến sản xuất nông nghiệp và phục vụ dân sinh trên địa bàn nông thôn Hệ thống công trình thuỷ lợi có quan hệ trực tiếp đến người hưởng lợi
và thường phát sinh nhiều vấn đề cần phải giải quyết giữa các bên liên quan Các công trình thuỷ lợi nói chung, thuỷ nông nói riêng tuy có những nội dung khác nhau nhưng đều có chung những đặc điểm chủ yếu như sau:
- Đầu tư xây dựng các công trình đòi hỏi vốn lớn, người dân không tự làm được mà phải có sự hỗ trợ của Nhà nước theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” Các công trình lớn do Nhà nước làm là chính
- Mỗi hệ thống công trình chỉ phục vụ cho một vùng nhất định theo quy hoạch Sản phẩm các công trình này tạo ra để dịch vụ cho các mục tiêu đa dạng, nhưng trong một số trường hợp do tính chất liên kết hệ thống chặt chẽ của công trình nên khó chuyển từ nơi sản xuất thừa sang nơi thiếu và khi thừa không thể cất giữ vào kho được
- Các công trình thuỷ lợi là một hệ thống bao gồm nhiều hạng mục, có quy mô
và chức năng khác nhau liên quan đến nhiều địa phương và cấp quản lý Để đảm bảo quản lý khai thác tốt công trình thuỷ lợi cần phải tiến hành phân cấp quản lý cho phù hợp với đặc điểm và tính chất của từng công trình
- Hệ thống công trình thuỷ lợi nằm rải rác trên diện rộng đan xen các khu dân
cư nên ngoài tác động của thiên nhiên còn có tác động bằng sự phá hoại của con người Vì vậy việc bảo vệ công trình không thể thiếu vai trò của cộng đồng người dân hưởng lợi
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Xuất phát từ những đặc điểm trên đây đòi hỏi công tác quản lý, khai thác công trình cần phải được chú ý đến tất cả các khâu, trong đó phân cấp quản lý là một nội dung trong công tác quản lý hết sức quan trọng đối với các công trình thuỷ lợi
1.1.3.2 Phân loại về hệ thống công trình thuỷ lợi
Hệ thống công trình thuỷ lợi “bao gồm các công trình có liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định” Tuỳ thuộc vào tính chất, đặc điểm trong khai thác sử dụng nước mà các công trình thuỷ lợi được phân thành nhiều loại theo những cấp độ khác nhau (Nguyễn Đức Châu, 2013)
- Nếu xét về tính chất, vai trò tác dụng của các công trình có thể phân thành công trình đầu mối, công trình ngăn nước, giữ nước, dẫn nước, công trình tưới, tiêu
- Nếu phân theo mức độ vốn đầu tư, công suất khai thác, lưu lượng dòng chảy, năng lực tưới tiêu, các công trình thuỷ lợi được phân thành công trình cấp
1, công trình cấp 2, công trình chủ yếu, công trình thứ yếu, công trình lớn, công trình nhỏ
- Nếu phân cấp theo giác độ quản lý, các công trình thuỷ lợi được phân thành công trình do trung ương quản lý, công trình do địa phương quản lý, công trình do cơ
+ Các công trình đúc trên kênh gồm hệ thống cống và các công trình xây đúc làm nhiệm vụ điều tiết phân phối nước phục vụ tưới và tiêu nước theo yêu cầu
Các hạng mục công trình trên là một hệ thống hoàn chỉnh, khép kín có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau Tuỳ thuộc vào quy mô, vai trò của từng hạng mục mà
có sự phân cấp quản lý một cách phù hợp nhất
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Ngoài việc xem xét theo cách phân loại trên người ta còn thấy các công trình thuỷ lợi còn có nhiều mục đích sử dụng khác nhau như kết hợp cấp nước và phát triển thuỷ điện; kết hợp phục vụ sản xuất nông nghiệp với phát triển du lịch, nuôi trồng thuỷ sản, phát triển giao thông thuỷ, cung cấp nước sinh hoạt và điều hoà môi trường sinh thái
Nếu chỉ xem xét về cấp độ, quy mô thì cho đến nay chưa có một quy định nào của thế giới thống nhất quy định quy mô các công trình Tuy nhiên ở mỗi nước khác nhau, tuỳ thuộc vào tầm quan trọng, mức độ vốn đầu tư, lợi ích kinh tế của từng công trình mà người ta chia công trình thuỷ lợi thành 3 cấp: công trình lớn, công trình vừa
và công trình nhỏ Khái niệm về công trình lớn, vừa và nhỏ ở mỗi quốc gia, mỗi vùng cũng được hiểu khác nhau và không có sự thống nhất tiêu chí đánh giá nào
Để tiện cho công tác quản lý, ngay từ khi lập dự án đầu tư, triển khai thi công xây dựng và vận hành khai thác trong quá trình sử dụng thì việc phân loại các công trình theo từng cấp độ khác nhau là rất cần thiết Trên cơ sở phân loại các công trình, tuỳ theo cấp
độ, tính chất khai thác, mục đích sử dụng mà nhà nước, địa phương định ra cơ chế quản
lý phù hợp nhằm đảm bảo việc khai thác các công trình an toàn, hiệu quả
Theo quy định của Việt Nam, việc phân loại các công trình thuỷ lợi được căn
cứ theo quy phạm của Nhà nước số 08/79/QPVN, theo những tiêu chí cụ thể như trên bảng 1.1
Bảng 1.1 Phân loại các công trình thủy lợi ở Việt Nam
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
(Nguồn: Nhà xuất bản Xây dựng - Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam
Công trình thủy lợi - Các qui định về thiết kế)
Ngoài các tiêu chí phân cấp các công trình thủy lợi như trên, loại công trình lớn, vừa và nhỏ còn được thể hiện thông qua tổng mức đầu tư, tính chất quan trọng và một
số tiêu chí khác như đã phân tích ở trên.Vậy việc phân cấp các công trình thủy lợi cũng chỉ mang tính chất tương đối tuỳ thuộc vào quan niệm của từng nước, từng vùng hay từng giai đoạn phát triển Tuy nhiên, dù dưới hình thức nào đi chăng nữa việc phân cấp các công trình thủy lợi cũng góp phần quan trọng để đưa ra các hình thức cũng như cách thức quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi phù hợp với khả năng trình độ của từng cấp quản lý, cũng như để xác định các công trình thủy lợi như thế nào thì có thể huy động được cộng đồng hưởng lợi tham gia Như vậy, phân loại công trình thủy lợi để chúng ta đưa ra các hình thức quản lý sao cho phù hợp với từng loại công trình, để từ đó nâng cao
tính hiệu quả phục vụ của từng loại công trình
1.1.4 Đặc điểm kinh tế của hoạt động tưới tiêu
Đặc điểm quan trọng nhất của hoạt động tưới tiêu là phụ thuộc rất lớn vào tự nhiên nên kết quả và chi phí luôn biến động, biến đổi theo từng vụ, từng năm với mức chênh lệch rất lớn trong khi đó diện tích phục vụ lại không thay đổi mấy Với những năm thời tiết thuận lợi mưa thuận gió hoà thì doanh nghiệp hoạt động ít và chi phí giảm Ngược lại những năm thời tiết khó khăn, khắc nghiệt, doanh nghiệp hoạt động nhiều, chi phí tăng nhưng lại có thể mất mùa, do đó doanh thu bị giảm hoặc thất thu
Vì vậy chi phí của đơn vị quản lý thường biến động theo thời tiết nhưng thuỷ lợi phí chỉ tính cho năm thời tiết ôn hoà do vậy nhiều khi hiệu quả mang lại thấp, thậm chí còn bị thất thoát lớn không hoàn thành kế hoạch đặt ra
Do sản xuất nông nghiệp có chu kỳ tương đối dài, đơn vị quản lý phải cung cấp dịch vụ tưới tiêu ngay từ khi bắt đầu sản xuất và trong suốt chu kỳ sinh trưởng phát triển của cây trồng nhưng thuỷ lợi phí lại chỉ được thu vào cuối mỗi vụ thu hoạch
mà nguồn thu lại chưa được tính đúng, tính đủ, còn phải thu theo chính sách có phần trợ cấp cho nông nghiệp Hơn nữa các chi phí của đơn vị quản lý thuỷ nông cho sản xuất như: điện, thiết bị phụ tùng thay thế…đều phải mua theo giá cả ngoài thị trường,
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
trong khi đó nguồn thu chính của đơn vị quản lý thủy nông là thuỷ lợi phí lại phải cố định theo chính sách của nhà nước
Kết quả hoạt động sản xuất còn được đánh giá gián tiếp thông qua kết quả của sản xuất nông nghiệp và các ngành khác do đó nhiều khi chưa phản ánh đúng hiệu quả thực của hoạt động tưới tiêu Hiệu quả mang lại vừa trực tiếp, vừa gián tiếp, có hiệu quả mang lại không thể tính ra được bằng tiền
Ngoài tính khoa học, kỹ thuật thì trong công tác quản lý hệ thống thuỷ nông còn mang tính quần chúng Đơn vị quản lý phải dựa vào dân, vào chính quyền địa phương để làm tốt việc điều hành tưới tiêu, thu thuỷ lợi phí, duy tu, bảo dưỡng, bảo
vệ công trình….Do đó đơn vị quản lý không những phải làm tốt công tác chuyên môn
mà còn phải làm tốt công tác vận động quần chúng cùng tham gia quản lý khai thác
và bảo vệ công trình
1.1.5 Sự cần thiết của công tác quản lý công trình thủy lợi
Công trình thủy lợi được xây dựng để phục vụ cho những mục đích khác nhau, trong những điều kiện tự nhiên về khí tượng thủy văn, địa hình, địa chất… khác nhau
Do đó, công trình lợi rất đa dạng về biện pháp, về hình thức kết cấu và quy mô công trình (Đặng Ngọc Hạnh, 2014)
Công tác quản lý công trình thủy lợi là một công tác nghiệp vụ kỹ thuật phức tạp, nhiệm vụ của công tác là: Tận dụng triệt để năng lực thiết kế của công trình để phục vụ sản xuất; Đảm bảo an toàn tuyệt đối khi vận hành và khai thác (Nguyễn Thị Xuân Lan, 2011) Quản lý công trình thủy lợi là một nhiệm vụ trọng yếu trong công tác quản lý khai thác hệ thống thủy lợi, nhằm bảo đảm công trình hoạt động bình thường
và phát huy hết tiềm lực của nước (Đặng Ngọc Hạnh, 2014) Đảm bảo hệ số tưới mặt ruộng như đã xác định trong quy hoạch, cung cấp nước và thoát nước khi cần Hệ số lợi dụng kênh mương lấy tương ứng với tình trạng đất của khu vực theo quy phạm thiết
kế kênh tưới
Các công trình thuỷ lợi đều được xây dựng theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm” Nguồn vốn lấy từ ngân sách Nhà nước, vốn vay, vốn địa phương hoặc trích từ thuỷ lợi phí của các Công ty khai thác công trình thuỷ lợi và
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nhân dân đóng góp, Công trình được hoàn thành sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao trong một thời gian dài nếu khai thác và quản lý tốt Khai thác và quản lý các công trình thuỷ lợi tốt sẽ nâng cao được hệ số sử dụng nước hữu ích, giảm bớt lượng nước
rò rỉ, thẩm lậu, nâng cao tính bền vững của hệ thống, giảm bớt chi phí tu sửa Mặt khác, khai thác và quản lý tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện kế hoạch dùng nước, thực hiện chế độ và kỹ thuật tưới phù hợp với yêu cầu kỹ thuật của nông nghiệp, ngăn ngừa được hiện tượng đất bị lầy hoá, tái mặn hoặc bị rửa trôi do tình trạng sử dụng nước bừa bãi gây nên (Đặng Ngọc Hạnh, 2014) Vì vậy, quản lý công trình thủy lợi sẽ kéo dài thời gian sử dụng công trình, nâng cao hiệu ích dùng nước
Các công trình thủy lợi có đặc điểm: Các công trình thi công kéo dài, nằm dải rác trên diện rộng, chịu sự tác động của thiên nhiên và con người Thông qua công tác quản lý công trình thủy lợi để kiểm tra và đánh giá mức độ chính xác của các khâu quy hoạch, thiết kế, thi công Vì vậy không ngừng cải tiến quản lý công trình làm cho công tác này ngày càng tốt hơn là trách nhiệm rất lớn của những người làm công tác quản lý (Nguyễn Thị Xuân Lan, 2011)
1.1.6 Yêu cầu nội dung nâng cấp sử dụng các công trình thủy lợi
a Khái niệm
Nâng cấp sử dụng các công trình thủy lợi là việc làm tăng năng lực tưới tiêu các công trình đó thông qua các biện pháp: Tu sửa, nâng cấp các công trình thủy lợi, lắp đặt thêm thiết bị, mở rộng thêm hệ thống tưới, tiêu (Nguyễn Đức Châu, 2013)
b Mục đích nâng cấp sử dụng công trình thủy lợi
Nâng cấp sử dụng công trình thủy lợi nhằm mục đích nâng cao năng lực tưới tiêu các công trình thủy lợi đáp ứng cho nhu cầu của sản xuất nông nghiệp Nâng cấp công trình thủy lợi khác với xây dựng mới nghĩa là các công trình này đã được xây dựng nhưng do một số lý do nên đã bị xuống cấp như: máy móc thiết bị đã bị cũ kỹ lạc hậu, kênh mương bị sạt lở không còn đảm bảo nhiệm vụ tưới tiêu như thiết kế ban đầu, không đáp ứng được yêu cầu sản xuất Đối với kênh mương; nâng cấp sẽ giảm được tiêu hao nước, nâng cao được lưu lượng nước ở trong kênh, giảm được thời gian dẩn nước, tưới tiêu chủ động Đặc biệt là khi bê tông hoá kênh mương thì điều dễ nhận thấy là giảm được ngày công lao động nạo vét kênh mương
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
c Sự cần thiết phải nâng cấp sử dụng công trình thủy lợi
Các công trình thủy lợi qua quá trình sử dụng do tác động của thời gian, của các yếu tố thời tiết khí hậu sẽ bị xuống cấp không còn khả năng tưới tiêu như lúc mới xây dựng hiệu quả sử dụng thấp bởi chi phí duy tu, bảo dưỡng quá lớn vì thế cần phải tiến hành nâng cấp, cải tạo để đáp ứng được nhiệm vụ của công trình, nâng cao được hiệu quả kinh tế, tiết kiệm được đất đai, tạo được cảnh quan môi trường, giữ cho nguồn nước được trong sạch
d Phương thức nâng cấp sử dụng công trình thủy lợi
Có nhiều phương thức đầu tư nâng cấp sử dụng công trình thuỷ nông Tuỳ theo mức độ hư hỏng, xuống cấp của công trình, qui mô đòi hỏi vốn đầu tư nhiều hay ít hoặc tuỳ theo hình thức tổ chức quản lý, khai thác, sử dụng công trình mà
có nhiều phương thức đầu tư nâng cấp công trình thuỷ nông khác nhau Có thể có những công trình đòi hỏi vốn đầu tư lớn, phạm vi phục vụ tưới tiêu liên quan đến nhiều địa phương (liên huyện, liên xã…) do ngân sách Nhà nước hoặc các doanh nghiệp thuỷ nông (cấp tỉnh) huy động 100% vốn đầu tư nâng cấp; đối với những công trình thuỷ nông vừa và nhỏ nằm gọn trong một địa phương thôn, xóm hoặc
xã liên quan trực tiếp đến cộng đồng người hưởng lợi cụ thể có thể Nhà nước hỗ trợ kết hợp với phần đóng góp của nhân dân với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”; hoặc có thể hoàn toàn do nhân dân đóng góp để nâng cấp công trình nhằm phục vụ lợi ích thiết thực của cộng đồng dân cư
e Biện pháp nâng cấp sử dụng công trình thủy lợi
Tuỳ thuộc vào mức độ hư hỏng, xuống cấp của công trình và tuỳ thuộc khả năng về kinh phí mà tiến hành nâng cấp toàn bộ hay nâng cấp từng hạng mục công trình Trong điều kiện nguồn kinh phí có hạn nếu nâng cấp toàn bộ nghĩa là thay thế hoàn toàn máy móc thiết bị, nâng cấp hệ thống kênh mương từ kênh đất sang kênh
bê tông sẽ rất khó khăn, công trình có thể phải kéo dài nhiều năm, chậm được đưa vào khai thác, sử dụng làm giảm hiệu quả đầu tư Do vậy, cần phải lựa chọn biện pháp nâng cấp phù hợp (Nguyễn Thị Xuân Lan, 2011)
1.1.7 Các vấn đề trong sử dụng các công trình thủy lợi
- Quản lý công tác qui hoạch, thiết kế xây dựng và quản lý vốn đầu tư trong quá trình xây dựng, cải tạo và tu bổ các công trình thuỷ nông
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Quản lý để duy trì năng lực khai thác của hệ thống các công trình nhằm hạn chế thất thoát nước và những thiệt hại, hư hỏng, xuống cấp của các công trình thuỷ nông do tác động của ngoại cảnh và con người
- Tổ chức khai thác các công trình thuỷ nông một cách hiệu quả nhất đáp ứng nhu cầu tưới tiêu khoa học phục vụ sản xuất nông nghiệp nhằm tăng năng suất cây trồng, hạn chế sâu bệnh, điều hoà sinh thái tiến tới phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá bền vững
- Quản lý toàn bộ các chi phí đầu vào như chi phí điện năng, nhiên liệu và các chi phí khác để tránh lảng phí, tiết kiệm chi phí, hạ thấp giá thành dịch vụ nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho phát triển sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế
xã hội ở nông thôn
Xác lập một hệ thống tổ chức điều hành có hiệu quả, thực hiện phân cấp và quản lý các công trình thuỷ nông một cách khoa học phù hợp với trình độ quản lý trong từng giai đoạn Hệ thống quản lý trên phải đảm bảo nguyên tắc gọn nhẹ, hiệu quả đảm bảo yêu cầu vừa phục vụ tốt cho sản xuất vừa thu hồi được vốn đầu tư, tiền thuỷ lợi phí và điều hoà được lợi ích giữa các bên liên quan
Đặc điểm về tổ chức trong sử dụng các hoạt động thuỷ nông phục vụ sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Một là, hoạt động của các hệ thống thủy nông là hoạt động công ích, vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội
Hai là, công trình thủy lợi có giá trị rất lớn lại phân bố dàn trải trên địa bàn rộng, vốn hoạt động ít lại quay vòng chậm
Ba là, sản phẩm của doanh nghiệp thủy nông là sản phẩm hàng hóa đặc biệt với nhiều tính chất đặc thù và thị trường tiêu thụ được giới hạn trong một phạm vi không gian nhất định
Bốn là, thu nhập của từ hoạt động thủy nông không ổn định và thường khó bù đắp những chi phí hoạt động
Năm là, lao động trong các doanh nghiệp thủy nông được bố trí dàn trải trên địa bàn rộng và hoạt động mang tính thời vụ rõ nét
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Sáu là, hoạt động của các doanh nghiệp thủy nông chịu sự chi phối lớn bởi các điều kiện tự nhiên, nên kế hoạch sản xuất thường phải điều chỉnh
1.1.8 Nội dung quản lý và sử dụng công trình thủy lợi
1.1.8.1 Xây dựng, lập kế hoạch
Xây dựng, lập kế hoạch trong quản lý công trình thủy lợi là lựa chọn một trong những phương án hành động tương lai cho toàn bộ hệ thống công trình thủy lợi và cho từng bộ phận trong một công trình Nó bao gồm sự lựa chọn các mục tiêu của quản lý công trình thủy lợi, xác định các phương thức để đạt được các mục tiêu
1.1.8.2 Tổ chức thực hiện
Chức năng tổ chức trong quản lý công trình thủy lợi là chức năng hình thành
cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý cùng các mối quan hệ phân cấp, phân quyền trong quản lý các công trình thủy lợi
1.1.8.3 Triển khai thực hiện
Là hoạt động xác định quyền hạn, phạm vi ra quyết định, phân bổ và sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực đồng thời phối hợp quản lý giữa tổ chức và cộng đồng nhằm đạt được hiệu quả tối đa, phát huy tác dụng của các công trình thủy lợi Việc quản lý công trình thủy lợi bao gồm chủ yếu các nội dung như sau:
+ Công tác quan trắc: Cần tiến hành quan trắc thường xuyên, toàn diện Nắm vững quy luật làm việc và những diễn biến của công trình đồng thời dự kiến các khả năng có thể xảy ra.Kết quả quan trắc phải thường xuyên đối chiếu với tài liệu thiết kế công trình để nghiên cứu và xử lý
+ Công tác bảo dưỡng: Cần thực hiện chế độ bảo dưỡng thường xuyên và định
kỳ thật tốt để công trình luôn làm việc trong trạng thái an toàn và tốt nhất Hạn chế mức độ hư hỏng các bộ phận công trình
+ Công tác sửa chữa: Phải sửa chữa kịp thời các bộ phận công trình hư hỏng, không để hư hỏng mở rộng, đồng thời sửa chữa thường xuyên, định kỳ
+ Công tác phòng chống hạn hán: Vào mùa khô, công tác phòng chống hạn hán phải được quan tâm hàng đầu Hàng năm phải có kế hoạch và phương án phòng chống hạn hán cụ thể cho các địa phương, các xứ đồng thường xuyên xảy ra hạn hán
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
+ Công tác phòng chống lũ lụt: Trong mùa mưa, bão, cần tổ chức phòng chống, chuẩn bị đầy đủ các nguyên vật liệu cần thiết và chuẩn bị các phương án ứng cứu đối phó kịp thời với các sự cố xảy ra
1.1.8.4 Kiểm tra, giám sát
Công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi có vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt trong công tác phát triển hệ thống thủy lợi của nước ta Đây là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi đảm bảo cho mục tiêu phát triển bền vững sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống cho người dân và các chính sách, pháp luật của Nhà nước được thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Kinh nghiệm về quản lý và sử dụng công trình của một số nước trên thế giới
Kinh nghiệm về công tác quy hoạch, khảo sát thiết kế, thi công công trình thủy lợi nhằm đạt được các mục tiêu đề ra cũng như tính toán đúng, đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng tích cực, tiêu cực khi xây dựng công trình thủy lợi là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng chiến lược
* Kinh nghiệm của Trung Quốc
Đập Tam Hiệp được ví như “Vạn lý trường thành” thứ 2 của Trung Quốc, đây
là đập thủy điện lớn nhất thế giới Giống như nhiều đập nước đang xây dựng khác,
dự án này cũng gây ra nhiều ý kiến tranh luận trái ngược Các đề xuất cần thiết xây dựng thường dựa vào các lợi ích kinh tế từ việc kiểm soát ngập lụt và năng lượng từ thủy điện Các ý kiến chống lại chủ yếu là do các e ngại về tương lai của 1,9 triệu người sẽ phải di chuyển chỗ ở do mực nước tăng lên, sự mất đi của nhiều địa điểm
có giá trị khảo cổ học và văn hóa, cũng như các tác động tới môi trường
Thực tế, vào ngày 18/05/2011, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo chủ trì một cuộc họp khẩn cấp của Quốc vụ viện về đập Tam Hiệp Bản thông cáo ngắn ngủi được Tân Hoa Xã công bố vào buổi tối thừa nhận con đập khổng lồ này gây ra nhiều hậu quả “cần phải giải quyết khẩn cấp” Đập Tam Hiệp đã để lại những hậu quả nghiêm trọng:
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Mất nhà cửa: Đập Tam Hiệp đã phủ kín 13 thành phố, 140 thị trấn và 1350 làng và làm 1,2 triệu người mất nhà cửa Rất nhiều người dân phải tái định cư đã
bị lừa mất tiền bồi thường và không nhận được công việc mới hay đất đai như chính phủ đã hứa Trong khi một số thị trấn mới được xây dựng vừa phục hồi từ
cú sốc mất nơi ở ban đầu, nhưng nhiều người khác lại bị lâm vào tình trạng thất nghiệp và nghèo đói
- Hủy hoại về sinh thái: Việc xây dựng đập thủy điện Tam Hiệp được chuẩn
bị trước để đối mặt với những vấn đề xã hội và môi trường, nhưng không được chuẩn
bị cho các tác động địa chất rộng rãi Sự thay đổi thất thường của mực nước tại các
hồ chứa nước của đập làm mất ổn định độ dốc của thung lũng Dương Tử, và kích hoạt những trận lở đất thường xuyên.Xói mòn ảnh hưởng tới một nửa diện tích hồ chứa, và hơn 300.000 người nữa sẽ phải tái định cư để ổn định lại bờ hồ chứa
- Các tác động tới hạ lưu: Sông Dương Tử lưu chuyển hơn 500 tấn phù sa xuống các hồ chứa mỗi năm Hầu hết lượng phù sa hiện nay bị giữ tại các khu vực hạ lưu và đặc biệt là đồng bằng Dương Tử Hậu quả là, lên tới 4 cây số vuông vùng đầm lầy rìa
bờ biển bị xói mòn hàng năm Đồng bằng đang chìm dần, trong khi nước biển thì dâng ngược xâm lấn vào sông, ảnh hưởng tới nông nghiệp và nước uống Vì thiếu chất dinh dưỡng, các ngư trường hiện nay đang phải gánh chịu hậu quả
- Nhạy cảm với biến đổi khí hậu (BĐKH): đập Tam Hiệp là minh chứng cho
sự thay đổi thất thường của BĐKH tạo ra những rủi ro mới cho các dự án thủy điện như thế nào Những người vận hành đập lập kế hoạch tích nước đầy hồ chứa lần đầu tiên vào năm 2009, nhưng họ không thể làm vậy vì không có đủ mưa.Lượng mưa thất thường hơn bao giờ hết đặt một dấu hỏi lớn đằng sau những lợi ích kinh tế của đập Tam Hiệp
- Chi phí tài chính: chi phí chính thức cho đập sông Dương Tử là 27 tỷ USD Các nhà phê bình lập luận rằng, nếu những chi phí ẩn được tính vào, thì giá trị thực của con đập lên tới 88 tỷ USD Nếu sản xuất điện và thay thế phương pháp đốt than tạo điện bằng các phương pháp khác thì sẽ rẻ hơn Trong khi con đập đang được xây dựng, hiệu suất năng lượng của nền kinh tế Trung Quốc đi xuống Theo Tổ chức Năng lượng tại Mỹ, "nếu
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Trung Quốc đầu tư vào hiệu suất năng lượng, thì năng lượng của nước này sẽ rẻ hơn, sạch hơn và hiệu quả cao hơn" là những nhà máy năng lượng hạt nhân mới
Ngày 18/5/2011, Chính phủ Trung Quốc lần đầu tiên thừa nhận các vấn đề nghiêm trọng của đập Chính phủ vẫn cho hay: "Dự án này có lợi ích to lớn trong việc ngăn lũ, sản xuất điện, giao thông đường sông và sử dụng nguồn nước", nhưng nó
"đã gây ra những vấn đề khẩn cấp về mặt bảo vệ môi trường, ngăn ngừa các thảm họa địa chất và phúc lợi của các cộng đồng tái định cư"
* Kinh nghiệm của các nước khác về xây dựng đập nước có liên quan đến sinh thái môi trường
Theo kết quả nghiên cứu được công bố ngày 1/7 trên tạp chí PLOS ONE của Mỹ, các đập thủy điện có thể làm tuyệt chủng tới 70% số động vật hoang dã sinh sống tại khu vực lân cận Nghiên cứu dựa trên quan sát nhiều loài động vật hoang dã tại rừng mưa nhiệt đới Amazon, gần đập thủy điện Balbina của Brazil Đập này đã tạo ra một trong những hồ thủy điện lớn nhất thế giới là hồ Balbina bằng cách làm ngập nước một khu vực đất rừng và chia khu vực này thành 3.546 hòn đảo.Trừ những hòn đảo lớn nhất, tại những hòn đảo còn lại, sự thay đổi cảnh quan đã khiến cho nhiều loài động vật có vú, các loài chim và rùa cạn bị tuyệt chủng trong hơn 26 năm qua Nghiên cứu cho rằng nhiều khả năng sẽ có tới gần 3/4 số động vật hoang dã trong khu vực này bị biến mất do sự tồn tại của đập Balbina Cụ thể, theo một tác giả của nghiên cứu, ông Carlos Peres thuộc Đại học East Anglia (Anh), sẽ có hơn 70% trong tổng số 124.110 loài động vật hoang dã tại khu vực hồ Balbina bị tuyệt chủng
Trong khi đó, ông Maira Benchimol thuộc Đại học Estadual de Santa Cruz (Brazil), chủ nhiệm công trình nghiên cứu, cho biết chỉ có 25 trong số 3.546 hòn đảo
ở hồ này, những đảo có diện tích lớn hơn 475ha, được đánh giá là vẫn bảo tồn được
hệ động vật đa dạng ban đầu Trong bối cảnh Brazil đang có kế hoạch xây dựng thêm nhiều đập thủy điện trong các năm tới, nhóm chuyên gia kêu gọi chính phủ cân nhắc tới kết quả nghiên cứu mới nhất này khi tiến hành đánh giá tác động tới môi trường của các công trình này Các nhà máy thủy điện thường sử dụng các đập thủy điện để
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
tăng áp lực của các nguồn nước tự nhiên để sản xuất điện Những đập này từng được coi là một nguồn năng lượng sạch quan trọng do không đòi hỏi việc đốt cháy nhiên liệu hóa thạch, song một loạt những cuộc nghiên cứu trong những năm gần đây đã cho thấy những đập trên có ảnh hưởng tiêu cực đến ngành ngư nghiệp và các cộng đồng dân cư địa phương Các đập thủy điện cũng có nguy cơ làm tăng lượng khí thải methane và các loại khí thải gây hiệu ứng nhà kính khác sinh ra từ thực vật bị thối rữa
1.2.2 Thực tiễn quản lý và sử dụng công trình thủy lợi ở Việt Nam
1.2.2.1 Các mô hình quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi ở nước ta hiện nay
Để quản lý, vận hành tốt các hệ thống công trình thuỷ lợi hiện có phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh kinh tế xã hội, trên phạm vi cả nước đã có một hệ thống tổ chức quản lý thuỷ lợi khép kín từ Trung ương đến địa phương (thực hiện chức năng quản lý Nhà nước) và từ đầu mối đến mặt ruộng (thực hiện nhiệm vụ quản lý công trình)
* Mô hình quản lý nhà nước
+ Mô hình quản lý nhà nước cấp Trung ương:
Thực hiện Chỉ thị số 1268/CT-BNN-TL ngày 12/5/2009 của Bộ NN & PTNT về việc tăng cường công tác quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi, UBND các tỉnh thành phố (sau đây gọi tắt cấp tỉnh) trong cả nước đã triển khai thực hiện chủ trương kiện toàn
và củng cố các chi cục thủy lợi để thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ quản lý Nhà nước theo quy định tại Thông tư liên tịch số 61/2008/TTLT-BNN-BNV ngày 15/5/2008 của liên Bộ Nội vụ - Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Về mô hình tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước cơ bản thống nhất, ở cấp tỉnh
có Chi cục Thủy lợi, ở các tỉnh không thành lập Chi cục phòng chống lụt bão và quản
lý đê điều thì Chi cục Thủy lợi kiêm nhiệm thêm chức năng phòng chống lụt bão, quản lý đê điều (xem sơ đồ đồ1.1)
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về thủy lợi
- Năm 1995, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN & PTNT) được thành lập trên cơ sở sáp nhập Bộ Thuỷ lợi, Bộ Nông nghiệp và Bộ Lâm nghiệp Chức năng quản lý nhà nước về thuỷ lợi cũng được sáp nhập thành một trong các chức năng của Bộ NN & PTNT Tổ chức bộ máy giúp Bộ NN & PTNT thực hiện chức năng của
cả Bộ Thuỷ lợi trước kia là 2 Cục: Cục Quản lý nước và công trình thuỷ lợi (sau đổi tên thành Cục Thuỷ lợi) và Cục Quản lý đê điều và Phòng chống lụt bão
- Đến năm 2004, chức năng quản lý nhà nước về thuỷ lợi ở cấp Trung ương lại
có sự thay đổi Thực hiện Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ, nội dung quản lý nhà nước về tài nguyên nước được chuyển sang Cục Quản lý Tài nguyên nước - Bộ Tài nguyên Môi trường
- Từ tháng 03/2010 đến nay, chức năng quản lý Nhà nước về quản lý khai thác công trình thủy lợi được giao cho Tổng cục Thủy lợi trực thuộc Bộ NN&PTNT Tổng cục Thủy lợi thành lập Vụ Quản lý công trình thủy lợi để tham mưu cho Tổng cục thực hiện chức năng này
Sự thay đổi về chức năng nhiệm vụ và bộ máy tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thuỷ lợi trong đó có quản lý khai thác công trình thủy lợi ở Trung
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ương kéo theo sự thay đổi về tổ chức quản lý nhà nước về thuỷ lợi ở địa phương từ tỉnh đến huyện và xã
+ Mô hình quản lý nhà nước cấp tỉnh:
- Trước năm 2008, ở cấp tỉnh, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về thuỷ lợi trong đó có quản lý khai thác công trình thủy lợi được quy định tại Thông tư liên tịch số 11/2004/TTLT/BNN-BNV của liên Bộ NN & PTNT - Bộ Nội vụ Tuy nhiên, do các quy định này chỉ mang tính hướng dẫn, không bắt buộc nên các mô hình tổ chức quản lý nhà nước ở các địa phương rất khác nhau Một số địa phương thành lập phòng quản lý nhà nước về thuỷ lợi nhưng chủ yếu làm chức năng thẩm định xây dựng cơ bản về thuỷ lợi, không tham mưu giúp Sở làm tốt chức năng quản lý nhà nước
về chuyên ngành quản lý khai thác công trình thủy lợi Vì thế, lĩnh vực quản lý khai thác công trình thuỷ lợi ở nhiều địa phương chưa được đẩy mạnh, nhất là tổ chức quản lý chưa được củng cố, phát triển để đáp ứng được yêu cầu hiện tại và tương lai
- Chức năng, nhiệm vụ của mô hình Chi cục Thủy lợi giữa các địa phương, vùng miền trong cả nước có sự khác biệt đáng kể Đối với các Chi cục Thuỷ lợi vùng ĐBSH và Bắc Trung Bộ chức năng quản lý nhà nước về thuỷ lợi không bao gồm chức năng quản lý nhà nước về đê điều và phòng chống lụt bão Trong khi đó các Chi cục Thuỷ lợi ở các vùng gồm Miền núi phía Bắc, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long đều có chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực thuỷ lợi bao gồm cả quản lý đê điều và phòng chống lụt bão
và giảm nhẹ thiên tai
- Từ năm 2008 đến nay, thực hiện Thông tư liên tịch số BNV ngày 15/5/2008 của liên Bộ Nội vụ - Bộ NN & PTNT, cơ quan chuyên môn về quản lý, khai thác công trình thủy lợi đã cơ bản được kiện toàn, hoàn thiện Đến nay,
61/2008/TTLT-BNN-cả nước đã có 62/63 tỉnh, thành phố thành lập Chi cục Thủy lợi trực thuộc Sở Nông nghiệp & PTNT với chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức theo quy định của Thông tư liên tịch số 61/2008/TTLT-BNN-BNV (riêng chỉ còn tỉnh Đồng Nai là chưa thành lập Chi cục Thủy lợi mà đang còn duy trì Phòng Thủy lợi trực thuộc Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Sở NN& PTNT)
+ Mô hình quản lý nhà nước cấp huyện:
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Ở cấp huyện, chức năng quản lý nhà nước về khai thác công trình thủy lợi phần lớn được giao cho Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, một số nơi giao cho Phòng Kinh tế nông nghiệp
- Hiện nay, số lượng cán bộ có trình độ đào tạo về thủy lợi làm việc tại các phòng nêu trên rất ít, theo điều tra tại 528 đơn vị cấp huyện chỉ có 407 đơn vị được
bố trí ít nhất 1 người có chuyên môn thủy lợi, còn lại 121 đơn vị chưa có cán bộ chuyên môn thủy lợi (chiếm 23%)
- Năng lực chuyên môn và kinh nghiệm cán bộ phụ trách thuỷ lợi còn chưa cao, vẫn còn trên 40% cán bộ có trình độ trung cấp và sơ cấp Trong khi nhiệm vụ quản lý nhà nước về thuỷ lợi ở cấp huyện là rất nặng nề Với tổ chức biên chế và năng lực hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về quản lý khai thác công trình thuỷ lợi trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa và xây dựng nông thôn mới
+ Mô hình quản lý nhà nước cấp xã:
- Ở cấp xã, hầu hết uỷ ban nhân dân mỗi xã hầu hết đều cử 01 cán bộ bán chuyên trách phụ trách công tác thuỷ lợi, trong đó có nhiệm vụ quản lý khai thác công trình thủy lợi Tuy nhiên, phần lớn các cán bộ này ít có kinh nghiệm về quản lý, năng lực còn hạn chế dẫn đến hiệu quả quản lý nhà nước ở cấp cơ sở thấp, thậm trí nhiều nơi buông lỏng
+ Mô hình quản lý khai thác các công trình thủy lợi:
Tổ chức bộ máy quản lý vận hành công trình thủy lợi khá đa dạng, với nhiều
mô hình quản lý khác nhau
Ở cấp tỉnh, tính đến nay cả nước có 92 doanh nghiệp (trong đó có 3 doanh nghiệp trực thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT và 89 doanh nghiệp thuộc các tỉnh), 2 Ban quản lý (Tuyên Quang và Kon Tum), 4 Trung tâm (Long An, Bạc Liêu, Vũng Tàu và Lâm Đồng), 4 Chi cục Thủy lợi (hoặc Chi cục Thủy lợi và Phòng chống lụt bão) kiêm nhiệm nhiệm vụ quản lý khai thác công trình (Cần Thơ, Hậu Giang, Kiên Giang và Cà Mau), Vùng miền núi phía bắc có 2 tỉnh chưa có tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi là Bắc Kạn và Lào Cai; vùng đồng bằng sông cửu long cũng
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
có 2 tỉnh như Đồng Tháp và Vĩnh Long, ở các tỉnh này công trình thủy lợi được giao cho cấp huyện, xã quản lý và khai thác (xem Bảng 1.2)
Bảng 1.2 Các hình thức tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi cấp tỉnh
Ban Quản
lý
Chi cục thủy lợi
Số tỉnh chưa có
Tuy các hình thức tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi ở các tỉnh trong
cả nước chưa thống nhất, nhưng tự trung lại có 3 mô hình tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi chủ yếu sau đây (xem hình 1.2)
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Hình 1.2 Mô hình tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi (Nguồn: Đặng
Ngọc Hạnh, 2014)
- Mô hình 1 (Mô hình Doanh nghiệp) Mô hình này thường áp dụng để quản
lý các hệ thống thủy lợi vừa và lớn Theo mô hình này Nhà nước thành lập Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi và giao nhiệm vụ quản lý Công trình thủy lợi từ đầu mối đến cống đầu kênh nội đồng Thông thường mỗi tỉnh thành lập 1 công
ty (31/50 tỉnh, chiếm 62%); 5 tỉnh thành lập 2 công ty (2/50 chiếm 4%), 17 tỉnh còn lại có số công ty khá nhiều, nhiều nhất là các tỉnh Nghệ An và Nam Định có 7 công
ty (14/89, chiếm 16 % cả nước), sau đến là Bắc Giang và Hải Phòng mỗi tỉnh có 5 công ty Đối với các tỉnh chỉ thành lập một công ty thì ở các huyện có các đơn vị trực thuộc như Xí nghiệp, Chi nhánh, Cụm, Trạm Từ sau cống đầu kênh nội đồng do các
tổ chức hợp tác dùng nước quản lý như Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, Ban quản
lý, Ban nông nghiệp xã, Tổ hợp tác, Tổ đội thủy nông
- Mô hình 2 (Chi cục Thủy lợi) Ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
thường không thành lập các doanh nghiệp mà giao luôn cho Chi cục Thủy lợi (hoặc Chi cục Thủy lợi và Phòng chống lụt bão) quản lý Theo mô hình này, ở các huyện thường thành lập các trạm trực thuộc Chi cục Thủy lợi làm nhiệm vụ quản lý khai thác công trình thủy lợi Thông thường Chi cục Thủy lợi quản lý nhân sự, nhưng giao
về các Phòng Nông nghiệp huyện cùng hoạt động Kinh phí trả lương cho số cán bộ
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
này được tính riêng thành một khoản trong nguồn kinh phí cấp về cho Chi cục Thủy lợi Phần công trình thủy lợi nội đồng do các tổ chức hợp tác dùng nước quản lý như Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, Ban quản lý, Ban nông nghiệp xã, Tổ hợp tác, Tổ đội thủy nông
- Mô hình 3 (Trung tâm hoặc Ban): Ở một số tỉnh không thành lập các
doanh nghiệp (hoạt động theo Luật doanh nghiệp) mà thành lập Trung tâm Quản
lý KTCTTL hoặc Ban Quản lý KTCTTL (hoạt động theo đơn vị sự nghiệp) Mô hình này thường áp dụng các tỉnh không có các hệ thống thủy lợi quy mô lớn Tương tự như mô hình doanh nghiệp, các đơn vị quản lý công trình thủy lợi từ đầu mối đến cống đầu kênh nội đồng Ở các huyện có các đơn vị trực thuộc như Cụm, Trạm Từ sau cống đầu kênh nội đồng do các tổ chức hợp tác dùng nước quản lý như Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, Ban quản lý, Ban nông nghiệp xã, Tổ hợp tác, Tổ đội thủy nông
Trong số 92 doanh nghiệp thuộc 50 tỉnh thành phố trong cả nước, loại hình công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi là chủ yếu 89/92 (chiếm 96,7%), loại hình Công ty cổ phần 2/92 (chiếm 2 %), loại hình Công ty mẹ con 1/92 (chiếm 1%) và loại hình Công ty TNHHMTV trực thuộc Công ty cổ phần 1/92 (chiếm 1 %) như ở Bình Dương, Bắc cạn
Ngoài các mô hình chủ yếu trên đây, trong thực tế có tỉnh vừa có tổ chức trực thuộc UBND tỉnh (Doanh nghiệp, Trung tâm) vừa có tổ chức Quản lý KTCTTL trực thuộc huyện Trung tâm, Trạm, Ban trực thuộc huyện (hoạt động như đơn vị sự nghiệp) như Lâm Đồng, Thanh Hóa, Yên Bái, An Giang,
Hiện vẫn còn 4 tỉnh không thành lập tổ chức Quản lý khai thác công trình thủy lợi ở cấp tỉnh (Lào Cai, Bắc Kạn, Vĩnh Long và Đồng Tháp)
+ Mô hình tổ chức Hợp tác dùng nước
Theo điều tra của Liên Minh Hợp tác dùng nước, tính đến 30/6/2010 cả nước
có 18.244 Hợp tác xã (Tổ) và 360.000 Tổ hợp tác (THT) Trong đó tổ dịch vụ nông nghiệp là 8.918 (48,9 %), THT là 100.000 (chiếm 27,7 %), các tổ thu hút khoảng 6,9 triệu xã viên, hộ xã viên; bình quân một tổ có 795 xã viên, hộ xã viên Trong các tổ dịch vụ nông nghiệp thì hoạt động cung cấp dịch vụ tưới tiêu là chủ yếu (7179 tổ,
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
chiếm 80,5%), ngoài ra còn cung cấp các dịch vụ hỗ trợ sản xuất (57% có cung cấp dịch vụ bảo vệ thực vật, 46,2% có dịch vụ cung ứng vật tư phân bón, 46,3% có dịch
vụ khuyến nông, 43,2% có dịch vụ điện, 38% có dịch vụ khoa học kỹ thuật, 15% có dịch vụ tiêu thụ sản phẩm, 15,1% có dịch vụ tín dụng nội bộ )
* Hiện trạng thuỷ lợi phục vụ nông nghiệp
Sau nhiều năm đầu tư, với mục tiêu chủ yếu là đảm bảo an ninh lương thực quốc gia tiến tới xuất khẩu Đến nay, cả nước đã có 75 hệ thống thuỷ lợi vừa và lớn, rất nhiều hệ thống thuỷ lợi nhỏ với tổng giá trị tài sản cố định khoảng 60.000 tỷ đồng (chưa kể giá trị đất và công sức nhân dân đóng góp) Các hệ thống thuỷ lợi năm 2000
đã đảm bảo tưới cho 3 triệu ha đất canh tác, tiêu 1.4 triệu ha đất tự nhiên ở các tỉnh bắc bộ, ngăn mặn 70 vạn ha, cải tạo 1.6 triệu ha đất chua phèn ở đồng bằng sông Cửu Long Năm 2000, diện tích lúa được tưới cả năm gần 7 triệu ha chiếm 84% diện tích lúa Các công trình thuỷ lợi còn tưới trên 1 triệu ha rau màu, cây công nghiệp và cây
ăn quả Lượng nước sử dụng cho nông nghiệp rất lớn Theo tính toán năm 1985 đã
sử dụng 41 tỷ m3 chiếm 89,8% tổng lượng nước tiêu thụ, năm 1990 sử dụng 46,9 tỷ m3 chiếm 90% và năm 2000 khoảng trên 60 tỷ m3 Nhờ các biện pháp thuỷ lợi và các biện pháp nông nghiệp khác trong vòng 10 năm qua sản lượng lương thực tăng bình quân 1.1 triệu tấn/năm Tổng sản lượng lương thực năm 2000 đạt 34,5 triệu tấn, đưa bình quân lương thực đầu người 330 kg năm 1990 lên 444 kg năm 2000 Việt Nam từ chỗ thiếu lương thực đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn với mức gần 4 triệu tấn/năm (Nguyễn Thị Xuân Lan, 2011)
* Công tác thuỷ lợi phục vụ nuôi trồng thuỷ sản và nước sạch nông thôn
Tiềm năng phát triển nuôi trồng thuỷ hải sản nước ta khá lớn, nhiều hệ thống thuỷ lợi khi xây dựng đã xét đến việc kết hợp cấp nước để nuôi trồng thuỷ sản Khi xây dựng các hồ chứa nước vấn đề phát triển thuỷ sản trong hồ chứa cũng được đề cập đến Vài năm gần đây do hiệu quả của nuôi trồng thuỷ sản nhất là tôm sú nhiều vùng đất ven biển đã được xây dựng thành những khu vực nuôi trồng thuỷ sản tập trung Tuy nhiên việc xây dựng các hệ thống thuỷ lợi đáp ứng yêu cầu sản xuất chưa được quan tâm đúng mức, chưa có qui hoạch và các giải pháp đồng bộ Hầu hết đều
do dân tự phát, tự tổ chức xây dựng theo kinh nghiệm Nhiều nơi, đã có hiện tượng