PHẠM MINH TUÂN PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT GIỐNG ĐỊA PHƯƠNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN Ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 8 62 01 15 LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG
Trang 1PHẠM MINH TUÂN
PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT
GIỐNG ĐỊA PHƯƠNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2PHẠM MINH TUÂN
PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT
GIỐNG ĐỊA PHƯƠNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN
Ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 8 62 01 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Quang Quý
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn “Phát
triển chăn nuôi bò thịt giống địa phương trên địa bàn huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn” là trung thực, là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
Các tài liệu, số liệu sử dụng trong luận văn do các Phòng, Ban thuộc UBND huyện và các xã cung cấp, và ngoài ra là các số liệu do cá nhân tôi thu thập khảo sát
từ người dân tại địa bàn huyện, các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được công bố Các trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Ngày 20 tháng 01 năm 2019
Tác giả luận văn Phạm Minh Tuân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Phát triển chăn nuôi bò thịt giống địa
phương trên địa bàn huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn”, tôi đã nhận được sự hướng
dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, Phòng Quản lý Đào tạo Sau Đại học, các khoa, phòng của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập
và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn PGS.TS
Đỗ Quang Quý, các nhà khoa học, các thầy, cô giáo trong Trường Đại học Kinh tế
và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác của các đồng chí tại địa điểm nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí, cán bộ tại UBND huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn và cán bộ, người dân tại các xã trên địa bàn huyện đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu cho luận văn
Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè và gia đình đã giúp tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 01 năm 2019
Tác giả luận văn Phạm Minh Tuân
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của đề tài 3
5 Kết cấu của luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT 4
1.1 Các khái niệm cơ bản 4
1.2 Đặc điểm, vai trò và thị trường của sản phẩm bò thịt 5
1.2.1 Đặc điểm của chăn nuôi bò thịt 5
1.2.2 Vai trò của chăn nuôi bò thịt 6
1.2.3 Thị trường của sản phẩm bò thịt 7
1.3 Nội dung phát triển chăn nuôi bò thịt 8
1.3.1 Phát triển chăn nuôi bò thịt về mặt số lượng 8
1.3.2 Phát triển chăn nuôi bò thịt về mặt chất lượng 9
1.3.3 Phát triển chăn nuôi bò thịt về thị trường tiêu thụ 11
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi bò thịt 11
1.4.1 Nhân tố chủ quan 11
1.4.2 Nhân tố khách quan 12
1.5 Cơ sở thực tiễn về phát triển chăn nuôi bò thịt 14
1.5.1 Kinh nghiệm của một số địa phương về phát triển chăn nuôi bò thịt 14
1.5.2 Bài học kinh nghiệm cho huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn 17
Trang 6Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 19
2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 19
2.3 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 19
2.4 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu 20
2.5 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 20
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT GIỐNG ĐỊA PHƯƠNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN 23
3.1 Giới thiệu chung về huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn 23
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 23
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 26
3.1.3 Những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội cho phát triển chăn nuôi bò thịt giống địa phương trên địa bàn huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn 28
3.1.4 Tình hình phát triển chăn nuôi tại huyện Pác Nặm 29
3.2 Thực trạng phát triển chăn nuôi bò thịt tại huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn 31 3.2.1 Thực trạng phát triển chăn nuôi bò thịt về số lượng tại huyện Pác Nặm 31
3.2.2 Thực trạng phát triển chăn nuôi bò thịt về chất lượng tại huyện Pác Nặm 36
3.2.3 Kết quả phát triển chăn nuôi bò thịt tại huyện Pác Nặm 45
3.3 Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi bò thịt tại huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn 47
3.3.1 Nhân tố chủ quan 47
3.3.2 Nhân tố khách quan 52
3.4 Đánh giá chung về phát triển chăn nuôi bò thịt tại huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn 54
3.4.1 Kết quả đạt được 54
3.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 55
Chương 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT GIỐNG ĐỊA PHƯƠNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN 57
Trang 74.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu phát triển chăn nuôi bò thịt giống địa
phương trên địa bàn huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn 57
4.1.1 Quan điểm phát triển 57
4.1.2 Định hướng phát triển 57
4.1.3 Mục tiêu phát triển 59
4.2 Giải pháp phát triển chăn nuôi bò thịt giống địa phương trên địa bàn huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn 60
4.2.1 Giải pháp về giống vật nuôi 60
4.2.2 Thực hiện hỗ trợ kỹ thuật, khuyến nông và thông tin tuyên truyền cho hộ chăn nuôi bò 62
4.2.3 Giải pháp về thú y 64
4.2.4 Giải pháp về giết mổ, chế biến, môi trường và thị trường tiêu thụ cho sản phẩm bò thịt 65
4.2.5 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 66
4.2.6 Giải pháp áp dụng khoa học công nghệ vào phát triển chăn nuôi bò thịt 68 4.2.7 Nhóm giải pháp về chính sách 68
4.3 Kiến nghị 70
4.3.1 Đối với Nhà nước và Chính quyền địa phương 70
4.3.2 Đối với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Kạn 71
4.3.3 Đối với UBND huyện Pác Nặm 72
4.3.4 Đối với các hộ chăn nuôi 72
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 78
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Số lượng gia súc qua một số năm 30
Bảng 3.2: Cơ cấu đàn bò của huyện Pác Nặm 35
Bảng 3.3: Tổng hợp nhiệm vụ cải tạo chất lượng giống bò thị tại huyện Pác Nặm 37 Bảng 3.4: Chi phí cho cải tạo chất lượng giống bò tại huyện Pác Nặm 37
Bảng 3.5: Tổng hợp nhiệm vụ tổ chức sản xuất chăn nuôi bò thịt tại huyện 40 Bảng 3.6: Kết quả thực hiện tổ chức sản xuất chăn nuôi bò thịt của huyện 41 Bảng 3.7: Tổng hợp nhiệm vụ tổ chức sản xuất chăn nuôi bò thịt tại huyện 42 Bảng 3.8: Kết quả thực hiện tình hình thú y và công tác tiêm phòng tại huyện Pác Nặm 43
Bảng 3.9: Quy định của nhà nước được áp dụng trong hoạt động chế biến và tiêu thụ sản phẩm bò thịt 45
Bảng 3.10: Số hộ chăn nuôi bò thịt tại huyện Pác Nặm 46
Bảng 3.11: Độ tuổi của lao động được khảo sát 48
Bảng 3.12: Trình độ học vấn của hộ được khảo sát 49
Bảng 3.13: Kinh nghiệm trong lĩnh vực chăn nuôi bò của hộ được khảo sát 49 Bảng 3.14: Nguồn vốn đầu tư để phát triển đàn bò 50
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Số lượng bò thịt trên địa bàn huyện Pác Nặm 31
Biểu đồ 3.2: Sản lượng thịt hơi hàng năm của huyện 33
Biểu đồ 3.3: Giá trị sản lượng thịt bò hàng năm của huyện Pác Nặm 34
Biểu đồ 3.4: Mức lãi bình quân của hộ nuôi bò thịt tại Pác Nặm 39
Biểu đồ 3.5: Tổng số lượng bò giống tại huyện qua các năm 47
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành chăn nuôi ở nước ta có vai trò quan trọng đối với nông nghiệp và phát triển kinh tế quốc dân, giá trị ngành chăn nuôi hàng năm chiếm tỷ lệ khoảng 30% tổng giá trị trong kinh tế nông nghiệp Trong những năm vừa qua chăn nuôi góp phần quan trọng đối với chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho nông dân Tốc độ phát triển chăn nuôi và sản phẩm chăn nuôi hàng năm tăng bình quân từ 6-8% đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước (Niên giám thống
kê Cục Chăn nuôi năm 2016) Trong đó, chăn nuôi bò thịt chiếm vị trí quan trọng nhất Những năm gần đây, chăn nuôi bò thịt nước ta phát triển mạnh cả về số lượng
và chất lượng Đạt được kết quả này là nhờ chính sách phát triển chăn nuôi của Chính phủ Một số giống bò ngoại đã được nhập vào Việt Nam như: Red Sind; bò Sahiwal, Brahman… Đây là những giống bò nhiệt đới Châu Á có nguồn gen quý lai tạo với giống bò ôn đới Châu Âu tạo nên những giống bò thịt có năng suất và chất lượng thịt cao
Huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn cũng được đánh giá là một huyện miền núi có tiềm năng phát triển chăn nuôi đại gia súc với nhiều giống bò thịt quý cho giá trị kinh
tế cao Giống bò thịt tại Pác Nặm có thân hình cao, to cân đối, khả năng sản xuất thịt cao, thịt bò thơm ngon và mềm Đặc biệt, giống bò H’Mông tại Pác Nặm đã được Việt Nam đưa vào danh mục bảo tồn và phát triển Tuy nhiên, theo phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Pác Nặm, năm 2017 tổng đàn bò thịt trên địa bàn có xu hướng giảm mạnh, hiện chỉ có gần 12,2 nghìn con, giảm khoảng 8,9% so với năm 2016 Nguyên nhân tổng đàn bò của huyện giảm mạnh là do xu thế cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp làm giảm số lượng bò cày kéo Bên cạnh đó, số lượng xuất bán và giết mổ nhiều cũng là nguyên nhân khiến cho tổng đàn gia súc giảm Diện tích đất canh tác được tận dụng để trồng rừng, trồng lúa nên đồng cỏ chăn nuôi bị thu hẹp, những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ thiếu nhân lực, hiệu quả chăn nuôi thấp, việc chăm sóc cho đàn bò thịt còn chưa được chú trọng, số bò bị bệnh lở mồm long móng hay chết rét nhiều… cũng là nguyên nhân khiến cho đàn bò trên của huyện giảm mạnh
Trang 12Xuất phát từ những thực tế trên, để có định hướng và chiến lược phát triển chăn nuôi bò thịt giống địa phương tại Pác Nặm trong thời gian tới thì việc đánh giá thực trạng đàn bò để từ đó có biện pháp kỹ thuật cần thiết phát triển số lượng và chất lượng
đàn bò thịt của huyện là cần thiết và cấp bách Do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Phát
triển chăn nuôi bò thịt giống địa phương trên địa bàn huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn”
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển chăn nuôi bò thịt;
- Phân tích đánh giá thực trạng phát triển chăn nuôi bò thịt giống địa phương trên địa bàn huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn;
- Đề xuất các giải pháp đẩy mạnh phát triển chăn nuôi bò thịt giống địa phương trên địa bàn huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn trong những năm tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển chăn nuôi bò thịt giống địa phương trên địa bàn huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện ở huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn
- Về thời gian: Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển chăn nuôi bò thịt thời
kỳ 2015-2017; đề xuất giải pháp phát triển chăn nuôi bò thịt giống địa phương cho huyện đến năm 2025
- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu những vấn đề kinh tế - kỹ thuật và tổ chức
- quản lý liên quan đến phát triển chăn nuôi bò thịt
Trang 134 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của đề tài
Nghiên cứu đã phân tích, đánh giá và mô tả chi tiết thực trạng phát triển chăn nuôi bò thịt ở huyện Pác Nặm trên cả phương diện vĩ mô lẫn vi mô Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất các nhóm giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển ngành chăn nuôi bò thịt của địa phương trong thời gian tới Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo quan trọng đối với các nhà khoa học và các nhà hoạch định chiến lược, đồng thời làm luận cứ khoa học để xây dựng các chính sách phát triển chăn nuôi bò
thịt hiệu quả và bền vững
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm 4 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển chăn nuôi bò thịt
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng phát triển chăn nuôi bò thịt giống địa phương trên địa bàn huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn
Chương 4: Giải pháp phát triển chăn nuôi bò thịt giống địa phương trên địa bàn huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
CHĂN NUÔI BÒ THỊT 1.1 Các khái niệm cơ bản
Giống bò thịt
Giống bò thịt hay bò lấy thịt, bò hướng thịt là những giống bò nhà được chăn nuôi chủ yếu phục vụ cho mục đích lấy thịt bò Đây chủ yếu là những giống bò cao sản, được chăn nuôi theo kiểu tăng trọng thể hiện qua giai đoạn vỗ béo Việc chọn các giống bò thịt được thực hiện công phu nhằm chọn ra những giống bò nhiều thịt,
có khả năng chống chịu với bệnh tật, thích nghi tốt, và có khả năng lai tạo để cải tạo các đàn bò bản địa (Lê Viết Ly, 2009)
Chăn nuôi bò thịt
Chăn nuôi bò thịt hay còn gọi đơn giản là chăn bò, nuôi bò là việc thực hành chăn nuôi các giống bò nhà, chủ yếu là các giống bò thịt Chăn nuôi bò thịt là một bộ phận quan trọng trong ngành chăn nuôi vì tầm quan trọng của việc sản xuất thịt bò, việc chăn nuôi bò thịt cần được thực hiện theo quy trình chặt chẽ, khoa học và đảm bảo kiểm soát chất lượng, đảm bảo đầu ra (Nguyễn Văn Chung, 2006) Chăn nuôi bò thịt và bò sữa có nhiều điểm tương đồng về quy trình, chọn giống, chăm sóc, chuồng trại, vệ sinh, phòng bệnh, thức ăn tuy nhiên, chăn nuôi bò thịt chú trọng vào công đoạn vỗ béo, tăng trọng để cho thịt nhiều và chất lượng, trong khi đó chăn nuôi bò sữa chú trọng vào khâu chăm sóc, sinh sản và kỹ thuật vắt sữa để cho ra các sản phẩm sữa (Đinh Văn Cải, 2007)
Phát triển chăn nuôi bò thịt
Phát triển chăn nuôi bò thịt là sự tăng lên về mặt số lượng và chất lượng đàn bò với một cơ cấu hợp lý, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của mỗi địa phương, của từng vùng và từng quốc gia Phát triển chăn nuôi bò thịt luôn gắn liền với sự tiến bộ khoa học công nghệ trong chăn nuôi Phát triển chăn nuôi bò thịt là
phát triển theo hướng hàng hóa, chịu sự tác động của các quy luật kinh tế thị trường
Phát triển chăn nuôi bò thịt là quá trình chuyển đổi dần từ chăn nuôi quy mô nhỏ, phân tán ở cấp nông hộ sang quy mô vừa và lớn (gia trại, trang trại) Trong đó,
Trang 15phát triển theo hướng trang trại là con đường tất yếu để nâng cao năng suất, chất lượng và khối lượng sản phẩm hàng hóa hơn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đồng thời tăng tính liên kết và bền vững trong chuỗi giá trị của sản phẩm bò thịt Chăn nuôi trang trại tập trung là một trong những giải pháp nhằm kiểm soát được dịch bệnh, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường nhất là tại khu vực nông thôn
Bò thịt giống địa phương
Bò thịt giống địa phương là giống bò thịt mang đặc điểm riêng biệt chỉ có tại một địa phương, hoặc có nguồn gốc khởi phát từ một địa phương, một vùng địa lý nhất định, khác biệt với các giống bò khác về đặc điểm di truyền Mỗi loài có hình thức đặc trưng đặc thù riêng biệt, chúng thường sống thành quần thể bầy đàn theo tiểu vùng khí hậu, theo đặc thù vùng miền mỗi địa phương, mỗi giống bò địa phương đều là sản phẩm thuần hóa theo đặc thù sinh kế của người dân, là sản phẩm chăn nuôi, là tư liệu sản xuất lao động kết hợp với lực lượng lao động tại mỗi địa phương để sản xuất và đem lại của cải phục vụ đời sống
1.2 Đặc điểm, vai trò và thị trường của sản phẩm bò thịt
1.2.1 Đặc điểm của chăn nuôi bò thịt
- Bò thịt là loại động vật ăn cỏ có khả năng thích ứng được với các điều kiện đồng cỏ chăn thả khác nhau
Cỏ là nguồn thức ăn chính dùng trong chăn nuôi bò thịt, lượng cỏ thức ăn bò thịt
sử dụng khá lớn Để phát huy được lợi thế so sánh của vùng trung du miền núi về phát triển chăn nuôi bò thịt, trong quy hoạch cần phải có giải pháp phù hợp khắc phục những đặc điểm hạn chế sự phát triển do ảnh hưởng nguồn thức ăn mang lại [7]
- Tổ chức sản xuất chăn nuôi bò thịt không nhất thiết yêu cầu những điều kiện
kỹ thuật cao như bò sữa hoặc bò sinh sản, do đó có thể phát triển chăn nuôi bò thịt theo các phương thức chăn nuôi với quy mô chăn nuôi khác nhau tuỳ theo năng lực của loại hình sản xuất, tiềm năng phát triển chăn nuôi bò thịt phù hợp với đặc điểm
tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội của vùng chăn nuôi [7]
- Sản phẩm trong chăn nuôi bò thịt
Sản phẩm trong chăn nuôi bò thịt là trọng lượng thịt bò hơi thu được trong chu
kỳ sản xuất (một năm), là trọng lượng thịt tăng do kết quả của quá trình chăm sóc
Trang 16nuôi dưỡng Trọng lượng thịt tăng trong chăn nuôi bò thịt gồm trọng lượng bê dưới
12 tháng tuổi, trọng lượng lớn lên của đàn từ 13 đến 24 tháng tuổi, trọng lượng thịt tăng của đàn bò tơ và bò loại thải vỗ béo Sản phẩm chính thu được trong chăn nuôi
bò thịt ngoài lấy thịt còn được chuyển sang nuôi làm đàn giống sinh sản [7]
- Chăn nuôi bò thịt là ngành kinh tế sản xuất hàng hóa
Thịt bò là một trong các loại thịt có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao, thịt bò
là loại thực phẩm được người tiêu dùng ưa chuộng và được sử dụng rộng khắp ở các quốc gia trên thế giới Nhu cầu thịt bò phục vụ cho đời sống con người ngày càng lớn, là cơ sở cho các nước có điều kiện và tiềm năng phát triển chăn nuôi bò thịt, đưa chăn nuôi bò thịt thành ngành kinh tế sản xuất hàng hóa
- Vốn đầu tư cho chăn nuôi bò thịt lớn, thời gian thu hồi vốn chậm
Vốn trong tổ chức sản xuất chăn nuôi bò thịt sử dụng cho việc xây dựng chuồng trại, mua con giống, cải tạo và trồng mới đồng cỏ, cùng các chi phí khác phục vụ cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng Các đầu tư chi phí trên có giá trị lớn và không thể thu hồi ngay trong năm Vốn đầu tư cho chăn nuôi bò thịt thu hồi chậm, thông thường thời gian có thu sản phẩm trong chăn nuôi bò thịt tính từ thời điểm bò cái mang thai đến thời điểm bê nuôi thịt được bán (từ 18 đến 24 tháng tuổi) trong khoảng từ 30 đến
36 tháng, nếu là bán bê giống mất khoảng 15 đến 18 tháng Để phát triển chăn nuôi
bò thịt Nhà nước cần có cơ chế chính sách tạo điều kiện cho hộ chăn nuôi tiếp cận các nguồn vốn tín dụng với các điệu kiện vay thuận lợi, lãi suất và thời gian vay phù hợp.[7]
1.2.2 Vai trò của chăn nuôi bò thịt
Cung cấp thực phẩm
Thịt bò là loại thịt đỏ có giá trị dinh dưỡng cao Từ thịt bò người ta có thể chế biến nhiều món ăn ngon Chính vì vậy, trên thị trường thịt bò luôn đắt hơn thịt các loại gia súc khác và đắt hơn cả thịt gia cầm Bò là những gia súc nhai lại có khả năng biến thức ăn rẻ tiền như cây cỏ, rơm rạ thành hàng trăm thành phần khác nhau của thịt và sữa Mức sống càng được cải thiện thì nhu cầu của con người về thịt và sữa bò càng tăng lên [5]
Trang 17Chăn nuôi bò thịt cung cấp phân bón và chất đốt
Phân trâu bò là loại phân hữu cơ có khối lượng đáng kể Mặc dù chất lượng không cao như phân lợn, nhưng nhờ có khối lượng lớn phân bò đã đáp ứng một phần rất lớn nhu cầu phân hữu cơ cho nền nông nghiệp hữu cơ Do vậy, nhiều địa phương người dân nuôi bò với mục đích lấy phân là chính Ngoài việc dùng làm phân bón, trên Thế giới phân bò còn được dùng làm chất đốt Tại một số nước Tây Nam Á như
Ẩn Độ, Pakistan, phân được trộn với rơm băm, nắm thành bánh và phơi nắng khô, dự trữ và sử dụng làm chất đốt quanh năm.[5]
Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và thủ công mỹ nghệ
Da bò là một mặt hàng rất quan trọng để xuất khẩu cũng như để cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp địa phương Da bò là nguồn nguyên liệu chủ yếu cho các nhà máy thuộc da Da bò có thể dùng làm áo da, găng tay, bao súng, dây lưng, giày, dép, cặp Da có giá trị khi bộ da đó có trọng lượng lớn và kích thước to (dày, rộng, dài), đại lượng của chỉ số trên không những phụ thuộc vào điều kiện nuôi dưỡng mà còn phụ thuộc vào giống, giới tính, tuổi và các yếu tố khác
Sừng được gia công và chế biến để làm ra các mặt hàng mỹ nghệ tinh xảo như một số đồ trang sức hoặc lược, giá gương… Ở nhiều vùng nông thôn người ta còn dùng da bò làm thực phẩm Nhờ độ dày, sức bền và khả năng uốn mềm của nó mà lông bò thích hợp cho việc sản xuất bàn chải mỹ nghệ và lau chùi một số máy móc quang học.[5]
Chăn nuôi bò thịt tận dụng được nguồn thức ăn sẵn có
Nguồn thức ăn chủ yếu của bò thịt là cỏ tươi ngoài bải chăn thả, cỏ khô, rơm rạ
và một vài thức ăn thô xanh khác: Ngọn mía, thân cây ngô, thân lá đậu các loại… Ngoài ra còn bã mía, rỉ mật, khô dầu… Thông qua thức ăn phong phú rẻ tiền này sẽ cho ra một lượng chất hữu cơ quý giá đáng kể và năng lượng khổng lồ cung cấp cho con người mà không phải đầu tư cao Do vậy trong điều kiện kinh tế còn khó khăn việc phát triển chăn nuôi bò sẽ tận dụng tốt nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương, đem lại nguồn lợi kinh tế và nâng cao thu nhập cho hộ chăn nuôi
1.2.3 Thị trường của sản phẩm bò thịt
Hiện tại, thị trường sản phẩm bò thịt nước ta chưa phát triển, các doanh nghiệp chưa hình thành chuỗi giá trị bò thịt từ chăn nuôi, giết mổ, chế biến và phân phối
Trang 18Một số doanh nghiệp có giết mổ công nghiệp nhưng chưa đầu tư hệ thống kho mát và kho đông lạnh để bảo quản sản phẩm mà chủ yếu xuất bán thịt bò tươi ở thị trường trong nước nên khó đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn về thịt bò xuất khẩu chính ngạch Các sản phẩm từ chăn nuôi bò thịt thường phải bán hàng qua kênh trung gian là các thương lái.[9]
Để phát triển thị trường bò thịt, các doanh nghiệp cần lưu ý nuôi bò sinh sản để từng bước chuẩn bị bò thịt vỗ béo Đồng thời trồng cỏ, ngô đi kèm với công nghệ chế biến và các phụ phẩm làm thức ăn cho bò Đặc biệt hoạt động giết mổ công nghiệp cần gắn với xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý và có kế hoạch tiêu thụ sản phẩm trên thị trường nội địa, khuyến khích xuất khẩu sản phẩm thịt bò
1.3 Nội dung phát triển chăn nuôi bò thịt
Phát triển sản xuất ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi bò thịt nói riêng là một phần trong chiến lược đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện và bền vững Với lý thuyết nội dung phát triển chăn nuôi
bò thịt được thể hiện cả về mặt số lượng và chất lượng
1.3.1 Phát triển chăn nuôi bò thịt về mặt số lượng
Về mặt số lượng, phát triển chăn nuôi bò thịt bao gồm:
+ Sự tăng lên về quy mô đàn bò thịt ở một số khu vực hay trong một quốc gia, thể hiện tốc độ tăng trưởng trong chăn nuôi bò thịt
+ Sản lượng thịt bò thu được của toàn đàn trong chu kỳ chăn nuôi, thể hiện kết quả của quá trình chăm sóc nuôi dưỡng Chỉ tiêu xác định sản lượng thịt bò thu được trong chu kỳ chăn nuôi là trọng lượng thịt tăng
+ Giá trị sản lượng chăn nuôi bò thịt, thể hiện quy mô giá trị sản xuất mà chăn nuôi bò thịt tạo ra cho xã hội, là cơ sở so sánh mức độ đáp ứng yêu cầu xã hội của chăn nuôi bò thịt với các sản phẩm khác trong ngành nông nghiệp và trong nền kinh
tế quốc dân
+ Cơ cấu đàn phù hợp bảo đảm tái sản xuất đàn: Cơ cấu đàn bò thịt là tỷ lệ giữa các nhóm tuổi trong tổng đàn, trong đó cơ cấu đàn cái sinh sản có ý nghĩa quan trọng quyết định tốc độ tăng trưởng và khả năng tái sản xuất của đàn
Cơ cấu đàn bò thịt phù hợp tuỳ thuộc vào phương thức chăn nuôi, công tác giống
và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất Với phương thức
Trang 19chăn thả tự do không có sự hướng dẫn, tốc độ phát triển của đàn hoàn toàn phụ thuộc quy luật sinh sản tự nhiên mà không có các tác động của khoa học kỹ thuật vào trong công tác giống thì cần bố trí cơ cấu số lượng đực giống đủ bảo đảm cho đàn cái sinh sản duy trì tỷ lệ sinh và tăng trưởng trong đàn.[9]
Trong phương thức chăn thả có hướng dẫn, nếu đồng thời áp dụng các giải pháp
kỹ thuật thụ tinh nhân tạo vào chăn nuôi thì cơ cấu đực giống trong tổng đàn sẽ rất thấp vì đàn đực giống không còn ý nghĩa trong việc duy trì tỷ lệ sinh của đàn cái sinh sản và tốc độ tăng trưởng của đàn bò
1.3.2 Phát triển chăn nuôi bò thịt về mặt chất lượng
Sự phát triển chăn nuôi bò thịt về mặt chất lượng thể hiện ở những điểm sau: + Chất lượng đàn bò thịt được cải tạo đủ đạt mục đích nâng cao năng suất và hiệu quả trong chăn nuôi Trong chăn nuôi bò thịt, những giống có tầm vóc bé, trọng lượng nhỏ và tỷ lệ thịt xẻ thấp sẽ làm cho năng suất chăn nuôi bò thịt không cao, hiệu quả chăn nuôi thấp Để có được kết quả cao, trong chăn nuôi bò thịt phải cải tạo chất lượng giống, từ giống có năng suất thấp thành giống có năng suất cao hơn bằng việc cải tạo làm cho tầm vóc to hơn, trọng lượng cơ thể tăng lên, tỷ lệ thịt xẻ đạt cao [9] + Khả năng chống chịu bệnh tật tốt, thích nghi được với điều kiện chăn thả của vùng hay khu vực
+ Hiệu quả sản xuất từ chăn nuôi bò thịt đạt cao, thu nhập của người chăn nuôi
bò thịt được nâng lên, đời sống của người chăn nuôi bò thịt được cải thiện
Trong chăn nuôi bò thịt, hiệu quả thu được từ chăn nuôi là phần chênh lệch từ tiền thu bán sản phẩm trừ đi chi phí trong quá trình chăn nuôi, chênh lệch này càng lớn thì chăn nuôi bò thịt càng có hiệu quả
+ Tổ chức và phương thức sản xuất chăn nuôi bò thịt phù hợp, phát huy có hiệu quả tiềm năng kinh tế xã hội và thế mạnh của từng vùng, từng khu vực và từng địa phương Ở các vùng, khu vực và địa phương có các đặc điểm điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, những đặc điểm trên là cơ sở cho quá trình xây dựng phương hướng phát triển kinh tế Hiệu quả trong phát triển kinh tế nói chung và chăn nuôi bò thịt ở vùng, khu vực hoặc địa phương đó chính là kết quả của quá trình
Trang 20phát triển sản xuất, là kết quả của việc chọn lựa hình thức tổ chức và phương thức sản xuất phù hợp với những đặc điểm tại đó [4]
+ Thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y trong chăm sóc nuôi dưỡng bò thịt, tạo
ra sản phẩm thịt sạch, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống con người
+ Phát triển chăn nuôi bò thịt phải cân đối với sự tăng trưởng chung của sản xuất nông nghiệp gắn với tăng trưởng kinh tế của vùng và khu vực, bảo đảm giữ gìn
vệ sinh môi trường sinh thái
Trong chăn nuôi bò thịt, sự phát triển về số lượng và chất lượng có quan hệ hữu
cơ với nhau, sự phát triển về chất lượng là nhân tố làm tăng nhanh sự phát triển về số lượng và ngược lại Với những giống bò thịt có năng suất cao, khả năng chống chịu tốt, thích ứng được các điều kiện chăn thả, cùng việc tổ chức chăn nuôi phù hợp là cơ
sở cho phát triển nhanh quy mô đàn bò thịt, tăng lượng sản phẩm thu được Việc phát triển nhanh quy mô đàn bò thịt, tăng lượng sản phẩm thu được là điều kiện mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi [8]
Phát triển chăn nuôi bò thịt luôn đi kèm với sự phát triển hệ thống các dịch vụ đầu vào (giống, thức ăn, vốn vay, thú y, khuyến nông) và đầu ra (vận chuyển, cơ sở giết mổ, nhà máy chế biến, chợ tiêu thụ…) Sự phát triển hệ thống dịch vụ đầu vào và đầu ra sẽ cho phép người chăn nuôi có thể dễ dàng tiếp cận và tăng khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất của các cơ sở chăn nuôi bò thịt Phát triển chăn nuôi bò thịt đòi hỏi hệ thống các thiết chế, chính sách của Chính phủ phải được xây dựng đồng bộ, phát huy tính hiệu quả nhằm tạo lập khuôn khổ pháp lý, các cân đối vĩ mô đảm bảo hoạt động chăn nuôi bò thịt phát triển có định hướng Một chính sách tốt được thể hiện ở các khía cạnh như: Định hướng điều tiết sự mất cân đối giữa sản xuất - tiêu dùng, đầu vào - đầu ra; cân đối giữa các vùng lãnh thổ (gò đồi miền núi, đồng bằng và đầm phá ven biển)
Phát triển chăn nuôi bò thịt là phát triển mang tính bền vững Tính bền vững trong phát triển chăn nuôi bò thịt có nội hàm là bền vững về kinh tế, bền vững về kỹ thuật, bền vững về vệ sinh và bền vững về môi sinh Trong đó, phát triển bền vững về kinh tế là yếu tố quyết định sự tồn tại của hoạt động chăn nuôi bò thịt Bền vững
Trang 21về kinh tế thể hiện sự ổn định của giá cả thị trường đầu vào và đầu ra, phát triển trong một mô hình kinh tế đa dạng, tiết kiệm nguồn lực, năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt và đủ sức cạnh tranh trên thị trường
1.3.3 Phát triển chăn nuôi bò thịt về thị trường tiêu thụ
Việc phát triển hoạt động chăn nuôi bò thịt về số lượng và chất lượng sẽ không bền vững nếu như khâu tiêu thụ thịt bò không có được sự phát triển tương ứng, vì chỉ
có tiêu thụ được sản phẩm, thì mới có cơ hội để mở rộng sản xuất, chính vì vậy, phát triển thị trường tiêu thụ cũng là một nội dung quan trọng trong phát triển chăn nuôi
bò thịt tại địa phương Để làm tốt công tác này, cần sự tham gia của các lãnh đạo, các cấp chính quyền địa phương, kết hợp với các doanh nghiệp, người chăn nuôi, để cùng phối hợp trong việc triển khai các hoạt động xúc tiến bán hàng, mở rộng đối tác tiêu thụ, đảm bảo được sản lượng thịt bò làm ra được tiêu thụ ổn định, bình ổn về giá cả Có như vậy mới giúp đảm bảo được thu nhập cho người chăn nuôi, giúp họ yên tâm
mở rộng hoạt động chăn nuôi của mình [10]
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi bò thịt
1.4.1 Nhân tố chủ quan
Con giống
Con giống là yếu tố quan trọng tác động trực tiếp đến năng suất chăn nuôi, con giống tốt thì năng suất cao và ngược lại Đàn bò nước ta phần lớn chưa được cải tạo, tầm vóc nhỏ bé năng suất sản xuất thấp, hiệu quả kinh tế từ chăn nuôi bò không cao Do đó cần phải tiến hành cải tạo đàn bò để nâng cao tầm vóc, tăng năng suất, thu nhập cho người chăn nuôi cũng như thúc đẩy ngành chăn nuôi bò ngày một phát triển
Giống bò là một yếu tố quan trọng và cần thiết, phải được quan tâm hàng đầu trong việc phát triển chăn nuôi bò, thường xuyên chọn lọc cải tạo hoặc có thể kết hợp với việc nhập nội các giống bò thích nghi với điều kiện địa phương
Trang 22thuật chăn nuôi bò thịt Hiện tại, chăn nuôi bò thịt ở Việt Nam chủ yếu là trong các
hộ nông dân, quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ, lao động là những thành viên trong hộ, cơ bản không có chuyên môn kỹ thuật Chất lượng lao động hiện tại có những tác động gây trở ngại đến sự phát triển chăn nuôi bò thịt, ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả lao động trong chăn nuôi
Vốn đầu tư cho chăn nuôi bò thịt
Trong chăn nuôi bò thịt, cần nguồn vốn đầu tư lớn sử dụng cho việc:
+ Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật (gồm chuồng trại, đường giao thông, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ chăm sóc nuôi dưỡng)
+ Mua con giống, cải tạo và trồng mới đồng cỏ chăn nuôi
+ Xây dựng các cơ sở chế biến sản phẩm
+ Đầu tư cho các quá trình xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu tiêu thụ sản phẩm và các chi phí tiếp thị khác
Để chăn nuôi bò thịt phát triển, Nhà nước cần phải có nguồn vốn hỗ trợ tạo cho nông dân đầu tư ban đầu, các nguồn đầu tư phục vụ cho chăn nuôi nói chung và cho chăn nuôi bò thịt (trợ giá, trợ giống, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ) kết hợp với việc huy động các nguồn vốn tín dụng
Hoạt động khuyến nông của địa phương
Hoạt động khuyến nông chính là tổ chức chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới đến với nông dân, làm động lực thúc đẩy kinh tế hộ phát triển Nội dung chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới gồm có giống mới, kỹ thuật mới, công nghệ mới, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, chăn nuôi đàn bò thịt, chế biến sản phẩm từ đàn bò
Hoạt động khuyến nông chính là cách tiếp cận mới đến với các hộ nuôi bò thịt hòa nhập trong nền kinh tế thị trường, làm cho sản xuất, chăn nuôi bò thịt gắn với thị trường, sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn tài nguyên, là điều kiện bảo đảm cho chăn nuôi bò thịt phát triển ổn định và bền vững
1.4.2 Nhân tố khách quan
Thời tiết, khí hậu
Bò thịt là động vật có hệ thần kinh cao cấp, rất mẫn cảm với môi trường sống,
do đó yếu tố thời tiết khí hậu có ảnh hưởng tác động trực tiếp đến chu kỳ sinh trưởng
Trang 23phát triển của đàn bò thịt Thức ăn chính sử dụng trong chăn nuôi bò thịt là các loại
cỏ tự nhiên và một số loại thảo mộc Các loại cỏ có quy luật sinh trưởng và phát triển riêng liên quan chặt chẽ vào thời tiết khí hậu các mùa trong năm Thông thường các loại cỏ tự nhiên đều sinh trưởng vào mùa xuân, phát triển mạnh vào mùa hè và tàn lụi vào mùa đông, do vậy nguồn thức ăn dùng trong chăn nuôi bò thịt mang tính thời vụ cao Tính thời vụ của thức ăn ảnh hưởng đến sức khỏe và sự sinh trưởng phát triển của đàn bò, ảnh hưởng đến tỷ lệ sinh đẻ và tỷ lệ nuôi sống của đàn bò thịt Nắm chắc đặc điểm thời tiết khí hậu để giải quyết tốt vấn đề thức ăn có ý nghĩa quan trọng trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng phát triển chăn nuôi bò thịt
Đất và nguồn nước
Đất đai là nơi diễn ra các quá trình sản xuất chăn nuôi bò thịt, gồm: Diện tích đồng cỏ tự nhiên, diện tích trồng cỏ, diện tích xây dựng chuồng trại Diện tích, năng suất và chất lượng đồng cỏ quyết định quy mô chăn nuôi bò thịt Việc xây dựng và triển khai thực hiện dự án phát triển chăn nuôi bò thịt phụ thuộc vào năng suất và chất lượng đồng cỏ chăn thả Quá trình sinh trưởng phát triển đồng cỏ phụ thuộc vào các tác động của thời tiết khí hậu và mang tính thời vụ cao, do vậy việc phát triển chăn nuôi bò thịt phải tính đến nguồn thức ăn, thực chất nó là vấn đề đồng cỏ chăn thả Nguồn nước thuận lợi là điều kiện tốt cho phát triển chăn nuôi bò thịt, vì nước cần cho nhu cầu sống của bò thịt và sự sinh trưởng phát triển của cỏ, là điều kiện thuận lợi cho việc canh tác các loại thức ăn cho bò thịt Bên cạnh các tác động tích cực thì nguồn nước có tác động cản trở, gây ra các khó khăn cho quá trình tổ chức sản xuất chăn nuôi bò thịt, vì nguồn nước là một trong những môi trường dễ lây truyền bệnh dịch Do vậy trong việc bố trí khu vực chăn nuôi, chế biến sản phẩm, tiêu huỷ xác chết phải chú ý đến việc quản lý sử dụng nguồn nước nhằm giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo đảm vệ sinh thú y
Các chính sách quản lý của Nhà nước
Chăn nuôi nói chung và chăn nuôi bò thịt nói riêng để phát triển được thì cần phải có cơ chế chính sách phù hợp của Chính phủ cũng như ở các địa phương nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển sản xuất Các cơ chế chính sách của
Trang 24Chính phủ phải tạo được tính chủ động và an tâm cho người sản xuất, tạo điều kiện
hỗ trợ người chăn nuôi, làm động lực thúc đẩy sản xuất chăn nuôi phát triển
1.5 Cơ sở thực tiễn về phát triển chăn nuôi bò thịt
1.5.1 Kinh nghiệm của một số địa phương về phát triển chăn nuôi bò thịt
Kinh nghiệm của huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng
Bảo Lâm là huyện miền núi có địa hình phức tạp và khó khăn nhưng lại có lợi thế về chăn nuôi gia súc, đặc biệt là trâu, bò Để tạo điều kiện giúp các hộ dân trên địa bàn phát triển đàn bò thịt, Ban Thường vụ Huyện ủy đã chỉ đạo các cấp ủy, chính quyền quy hoạch vùng phát triển đi đôi với quy hoạch đồng cỏ chăn nuôi cụ thể:
- Thực hiện nhân rộng giống bò U địa phương bằng cách thụ tinh nhân tạo và chuyển giao bò đực giống
- Khuyến khích các hộ chăn nuôi bò thịt khai thác triệt để các bãi chăn thả, khoanh vùng và cải tạo đồng cỏ tự nhiên, chế biến và bảo quản các loại phụ phẩm nông nghiệp để nâng cao khả năng tiêu hóa và kháng bệnh cho đàn gia súc; chủ động
áp dụng các biện pháp kiểm soát, ngăn chặn, phòng ngừa việc đưa gia súc, gia cầm mắc bệnh từ bên ngoài vào địa phương
- Đi đôi việc phát triển đàn bò thịt, huyện Bảo Lâm chỉ đạo các hộ chăn nuôi trồng nhiều loại cỏ có năng suất cao làm thức ăn cho bò bằng việc giao chỉ tiêu kế hoạch vụ xuân và vụ mùa từng năm cho các xã, thị trấn Từ đó, chăn nuôi bò thịt của huyện đã có chuyển biến tích cực Tổng đàn bò thịt tăng từ 9.375 con (năm 2016) lên 12.763 con (năm 2017) giúp các hộ chăn nuôi trên địa bàn gia tăng thu nhập, ổn định cuộc sống
- Bên cạnh đó, Ban Thường vụ Huyện ủy Bảo Lâm còn thực hiện chỉ đạo các địa phương tập trung các nguồn lực khai thác triệt để điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai, đặc biệt là tiềm năng thế mạnh về kinh nghiệm chăn nuôi của bà con dân tộc Mông, Dao để tăng đàn bò thịt trong hộ gia đình Đưa ra các chủ trương chuyển đổi một số diện tích đất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế thấp sang trồng cỏ chăn nuôi và thực hiện thí điểm vùng chuyên canh trồng cỏ chăn nuôi tại các xã Thái Sơn, Đức Hạnh, Lý Bôn… để nhân ra diện rộng Tập trung tạo đà chuyển chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính của địa phương, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, ổn định đời sống nhân dân
Trang 25Kinh nghiệm của huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang
Mèo Vạc là huyện miền núi thấp, đất đai rộng lớn, nguồn thức ăn dồi dào có lợi thế phát triển chăn nuôi gia súc, trong đó có giống bò thịt Đến nay, toàn huyện đã có
50 mô hình nuôi bò hàng hóa quy mô 10 con trở lên, ngoài ra còn có hàng trăm hộ nuôi từ 5 con trở lên, hộ nuôi nhiều nhất từ 30 - 40 con Sau khi trừ chi phí người chăn nuôi bò trên địa bàn thu lãi khoảng 1,5 - 2 triệu đồng/con/tháng, tạo thu nhập đáng kể cho bà con nông dân Theo thống kê đến năm 2017, huyện có gần 20,6 nghìn con bò
Bắt đầu từ năm 2015 huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang đã bắt đầu xây dựng mô
hình “Chuyển đổi một số diện tích trồng lúa, màu kém hiệu quả sang trồng cỏ làm
thức ăn chăn nuôi đàn bò thịt” tại xã Lũng Pù có diện tích 25 ha với nguồn vốn hỗ
trợ từ ngân sách là 25 triệu đồng Đến năm 2017, huyện sẽ nhân rộng mô hình trồng
cỏ phục vụ chăn nuôi bò thịt sang một số địa phương khác như: Nậm Ban; Lũng Chinh; Pả Vi…với diện tích 200 ha
Chính quyền huyện Mèo Vạc đưa ra hàng loạt chính sách hỗ trợ, khuyến khích
bà con phát triển chăn nuôi bò thịt như: Hỗ trợ 10 triệu đồng/hộ đối với các hộ nghèo, cận nghèo chưa có trâu, bò để mua trâu, bò sinh sản; hỗ trợ lãi suất cho người dân vay vốn phát triển sản xuất theo Nghị quyết 209 của HĐND tỉnh; hỗ trợ trồng cỏ làm thức ăn phục vụ đàn bò, phát triển chăn nuôi…
Đặc biệt là các địa phương đã nhận thức được hoạt động phát triển chăn nuôi
bò thịt là biện pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ đó có các chính sách khai thác yếu
tố văn hóa, lịch sử của người miền núi, hình thành những địa chỉ nuôi bò thịt tập trung
có uy tín làm vùng nguyên liệu ổn định cho nhà máy; có tính toán thích hợp để giảm chi phí đầu tư, tạo ra những sản phẩm có sức cạnh tranh…
Về cơ bản, huyện thực hiện chủ trương chủ động về giống bò cung ứng cho các
hộ dân nuôi bò thịt Chăn nuôi theo hướng tập trung, trang trại, công nghiệp nhằm đạt các kết quả rõ nét cả về số lượng và quy mô Bước đầu xây dụng một số cơ sở an toàn dịch bệnh, cơ sở giết mổ tập trung tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng
Kinh nghiệm của huyện Tam Đảo, Vĩnh Phúc
Dự án chăn nuôi bò thịt huyện Tam Đảo được triển khai thực hiện trong 3 năm,
từ 2015-2017 Theo đó, đã đào tạo được 2 lớp dẫn tinh viên nâng cao cho 30 cán bộ
Trang 26chuyên môn; 1 lớp nghề chuyên sâu cho 10 cán bộ chăn nuôi bò sữa cấp xã Tổ chức tập huấn 67 lớp về cách phòng chống nắng cho bò, tại địa bàn 8/8 xã với gần 6.000 lượt nông dân tham dự; tổ chức tham quan trong tỉnh 1 chuyến; ngoại tỉnh 2 chuyến
Hỗ trợ mua mới 15 con bò/300 con theo kế hoạch, song chưa thực hiện được hỗ trợ lãi suất, do các hộ không có hồ sơ mua/bán, không có thủ tục, giấy kiểm dịch, hồ sơ vay vốn ngân hàng không đúng với mục đích mua bò
Về bảo hiểm nông nghiệp cho bò thịt, có 27 hộ tham gia; từ tháng 11/2015 - 11/2016, đã có 20 con bò chết do dịch bệnh, đã nhận đủ số tiền bảo hiểm (24 triệu đồng/con) Tháng 12/ 2016, các hộ chăn nuôi tiếp tục ký hợp đồng đóng bảo hiểm cho
176 con/555 con theo kế hoạch; tổng giải ngân đóng bảo hiểm 228.096.000 đồng
Dự án hỗ trợ xây dựng 1.018/1.175 hầm biogas; 57/250 hộ làm đệm lót sinh học
xử lý ô nhiễm môi trường; 31/260 máy thái cỏ; 364/1.282 liều tinh nhân tạo Ngoài
ra, còn hỗ trợ dụng cụ phục vụ thụ tinh nhân tạo: Bình đựng ni tơ, súng bắn tinh, panh kẹp, găng tay, ống gen bắn tinh; thước dây đo bò; bút viết thẻ tai; kìm bấm số tai; thẻ đeo tai bò, với tổng số tiền lên đến hàng trăm triệu đồng
Đặc biệt, Trạm Khuyến nông huyện, cơ quan thường trực của Dự án, đã tăng cường công tác đào tạo, tập huấn, nâng cao kiến thức chăn nuôi cho người dân từng thôn bản, làng xã, để bà con hiểu rõ về dự án và công tác thụ tinh nhân tạo
Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội
Nhằm thúc đẩy phát triển chăn nuôi, nâng cao thu nhập cho người dân, năm
2012, UBND TP Hà Nội đã phê duyệt Dự án "Ứng dụng kết quả nghiên cứu lai tạo giống bò BBB trên nền đàn bò thịt lai sind thành đàn bò F1 hướng thịt trên địa bàn thành phố Hà Nội", đến nay, sau gần 5 năm thực hiện, bước đầu dự án đã thu được những kết quả khả quan
Dự án phát triển bò thịt BBB chất lượng cao đã được UBND thành phố phê duyệt, được chia làm 2 giai đoạn, đến nay, đã thu hiệu quả tích cực Trong giai đoạn
1 (2012 đến 2016) dự án được triển khai ở 28 xã của 7 huyện ngoại thành gồm: Ba
Vì, Đan Phượng, Phúc Thọ, Sóc Sơn, Gia Lâm, Chương Mỹ, Phú Xuyên và hiện được triển khai ở toàn bộ các huyện ngoại thành (giai đoạn 2)
Kết quả, Dự án đã phát triển được 40 nghìn bò cái nền và hơn 30.000 hộ nông dân được hưởng lợi từ dự án Tính đến nay, đã có 118 nghìn liều tinh đã được phối,
Trang 27trong đó, có 74 nghìn lượt bò cái nền được khám có chửa Bò mẹ mang thai đều đẻ thường, không phải can thiệp mổ đẻ Đặc biệt đàn bê F1 BBB sinh ra khỏe mạnh có khối lượng sơ sinh đạt từ 28kg đến 32kg, cá biệt có những bê sơ sinh đạt 35kg Không chỉ dừng lại ở địa bàn thành phố, Dự án đã được Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam công nhận và giới thiệu, phổ biến cho các tỉnh thành phố khác có nhu cầu về phát triển đàn bò thịt BBB như: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tĩnh, Thái Nguyên, Hải Dương, Yên Bái, Đắc Lắc, thành phố Hồ Chí Minh…Việc hợp tác phát triển đàn bò thịt BBB với các tỉnh đã được thành phố chủ trương đầu tư, đây cũng là thể hiện sự quan tâm của thủ đô trong việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật của ngành chăn nuôi thủ
đô với nông nghiệp các tỉnh, thành trong cả nước
Có thể nói thành phố Hà Nội là đơn vị đầu tiên trong cả nước lai tạo, phát triển thành công giống bò F1BBB, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi, nâng cao chất lượng tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm thịt bò trong nước đối với các sản phẩm nhập khẩu Giá trị sản phẩm do đàn bò F1 BBB làm ra ước đạt khoảng 900
tỷ đồng (trong khi giá trị gia tăng với giống bò khác mới đạt 400 tỷ đồng)
Theo kế hoạch đầu tư xây dựng phát triển dự án phát triển bò thịt BBB, thành phố sẽ tiếp tục chỉ đạo các đơn vị, các doanh nghiệp đầu tư nhập khẩu các giống bò thịt năng suất, chất lượng về để cải tiến giống bò thịt và lai tạo ra các dòng, giống phù hợp, thích nghi với điều kiện môi trường sống và có ưu thế vượt trội về sức sản xuất thịt và sinh sản Tiếp tục xây dựng hệ thống đại lý cung ứng, tiêu thụ sản phẩm tinh cọng rạ trên địa bàn thủ đô và các tỉnh thành phố trong cả nước
1.5.2 Bài học kinh nghiệm cho huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn
Một là, huyện Pác Nặm phải xác định phát triển ngành chăn nuôi bò thịt là con đường để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, từ đó có chính sách và biện pháp khuyến khích phát triển phù hợp với từng địa phương, từng quy mô hộ nuôi; Hai là, phải giải quyết vấn đề giống mà theo kinh nghiệm chủ yếu là cải tạo giống bò địa phương bằng lai tạo;
Ba là, coi trọng kỹ thuật chăn nuôi, chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi cho người chăn nuôi qua việc đẩy mạnh công tác khuyến nông;
Trang 28Bốn là, lựa chọn mô hình tổ chức phát triển chăn nuôi phù hợp, đặc biệt cần tập trung phát triển mô hình chăn nuôi tập trung;
Năm là, chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng trọt kém hiệu quả sang trồng
cỏ, cung cấp thức ăn cho đàn bò thịt trên địa bàn
Trang 29Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng phát triển chăn nuôi bò thịt giống địa phương trên địa bàn huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn là như thế nào?
Những nhân tố nào ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi bò thịt giống địa phương trên địa bàn huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn?
Giải pháp nhằm phát triển chăn nuôi bò thịt giống địa phương trên địa bàn huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn là như thế nào?
2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát
Đề tài chọn 4 xã của huyện Pác Nặm làm địa điểm nghiên cứu khảo sát đó là xã Nghiên Loan, xã Công Bằng, xã Bộc Bố và xã Bằng Thành, trong đó có xã Nghiên Loan và Công Bằng là hai xã có phong trào nuôi bò thịt phát triển mạnh tại địa bàn, hai xã Bộc Bố và Bằng Thành đại diện cho hai khu vực điều kiện điển hình với Bằng Thành có địa hình cao còn Bộc Bố có địa hình thấp
2.3 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
- Tài liệu thứ cấp
Thu thập các thông tin liên quan tới vấn đề nghiên cứu từ UBND huyện Pác Nặm, Chi cục Thống kê, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Bảo vệ thực vật huyện và các phòng ban khác của huyện Pác Nặm
- Tài liệu sơ cấp
+ Để thu thập tài kiệu sơ cấp tác giả đã phỏng vấn theo phiếu điều tra với tất cả các lao động tham gia chăn nuôi bò thịt giống địa phương ở huyện Pác Nặm (300 lao
động)
+ Tài liệu sơ cấp được thu thập chủ yếu qua việc khảo sát trực tiếp toàn bộ các
hộ gia đình chăn nuôi bò qua phiếu phỏng vấn chuẩn bị sẵn Những hộ này là các hộ
có đàn bò đang ở thời kỳ kinh doanh (đang xuất bán) để có thể khảo sát được toàn bộ chi phí và thu nhập của hộ
Trang 302.4 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu
- Phương pháp thống kê mô tả:
Sử dụng các công cụ của thống kê để mô tả, so sánh, đánh giá mức độ, tình hình
biến động của các số liệu thống kê và số liệu điều tra
- Phương pháp so sánh
Được áp dụng để so sánh kết quả và hiệu quả kinh tế giữa các nhóm hộ phân theo tiêu chuẩn đầu tư cao, thấp, trung bình, so sánh hiệu quả của các giống vật nuôi khác
- Phương pháp phân tích kinh tế
Phương pháp phân tích kinh tế được sử dụng để tính toán các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh bò thịt, phân tích các xu thế, các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế bò thịt trên địa bàn nghiên cứu
2.5 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài
Quy mô đàn bò thịt của huyện
Quy mô đàn bò thịt của huyện Pác Nặm thể hiện qua số lượng đàn bò, số lượng đàn bò được lấy dựa trên nguồn số liệu thống kê của huyện Pác Nặm Ngoài ra, chỉ tiêu này còn được phản ánh bằng tốc độ tăng trưởng số lượng bò thịt hàng năm
Tỷ lệ giống bò thịt (bò lai; bò cái sinh sản; bò cái lai, bò đực giống)
=Số lượng giống bò thịt (bò lai; bò cái sinh sản; bò cái lai, bò đực giống)
Trang 31Tỷ lệ và sự thay đổi tỷ lệ các giống bò cho năng suất cao càng cao thể hiện việc chăn nuôi đàn bò thịt của huyện càng phát triển và ngược lại
Sản lượng thịt bò trong chu kỳ chăn nuôi
Chỉ tiêu này phản ánh tổng sản lượng thịt bò mà ngành sản xuất này tạo ra trong
một thời gian nhất định thường là tổng trọng lượng và sự gia tăng trọng lượng bò hơi
xuất chuồng của một con cho một chu kỳ chăn nuôi Sự gia tăng trọng lượng bò hơi
xuất chuồng được tính theo công thức:
Tốc độ gia tăng trọng lượng thịt bò xuất chuồng
=Trọng lượng thịt bò xuất năm t − trọng lượng thịt bò xuất năm t − 1
Tổng trọng lượng thịt bò xuất chuồng năm t − 1 𝑥 100%
Giá trị sản xuất chăn nuôi bò thịt
Giá trị sản lượng chăn nuôi bò thịt (GO) là toàn bộ giá trị của số lượng bò do
hộ gia đình và người sản xuất tại huyện Pác Nặm bán ra thị trường trong một thời kỳ
nhất định (thường là 1 năm)
+
Giá trị sản phẩm chăn nuôi không qua giết thịt
+
Giá trị sản phẩm chăn nuôi bò thịt khác
+
Chênh lệch giá trị chăn nuôi dở dang
Giá trị sản lượng chăn nuôi bò thịt gia tăng càng nhanh việc phát triển chăn nuôi
bò thịt tại huyện Pác Nặm càng phát triển
Thu nhập của người chăn nuôi bò thịt
Thu nhập của người chăn nuôi bò thịt là toàn bộ thu nhập mà các hộ nông dân, người sản xuất thu được từ việc chăn nuôi bò thịt và bán các sản phẩm ra thị trường trong 1 thời kỳ kinh doanh
+
Thu nhập từ bán thịt bò xẻ thịt
+
Thu nhập từ bán các sản phẩm bò thịt khác
Trang 32Mức thu nhập của người nông dân, người sản xuất càng tăng chứng tỏ chăn nuôi
bò thịt tại huyện Pác Nặm càng phát triển và ngược lại
Chi phí cải tạo giống bò thịt tại địa phương
Được tính bằng chi phí với đơn vị triệu đồng, được chính quyền địa phương triển khai hoạt động lai tạo giống bò
Số lượt đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức chăn nuôi, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe đàn bò cho hộ chăn nuôi
Được tính bằng số lượt người được tham gia các khóa học đào tạo, nâng cao kiến thức, kỹ thuật chăn nuôi được chính quyền tổ chức
Trang 33Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT GIỐNG ĐỊA PHƯƠNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
3.1 Giới thiệu chung về huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
- Phía Đông giáp huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
- Phía Tây giáp huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang
- Phía Nam giáp huyện Ba Bể
- Phía Bắc giáp huyện Bảo Lâm và huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng
Tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 47.539,13 ha, chiếm 9,78% tổng diện tích tự nhiên của toàn tỉnh Huyện Pác Nặm có 10 đơn vị hành chính cấp xã (chưa có thị trấn) là các xã An Thắng, Bằng Thành, Bộc Bố, Cao Tân, Cổ Linh, Công Bằng, Giáo Hiệu, Nghiên Loan, Nhạn Môn, Xuân La Phân bố trên diện tích rộng, trung tâm huyện lỵ đặt tại xã Bộc Bố có tỉnh lộ 258B chạy qua, cách thành phố Bắc Kạn khoảng
90 km, xã xa nhất cách trung tâm huyện khoảng 20 km
Trong những năm qua, mặc dù đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, đầu tư lớn nhưng do đặc thù là huyện vùng cao nên cơ sở hạ tầng vẫn còn nhiều khó khăn, nền kinh
tế của huyện chủ yếu dựa vào phát triển nông - lâm nghiệp Mặt khác việc áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào khai thác sử dụng tiềm năng đất đai chưa thực sự mang lại hiệu quả kinh tế, do địa hình phức tạp nên việc giao lưu phát triển kinh tế giữa các xã trong huyện còn gặp khó khăn đời sống của nhân dân vẫn còn thấp
Địa hình
Là một huyện miền núi có độ dốc lớn, có nhiều núi cao, độ cao trung bình từ
400 đến 1.200 m so với mặt nước biển Căn cứ vào độ dốc có thể chia huyện thành 4 dạng địa hình chính
Trang 34+ Vùng địa hình thung lũng bằng: Diện tích ít chỉ chiếm khoảng 4,46% diện tích
tự nhiên của toàn huyện Phân bố rải rác ở một số nơi bãi bồi dọc theo các con sông
và các khe suối, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
+ Vùng địa hình tương đối bằng: Chiếm khoảng 11,40% diện tích tự nhiên của toàn huyện Vùng địa hình này thích hợp cho việc phát triển cây công nghiệp và cây
ăn quả lâu năm
+ Vùng địa hình có độ dốc lớn: Chiếm khoảng 56,80% diện tích tự nhiên của toàn huyện Vùng địa hình này thích hợp cho việc phát triển đồng cỏ chăn nuôi và khoanh nuôi tái sinh rừng
+ Vùng địa hình có độ dốc rất lớn: Chiếm khoảng 27,34% diện tích tự nhiên của toàn huyện Địa hình bị chia cắt mạnh, dễ bị xói mòn, rửa trôi, thích hợp cho việc trồng rừng phòng hộ và rừng sản xuất
Nhìn chung, địa hình của huyện Pác Nặm chủ yếu là núi cao, độ dốc tương đối lớn, rất phức tạp, gây khó khăn cho sản xuất nông - lâm nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sinh hoạt, sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội
Khí hậu
Huyện Pác Nặm nằm trong khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa Hạ nóng ẩm mưa nhiều, mùa Đông ít mưa, lạnh và khô Lượng mưa bình quân không lớn và phân bố theo mùa, ít chịu ảnh hưởng của gió bão
- Nhiệt độ:
+ Nhiệt độ trung bình cả năm là 220C
+ Nhiệt độ tháng cao nhất (vào tháng 7) là 27,50C
+ Nhiệt độ tháng thấp nhất (vào tháng 1) xuống tới 30C
Các tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6, 7 và 8 (nhiệt độ từ 27,2 - 27,50C), giữa tiểu vùng thấp vào các tháng nóng mùa hè có nhiệt độ cao hơn vùng đồi núi cao trong xã từ 1 đến 20C Tháng có nhiệt độ thấp nhất là các tháng 1, 2 và 12 (có khi xuống tới 3 đến 50C)
- Độ ẩm không khí:
Độ ẩm không khí trung bình năm khá cao 84 - 85% Bình quân các tháng mùa mưa, độ ẩm không khí đạt 85% và trong các tháng mùa khô độ ẩm không khí là 76 - 80%, tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 12 độ ẩm vào khoảng 76%
Trang 35Ngược lại, trong mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm khoảng 10% lượng mưa cả năm, nhất là các tháng 1 và 12 có lượng mưa rất thấp Trong mùa này lượng bốc hơi cao ảnh hưởng lớn tới trồng trọt nên cần có hệ thống tưới và hồ chứa để giữ, điều tiết nước tưới kịp thời cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân
Trong vùng vào mùa mưa thường có các cơn dông kèm theo mưa lớn và hiện tượng sấm, sét đã gây thiệt hại về tài sản (như cháy cho cây cối và chết gia súc chăn thả) và tính mạng con người ở một số nơi có địa hình cao
- Lượng bốc hơi nước:
Lượng bốc hơi trung bình năm là 785 mm Lượng bốc hơi tập trung nhiều vào các tháng 4, 5, 6 và 7 (từ 60 - 76,5 mm/tháng)
- Chế độ gió:
Trong vùng có hai mùa gió chính: Gió mùa Đông bắc thịnh hành trong mùa khô, với tốc độ gió trung bình 2,2 m/s Trong mùa mưa, hướng gió thịnh hành của vùng là gió mùa Tây Nam với tốc độ trung bình 2,4 m/s Chuyển tiếp giữa 2 mùa có gió Tây Bắc
Thuỷ văn
Trên địa bàn huyện Pác Nặm có nhiều sông suối chảy qua: Sông Năng, suối Công Bằng, suối Nghiên Loan, suối Bản Slấng, suối Pác Cáp, suối Tả Nhì, suối Tả Vạc, suối Nặm Sai, Khuổi Pây, Khuổi Nà Lại, Một số suối cạn nước vào mùa khô nhưng mùa mưa nước dồn nhanh có thể xảy ra lũ quét ảnh hưởng xấu đến đời sống
nhân dân
Do sự phân bố lượng mưa không đều và chênh lệch lớn nên chế độ dòng chảy
là kiệt vào mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau) và lũ (từ tháng 6 đến tháng
Trang 3610) Dòng chảy lũ hàng năm chậm hơn so với mùa mưa 1 tháng và bắt đầu từ tháng
6 đến tháng 10 Do đặc điểm đặc điểm chung là đầu nguồn, lòng sông ngắn, dốc, thuỷ chế thất thường Giao thông đường sông ít phát triển do sông suối dốc, lắm thác ghềnh địa nên lũ thường về nhanh với cường độ lớn thường xảy ra lũ quét ảnh hưởng xấu đến đời sống nhân dân
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Đặc điểm kinh tế
Mặc dù huyện được chia tách và thành lập từ năm 2003, trong điều kiện còn nhiều khó khăn nhưng được sự quan tâm của lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, sự nỗ lực cố gắng phấn đấu của toàn thể Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trên địa bàn, trong những năm qua huyện đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo Kinh tế của huyện tiếp tục có sự tăng trưởng tích cực theo hướng phát triển nông lâm nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
Sản xuất nông, lâm nghiệp có bước phát triển ổn định Tổng diện tích gieo trồng cây lương thực bình quân đạt 5.852ha/năm, sản lượng lương thực bình quân đạt 21.245 tấn, đến nay đã có thể đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ, lương thực bình quân trên đầu người đạt 642 kg/người/năm (năm 2016), tổng đàn đại gia súc đạt trên 16.894 con (2016) Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chủ yếu là khai thác vật liệu xây dựng và gia công đồ gỗ gia dụng Đến nay, toàn huyện có 9 hợp tác xã,
117 tổ hợp tác xã, tạo việc làm ổn định cho 1.200 lao động Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 118,812 triệu đồng (2016), tăng bình quân 25,8%/năm Trên địa bàn huyện hiện có 6 xã có chợ, cơ bản đáp ứng được nhu cầu trao đổi, mua bán hàng hóa của nhân dân Mục tiêu thu ngân sách đạt vượt chỉ tiêu và trước thời hạn
Đối với xây dựng kết cấu hạ tầng, trong những năm qua, huyện đã mở mới được 180,417 km đường giao thông nông thôn, 59 công trình thủy lợi, 02 trường học mới
và 64 phòng học, 8 trạm y tế các xã, 21 hệ thống nước sinh hoạt, 8 trụ sở làm việc ở các xã, 1 trung tâm dạy nghề, 6 công trình điện
Các chương trình, dự án triển khai trên địa bàn (Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Chương trình 135, 30a, Dự án 3PAD…) đã tạo được sự
Trang 37đồng thuận của nhân dân Các công trình hoàn thành đưa vào sử dụng và các nội dung
hỗ trợ đều phát huy hiệu quả, làm thay đổi bộ mặt nông thôn rõ rệt, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên, thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của huyện
Cùng với xu thế phát triển chung của tỉnh, trong những năm qua nền kinh tế của huyện có bước chuyển biến tích cực và đạt được những thành tựu quan trọng về nhiều mặt, hạ tầng tiếp tục phát triển như giao thông, thủy lợi, trường học, bệnh viện, các công trình văn hóa phúc lợi; đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao Năm 2015, cơ cấu kinh tế của huyện như sau: Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 56,8%; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 11,2%; khu vực thương mại - dịch vụ chiếm 32,0%
Đặc điểm xã hội
Theo số liệu báo cáo năm 2016 dân số huyện Pác Nặm là 32.798 người; mật độ dân số bình quân 68,99 người/km2, phân bố không đồng đều trong 10 xã, tập trung đông nhất ở các xã Nghiên Loan, xã Bộc Bố Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,12% Trên địa bàn huyện có nhiều dân tộc anh em sinh sống, trong đó gồm tộc Tày, Mông, Dao, Nùng, Kinh và một số dân tộc khác Mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng, phong tục tập quán riêng, có nét truyền thống văn hoá dân gian, dân tộc đặc sắc đã tạo nên sự đa dạng, phong phú về văn hoá truyền thống của huyện
Tổng số hộ nghèo trên địa bàn toàn huyện đến nay là 6.850 hộ (44,82%), trong đó hộ nghèo là 3.070 hộ, số hộ cận nghèo là 954 hộ Từ đầu năm UBND huyện đã ban hành quyết định giao chỉ tiêu giảm nghèo năm 2018 cho các xã với mục tiêu chung giảm tỷ lệ hộ nghèo 5%/xã, đến thời điểm hiện nay số hộ dự kiến thoát nghèo được 129/341 hộ (đạt 37,39% kế hoạch)
Công tác dạy nghề, giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động: UBND huyện chỉ đạo đơn vị, UBND các xã tổ chức khảo sát, thống kê nhu cầu dạy nghề của lao động nông thôn Xây dựng kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn, năm 2017 thực hiện đào tạo 02/10 lớp với tổng số 64/307 học viên chiếm tỷ lệ 20,85% Giải quyết việc làm cho 643/538 lao động, đạt 119% kế hoạch tỉnh giao và đạt 257% kế hoạch huyện giao (Trong đó số lao động đi làm việc tại các công ty, doanh nghiệp
Trang 38trong và ngoài tỉnh là 59187 lao động, xuất khẩu lao động 39/50 lao động đạt 78% kế hoạch)
Về tôn giáo, trên địa bàn huyện có đạo phật, thiên chúa giáo với nhiều lễ hội đặc sắc mang tính văn hoá cao
Với truyền thống văn hiến, truyền thống cách mạng, người dân Pác Nặm cần
cù sáng tạo, ý chí tự lực tự cường, biết khắc phục khó khăn, cộng đồng các dân tộc luôn đoàn kết, gắn bó, kế thừa và phát huy những kinh nghiệm, thành quả đạt được tiếp thu khoa học công nghệ hiện đại cùng với đội ngũ cán bộ được đào tạo từ các ngành khác nhau, từng bước đưa Pác Nặm trở thành một huyện phát triển trong thời gian tới
3.1.3 Những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội cho phát triển chăn nuôi bò thịt giống địa phương trên địa bàn huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn
Thuận lợi
Huyện Pác Nặm nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có lượng mưa trung bình không lớn, có nền nhiệt độ trung bình khá cao, giàu ánh sáng Đây là những điều kiện thuận lợi cho nhiều loại cây trồng, vật nuôi phát triển, đặc biệt là chăn nuôi bò thịt
Huyện Pác Nạm có diện tích trồng cỏ voi lớn, đây là nguồn thức ăn dồi dào trong chăn nuôi gia súc nói chung và bò thịt nói riêng, khi có Đề án phát triển chăn nuôi giai đoạn 2016-2020 về địa bàn huyện thì phong trào chăn nuôi đang phát triển mạnh mẽ trong nhân dân
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần thiết cho việc chăn nuôi như đường sá, hệ thống thủy lợi, kênh mương, đang dần được hoàn thiện là điều kiện thuận lợi cho việc thông thương trao đổi hàng hóa giữa các vùng
Huyện Pác Nặm có số người trong độ tuổi lao động lớn, người lao động cần cù sáng tạo, có kinh nghiệm sản xuất trồng trọt và chăn nuôi lâu đời Địa bàn huyện có chợ Nghiên Loan là chợ tiêu thụ trâu bò lớn nhất tỉnh, đây là điều kiện thuận lợi để
phát triển đầu ra cho bò thịt
Trang 39Khó khăn
Pác Nặm là một huyện miền núi cao, là một trong những huyện khó khăn nhất
của tỉnh Bắc Kạn, địa hình có nhiều núi cao, độ dốc lớn dẫn đến việc lưu thông hàng
hóa gặp khó khăn
Thời tiết tại Pác Nặm lạnh, độ ẩm cao vào mùa đông làm hạn chế sự sinh trưởng,
phát triển của cây trồng, là môi trường dễ phát sinh dịch bệnh cho người và gia súc, gia
cầm, gây ảnh hưởng đến chăn nuôi bò thịt Địa hình bị chia cắt mạnh, độ dốc lớn, hệ
số che phủ thấp đã thường xuyên gây hậu quả nghiêm trọng như đất bị rửa trôi, xói
mòn mạnh, sạt lở đất, hư hại các công trình giao thông, thuỷ lợi, nhà cửa
Dân cư và lao động tập trung đông trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn trong khi đó thu nhập từ hoạt động nông nghiệp nông thôn lại thấp Cơ cấu kinh tế chậm được đổi mới
Công tác khuyến nông được phổ biến nhưng chưa đồng bộ, số lượng người tham
gia tập huấn chưa nhiều, một số bộ phận người dân thậm chí không biết giống bò mình đang nuôi là giống bò gì Giá cả vật tư, thức ăn phục vụ chăn nuôi đều tăng cao, trong khi đó đầu ra sản phẩm luôn biến động làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất của bà
con nông dân
3.1.4 Tình hình phát triển chăn nuôi tại huyện Pác Nặm
Chăn nuôi gia súc là ngành sản xuất thế mạnh của huyện Pác Nặm, phát triển chăn nuôi đàn gia súc theo hướng hàng hóa một cách bền vững tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân là hướng đi mà huyện Pác Nặm thực hiện trong nhiều năm vừa
qua Trong những năm qua, ngành chăn nuôi trên địa bàn nhìn chung tiếp tục được
giữ vững và từng bước tăng trưởng tốt Đàn gia súc, gia cầm của huyện được chú
trọng quan tâm chăm sóc nên phát triển ổn định, tình hình dịch bệnh được kiểm soát
và không xảy ra dịch bệnh lớn trên địa bàn Tình hình số lượng đàn gia súc trên địa
bàn huyện thời gian qua như sau:
Trang 40Bảng 3.1: Số lượng gia súc qua một số năm
Tổng 41.704 45.410 41.034 8,89 -9,64 -0,36
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2017 huyện Pác Nặm
Ngành chăn nuôi huyện Pác Nặm nhìn chung được giữ vững Việc phát triển đàn gia súc, công tác chăn nuôi, thú y, phòng chống rét cho gia súc đã được quan tâm và đẩy mạnh Tính đến hết năm 2017, ngành chăn nuôi huyện Pác Nặm đạt được kết quả sau: Tổng đàn đại gia súc đạt 41.034 con (Trâu: 8.870 con, bò: 6.944, lợn 25.220 con) giảm 9,64% so với năm 2016
So với các địa phương khác trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, huyện Pác Nặm có lợi thế về điều kiện tự nhiên cũng như điều kiện xã hội để phát triển chăn nuôi đại gia súc Về điều kiện tự nhiên, với tiềm năng đất đai sẵn có của huyện có thể quy hoạch bãi chăn thả tập trung, đất đồi nhiều có thể mở rộng diện tích trồng cỏ Về điều kiện
xã hội, nhân dân địa phương đã có truyền thống và kinh nghiệm chăn nuôi đại gia súc Đối với mỗi hộ nông dân, con trâu, con bò là tài sản quý giá không chỉ phục vụ sức kéo trong mỗi thời vụ mà còn trở thành hàng hóa giúp hộ gia đình tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống
Pác Nặm là địa phương có nhiều chợ trâu, bò như: Chợ Nghiên Loan, Bộc Bố, Công Bằng… Đây chính là lợi thế cho việc giao lưu, trao đổi hàng hóa không chỉ thu hút các hộ dân trong huyện với các hộ chăn nuôi ngoài huyện, tỉnh về trao đổi, mua bán đã tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân địa phương
Với những lợi thế trên, huyện Pác Nặm đã xác định phát triển chăn nuôi đại gia súc là ngành sản xuất thế mạnh của huyện, phát triển chăn nuôi trâu, bò theo hình thức trang trại quy mô vừa và lớn, hình thành các vùng chăn nuôi hàng hóa tập trung, đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính, xác định chăn nuôi là một hướng xóa đói, giảm nghèo và làm giàu cho nông dân