1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bản sắc dân tộc trong thơ ma trường nguyên

146 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguồn cảm hứng chủ đạo trong các sáng tác của ông, đó là tình yêu quê hương, đất nước, về những thay đổi lớn lao của số phận dân tộc, từ kiếp đói nghèo, nô lệ được làm chủ cuộc đời; về c

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN THỊ HUYỀN ANH

BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG THƠ MA TRƯỜNG NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Thái Nguyên - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN THỊ HUYỀN ANH

BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG THƠ MA TRƯỜNG NGUYÊN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8.220.121

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Ngân

Thái Nguyên - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố trong một công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Huyền Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí - Truyền thông và Văn học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn TS Lê Thị Ngân đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Huyền Anh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

TRANG BÌA PHỤ

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 6

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 6

5 Phạm vi nghiên cứu 7

6 Cấu trúc của luận văn 7

7 Đóng góp của luận văn 7

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THƠ CA DÂN TỘC THIỂU SỐ HIỆN ĐẠI VÀ NHÀ THƠ MA TRƯỜNG NGUYÊN 8

1.1 Vài nét về thơ ca dân tộc thiểu số hiện đại 8

1.1.1 Giai đoạn trước năm 1945: 8

1.1.2 Giai đoạn 1945-1975: 11

1.1.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay: 24

1.2 Nhà thơ Ma Trường Nguyên - cuộc đời, con người và sự nghiệp sáng tác: 32

1.2.1 Vài nét về cuộc đời, con người nhà thơ Ma Trường Nguyên 32

1.2.2 Sự nghiệp sáng tác của Ma Trường Nguyên: 34

1.2.3 Quan điểm sáng tác của Ma Trường Nguyên: 37

Chương 2 CẢM HỨNG NỔI BẬT TRONG THƠ MA TRƯỜNG NGUYÊN 41

2.1 Cảm hứng về quê hương, con người miền núi: 41

Trang 6

2.2 Cảm hứng về tình yêu đôi lứa 61

2.3 Cảm hứng viết về phong tục, tập quán đậm bản sắc Tày 69

Chương 3 NHỮNG ĐIỂM NỔI BẬT VỀ NGHỆ THUẬTTRONG THƠ MA TRƯỜNG NGUYÊN 82

3.1 Hình ảnh thơ mang đậm sắc miền núi 82

3.2 Ngôn ngữ thơ đậm chất Tày 104

3.3 Thơ song ngữ Tày- Việt: 113

PHẦN KẾT LUẬN 126

TÀI LIỆU THAM KHẢO 129 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Văn học các dân tộc thiểu số là một bộ phận của văn học Việt Nam,

có vẻ đẹp, sắc thái riêng, in đậm bản sắc văn hóa các dân tộc anh em với nhiều

cá tính sáng tạo độc đáo Đối với lĩnh vực thơ ca, những nhà thơ các dân tộc ít người đã đóng góp vào nền thơ ca hiện đại Việt Nam một thế giới nghệ thuật thực sự mới lạ, sinh động với những gương mặt mới, những giọng điệu riêng Mỗi người trong số họ đã tạo ra một tiếng nói, một gương mặt, một phong cách thơ riêng biệt, độc đáo, tạo nên một vườn hoa thơ dân tộc đầy hương sắc Đó là các nhà thơ Bàn Tài Đoàn, Triệu Kim Văn (dân tộc Dao); Cầm Biêu, Vương Trung, Lò Văn Cậy, Lò Cao Nhum (dân tộc Thái); Mã Thế Vinh (dân tộc Nùng); Vương Anh (dân tộc Mường); Lò Ngân Sủn (dân tộc Giáy); Lâm Quý (dân tộc Cao Lan), Pờ Sảo Mìn (dân tộc Pa Dí), Dư Thị Hoàn (dân tộc Hoa)…

Riêng đối với Dân tộc Tày, đã đánh dấu sự trưởng thành của nhiều gương mặt như: Nông Quốc Chấn, Nông Viết Toại, Triều Ân, Mai Liễu, Lương Định, Triệu Lam Châu, Vi Thị Kim Bình, Y Phương, Dương Thuấn, Ma Trường Nguyên Có thể thấy ở mỗi tác giả đều gắn với những hoàn cảnh và điều kiện xã hội cụ thể, trong đó không thể phủ nhận vai trò góp sức của nhiều yếu tố khác trong xã hội

Hầu hết những gương mặt trên là những trí thức sống gắn bó với quê hương dân tộc mình Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và xây dựng đất nước, họ sống, lao động, chiến đấu gắn bó với thực tế và nhiều người trong số

đó được học tập đào tạo, bồi dưỡng trở thành văn nghệ sỹ chuyên nghiệp như Triều Ân, Mã Thế Vinh, Y Phương, Ma Trường Nguyên Hiện nay, chúng ta

đã có một đội ngũ nhà thơ dân tộc thiểu số vững vàng về tay nghề và có đóng góp đáng kể cho nền văn học dân tộc nước nhà Trong số đó có Ma Trường Nguyên, một trong những nhà thơ dân tộc Tày có bản sắc riêng Cùng với các

Trang 8

nhà thơ khác, ông đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp văn học tỉnh nhà nói riêng và nền văn học các dân tộc thiểu số nói chung

Miệt mài “trên cánh đồng chữ nghĩa”, tính đến nay ông đã cho ra đời 20 đầu sách (8 tiểu thuyết, 6 tập thơ, 1 trường ca, 1truyện thiếu nhi, 1 tự truyện, 1

tập ký, 2 tập tiểu luận và phê bình) Sáng tác của nhà thơ Ma Trường Nguyên

mang đậm hơi thở cuộc sống và con người miền núi với những yếu tố nghệ thuật giàu bản sắc dân tộc Ông đã đạt khá nhiều giải thưởng, trong đó có Giải thưởng của Uỷ ban toàn quốc liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam: Tiểu thuyết

"Rễ người dài" (1996) Giải thưởng Hội VHNT các DTTS Việt Nam: Cây nêu,

thơ (2007) giải C; Hiện đại mà dân tộc, tiểu luận (2010) giải Khuyến khích;

Trên cánh đồng chữ nghĩa, tiểu luận (2012), giải Khuyến khích Giải thưởng

sáng tác, quảng bá tác phẩm VHNT, báo chí về "Học tập và làm theo tấm gương

đạo đức Hồ Chí Minh": Chùm thơ 6 bài (2015) giải Khuyến khích Giải thưởng

VHNT tỉnh 5 năm: Trái tim không ngủ (thơ), giải C; Mũi tên ám khói, (tiểu thuyết) giải B 1997; Mùa hoa hải đường, (tiểu thuyết), giải B 2002; Câu hát

vắt qua vai, (thơ) giải B, 2006; Dưới vòm cây thiên tuế (thơ) giải C; Điệu then Pác Bó, Cây ổi mọc trước cửa hang Pác Bó (thơ), giải B, 2014

1.2 Đọc thơ Ma Trường Nguyên ta thấy dù ở đề tài nào các sáng tác cũng mang đậm chất Tày Nguồn cảm hứng chủ đạo trong các sáng tác của ông,

đó là tình yêu quê hương, đất nước, về những thay đổi lớn lao của số phận dân tộc, từ kiếp đói nghèo, nô lệ được làm chủ cuộc đời; về cuộc sống và con người miền núi, tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa, về những nơi tác giả đã từng qua… Và ở đề tài nào Ma Trường Nguyên cũng thể hiện một cách chân thực, giản dị như chính suy nghĩ và con người tác giả

Cùng với các bài thơ viết bằng tiếng Việt, Ma Trường Nguyên còn sáng

tác thơ song ngữ Việt- Tày (Phuối đuổi căn; Roọng Slao; Khay cằm lượn noọng

bên slung; Pắc nỉ; Sài Gòn cầư cụng mì tói…) Nghiên cứu thơ Ma Trường

Nguyên, sẽ thấy ở đó những nét khác lạ Dấu ấn, bản sắc văn hóa Tày hiện lên

Trang 9

đậm nét trong tác phẩm, trong trải nghiệm cuộc đời, ở chiều sâu văn hóa Nhưng điều đáng trân quý ở nhà thơ Tày ấy là không bó hẹp chỉ trong cuộc sống sinh hoạt của người Tày mà vượt lên, vươn xa như một dấu nối với thơ ca các dân tộc khác Tác phẩm vì thế mà mở rộng biên độ, phong phú đề tài về cuộc sống, con người Ông viết về những nét văn hóa, về vùng đất nơi ông sinh ra và lớn

lên (Cây Nêu; Tiếng lá rừng gọi đôi …), về những vùng đất ông từng đặt chân đến, từng ghé thăm (Du thuyền trên sông Hương; Trước biển Cửa Lò; Nụ cười

An Giang; Sào Gòn ai cũng có đôi; Sông Bến Hải…), kể cả ở nước ngoài (Dòng người viếng Lê Nin; Dâng hoa trước tượng Đài; Tôi làm thợ ảnh; Thăm bức tranh tròn nhà danh họa Ru- Bô; Đến Nam Ninh; Bến Thượng Hải…) Và điều

quan trọng, các sáng tác của ông tuy thấm đẫm bản sắc văn hóa dân tộc mình nhưng vẫn giao hòa với vùng văn hóa rộng lớn để hợp lưu thành con sông văn

chương Việt Nam và nói như chính tác giả “Hiện đại mà dân tộc”

1.3 Là một nhà báo công tác tại Đài PT- TH Thái Nguyên, đơn vị truyền thông với 4 loại hình Báo chí là Báo nói, Báo hình, Báo điện tử và Tạp chí PT-

TH Hiện Đài có chương trình phát thanh tiếng Tày; chuyên mục truyền hình:

“Văn hóa và Du lịch”, “Dân tộc và Miền núi”, “Đất và Người Thái Nguyên”,

“Văn học nghệ thuật”, “Gương mặt nghệ sỹ” cùng một số chương trình khác

Chính vì vậy tôi nhận thấy việc nghiên cứu thơ của Ma Trường Nguyên - nhà thơ người Tày, người con của Thái Nguyên là rất có ý nghĩa Qua đó, sẽ giúp tôi hiểu hơn về thơ được sáng tác bằng tư duy và sáng tạo của người Tày, về nhà thơ và những đóng góp của ông đối với thơ ca dân tộc thiểu số nói riêng, thơ ca hiện đại Việt Nam nói chung Đặc biệt, tôi sẽ hiểu sâu sắc hơn về bản sắc văn hóa dân tộc Tày - một trong những dân tộc thiểu số ở Thái Nguyên, cũng như có ý thức gìn giữ nép đẹp truyền thống quý báu đó thông qua việc thực hiện các tác phẩm báo chí Từ đó, góp phần tuyên truyền, nâng cao nhận thức của đồng bào dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên gìn giữ và phát

Trang 10

huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc mình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII)

2 Lịch sử vấn đề

Ma Trường Nguyên là một nghệ sĩ đa tài Ông không chỉ làm thơ, viết văn mà còn viết tiểu luận, phê bình Ông bắt đầu bằng sáng tác thơ, rồi sau

viết văn xuôi Tác giả tâm sự rất hồn nhiên: “Cái gì mà thơ không nói được

thì tôi nói trong tiểu thuyết; và ngược lại, cái gì không nói được trong tiểu thuyết tôi nói trong thơ” Sống thật để viết thật Viết từ tâm hồn không có

chút giả dối Chỗ mạnh và cái hay của tác phẩm Ma Trường Nguyên phần lớn là ở chỗ đó

Là nhà thơ dân tộc thiểu số có nhiều tác phẩm được công bố, được nhận giải thưởng của Trung ương và địa phương, có nhiều bài thơ để lại dấu ấn trong lòng bạn đọc, như đã nói ở trên, thơ Ma Trường Nguyên đã thu hút được một

số người nghiên cứu, phê bình Ma Trường Nguyên đã được nhắc đến qua một

số công trình nghiên cứu về thơ dân tộc thiểu số nhưng còn rất ít: Tập sách Văn học dân tộc Việt Nam thời kỳ hiện đại- một số đặc điểm, NXB Đại học Thái

Nguyên, 2015, do PGS.TS Trần Thị Việt Trung và PGS.TS Cao Thi Hảo đồng

chủ biên; Tập sách Bản sắc dân tộc trong thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, NXB Đại học Thái Nguyên, 2015 do PGS.TS Trần Thị Việt Trung

chủ biên

Đã có nhiều nhà văn, nhà thơ viết về Ma Trường Nguyên với những tâm

sự chân thật Trung Trung Đỉnh cho đó là “Người đốt lửa bằng trái tim” với

“dáng vẻ chân tình đến thật thà và hiền lành” Ngô Quang Miện sau khi đọc

xong thơ Ma Trường Nguyên đã cảm nhận: “Bắt gặp cái mộc mạc, hồn nhiên

của những con người sống giữa thiên nhiên Những câu thơ không khắc họa, không xoáy sâu nhưng để lại cái gì đó như một hương cây cỏ nguyên sơ, giữa một bầu không khí ban mai trong trẻo” Phạm Tiến Duật cho đó là “tâm hồn nhiều say đắm” Hồ Thủy Giang gọi đó là “một trái tim thức cùng năm tháng”

Trang 11

và “hiền lành một cách bẩm sinh” Nguyễn Đức Thiện cho rằng Ma Trường Nguyên “nói năng chất phác, thật thà của người Tày gốc”, và “chất rừng núi,

chất dân tộc đã được thể hiện sâu sắc không chỉ ở tả cảnh, tả người mà nó còn đậm đà trong tình cảm”….Chính vì vậy, Ma Trường Nguyên đã trở thành đối

tượng nghiên cứu qua một số bài viết của các tác giả Phạm Tiến Duật, Ngô Quân Miện, Vũ Nho, Hoàng Quảng Uyên, Lê Xuân, Nguyễn Đức Hạnh, Lâm Tiến, Hồ Thủy Giang, Nguyễn Thúy Quỳnh, Nguyễn Đức Thiện; một số bài viết phê bình trên các báo, tạp chí của các tác giả khác về thơ Ma Trường Nguyên, đặc biệt là thơ viết về tình yêu

Ngoài ra có luận văn tốt nghiệp đại học Hình tượng nhân vật phụ nữ trong một số tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên của tác giả Trần Thị Hạnh; Luận văn Đặc điểm tiểu thuyết Ma Trường Nguyên (2013); luận văn Thơ Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh- từ góc nhìn văn hóa

(2016) Và nói như Phạm Tiến Duật “Thơ Ma Trường Nguyên thấm đẫm giọng

dân ca và âm điệu đàn Tính của dân tộc Tày nơi quê hương anh…” (Tạp chí

“Diễn đàn văn nghệ Việt Nam”, số 4- 2004)

Điểm lại lịch sử vấn đề nghiên cứu về các tác phẩm của Ma Trường Nguyên nói chung và thơ Ma Trường Nguyên nói riêng, chúng tôi thấy những bài nghiên cứu, phê bình mới chỉ dừng lại ở việc nhìn nhận, đánh giá một số tác phẩm của nhà thơ, đặc điểm ngôn ngữ thơ cũng như về thể loại tiểu thuyết Hiện nay chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu, khảo sát một cách có

hệ thống về bản sắc dân tộc Tày trong thơ của Ma Trường Nguyên, trong đó có thơ song ngữ Qua quá trình khảo sát, cùng với những ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu đi trước sẽ là những gợi ý quý báu cho việc triển khai đường hướng nghiên cứu của chúng tôi, để từ đó chỉ ra nét duyên riêng của nhà thơ

“rất Tày” trong sự phát triển của văn học Việt Nam nói chung và văn học dân

tộc thiểu số nói riêng

Trang 12

3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của luận văn là toàn bộ những sáng tác thơ của Ma Trường Nguyên Nội dung chính của luận văn tập trung vào phân tích bản sắc dân tộc Tày trong thơ ông Ngoài ra, còn tham khảo một số tập thơ của các tác giả dân tộc Tày khác như Y Phương; Dương Thuấn… để có sự so sánh, làm rõ hơn đặc điểm của thơ Ma Trường Nguyên cũng như sự đồng điệu của các nhà thơ dân tộc thiểu số khác cùng miền Đông Bắc

3.2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn hướng tới việc làm nổi bật những nét đặc sắc về nội dung, nghệ thuật, tính sáng tạo, tính mới của thơ Ma Trường Nguyên, trong đó có cả thơ song ngữ Từ đó thấy được nét riêng mang đậm bản sắc dân tộc cũng như những đóng góp của Ma Trường Nguyên đối với thơ ca dân tộc thiểu số nói riêng, thơ

ca Việt Nam hiện đại nói chung

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ đặc điểm về nội dung và nghệ thuật trong thơ Ma Trường Nguyên Trên cơ sở đó, khẳng định những nét riêng, mang đậm chất Tày, những đóng góp của tác giả đối với sự phát triển của thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam

và thơ ca Việt Nam thời kỳ hiện đại

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sẽ lựa chọn những phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp tiểu sử;

- Phương pháp thống kê, phân loại;

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành;

- Phương pháp so sánh, đối chiếu;

- Vận dụng một số phương pháp nghiên cứu theo hướng Thi pháp học

Trang 13

5 Phạm vi nghiên cứu

- 6 tập thơ, 1 trường ca của nhà thơ Ma Trường Nguyên

+ Mát xanh rừng cọ, Sở Văn hóa Bắc Thái, 1985

+ Trái tim không ngủ, Hội Văn nghệ Bắc Thái,1988

+ Tiếng lá rừng gọi đôi, NXB Văn hóa Dân tộc, 1996

+ Câu hát vắt qua vai, Hội Văn nghệ Thái Nguyên, 2005

+ Cây Nêu, NXB Nhà văn, 2006

+ Bắc cầu vồng thăm nhau, NXB Hội nhà văn, 2007

+ Mở núi, NXB Hội nhà văn, 2011

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung chính của Luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về thơ ca dân tộc thiểu số hiện đại và nhà

thơ Ma Trường Nguyên

Chương 2: Cảm hứng chủ đạo trong thơ Ma Trường Nguyên

Chương 3: Những điểm nổi bật về nghệ thuật trong thơ Ma Trường

Nguyên

7 Đóng góp của luận văn

- Luận văn chỉ ra một số đặc điểm về nội dung và nghệ thuật mang bản sắc dân tộc trong thơ Ma Trường Nguyên

- Khẳng định những đóng góp đáng trân trọng của nhà thơ Ma Trường Nguyên trong bộ phận thơ ca dân tộc thiểu số thời kì hiện đại

- Kết quả của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm nghiên cứu thơ ca dân tộc thiểu số và thơ ca Việt Nam nói chung; là tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy thơ ca dân tộc thiểu số trong chương trình giáo dục ở bậc phổ thông nói riêng Đây cũng là tài liệu giúp bổ sung thêm kiến thức, hiểu biết phục vụ cho công việc chuyên môn của một người làm báo

Trang 14

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THƠ CA DÂN TỘC THIỂU SỐ

HIỆN ĐẠI VÀ NHÀ THƠ MA TRƯỜNG NGUYÊN

1.1 Vài nét về thơ ca dân tộc thiểu số hiện đại

Văn học hiện đại các dân tộc thiểu số nói chung, thơ ca hiện đại các dân tộc thiểu số nói riêng, từ lâu đã được khẳng định là một bộ phận văn học có vẻ đẹp, có sắc thái riêng, in đậm dấu ấn tâm hồn và giàu bản sắc văn hóa các dân tộc anh em, với nhiều cá tính sáng tạo độc đáo Riêng trong lĩnh vực thơ ca, những nhà thơ các dân tộc ít người đã đóng góp vào nền thơ ca hiện đại Việt Nam một thế giới nghệ thuật thơ thực sự mới lạ, sinh động với những gương

mặt mới, những giọng điệu riêng Theo Trần Đăng Xuyền thì: Thơ là nghệ thuật

kì diệu bậc nhất của con người Thơ của các nhà thơ dân tộc ít người là thứ nghệ thuật hai lần kì lạ, vì đây là tiếng nói hồn nhiên nhất, thể hiện tinh tế, sâu sắc điệu tâm hồn độc đáo của từng nhà thơ, qua đó làm ngời lên gương mặt tinh thần, vẻ đẹp tâm hồn của các dân tộc anh em trên đất nước thân yêu của chúng ta [61;6] Trong mỗi giai đoạn phát triển, bên cạnh những nét truyền

thống cơ bản, thơ ca các dân tộc thiểu số lại có những nét riêng phù hợp với sự phát triển và hoàn cảnh lịch sử

1.1.1 Giai đoạn trước năm 1945:

Theo một số nhà nghiên cứu thì văn học dân tộc thiểu số nói chung, thơ

ca dân tộc thiểu số nói riêng đã xuất hiện từ thế kỷ XVII với hai tác giả dân tộc

Tày Bế Văn Phùng và Nông Quỳnh Vân với hai bản trường ca Tam nguyên

luận và bài Lượn tứ quý được viết bằng chữ Nôm Tày và thể thơ 7 chữ Tiếp

đó, cuối thế kỷ XIX xuất hiện thêm hai nhà thơ dân tộc Thái là Ngần Văn Hoan

và Lò Văn Thứ Hai tác giả này sáng tác thơ chủ yếu để hát Nhân dân gọi Ngần

Văn Hoan là sláy khắp, với nghĩa là người chuyên sáng tác thơ hát và hát rất

giỏi Ông kế thừa và vận dụng một cách thuần thục những truyện thần thoại,

Trang 15

truyện cổ tích, truyện thơ và tục ngữ, ca dao, dân ca Thái vào tác phẩm thơ hát

của mình Tác phẩm nổi tiếng của ông là Lời hát nền Văn Hoan, là bài thơ dài

2.300 câu được viết với hình thức đối đáp của 2 nhân vật nam và nữ Thơ ca Ngần Văn Hoan gần gũi với văn học dân gian, gần gũi với tiếng nói hàng ngày của người dân tộc Với cách viết đó, ông đã đưa văn học dân gian Thái lên đỉnh cao mới, làm cho thơ dân gian Thái phong phú, trong sáng và giàu hình tượng

Tuy nhiên, đây chỉ là những hiện tượng lẻ tẻ và số lượng tác phẩm họ sáng tác cũng không nhiều, vì thi pháp lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn học dân gian, và được viết bằng tiếng dân tộc, nên sức lan tỏa chỉ mang tính phạm

vi vùng miền

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, cùng với sự hình thành và phát triển của nền văn học quốc ngữ, văn học viết dân tộc thiểu số miền núi cũng đã xuất hiện với sự tham góp của nhiều tác giả ở nhiều dân tộc khác nhau, trong đó có khá nhiều tác giả dân tộc Tày sáng tác thơ bằng chữ Hán như Hà Vũ Bằng, Bế Ích Bồng, Nông Đình Cấp, Bế Đức Cốm, Lê Văn Dự, Nông Đình Đối…Đặc biệt,

có Hoàng Đức Hậu (1890 – 1945) là một hiện tượng đáng chú ý Nhà thơ dân tộc Tày ở Cao Bằng này đã sáng tác bằng 3 loại ngôn ngữ Tày, Hán và Quốc ngữ Trong số 121 bài thơ Đường luật ông để lại có 115 bài viết bằng chữ Tày,

3 bài là chữ Quốc ngữ và 3 bài bằng chữ Hán Ông được coi là một hiện tượng độc đáo của văn học dân tộc thiểu số thời kì đầu thế kỷ XX Đó là một nhà thơ

có phong cách riêng và không ngừng tìm tòi, cách tân, sáng tạo thể thơ Đường luật để tạo nên tiếng nói riêng, cách thể hiện riêng, mới mẻ, độc đáo, không dùng hình tượng thơ mang tính ước lệ, khuôn sáo, như hình ảnh Tùng, Cúc, Trúc, Mai hay Nguyệt, Phong, Vân… không mang tính khuôn mẫu, phù hợp với sự tiếp nhận của độc giả Thơ ông không chỉ ảnh hưởng tới những nhà thơ cùng thời, mà còn ảnh hưởng tới những nhà thơ Tày thế hệ sau như Nông Quốc Chấn, Nông Viết Toại, Triều Ân, Dương Thuấn, Y Phương… Chính ông đã

Trang 16

góp phần làm nên một hiện tượng thơ độc đáo trong đời sống thơ ca dân tộc thiểu số cũng như thơ ca Việt Nam nói chung

Vào những năm 1930 - 1940, cùng với thơ ca cách mạng của đất nước, một mảng thơ cách mạng của các dân tộc thiểu số ra đời Tác giả của mảng thơ này là những chiến sĩ người dân tộc thiểu số hoạt động cách mạng: Hoàng Văn Thụ, Hoàng Đình Giong, Dương Công Hoạt… Nổi bật trong mảng thơ ca này

là bài thơ “Nhắn bạn” của Hoàng Văn Thụ Đây là bài thơ viết bằng tiếng Việt

theo thể thơ Đường luật Còn phần lớn các bài thơ khác được lồng vào các điệu dân ca quen thuộc Với những sáng tác này, hiện thực cách mạng đã ùa vào đời sống văn hóa, văn học các dân tộc thiểu số và đặt nền móng vững chắc cho thơ

ca cách mạng và kháng chiến của các dân tộc thiểu số Việt Nam phát triển Những người chịu ảnh hưởng trực tiếp của thơ ca thời kỳ này và sự phát triển mạnh mẽ ở giai đoạn sau là Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Nông Viết Toại, Nông Minh Châu…

Vào cuối những năm 40 của thế XX đã xuất hiện một số bài thơ của các nhà thơ dân tộc thiểu số có nội dung cách mạng, có tác dụng giác ngộ cao đối

với quần chúng nhân dân các dân tộc vùng cao như Lùa chó dậy (1940) của tác giả Cầm Biêu; Dặn vợ, dặn con của Bàn Tài Đoàn (1944), Nông Quốc Chấn có bài Khóc đồng chí hay Mưa gió:

… Đồi núi bốn bề những cơn gió lốc Ngược xuôi sôi sục nước lũ ngập ruộng nương Hùm báo gọi nhau đi kiếm ăn từng lũ, Chim muông bay nhảy để gìn giữ chim muông

Mặc gió mặc mưa, chúng ta đừng hoảng hốt!

Ngày mai trời nắng, sông núi sẽ huy hoàng

Mang tính ẩn dụ cao, tác giả đã mượn hình ảnh của thiên nhiên để nói

về hoàn cảnh hiện tại của đất nước, quê hương ông, và ở đây có tính tư tưởng

rõ rệt: dù đất nước đang rơi vào hoàn cảnh khó khăn, loạn lạc, nhưng một tương

Trang 17

lai tươi sáng sẽ đến với đồng bào dân tộc Có thể coi đây là bài thơ trữ tình mang tính hiện thực được viết với cảm hứng lãng mạn cách mạng đầu tiên của thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại

Có thể nói, thơ ca các dân tộc thiểu số giai đoạn trước năm 1945 tuy mới chỉ là sự bắt đầu, chưa phải đã có nhiều sáng tác nhưng cũng đã để lại dấu ấn riêng, đã có tính sáng tạo, đổi mới, có tính hiện thực cách mạng Chính điều này đã góp phần làm phong phú, đa dạng cho nền thơ ca dân tộc, cũng như đặt nền móng vững chắc cho thơ ca cách mạng và kháng chiến của các dân tộc thiểu số Việt Nam phát triển ở những giai đoạn sau

1.1.2 Giai đoạn 1945-1975:

* Giai đoạn 1945- 1954:

Đây là thời kỳ thơ ca Việt Nam phát triển khá mạnh mẽ, trong đó có thơ

ca các dân tộc thiểu số Hòa cùng dòng chảy chung của văn học dân tộc với tinh thần yêu nước, căm thù giặc, ca ngợi cách mạng, thơ ca của các tác giả dân tộc thiểu số giai đoạn này cũng góp một tiếng nói bảo vệ đất nước, chống giặc ngoại xâm, với nội dung phản ánh cuộc kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ nhưng chiến thắng lẫy lừng của dân tộc ta

Ở thời kỳ này, những nhà thơ dân tộc thiểu số đã xuất hiện từ trước năm

1945 đến nay tiếp tục phát triển với hàng loạt các sáng tác về cuộc sống, con người miền núi trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc Bên cạnh đó là

sự xuất hiện của một số các nhà thơ dân tộc thiểu số khác, đã hăm hở sáng tác những bài thơ thấm đẫm tinh thần yêu nước, tinh thần hi sinh vì nền độc lập dân tộc và lòng tự hào, tự tôn dân tộc

Về tác giả, chủ đạo vẫn là những tên quen thuộc như Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại (dân tộc Tày), Cầm Biêu, Lương Quy Nhân, Hoàng Nó (dân tộc Thái), Bàn Tài Đoàn (dân tộc Dao)…

Về tác phẩm, Nông Quốc Chấn đã có bài thơ Việt Bắc đánh giặc (1948),

Khâu áo (1948), Dọn về làng (1950):

Trang 18

… Sáng mai về làng sửa nhà phát cỏ,

Cày ruộng vườn, trồng lúa ngô khoai

Mấy năm qua quên tết tháng Giêng, quên rằm tháng bảy,

Chạy hết núi lại khe, cay đắng đủ mùi

Nhớ một hôm mù mịt mưa rơi

Cơn gió bão trên rừng cây đổ

Cơn sấm sét lán sụp xuống nát cửa

Ðường đi lại vắt bám đầy chân…

Ngoài những bài thơ trên, Nông Quốc Chấn còn có các bài Đi Béc Linh

về (1951), Đời chúng em (1952), Nói với các anh (1953), Rời rừng (1954) và Thư lên Điện Biên (1954); Tác giả Nông Minh Châu có Đêm Ba Khe (1952), Đuổi nhau (1952), Thầm ca (1953), Người thanh niên giữ Đèo Giàng (1953), Gửi anh bạn Triều Tiên (1953), Gửi anh Chương (1954), Hai lời gửi mẹ (1954);

Nông Viết Toại có Pây bộ đội (Đi bộ đội), Lần truyện cáu (Nói chuyện cũ- 1954), Kin khẩu mấư (Ăn cơm mới- 1954); Cầm Biêu có Vợ lính ngụy mong

chồng (1949), Gái thời giặc (1950), Mường muổi yên vui (1954); Lương Quy

Nhân có Cán bộ với dân Mường (1947); Hoàng Nó có Tội ác giặc Pháp ở đồn

Pom Nghê (1948); Bàn Tài Đoàn có Chiến thắng Nghĩa Lộ (1952), Mừng thủ

đô giải phóng (1954); Bác về thủ đô…

Chúng ta nhận thấy rằng, lớp nhà thơ đầu tiên của các dân tộc thiểu số

đã được ra đời và trưởng thành luôn gắn liền với phong trào cách mạng Việt Nam Hầu hết họ đều xuất thân từ các bản làng miền núi xa xôi, từ các gia đình lao động nghèo khổ, bị áp bức bóc lột nặng nề Với điều kiện xuất thân như vậy nên giữa họ và nhân dân lao động miền núi không có khoảng cách Họ gắn bó với nhân dân và đến với cách mạng một cách tự nguyện, tự nhiên Mặt khác,

họ đều được đắm mình trong mạch nguồn văn hóa, văn học dân gian dân tộc miền núi, được hấp thụ những tinh hoa văn hóa dân tộc một cách tự nhiên như

ăn cơm, nước uống, như khí thở hàng ngày

Trang 19

Nên có thể nói, cách mạng, quê hương miền núi và nền văn hóa dân gian dân tộc là 3 nguồn mạch chính đã tạo nên cảm hứng, nuôi dưỡng và phát triển thơ ca các dân tộc thiểu số trong những năm tháng đấu tranh cách mạng và trong cuộc kháng chiến chống Pháp thần thánh của dân tộc Cũng ở giai đoạn này, các nhà thơ dân tộc thiểu số đã cất lên tiếng nói cùng những suy nghĩ, những niềm tâm sự, những tình cảm chân thành, thiết tha và cảm động của dân tộc mình đối với cách mạng, đối với Đảng, với Bác Hồ vô vàn kính yêu Sự kết hợp giữa tư tưởng yêu nước, yêu quê hương với lòng tự hào, tự tôn dân tộc đã tạo niềm hứng khởi và sự sáng tạo trên cơ sở kế thừa và phát huy vốn văn hóa, văn học dân gian phong phú, giàu bản sắc cho các nhà thơ dân tộc thiểu số thời

kỳ này Các tác phẩm của họ đều đậm đặc chất dân tộc Thơ họ gắn liền với thiên nhiên, với con người miền núi, gắn liền với những sự kiện, những biến động lớn lao của xã hội miền núi Họ hướng ngòi bút vào việc phản ánh cuộc sống cách mạng và kháng chiến ở vùng dân tộc mình, về những tâm tư, cảm nhận, những nỗi niềm của đồng bào các dân tộc thiểu số Nhà thơ Bàn Tài Đoàn

có bài thơ Kể chuyện đời có thể coi như tiếng nói tâm tình của người Dao từ

trong đau khổ, đói rách và tăm tối đến với cách mạng:

Người dân bụng đói và áo rách

Dốt đặc chẳng biết chữ nào chơi

Có hai mắt mà như mù cả

Có tai như điếc cả cuộc đời…

Nhà thơ người Thái Cầm Biêu lại khắc họa chân thực và sinh động số phận đau khổ, nhục nhã và bế tắc của người phụ nữ dân tộc mình dưới chế độ

thực dân phong kiến qua bài thơ Gái thời giặc:

Gái nhỏ thời sợ quan

Gái to thời sợ lính

Hay bài thơ Vợ lính ngụy mong chồng:

Hỡi anh ơi! Người chồng em ngàn năm yêu dấu Nghĩ tới anh, em những héo hon lòng

Trang 20

Một trong những điều làm nên sức mạnh để con người vượt qua những thử thách, khó khăn trong thời kỳ này là niềm tin vào Đảng và Bác Hồ:

Chính phủ Cụ Hồ rất thương dân

Có chính sách khoan dung với người lầm đường lạc lối

(Vợ lính ngụy mong chồng - Cầm Biêu) Thơ ca giai đoạn này có sự vận động, phát triển khá phong phú Nhìn chung đã phản ánh được hiện thực cuộc sống, phản ánh những tâm tư, những cảm nhận, những nỗi niềm của con người miền núi trong những ngày kháng chiến gian khổ và anh dũng cùng những ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy

Về nghệ thuật, một trong những đặc điểm nổi bật của thơ ca giai đoạn này là sự ảnh hưởng và kế thừa thơ ca dân gian truyền thống Đó là thể thơ 7 chữ 8 dòng, 7 chữ 4 dòng kéo dài, thơ Đường luật, lời thơ trong các làn điệu dân ca như lượn, sli, páo dung…Bàn Tài Đoàn là người sử dụng trung thành nhất thể thơ truyền thống xưa của dân tộc Dao Thơ ông chủ yếu là thơ 7 chữ, nặng về phương thức tự sự, kể lể:

Mẹ lại được nghe anh cán bộ

Báo tin mừng giải phóng thủ đô

Bộ đội ta vào như nước chảy Rầm rập cờ đỏ cắm đầy khắp nơi…

Vào cuối giai đoàn này, tức vào những năm đầu của thập kỷ 50, các nhà thơ dân tộc thiểu số đã có nhiều bài thơ sáng tác theo thể thơ tự do, mang màu

sắc hiện đại hơn Tiêu biểu như bài “Bộ đội ông cụ” của Nông Quốc Chấn, bài thơ “Qua cánh đồng Lanh Chanh”, “Tay súng tay bay” của Nông Minh

Châu… Đây là điểm rất đáng khẳng định của thơ ca giai đoạn này

Bên cạnh đó, một đặc điểm nổi bật cần nhắc đến của thơ dân tộc thiểu số thời kỳ này, là hầu hết các nhà thơ đều sáng tác bằng tiếng dân tộc, phản ánh đúng tâm tư, tình cảm, diễn đạt đúng theo cách nói, cách nghĩ của đồng bào dân

Trang 21

tộc thiểu số Do đó, những bài thơ này rất có tác dụng giác ngộ, giáo dục, động viên đồng bào trong công cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta

Có thể nói, thơ giai đoạn 1945- 1954 đã mang đậm bản sắc dân tộc từ hình thức cho đến nội dung Giá trị nổi bật của thơ ca giai đoạn này chính là việc các nhà thơ đã phản ánh được thế giới tâm tư tình cảm và con người miền núi trong một giai đoạn lịch sử Những con người vượt lên hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn để chiến đấu cho cuộc sống tự do với một lòng căm thù giặc, có niềm tin với Đảng, Cách mạng và Bác Hồ

đã đưa thơ dân tộc thiểu số sau 1954 bước vào một giai đoạn mới với khá nhiều thành tựu

Ở thời kỳ này, thơ ca các dân tộc thiểu số được ví như mùa xuân thứ nhất, bởi sự ra đời của nhiều bông hoa trong vườn thơ nhiều hương sắc Đội ngũ sáng tác ngày càng đông đảo, số lượng tác phẩm nhiều, chất lượng sáng tác ngày càng cao

Bên cạnh những tác giả thơ thuộc lớp trước vẫn tiếp tục sáng tác một cách tích cực như Nông Quốc Chấn, Nông Viết Toại, Nông Minh Châu, Cầm Biêu, Hoàng Nó, Bàn Tài Đoàn…, thời kỳ này còn xuất hiện một lớp tác giả mới được đào tạo dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, có trình độ văn hóa và ít nhiều được trang bị kiến thức lý luận về sáng tác như Mã A Lềnh, Mã Thế Vinh, Vương Anh, Triều Ân…

Trang 22

Có thể nói, đây là một thời kỳ thăng hoa của thơ ca các dân tộc thiểu số, bởi một loạt các tập thơ của các nhà thơ dân tộc thiểu số giai đoạn này đã xuất

hiện trong đời sống thơ ca Việt Nam “Các nhà thơ miền núi say sưa cất giọng

ca của dân tộc mình hòa chung vào bản hợp xướng thơ ca dân tộc Việt Nam, tạo nên một đời sống thơ vô cùng phong phú, đầy hào sảng của dân tộc…”

[61;62]

Đó là các tập thơ của Nông Quốc Chấn: Người núi hoa (1958), Tiếng ca

người Việt Bắc (1959), Đèo gió (1968), Dám kha Pác Bó (1972); Triều Ân có Tiếng hát rừng xa (1974), Nắng ngàn (1974); Hoàng Nó có Tiếng hát mường Hoa Ban; Vương Trung có Ing Éng (1967); Mã A Lềnh có Rừng sáng (in

chung); Bàn Tài Đoàn có Xuân về trên núi (1963), Một giấc mơ (1964), Kể

chuyện đời (1968), Rừng xanh (1973), Sáng cả hai miền (1975)

Nội dung bao trùm thơ ca các dân tộc thiểu số viết về cuộc sống mới trong hòa bình tràn đầy niềm vui, niềm tự hào, niềm tin vào một tương lai tươi sáng của dân tộc Việt Nam nói chung, đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng Hàng chục tập thơ với hàng trăm bài thơ của các tác giả dân tộc thiểu số đã viết về đề tài ca ngợi cuộc sống mới - cuộc sống vĩ đại của đồng bào các dân tộc thiểu số khi miền Bắc sạch bóng quân thù, cả nước bước vào công cuộc xây dựng XHCN với niềm tin yêu, hi vọng, với bao niềm hân hoan, lòng nhiệt thành cháy bỏng của mọi tầng lớp nhân dân các dân tộc thiểu số Việt Nam

Các nhà thơ hướng ngòi bút của mình vào sự đổi thay lớn lao của quê hương

và bày tỏ tâm trạng phấn khởi của mình trước cuộc sống mới tràn đầy niềm vui, niềm hạnh phúc Quê hương Việt Bắc đã hoàn toàn sạch bóng quân thù:

Đầu mường hết giặc phản Cuối bản hết giặc Tây Dưới chân cầu thang đã sạch bóng giặc Mỹ…

(Biên giới lòng người - Lương Quy Nhân)

Họ tự hào và vui mừng khi thấy quê hương giàu đẹp:

Trang 23

Em ơi ! Việt Bắc đẹp giàu Núi rừng trùng điệp muôn màu cỏ hoa Trên Phja Dạ mây mù buông chướng Dưới đất kia: quặng, sắt, bạc, vàng

Đi thuyền Ba Bể dọc ngang

(Tiếng ca người Việt Bắc - Nông Quốc Chấn) Hay:

Gà đầy sân đua gáy ấm nhà Chuồng mới ủn ỉn tiếng lợn nái dỗ đàn con bé…

(Suối Đông và suối Tộc - Vương Trung)

Nhà thơ Tày Triều Ân đã say sưa ca ngợi cuộc sống mới trên quê hương Việt Bắc:

Cử anh chủ nhiệm đi Hà Nội Đón máy cày lên với cánh đồng …

Hôm nay trâu sắt đi cày ruộng Máy nổ ầm vang thức núi rừng…

(Quê ta, anh biết chăng) Đúng là một sự đổi thay kì diệu mà theo tác giả, đó thực sự là cuộc đổi đời lần thứ hai của các dân tộc vùng cao sau Cách mạng Tháng Tám Đọc bài thơ ta thấy hiện lên một khung cảnh lao động mới, đã có sự xuất hiện của máy móc, của KHKT, điều mà trước đây chưa từng có ở các vùng nông thôn miền núi, vùng xa Đó thực sự là một cuộc thay da đổi thịt, cuộc sống mới tràn đầy niềm vui, niềm hạnh phúc Các dân tộc cùng nhau đoàn kết xây dựng quê hương

Những đổi thay về phương thức sản xuất, cảnh lao động tập thể trong không khí lao động khẩn trương sôi nổi, tinh thần đoàn kết xây dựng quê hương cũng là một cảm hứng lớn trong thời kỳ này Đối tượng mà các nhà

Trang 24

thơ phản ánh ngợi ca là những con người đang trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ

sự nghiệp chung của cả dân tộc Đó là những người lính canh giữ biên thùy, là người công nhân làm đường, là người nông dân một nắng hai sương trên ruộng đồng Từ cảm hứng về cuộc sống mới, hình tượng con người, đặc biệt là người phụ nữ cũng đã được khắc họa cụ thể hơn Người phụ nữ không còn mang thân phận bị phụ thuộc, giờ đây họ có một vị thế mới, đó là những người tự do được làm chủ cuộc đời mình và tham gia tích cực vào công tác xã hội Họ tham gia lao động trong hợp tác xã, trong các tổ đổi công, bộc lộ tài năng, sự khéo léo của mình trong hội cấy thi, vận dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Họ đã trở thành hoa trong mường:

Mẹ chờ con trai lại

- Tay mày sờ máy, mở tao nhìn

Mẹ nhìn con gái đến

- Tay mày cầm súng cầm có hay

(Hoa trong mường - Vương Anh) Nhiều cô gái đã trở thành người công nhân lao động xây dựng chủ nghĩa

xã hội:

Khăn Piêu nhuộm nắng mưa sa Sánh vai nam giới, ca vang một lời

Vì chị là người Công nhân trẻ tuổi

(Chị em công nhân cầu đường –Hoàng Nó)

Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đem lại cho nhân dân những biến đổi lớn lao trong cuộc sống Trước cuộc sống tự do hạnh phúc hiện tại, đồng bào các dân tộc thiểu số luôn bày tỏ lòng biết ơn Đảng, Bác Hồ Cầm Biêu

có bài Muốn nhìn thấy Đảng (1958), Công Đảng, công Bác (1960); Bàn Tài Đoàn viết Muối của cụ Hồ:

… Từ khi cán bộ cụ Hồ đến Ngoài chợ có bán nhiều thứ hàng

Trang 25

Có hàng bán muối tha hồ chọn

Có hàng bán vải đỏ, vải xanh

Cụ Hồ mang áo về, dân mặc

Cụ Hồ đem muối về, dân ăn Nay Bác bảo ta đi đào đất

Mở thêm đường cái lên Đồng Văn

Có xe mang thêm nhiều muối đến Người Mèo ta không sợ đói nghèo

Có thể nói, chính công cuộc xây dựng xã hội mới - XHCN đã đem lại sự thay đổi trong nếp cảm, nếp nghĩ, trong tư duy, tư tưởng của đồng bào Họ luôn

có sự so sánh cuộc sống ngày nay với cuộc sống trước kia để thấy sự khác nhau sâu sắc giữa hai chế độ nô lệ và tự do Từ đó càng biết ơn Đảng, Bác Hồ, những người đã cho họ cuộc sống hôm nay Đây cũng là cảm hứng chủ yếu của thơ ca dân tộc thiểu số thời kỳ này:

Thời Tây đem gai góc lấp đường Thời ta không còn gì uy hiếp

(Có tổ đổi công - Cầm Biêu) Bên cạnh nội dung ca ngợi cuộc sống mới, con người mới trong không khí hòa bình ở miền Bắc, cuộc chiến tranh chống Mỹ và đấu tranh thống nhất nước nhà cũng là một nội dung quan trọng trong thơ ca thời kỳ này Đồng bào các dân tộc thiểu số, trong đó có các nhà thơ đã dồn tình cảm và tâm huyết của mình vào sáng tác, phản ánh cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước ở miền Bắc

và đấu tranh thống nhất ở miền Nam Đồng bào các dân tộc thiểu số miền Bắc luôn hướng về miền Nam ruột thịt với tình cảm chân thật, thiết tha Nhà thơ

Nông Quốc Chấn đã viết bài Tiếng ca người Việt Bắc:

Chúng tôi người Việt Bắc

Không một lúc nào quên

Giành Nam Bắc nối liền

Trang 26

Giành lấy ngày thống nhất

Vương Trung có Chở xác máy bay, Chèo thuyền đưa tiễn hay như bài

Chiếc khăn:

…Vừa bắn máy bay đứt đầu nát đuôi

Ánh lửa hồng chưa nguội

Anh lại sắp xa em đi bộ đội

Vương Anh có một loạt bài viết về đề tài chống Mỹ như Nghe tiếng dế

Bản Đông, Nửa đêm nghe tiếng sấm, Mây khói Trường Sơn, Theo những dấu chân….; Tác giả Cầm Biêu thì có bài Nam Bắc thống nhất…

Cũng ở thời kỳ này, các tác giả thơ miền núi không chỉ có sự phát triển mạnh mẽ về đội ngũ, chất lượng sáng tác mà nhiều nhà thơ dân tộc thiểu số

đã có sự trưởng thành vượt bậc về trình độ, tư tưởng, về nghệ thuật Họ thậm chí đã trở thành những tác giả văn học, những nhà hoạt động văn hóa có uy tín trong nước và quốc tế Tuy được đi nhiều nơi nhưng họ vẫn luôn hướng về cội nguồn, nhớ và giành tình yêu cho quê hương miền núi, những con người miền núi giản dị, chân thật, tự hào về truyền thống văn hóa, bản sắc dân tộc mình

Về nghệ thuật, ở giai đoạn 1954 – 1975 ta thấy rõ 3 xu hướng nghệ thuật trong sáng tác của các nhà thơ:

Thứ nhất, đó là xu hướng có sự ảnh hưởng sâu sắc của thi pháp thơ ca

dân gian Ở xu hướng này có thể kể đến nhà thơ Bàn Tài Đoàn, Cầm Biêu, Lương Quy Nhân, Hoàng Nó, Lò Văn Cậy, Mã Thế Vinh…Trong đó, Bàn Tài Đoàn là người trung thành với thể thơ ca truyền thống lâu bền nhất Thơ ông ít yếu tố hiện đại, mà chủ yếu là cách nói dung dị hàng ngày của dân tộc Dao, ông

xa lạ với cách nói bóng gió, trau chuốt Dù là so sánh, ví von thì ông cũng diễn đạt một cách cụ thể, rất ít ẩn dụ Và khi đọc thơ ông, ta luôn cảm nhận được

“cuộc sống thứ hai” của các bài thơ đó:

Hôm nay gặp bạn trên đường Việt Bắc

Trang 27

Xưa nay trên đường chỉ gặp con hươu

(Nam Bắc gặp nhau)

Tác giả Cầm Biêu cũng vậy, ông luôn giữ được nét đặc trưng của một người làm thơ dân tộc truyền thống:

Mường của anh có cầu gang, cầu sắt

Bản của em có cầu lim lõi chắc…

Thứ hai, xu hướng có sự ảnh hưởng rõ nét của thi pháp thơ hiện đại Ở

xu hướng này, các nhà thơ bước đầu có ý thức về việc cần phải sáng tác như thế nào để có thể một lúc thỏa mãn cả hai yếu tố truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế Tiêu biểu là nhà thơ Nông Quốc Chấn Ông từng đi nhiều nơi, nhiều nước trên thế giới, tiếp xúc với nhiều vùng đất, con người khác nhau, càng khiến những con người như ông thêm yêu, thêm nhớ nguồn cội:

Bản tôi là dân cày

Người Nùng người Thổ

Cách xa Poragơ muôn ngàn cây số

Chưa biết núi sông Tiệp giống đất Việt những gì…

(Chào các đồng chí)

Nhà thơ Cầm Biêu trong bài Nhớ bản cũ cũng đã viết:

- Mười bản không bằng bản cắt rốn

- Mười chốn không bằng chốn chôn rau

Còn Triều Ân thì viết:

Chào xóm nhỏ, có cái nôi xưa cất cao trên gác

Có nếp nhà sàn nuôi em lớn khôn…

Trang 28

(Xóm nhỏ)

Các tác giả đã có sự trăn trở, băn khoăn, tìm tòi, thể nghiệm về việc sáng tác, về đổi mới hiện đại hóa thơ ca, về việc làm thơ song ngữ…như nhà thơ Vương Anh, Lò Văn Cậy, Nông Viết Toại, Cao Hải Sơn…Có khá nhiều tác phẩm thơ đã được ghi nhận và nhiều người biết đến, có một số bài đã đạt được

độ “hoàn thiện”, vừa có tính hiện đại, vừa có tính truyền thống, vừa đặc sắc, vừa đậm bản sắc dân tộc nhưng vẫn có tính mới mẻ, như bài Cơm mường Vó,

lúa mường Vang, Tình còn, tình chiêng, Cây sáo gọi tình của Vương Anh; Lời

mẹ, Hạt tình của Lò Văn Cậy; Mối tình đầu của Cầm Biêu…

Thứ ba, xu hướng có sự kết hợp nhuần nhuyễn của cả hai yếu tố truyền

thống và hiện đại Có thể thấy rõ điều này ở nhà thơ Vương Anh Tác giả luôn quan tâm tới việc dùng hình tượng chi tiết, ngôn ngữ trong văn học truyền thống

để biểu hiện con người, cuộc sống mới bằng một giọng điệu riêng, giọng điệu của lời nói trực tiếp của dân tộc Mường Cho nên thơ ông có những câu dài, câu ngắn khác nhau:

Mẹ chờ con trai lại

- Tay mày mới sờ máy, mở tao nhìn!

Mẹ nhìn con gái đến

- Tay mày cầm súng có hay…

(Hoa trong mường)

Câu thơ giản dị, mộc mạc nhưng vô cùng sâu sắc Người con trai, con gái không cần nói, chỉ lặng lẽ xòe bàn tay, chính cái lặng lẽ đó đã nói lên rất nhiều

điều, bàn tay không chỉ sờ máy, cầm súng, mà còn làm nhiều việc khác nữa

Đấy cũng là sự tìm đường đúng đắn của Vương Anh trong sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại Nhà thơ Nông Quốc Chấn đã nhận xét về thơ

Vương Anh “Dám nghĩ, dám khám phá, vận dụng những hình tượng cũ trong

các tác phẩm mới” Như trong bài “Cơm Lam”, Vương Anh viết cũng với

giọng điệu như vậy:

Trang 29

Hương cơm đất mẹ

Chở gié lúa vào đời

Anh đi chín bản mười mường

Nhớ vốc gạo nương ngần tay em lắm!

Bên cạnh đó, với những bài thơ như Sao chóp núi, Trăng mắc võng, Tình

còn… Vương Anh đã sớm tạo cho mình có một phong cách, tiếng nói riêng,

đóng góp vào thơ các dân tộc thiểu số Có thể nói, đây là một xu hướng tích cực, phù hợp với thời kỳ mới của đất nước, phù hợp với nhu cầu đông đảo của người đọc, nhất là với những độc giả là người dân tộc thiểu số

Có thể nói rằng, đây là thời kỳ “đua nở” của thơ ca các dân tộc thiểu số

Với cả ba xu hướng này làm nên sự phong phú trong nghệ thuật thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam Trong đó, xu hướng truyền thống mà hiện đại sẽ trở thành một xu hướng chính của thơ ca dân tộc thiểu số ở giai đoạn sau này

Nhìn chung, các tác phẩm thơ ca thời kỳ 1945 – 1954 và 1954 – 1975 đều phản ánh lòng yêu nước, yêu quê hương, lòng tự hào, tự tôn dân tộc của đồng bào miền núi Hiện thực cuộc sống khổ cực của đồng bào miền núi dưới

sự áp bức bóc lột của giặc Pháp và lũ tay sai; lòng căm thù giặc sâu sắc và tinh thần đấu tranh dũng cảm, một lòng theo Đảng, theo Bác kháng chiến trường kỳ đều được phản ánh một cách sinh động, mộc mạc nhưng xúc động lòng người Đặc biệt, hình ảnh cuộc sống và con người Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống Pháp 9 năm đã trở thành nguồn cảm hứng chính để tạo nên những áng thơ đầy tính hiện thực nhưng cũng đậm chất trữ tình, đằm thắm, là đề tài chính của nhiều bài thơ hay, tiêu biểu của thời kỳ này

Cùng với đó là những trang viết về cuộc sống mới, con người mới trong kiến thiết, xây dựng lại đất nước ở khu vực miền núi sau ngày hòa bình lập lại

Đó là niềm tin yêu và sự biết ơn sâu sắc của đồng bào dân tộc thiểu số đối với Đảng và Bác Hồ kính yêu Đó là khí thế hăng say lao động xây dựng cuộc sống

Trang 30

mới, phản ánh cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất ở miền Nam…

Với đội ngũ sáng tác đông đảo và số lượng lớn các tác phẩm với những tìm tòi, đổi mới trong nghệ thuật sáng tác, thơ ca giai đoạn 1945 – 1975 đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của thơ ca dân tộc nói chung và là tiền đề cho

sự phát triển thơ ca dân tộc thiểu số ở giai đoạn tiếp theo

1.1.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay:

Có thể nói, đây là giai đoạn thơ ca các dân tộc thiểu số phát triển rất mau chóng Chưa bao giờ đội ngũ những người làm thơ lại đông đảo đến thế, tạo nên một mùa xuân thứ hai với một vườn hoa thơ dân tộc đầy hương sắc, góp phần quan trọng vào sự phát triển mạnh mẽ chung của đời sống thơ ca nước nhà Có nhiều nguyên nhân làm nên bức tranh tươi sáng này, nhưng có một nguyên nhân không thể bỏ qua là đất nước đã hoàn toàn giải phóng, non sông liền một dải và công cuộc đổi mới toàn diện, sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực văn học nghệ thuật, do Đảng ta chủ trương và trực tiếp lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi

Đội ngũ tác giả thơ đông đảo với nhiều thế hệ Các tác giả giai đoạn đầu

vẫn sáng tác đều đặn Nông Quốc Chấn có Dòng thác (1977), Bài thơ Pác Bó (1982), Suối và biển (1984); Bàn Tài Đoàn có Trên núi vẫn là nơi ta ở (1979),

Bước đường tôi đi (1985), Ba con đường (1995), Tìm ban rừng (1999), Bó đuốc sáng (2002); Vương Anh có Hoa li- pa yêu (1989), Rượu mặn (1993), Lá đắng

(1993), Tình Viêng Chăn (2000); Vương Trung có Trường ca Sông Nậm Rốm

(1998)…

Đặc biệt, thơ ca các dân tộc thiểu số dường như trẻ lại với các tên tuổi

như: Y Phương có Tiếng hát tháng giêng (1986), Lửa hồng một góc (1987), Lời

chúc (1991), Đàn then (1996), Chín tháng (2000), Ngược gió (2009) ; Lò

Ngân Sủn có Chiều biên giới (1989), Những người con của núi (1990), Đám

cưới (1992), Ngược dốc (1993), Dòng sông mây (1995), Chợ tình (1995), Con

Trang 31

của núi (1996), Đầu nguồn cuối nước (1997), Người đẹp(1999) Pờ Sảo Mìn

có Cây hai ngàn lá (1992), Bài ca hoang dã (1993), Mắt lửa (1998), Con trai

người Pa Dí (2001), Cung đàn biên giới (2002) ; Lâm Quý với Điều có thật

từ câu dân ca (1998), Tình thơ Cao Lan (1997) , Dương Thuấn có Cưỡi ngựa

đi săn (1991), Đi tìm bóng núi(1993), Đi ngược mặt trời (1995), Hát với sông Năng (2001) , Mai Liễu có Suối làng (1994), Mây vẫn bay về núi (2001) ;

Dư Thị Hoàn có Lối nhỏ (1998), Bài mẫu giáo sáng thế (1993) ; Triệu Kim Văn có Hoa núi (1990), Mùa sa nhân (1994), Lá tìm nhau (1999), Con của núi (2002) ; Lò Cao Nhum có Giọt sao trở về (1995), Rượu núi (1996)…; Hùng Đình Quý có Người Mông nhớ Bác Hồ, Nếu sai tôi sẽ chết không nhắm mắt,

Chỉ vì quá yêu ; Bùi Thị Tuyết Mai có Mưa trong nhà (1998), Trầu đỏ môi ai

(1999), Nơi cất rượu (2003), Mường trong (2006)

Cho tới giai đoạn này, nhiều dân tộc thiểu số mới có tiếng thơ đại diện tiêu biểu cho hồn điệu của dân tộc mình như Pờ Sảo Mìn (Pa Dí), Lò Ngân Sủn (Giáy), Lâm Quý (Cao Lan), Dư Thị Hoàn (Hoa), Bùi Thị Tuyết Mai (Mường) Chưa khi nào số lượng các nhà thơ tài năng, các tập thơ hay lại xuất hiện đông đảo đến như vậy Hơn nữa, thơ đã bắt nhịp với sự đa chiều của những bộn bề, lo toan trong cuộc sống thường nhật nên được công chúng đón nhận nồng nhiệt hơn

Các nhà thơ đã phản ánh một cách sinh động hình ảnh thiên nhiên, cuộc sống, con người miền núi với lòng tự hào, tự tôn dân tộc sâu sắc trong thời đại mới Họ ca ngợi và tự hào về quê hương miền núi giàu bản sắc, khẳng định tầm vóc và vị thế lớn lao của con người miền núi với cảm hứng lãng mạn, vui tươi Quê hương miền núi chính là một phần quan trọng góp phần hình thành nên hồn thơ của các nhà thơ dân tộc thiểu số Chính vì vậy, họ lấy quê hương là đề tài chủ đạo trong sáng tác của mình Cảm hứng khám phá, sáng tạo được khơi dậy một cách mãnh liệt trong từng cây bút, trong từng hồn thơ Với tình yêu quê hương của mình, nhà thơ Mai Liễu viết:

Suối làng tôi đã bắt đầu từ nơi ấy

Trang 32

Là ngọn nguồn trong trẻo của đời tôi…

(Suối làng trong trẻo)

Mỗi tên đất, tên làng của quê hương đã trở thành phần máu thịt thiêng liêng trong mỗi nhà thơ Thơ Dương Thuấn có Bản Hon, Khuổi Luông, Pác Nặm, Núi Thuyền Đồng; Thơ Y Phương lại có Khau Liêu, sông Hiến, sông Bằng, làng Hiếu Lễ ; vùng đất Nguyên Bình- Cao Bằng trong thơ Bàn Tài Đoàn, Cao nguyên đá ở Đồng Văn - Hà Giang, Sa Pa - Lào Cai trong thơ của

Mã A Lềnh , Lào Cai, Sa Pa, chợ Cốc Lếu trong thơ Lò Ngân Sủn; Nà Hang, Chiêm Hóa, Suối Tiên, Nậm Thi trong thơ Mai Liễu

Quê hương còn là những phong tục, tập quán gắn với lịch sử, văn hóa, văn minh; là người thân yêu, ruột thịt, đồng bào cùng sống trên mảnh đất ấy

Từ đề tài quê hương, hình tượng con người miền núi trong thơ các dân tộc thiểu

số đã hiện ra với những phẩm chất cao quý, tốt đẹp Những người con trai, con gái miền núi chân thành, hiền lành, chất phác nhưng rất mạnh mẽ, quyết liệt, dũng cảm và cũng rất đa tình, lãng mạn, hồn nhiên Các nhà thơ dân tộc thời

kỳ này đã tìm thấy bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số trong hình tượng con người miền núi, đặc biệt là hình tượng người phụ nữ miền núi Trong những trang phục truyền thống, họ chính là người thể hiện và lưu giữ nét đẹp quê hương Những cúc bạc, áo cóm, váy hoa, khăn Piêu, cánh áo chàm tươi, không chỉ là trang phục mà còn chứa đựng những yếu tố văn hóa đậm bản sắc:

Cúc bạc, áo cóm, khăn Piêu

Nếu được tôn tạo đáng yêu nhường nào Sánh cùng gấm vóc, lụa đào

Em xòe, em múa, khác nào rồng bay

(Với văn công tỉnh nhà - Cầm Biêu) Một điểm đáng chú ý ở thời kỳ này là các nhà thơ miền núi đã cố gắng

tìm kiếm, phát hiện và khẳng định cái thần thái, cái hồn vía, cái thế và tầm vóc

của dân tộc mình trong quá trình vận động của lịch sử dân tộc Hay nói cách

khác, đó chính là sự tìm kiếm và vươn tới cái Chân - Thiện - Mĩ trong cuộc

Trang 33

sống con người miền núi hôm nay Đó là những phẩm chất tốt đẹp, cao quý, vừa hiền lành, chất phác, hồn nhiên nhưng cũng rất mạnh mẽ:

Em hiền lành

Em chậm chạp

Em đội chum rượu đến với anh Người con gái có bàn chân to khỏe

(Em- cơn mưa rào ngọn lửa - Y Phương)

Hình ảnh con người miền núi, đặc biệt là những người phụ nữ thân yêu bao giờ cũng mang lại cho các nhà thơ nhiều xúc cảm sâu đậm nhất Họ thường viết về người vợ, người mẹ của mình với lòng biết ơn vô hạn, với Y Phương người phụ nữ là nơi bắt đầu cho tình yêu, sự nghiệp và cuộc đời ông bởi:

Những gì anh có được

Đều bắt đầu từ em…

(Em - Cơn mưa rào - ngọn lửa)

Với Dương Thuấn, người vợ chính là một tài sản vô giá trong nhà mà

ông bỗng nhận ra:

Nghe tiếng cọn cót két đêm qua

Sáng nay bỗng yêu em đến thế

Em như một kho báu trong nhà

Con gái miền núi thường mang một vẻ đẹp khỏe mạnh, vững vàng, chất phác và đầy tính phồn thực, chứ không phải liễu yếu đào tơ:

Người con gái có bàn chân to khỏe

Đạp qua bao nhiêu đau khổ

(Em - Cơn mưa rào ngọn lửa - Y Phương)

Còn người con trai miền núi thì gân guốc, thô mộc và mạnh mẽ:

Trán dô

Mũi thô

Môi dày

Trang 34

Chân đi dép bốn hai vẫn thừa năm ngón

(Bài ca thứ hai – Y Phương)

Cuộc sống của những con người miền núi còn nhiều vất vả, khó khăn nên có lúc nỗi vất vả, nhọc nhằn còn in dấu nơi dáng hình chậm chạp, nặng

nhọc, còm cõi của họ Cao Sơn Hải viết Người đàn bà vùng cao, Y Phương viết

Bài ca thứ chín, Mai Liễu viết Gọi vía, Mùa màng của mẹ, Nông Thị Ngọc

Hòa viết Tìm lại tuổi thơ

Điều làm nên sự khác biệt trong hình tượng con người miền núi đối sánh với người miền xuôi không chỉ ở dáng vẻ bề ngoài ấy mà chính là lối sống, suy nghĩ, là tâm hồn họ Những con người miền núi rất giàu tình cảm và họ biểu

- Đừng để cầu thang tôi mọc cỏ gà

(Người xứ mây - Dương Thuấn) Thế giới tâm hồn con người cũng được các nhà thơ giai đoạn này biểu đạt một cách cụ thể và phong phú hơn Đó có thể là tiếng lòng của những con người bình thường phải oằn mình với gánh nặng áo cơm để duy trì sự sống, mà vẫn trăn trở về nghề nghiệp và các giá trị văn hóa truyền thống Nhiều nhà thơ

đã sáng tác những bài thơ có tính triết lý, nhiều sự suy tư về con người, cuộc

đời Lò Ngân Sủn có bài Người đẹp; Cầm Biêu với Chỉ cần một loại người;

Ngọt ngào, xảo trá của Lò Vũ Vân; Lời mẹ của Mai Liễu; Mưa xuân của Bùi

Thị Tuyết Mai

Trang 35

Bên cạnh đó, các nhà thơ còn luôn có ý thức khẳng định quá trình “hội

nhập” của dân tộc mình trong cuộc sống thời hiện đại hôm nay Trước hết đó

là sự “hội nhập” với cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với xã hội hiện đại

Người miền núi không sống tách rời với cuộc sống của người miền xuôi, kể cả cuộc sống nơi đô thị thời kỳ mở cửa Họ chủ động đón nhận bằng cách tự vươn lên để hòa vào cuộc sống thời hiện đại mà vẫn không đánh mất đi bản sắc của mình Đó là một điều vô cùng đáng quý, đáng trân trọng ở họ Cũng chính bởi điều đó mà họ đã khẳng định được vị thế, tầm vóc của chính mình trong cuộc sống hôm nay Có nhiều bài thơ được cất lên từ tư tưởng này của chính các nhà

thơ miền núi Dương Thuấn có Quê hương, Biển đông; Bàn Tài Đoàn có Đêm

nằm không ngủ, Được làm chủ, Hai bàn tay…;Triệu Kim Văn có Đất nước rộng dài; Lương Định có Lời người cha lũng núi; Mùa A Sấu có Ma ly pho, Núi mọc trong gương; Lò Ngân Sủn có Những chàng trai của núi, Chiều biên giới, Người mình; Phùng Quỳnh có Trai Tạng Tô gái đồi mường; Giàng A Páo

có Mặt trời hoa mây, Rừng biếc xanh…

Cũng trong giai đoạn này, thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam rất chú

ý những mảng đề tài khác – phản ánh hiện thực cuộc sống với tính nhân văn cao Đó là đề tài về tình yêu Các nhà thơ, đặc biệt là các nhà thơ nữ đã tự bộc

lộ thế giới tâm hồn mình nhiều hơn

Tôi muốn Người nâng lên

Dịu dàng như Mẹ

Hơi ấm người đàn ông từng trải

Xoa dịu trái tim này…

(Về người đàn ông trẻ tuổi - Bùi Thị Tuyết Mai)

Có lúc là những suy tư đầy chất nhân văn của người thứ ba:

Anh đến thăm em

Có thấy dáng chị ấy thẫn thờ đợi cửa

Anh ngắm nhìn em

Trang 36

Có thấy hình chị ấy ôm gối thở dài ( )

Anh ơi

Anh mãi là mặt trời

Của người vợ đáng thương ấy

Lẽ ra trên thế gian này

Đừng nên có em

(Chị ấy – Dư Thị Hoàn)

Nhưng vượt qua tất cả những suy tư, thậm chí là sự khủng hoảng, trống rỗng, cô đơn, điều mà các nhà thơ dân tộc thiểu số nói riêng và người Việt Nam nói chung luôn hướng tới là sự tự tin, yêu đời để vươn tới những giá trị nhân bản của con người:

Dù tóc ta có bạc

Nhưng bên gió trời trở thơm hương cốm

Xanh nhần nhật tương lai…

(Đi từ miền gió hoang - Lò Vũ Vân)

Thiên nhiên, con người miền núi đối với họ luôn đáng trân trọng Mà cái đáng yêu, đáng quý nhất đối với họ chính là cái đẹp, cái đẹp của tình người, tình núi rừng Người miền núi rất giàu tình cảm, mến khách:

Đã uống vắt kiệt chum mà uống

Đã say để tràn tình mà say

Nào bạn ơi

Cụng bát cùng rẻo cao muôn đời

(Rượu núi – Lò Cao Nhum)

Đây chính là nét đẹp rất đặc trưng trong đời sống tinh thần của họ Các nhà thơ đã thể hiện một cách sinh động và cụ thể trong các sáng tác của mình,

và đây cũng là những phát hiện độc đáo của các tác giả thơ dân tộc về tính cách

và bản chất của con người miền núi

Trang 37

Về nghệ thuật, một điều dễ nhận thấy là hầu hết các nhà thơ dân tộc thiểu

số giai đoạn 1975 đến nay sáng tác đã chuyên nghiệp hơn, vì họ được đào tạo bài bản và may mắn hơn thế hệ trước là được sống trong xã hội mới, một thời

kỳ mới của dân tộc, bởi công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội…của Đảng và đất nước Họ có điều kiện để học hỏi, giao lưu và trao đổi trong sáng tác Chính vì vậy, thơ ca thời kỳ này đã có tính hiện đại mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc Các sáng tác dễ đọc hơn, gần gũi hơn với đông đảo bạn đọc

Bên cạnh đó, các nhà thơ còn có sự sáng tạo đặc biệt trong ngôn ngữ thơ với tính tạo hình cao, đã làm nên những nét đẹp riêng, lạ và hấp dẫn Như bài

“Người đẹp” của Lò Ngân Sủn:

Người đẹp trông như tuyết

Chạm vào lại thấy nóng

Người đẹp trông như lửa

Sờ vào lại thấy mát…

Về mặt thể loại, thơ ca dân tộc thiểu số thời kỳ này rất phong phú và đa dạng Do việc mở rộng đề tài phản ánh, tiếp cận với thi pháp thơ hiện đại, lại được giao lưu, học tập và sự đổi mới tư duy, các nhà thơ đã thỏa sức sáng tạo với các hình thức thơ khác nhau để thể hiện tâm tư, tình cảm và tư tưởng của mình Tất cả các thể thơ truyền thống như thơ Đường luật, thơ lục bát, thơ tứ tuyệt, thơ bảy chữ, thơ tự do….với những câu chữ không giới hạn đã được các nhà thơ sử dụng để sáng tác

Nói chung, thơ ca các dân tộc thiểu số sau năm 1975 đến nay đã có những bước tiến nhảy vọt cả về lượng lẫn về chất Các thế hệ nhà thơ người dân tộc thiểu số đã tiếp nối nhau ngày càng đông đảo hơn, được học tập và trang bị tri thức một cách bài bản hơn Chính vì vậy, họ càng thêm yêu, thêm tự hào và thêm tinh thần trách nhiệm đối với sự phát triển của nền văn học nói chung, nền thơ ca các dân tộc thiểu số nói riêng Các nhà thơ luôn ý thức gìn giữ và

Trang 38

thể hiện một cách sinh động, một cách nghệ thuật bản sắc văn hóa dân tộc trong các sáng tác của mình Nói cách khác, những tác phẩm ấy vừa có tính hiện đại nhưng vẫn đậm đà bản sắc dân tộc Mỗi cây bút có những nét đặc sắc, độc đáo riêng nhưng tất cả đã tạo nên một mảng thơ ca đa thanh, đa sắc, góp phần vào vườn thơ ca Việt Nam hiện đại

1.2 Nhà thơ Ma Trường Nguyên - cuộc đời, con người và sự nghiệp sáng tác:

1.2.1 Vài nét về cuộc đời, con người nhà thơ Ma Trường Nguyên

Ma Trường Nguyên là tên thật, cũng là bút danh của nhà thơ dân tộc Tày sinh ngày 17/5/1944 tại xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

Trung Trung Đỉnh gọi ông là "người đốt lửa bừng trái tim" với "dáng vẻ chân

tình đến thật thà và hiền lành”, và được coi là một trong những tác giả được

nhiều người biết đến của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI

Ma Trường Nguyên sinh ra và lớn lên bên dòng Suối Quỵnh nhỏ bé, thuộc

xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên Ngay từ thuở thơ ấu, ông đã đắm mình trong những câu chuyện cổ tích, những điệu hát Sli, hát Lượn của dân tộc mình Điều đó đã ảnh hưởng rất nhiều đến việc sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ sau này như nhà văn bộc bạch Và cũng chính mảnh đất quê hương ấy đã in dấu khuôn mặt những người thân yêu của ông, nơi ghi dáng hình xứ sở, để rồi

có những ảnh hưởng đến tâm hồn, đến quan niệm nghệ thuật của ông Quê hương ông cũng từng trải qua những biến dời của lịch sử, là nơi cuộc đời Ma Trường Nguyên được đắm mình, trải nghiệm với từng việc làm, từng sự kiện, cả những cái được và cái mất, cái vui, cái buồn của đồng bào dân tộc trong những biến động chung của đất nước trong thế kỷ XX

Ma Trường Nguyên hội tụ trong tâm hồn những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc mình Ngay từ nhỏ, nhà văn đã được đắm mình trong một không gian giàu nét văn hóa Ông nội của nhà văn là người thuộc rất nhiều câu chuyện cổ tích, những bài hát ví, hát lượn; cha là người hay chữ Nho, chữ

Trang 39

Nôm Tày và hát lượn hay nhất vùng Vùng núi quê hương ông có thiên nhiên tươi đẹp, giàu truyền thống văn hóa và lịch sử Chính môi trường gia đình, quê hương đã khiến Ma Trường Nguyên có động lực mạnh mẽ để học tập, trau dồi vốn sống, vốn văn hóa, rèn luyện bút lực, sức sáng tạo Có thể nói, tất thảy những giá trị văn hóa độc đáo ấy đã góp phần tạo nên quan niệm thẩm mỹ của ông Chính tình yêu quê hương tha thiết, sự gắn bó máu thịt với dòng Suối Quỵnh chảy từ chân núi Hồng, thác Hin Lạn nước tuôn trắng xóa, những đồi

cọ, rừng sim… đã làm nên cốt cách Ma Trường Nguyên thấm đậm trong những trang văn, trang thơ giàu chất dân tộc miền núi nói chung và dân tộc Tày của ông nói riêng

Hành trình đến với văn chương của Ma Trường Nguyên có lẽ là duyên

nợ Môi trường văn hóa gia đình, quê hương, tố chất văn thơ trong Ma Trường Nguyên và sự động viên, cổ vũ của bạn bè, đồng nghiệp đã giúp ông vững bước

đi trên con đường sáng tác đầy khó khăn, thử thách Cuộc đời của ông trải qua nhiều gian nan, gắn liền với công cuộc đấu tranh giải phóng, bảo vệ và xây dựng tỉnh Thái Nguyên Sau thời gian tham gia quân đội, phục vụ chiến đấu trong đơn vị pháo cao xạ, Ma Trường Nguyên làm phóng viên báo Quân khu

3, là biên tập viên Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc Sau đó, Ma Trường Nguyên học Trường viết văn Nguyễn Du, ngôi trường đã đào tạo cho nền văn học nước nhà những tác giả tài danh Tốt nghiệp Trường viết văn Nguyễn Du, Ma Trường Nguyên về công tác tại tỉnh Thái Nguyên quê nhà Trải qua quá trình công tác, nhà thơ đã từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong các cơ quan tỉnh Thái Nguyên: Phó giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin (1985), Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên (1998 - 2003), Bí thư Đảng đoàn Hội Văn nghệ, Tổng biên tập báo Văn nghệ tỉnh Thái Nguyên Những trải nghiệm cuộc đời ấy đã giúp cho Ma Trường Nguyên có được một vốn sống, vốn văn hóa phong phú Chính vốn sống, vốn văn hóa thấm đẫm tinh thần dân tộc ấy đã dệt

Trang 40

thành những áng thơ dạt dào tình yêu quê hương, xứ sở trong sáng tác của nhà thơ

Một điều đáng chú ý ở đời sống và đời viết của Ma Trường Nguyên là dù bận rộn với những công việc từ hành chính đến quản lý thì ông vẫn dành phần lớn tâm lực cho văn thơ Ma Trường Nguyên viết như một sự trải nghiệm, viết như một sự thôi thúc trả món nợ cuộc đời như ông đã từng chia sẻ

Có thể nói, chính tình yêu tha thiết cuộc sống, con người và văn hóa quê hương là động lực để nhà thơ luôn học tập, tìm tòi, sáng tạo và đồng thời chính tình yêu ấy đã tinh lọc vốn sống, tạo nên cốt cách dân tộc miền núi thấm đẫm trong các sáng tác của Ma Trường Nguyên

1.2.2 Sự nghiệp sáng tác của Ma Trường Nguyên:

Ma Trường Nguyên sáng tác từ rất sớm Năm 16 tuổi, ông đã khởi đầu

sự nghiệp văn chương của mình với bài thơ Cờ hồng được in trong tập Tiếng

trống đông xuân do Ty văn hóa Thái Nguyên xuất bản Nhuận bút mà nhà thơ

nhận được rất đặc biệt, đó là năm cuốn sách trong "Tủ sách lí luận - hướng dẫn

sáng tác" Đối với Ma Trường Nguyên, những quyển sách này giống như những

người thầy đầu tiên dìu dắt ông trong những bước đi chập chững đầu tiên vào

sự nghiệp sáng tác

Giai đoạn từ 1960 - 1990, Ma Trường Nguyên chủ yếu sáng tác thơ in

trên các báo, tạp chí Những tập thơ in chung có: Đường qua kỉ niệm (1975),

Rừng sáng (1980), Quê núi (1987) Và các tập thơ riêng: Mát xanh rừng cọ

(1985), Trái tim không ngủ yên (1988) Ma Trường Nguyên từng tâm sự “Cái

gì mà thơ không nói được thì tôi nói trong tiểu thuyết; và ngược lại, cái gì không nói được trong tiểu thuyết thì tôi nói trong thơ” Năm 1991, tiểu thuyết

đầu tiên được ông cho trình làng với tên gọi "Mũi tên ám khói" Và liên tiếp 8

năm tiếp theo, nhà thơ đã cho ra đời tất cả 6 cuốn tiểu thuyết, một tập truyện kí:

- Gió hoang (1992)

Ngày đăng: 26/03/2021, 09:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w