LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “Thơ Thái Nguyên dưới góc nhìn phê bình sinh thái Qua thơ Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Phan Thái” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, hoàn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THỊ LAN
THƠ THÁI NGUYÊN DƯỚI GÓC NHÌN SINH THÁI
(Qua thơ Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Phan Thái)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THỊ LAN
THƠ THÁI NGUYÊN DƯỚI GÓC NHÌN SINH THÁI
(Qua thơ Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Phan Thái)
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS HOÀNG ĐIỆP
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Thơ Thái Nguyên dưới góc nhìn phê bình sinh
thái (Qua thơ Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Phan Thái)” là kết quả nghiên cứu
của riêng tôi, hoàn toàn không sao chép của bất cứ ai Các kết quả của đề tài là trung thực và chưa được công bố ở các công trình khác
Nội dung của luận văn có sử dụng tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí, các trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Trần Thị Lan
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Hoàng Điệp - Trường Đại học Sư phạm
- Đại học Thái Nguyên về sự hướng dẫn tận tình, đầy đủ, chu đáo và đầy tinh thần trách nhiệm của cô trong toàn bộ quá trình em hoàn thành luận văn
Em xin trân trọng cảm ơn sự tạo điều kiện giúp đỡ của Ban chủ nhiệm Khoa Ngữ Văn và các thầy cô giáo Phòng đào tạo Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ em thực hiện đề tài luận văn này
Em cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên và nhiệt tình giúp đỡ em trong thời gian hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Trần Thị Lan
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Đóng góp của luận văn 8
8 Cấu trúc luận văn 9
Chương 1 GIỚI THUYẾT CHUNG 10
1.1 Những vấn đề chung về sinh thái và văn học 10
1.1.1 Khái niệm sinh thái và phê bình sinh thái 10
1.1.2 Khái niệm văn học 12
1.1.3 Mối quan hệ giữa sinh thái và văn học 14
1.2 Thơ Thái Nguyên và hành trình kiến tạo những giá trị sinh thái 21
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển thơ Thái Nguyên 21
1.2.2 Tinh thần sinh thái trong thơ Thái Nguyên 23
1.3 Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Phan Thái và quá trình sáng tác 25
1.3.1 Quá trình sáng tác của nhà thơ Ma Trường Nguyên 25
1.3.2 Quá trình sáng tác của nhà thơ Võ Sa Hà 28
1.3.3 Quá trình sáng tác của nhà thơ Phan Thái 31
Trang 6Chương 2 CẢM QUAN SINH THÁI TRONG SÁNG TÁC CỦA
CÁC NHÀ THƠ THÁI NGUYÊN (Qua thơ Ma Trường Nguyên, Võ
Sa Hà, Phan Thái) 35
2.1 Cảm quan sinh thái tự nhiên trong thơ Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Phan Thái 35
2.1.1 Sự tuyệt mĩ của sinh thái tự nhiên trong thơ Ma Trường Nguyên 35
2.1.2 Sự kì vĩ của đại ngàn trong thơ Võ Sa Hà 44
2.1.3 Sự bình dị, thân thuộc của cảnh quan làng quê trong thơ Phan Thái 55
2.2 Những hệ lụy từ cuộc sống hiện đại ảnh hưởng tới môi trường sống 61
2.2.1 Cảm nhận sự giận dữ của tự nhiên trong thơ Ma Trường Nguyên 61
2.2.2 Nỗi buồn đô thị hóa trong thơ Võ Sa Hà 63
2.2.3 Làng hóa phố và sự chơi vơi trong thơ Phan Thái 66
Chương 3 NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN VẤN ĐỀ SINH THÁI TRONG THƠ THÁI NGUYÊN (Qua thơ Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Phan Thái) 73
3.1 Nhan đề mang ý nghĩa sinh thái 73
3.1.1 Khái niệm nhan đề và đặc trưng của nhan đề thơ 73
3.1.2 Nhan đề mang ý nghĩa sinh thái trong thơ Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Phan Thái 75
3.2 Ngôn ngữ mang đậm tinh thần sinh thái 77
3.2.1 Ma Trường Nguyên - ngôn ngữ nhẹ nhàng, sâu lắng 78
3.2.2 Võ Sa Hà - Ngôn ngữ giàu hình tượng 79
3.2.3 Phan Thái - ngôn ngữ mộc mạc, giản dị 83
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, con người đang phải đối mặt với tình trạng mất cân bằng sinh thái nghiêm trọng, quá trình đô thị hóa và sản xuất công nghiệp vừa vắt kiệt tài nguyên, vừa gây ô nhiễm môi trường Thứ nữa, từ góc độ nhân văn, sự chia tách con người khỏi môi trường đã làm méo mó nhân cách của mỗi cá nhân Rất có thể, hội chứng vô cảm trong
xã hội hiện đại cũng bắt nguồn từ chỗ con người không còn biết rung cảm trước vẻ đẹp của tự nhiên, khi mà ánh điện thành phố đã “vô hiệu hóa” ánh trăng, máy điều hòa không khí đã làm thay chức năng của những làn gió mùa hạ, và sự kết nối nguyên sơ giữa con người với con người bị cắt đứt bởi thời buổi công nghệ số đã trở thành kênh giao dịch chủ yếu của con người và con người đô thị bị nhốt chặt trên các nhà hộp (building)
Hiện nay, thiên nhiên cũng đang càng ngày càng bị thu hẹp nhỏ dần bởi nhiều
lí do sự phá rừng, giảm diện tích rừng, dân số tăng, do di dân tự do bùng phát, … đã làm suy giảm tài nguyên rừng, tác không nhỏ đến môi trường sống khiến đất đai bị mất phì nhiêu, lụt lội, hoặc hạn hán xảy ra liên tiếp ảnh hưởng tới cuộc sống của con người Chúng ta đều biết rằng, phá hủy thiên nhiên cũng chính là phá hủy luôn cuộc sống chúng ta vì con người luôn cần không khí để thở để sống Đặc biệt, sau những giờ làm việc căng thẳng con người cũng cần có không khí trong lành để thư giãn, thưởng thức những âm thanh trong trẻo của cuộc sống Để ngẫm và để nhìn lại những gì đã và đang trôi đi từng ngày
Con người ở thời đại công nghiệp này có tâm trí luôn luôn bị động như robot suốt ngày, làm việc lắp ráp các bộ phận trong dây chuyền sản Con người chỉ biết làm
và làm họ không ai biết nhau, xong việc là về nhà Tâm lý bị dồn ép Sự tiến bộ kỹ thuật từ nhiều thập niên gần đây với sự tăng tốc làm phá vỡ cấu trúc các xã hội cổ truyền, lối sống
Cuộc cách mạng kỹ nghệ đã đem đến cho nhân loại xe hơi, nhà máy nhưng ngày nay, chen chúc trong các đô thị lớn (Hà Nội, Đà nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh v.v ), với xe cộ ngổn ngang chạy bằng xăng dầu, với nhà máy nhiệt điện chạy bằng than đá, với các khu kỹ nghệ toả ra mỗi ngày trên bầu trời hàng triệu tấn khí độc Và đương nhiên con người đã và đang phải gánh chịu hậu quả đó
Và đương nhiên, dân số đông dĩ nhiên sẽ kéo theo tiêu thụ về thực phẩm, về năng lượng, về khoáng sản…, trong khi đó thì tài nguyên thiên nhiên không những
Trang 8suy thoái về lượng (rừng ít đi, đất đưa vào xây cất, nước ngầm thấp xuống v.v.) mà còn về phẩm (sa mạc hoá, mặn hoá, ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí ) và đến một lúc khi tiêu dùng trong kinh tế vượt quá sức sản xuất của vốn tạo hoá sẽ để lại hậu quả rất nặng nề Môi trường sinh thái ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng, đời sống của con người bị ảnh hưởng rất lớn Cũng phải nói thêm là năng lượng và vật chất bị phế thái này không thể trở lại trạng thái ban đầu Sản xuất công nghiệp kéo theo rất nhiều hệ lụy như tiêu thụ điện, nguyên liệu, khí thải đổ ra sông suối, ra ngoài không khí các phế thải làm ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái, động thực vật vì vậy ngày càng bị thu hẹp và hủy diệt
Là một người con sinh ra và lớn lên ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và có hơn 10 năm gắn bó với mảnh đất Thái Nguyên, tôi muốn tìm hiểu nhiều hơn về môi trường sinh thái đã làm nên bản sắc của đất và người Thái Nguyên Chúng tôi muốn dành công trình nghiên cứu đầu tiên của mình để nghiên cứu về các tác giả thơ Thái Nguyên mà bản thân đã từng gặp gỡ và quen biết, kính trọng
Nhằm lí giải cắt nghĩa những nét đặc trưng của thơ Thái Nguyên để tìm hiểu về sự tác động của môi trường sinh thái đã tác động đến cuộc sống, lối sống của con người hiện đại ra sao? Nên tôi lựa chọn ba nhà thơ ở ba thế hệ để nghiên cứu Đây là một sự nỗ lực nhằm kiến giải sự tiếp kiến và giao thoa của môi trường sinh thái được biểu hiện trong thơ Thái Nguyên nói chung và ba nhà thơ nói trên Đó sẽ là nguồn tư liệu tham khảo cho rất nhiều người nghiên cứu, giảng dạy, học tập về văn học Thái
Nguyên Vì những lí do nói trên, chúng tôi chọn đề tài: “Thơ Thái Nguyên dưới góc
nhìn sinh thái (Qua thơ Ma Trường Nguyên - Võ Sa Hà - Phan Thái)” làm vấn đề
nghiên cứu cho luận văn của mình
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Những nghiên cứu chung về phê bình sinh thái trong thơ Việt Nam
Lý thuyết Phê bình sinh thái là vấn đề khá mới mẻ và chưa nhận được nhiều sự quan tâm ở Việt Nam Mới có một số công trình nghiên cứu về vấn đề sinh thái như:
Đỗ Văn Hiểu (2012), Phê bình sinh thái - khuynh hướng văn học mang tính cách tân,
Tạp chí phát triển nghiên cứu và khoa học, Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh; Nguyễn
Thị Tịnh Thi (2013), Phê bình sinh thái - nhìn từ lí thuyết giải cấu trúc, Văn học hậu
Trang 9hiện đại- lí thuyết và thực tiễn, Lê Huy Bắc chủ biên, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội;
Lê Lưu Oanh, Trần Thị Ánh Nguyệt (2016) Khuynh hướng phê bình sinh thái trong
nghiên cứu văn học, Tạp chí Lí luận phê bình văn học nghệ thuật, Số 41, Tháng 1 và
một số công trình nghiên cứu của các tác giả khác
Đáng chú ý là cuốn Văn xuôi Việt Nam hiện đại sau 1975 nhìn từ góc nhìn phê
bình sinh thái của tác giả Lê Lưu Oanh - Trần Thị Ánh Nguyệt; Cảm quan sinh thái trong văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam đương đại của PGS TS Đào Thủy Nguyên
đăng trên Tạp chí nghiên cứu văn học, số 7- 2016; Thơ mới từ góc nhìn sinh thái học văn
hóa của Nguyễn Đăng Điệp đăng trên Tạp chí nghiên cứu văn học, số 2 tháng 7/2014
Với ý thức về tầm quan trọng của việc phổ biến phê bình sinh thái trong văn học Việt Nam, Viện Văn học đã tổ chức buổi hội thảo quốc tế “Phê bình sinh thái: Tiếng nói bản địa - Tiếng nói toàn cầu” vào sáng 14/12/2017 tại Hà Nội
Tham dự Hội thảo có PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ - Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Phê bình VHNT Trung Ương; GS TS Nguyễn Quang Thuấn - Chủ tịch Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam; PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp - Viện trưởng Viện Văn học cùng đông đảo các học giả, nhà nghiên cứu, văn nghệ sĩ, các cơ quan truyền thông và những đối tượng quan tâm tìm hiểu vấn đề này tại Việt Nam
Phát biểu tại buổi hội thảo, GS.TS Nguyễn Quang Thuấn- Chủ tịch Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam nhấn mạnh: “Trên thế giới và Việt Nam trong những năm qua đang phải đối mặt với những thảm họa lớn về môi trường Điều này đặt ra những câu hỏi lớn rằng, các nhà văn cũng như các nhà nghiên cứu KHXH&NV sẽ làm gì để đóng góp phần bảo vệ và xây dựng môi trường sống xanh - sạch - đẹp?
Với tư cách một giảng viên, TS Đặng Lưu, Khoa Sư phạm Ngữ văn, Đại học Vinh cho rằng trong các lý thuyết về văn học, phê bình sinh thái có vẻ “cận nhân tình” hơn cả
Thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn, khác biệt và thành công - Kỷ yếu hội thảo thơ tại Hải Phòng, 15/ 5/ 2011, NXB Hội Nhà văn, 2011) Hệ sinh thái trong thơ Mai
Văn Phấn: những linh hồn trong bầu trời Khi Mai Văn Phấn tuyên ngôn trong thơ:
Trang 10“Muôn năm con người! Muôn năm thiên nhiên!” hay giãi bày trong đời: “(…) các nhà
thơ lần theo thơ ca nhằm khai mở tiếng nói mới, hoặc tìm lại âm sắc thuở hoàn nguyên
đã mất.“; “(…) thơ ca còn tìm cách đặt tên lại sự vật, định hình lại thế giới”; “Việc sáng tạo thi ca gần giống trạng thái bàng hoàng của một đứa trẻ lần đầu được nhìn thấy những hiện tượng kì lạ của thiên nhiên và khám phá những bí ẩn, phức tạp của con người”; “Mục đích của thi ca là tạo lập một từ trường, để trong không gian đặc biệt ấy, tất cả từ đồ vật đến linh hồn đều được cất tiếng nói, được công bằng như nhau trong một trật tự mới Những hình ảnh hiện lên trong không gian ấy là cánh cửa mở ra tương lai hoặc tìm về với quá khứ, hoặc tất cả cùng đồng hiện và đồng hành trong những thời khắc đặc biệt” (Trả lời tạp chí Thi Bình)
2.2 Những công trình nghiên cứu về vấn đề sinh thái trong thơ Thái Nguyên và thơ của Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Phan Thái
Trong thơ Thái Nguyên, vấn đề sinh thái ít nhiều đã được bàn đến Trong
cuốn Hiện đại mà dân tộc Ma Trường Nguyên có viết: “Người miền núi luôn tiếp
xúc với tiếng chim gọi bày thánh thót, tiếng thác dạt dào, tiếng gió thổi vi vu, tiếng thú gầm náo động Do sống giữa một vùng thiên nhiên như thế, phải đấu tranh với thú dữ để sinh tồn và bảo vệ mùa màng nên người miền núi có tác phong hùng dung, dữ dội… Mặt khác do sống giữa núi non hiểm trở… có lẽ do phải đứng trước thiên nhiên khổng lồ như muốn nuốt chửng mà con người miền núi dễ có tâm trạng
cô đơn, bất lực, tự ti? Chính vì vậy biểu tượng “quả núi”, “vực thẳm”, “khe sâu”
đã lặp đi lặp lại nhiều lần trong dân ca miền núi Trong bài “Mở núi”… cái khao khát giải phóng những thế lực thiên nhiên cản trở Thế nhưng con người vẫn nhỏ bé trước thiên nhiên “Móng chân anh đào núi đá mở đường/ Móng tay em cấu núi sắc dày họp chợ”[24,tr16] Ngoài ra, có thể kể đến các bài viết như Thái Nguyên, vùng
văn hóa đặc sắc, tác giả Ma Trường Nguyên, báo Vietnam.net; Thái Nguyên, một vùng di tích lịch sử, cách mạng, Ma Trường Nguyên, Hiện đại mà dân tộc, Nhà xuất
bản văn hóa dân tộc; Khắc khoải “miền kí ức” trong thơ Nguyễn Hữu Bài, (Hội VHNT Thái Nguyên 2004); Người “bạn với cỏ cây” vẫn đau đáu tình đời, (Hồ Thủy Giang, Tạp chí văn nghệ Việt Bắc)… Phác thảo ban đầu về thơ Ma Trường
Nguyên, (Nguyễn Thúy Quỳnh, Hội thảo nhà văn Ma Trường Nguyên - tác giả, tác
phẩm, HNVT Thái Nguyên)
Trang 11Đôi điều cảm nhận về thơ tình Ma Trường Nguyên qua tập “Bắc cầu vồng
thăm nhau”, (Nguyễn Đức Hạnh, Hội thảo nhà văn Ma Trường Nguyên- tác giả, tác
phẩm, HNVT Thái Nguyên)…
Trong bài Ma Trường Nguyên - Nhà văn, nhà thơ tình xứ mây, tác giả Lâm
Tiến (Hội thảo nhà văn Ma Trường Nguyên- tác giả, tác phẩm, HNVT Thái Nguyên)
có nhận xét: “Đã có nhiều nhà văn viết về Ma Trường Nguyên Nguyễn Trung Đỉnh
cho đó là người “Đốt lửa bằng tái tim” với “dáng vẻ chân tình đến thật thà và hiền lành” Ngô Quân Miện sau khi đọc xong thơ Ma Trường Nguyên như: “Bắt gặp cái mộc mạc, hồn nhiên của con người sống giữa thiên nhiên Những câu thơ không khắc họa không xoáy sâu nhưng để lại cái gì đó như một hương cây cỏ nguyên sơ, giữa một bầu không khí ban mai trong trẻo” [25, tr.2]
Thơ Thái Nguyên: Nghĩ từ thơ trẻ của Nguyễn Kiến Thọ đăng trên báo Văn
nghệ Thái Nguyên số 3- 2017 đã nói về đặc điểm chung, điều làm nên sự khác biệt của thơ trẻ Thái Nguyên: “Đặc điểm chung trong thơ của họ là viết về cái-nhìn- thấy, cái-phổ- biến Với việc làm thơ, họ đã tạo ra một phép màu, làm cho những cái vô tình trở nên gần gũi, những cái xa lạ trở nên quen thuộc, những cái hy hữu trở thành phổ biến, những cái riêng trở thành cái chung, từ thơ của một người đã thành thơ của mọi người Thơ, vì vậy, gánh một sứ mệnh cao cả là giúp người đọc khám phá rõ hơn về những chiều kích của sự vật hiện tượng ở góc độ nhân văn, nhân bản” Ở đây các tác giả đã đưa ra một số biểu tượng thiên nhiên gắn bó với con người như: thác nước, dòng sông, hoa, ánh trăng… Tuy nhiên, vẻ đẹp tự nhiên mới chỉ được tìm hiểu rải rác chứ chưa được nghiên cứu một cách toàn diện Nội dung này chúng tôi sẽ kế thừa và nghiên cứu kĩ trong luận văn một cách có hệ thống
Trong số các nhà thơ Thái Nguyên đương đại, Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Phan Thái có những đóng góp lớn và giành được nhiều cảm tình của bạn đọc cũng như các nhà nghiên cứu, phê bình Từ thơ của Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Phan Thái, dễ nhận thấy, trong nhiều vấn đề của cuộc sống hôm nay, các nhà thơ đặc biệt quan tâm đến sinh thái tự nhiên và sinh thái tinh thần của quê hương Những khắc khoải, thổn thức của Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Phan Thái về vấn đề sinh thái cũng nhận được sư quan tâm, đồng cảm và đánh giá xác đáng
Trang 12Về nhà thơ Ma Trường Nguyên, trong bài viết Thơ Thái Nguyên: Nghĩ từ thơ
trẻ của đăng trên báo Văn nghệ Thái Nguyên số 3- 2017, tác giả Nguyễn Kiến Thọ
nhận xét: “Ma Trường Nguyên là nhà thơ dân tộc Tày với những bài thơ có cấu tứ
độc đáo với những cái tên rất ấn tượng” Tác giả Nguyễn Thúy Quỳnh qua Ba phác thảo về Ma Trường Nguyên
Cao Xuân Thử trong bài viết Ghé thăm cuộc rượu của Võ Sa Hà với núi đăng trên
đăng trên báo Văn nghệ Thái Nguyên tháng 4 - 2016, cảm nhận về bài thơ “Quê núi” - linh hồn thơ Võ Sa Hà” Theo Cao Xuân Thử: “Linh hồn thơ Võ Sa Hà đậu trên chốn quê núi non, núi đá của thi sĩ Tách khỏi chốn quê này, thơ Võ Sa Hà mất sức sống.”
Tuy chưa trực tiếp bàn về vấn đề sinh thái trong thơ Võ Sa Hà, nhưng Cao Xuân Thử khẳng định gốc rễ của vẻ đẹp thơ Võ Sa Hà là ở sự gắn kết với “bản thể tự
nhiên nguyên sơ”: “Thơ Võ Sa Hà chỉ dẫn cho chúng ta thấy rằng, chỉ không gian
núi cao, rừng sâu, không gian của quê núi mới có thể cho ta cái nguyên sơ, sự tinh
tr.2] Đó là gốc rễ để tạo nên vẻ đẹp của thơ Khác biệt, tức là đối lập với quê núi này
chính là chốn thị thành, phố phường, nơi mà đời sống tự nhiên tươi đẹp của con người đã bị biến hình, đổi dạng đi Nói một cách khác, con người ngày nay, họ không được sống theo bản thể tự nhiên nguyên sơ, tốt đẹp của mình Họ đã phải gồng mình lên trong đời sống xã hội hiện thực, chịu rất nhiều áp lực của nhịp đời
Trong bài viết Thơ Thái Nguyên: Nghĩ từ thơ trẻ, tác giả Nguyễn Kiến Thọ nhận xét thơ của Võ Sa Hà “hay và ấn tượng” Những câu thơ của Võ Sa Hà như:
“Mùa thu ấy Bằng Giang rờn sóng nước/ Mã Phục run trong gió lạnh biên thùy/ Pháo đài cổ loáng ánh trăng xanh mướt/ Núi Sa Hà u uất tiễn tôi đi (Mùa thu ấy) đã
được tác giả Nguyễn Kiến Thọ chú ý
Còn Ma Trường Nguyên được đánh giá là: “nhà thơ dân tộc Tày với những bài
thơ có cấu tứ độc đáo với những cái tên rất ấn tượng”
Trong bài viết Thơ lục bát Phan Thái in trên báo Văn nghệ Thái Nguyên, tác
giả Nguyễn Kiến Thọ nhận thấy “khát vọng hồi quê” trong cảm thức Phan Thái Tác giả nhận xét: “Ở chặng dừng chân cuối cùng, như con thuyền cần một bến bờ để neo, con người ta hay hướng về quê hương, về nơi chôn nhau cắt rốn Đó có thể là cuộc hành hương bằng hoài niệm, một cuộc viễn du của kí ức, nhưng nó thật đẹp và thật thánh thiện Ở đó, ta cứ thênh thênh bộc lộ mình với những niềm vui không cần giấu
Trang 13giếm, với những ý nghĩ không cần ngụy trang” Chúng tôi cũng cảm nhận được, sinh thái quê hương, cảm thức “hồi quê” chính là nguồn nuôi dưỡng thơ Phan Thái Chính vì thế, bài viết của tác giả Nguyễn Kiến Thọ đã gợi mở những góc nhìn khá mới mẻ trong thơ Phan Thái, gọi mời sự đồng sáng tạo của độc giả
Nhìn chung, những vấn đề môi trường sinh thái trong thơ Thái Nguyên nói chung, và nhất là trong thơ của các tác giả Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Phan Thái vẫn còn khá mới mẻ Song các công trình nghiên cứu của những người đi trước sẽ là tiền đề khoa học quý báu, là những gợi ý bổ ích để chúng tôi thực hiện đề tài này
3 Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu đề tài này với mục đích:
Nhằm lí giải, cắt nghĩa sự tác động của môi trường sinh thái đã, đang và sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống, lối sống, suy nghĩ của con người ra sao được thể hiện qua ba nhà thơ thuộc ba thế hệ khác nhau
Đề tài chỉ đi sâu tập trung nghiên cứu vào các tập thơ tiêu biểu của ba nhà thơ
từ góc nhìn sinh thái Đi sâu tìm hiểu về môi trường sinh thái ở Thái Nguyên qua ba nhà thơ tiêu biểu
Làm rõ mối quan hệ giữa môi trường sinh thái và văn học Đánh giá những thành công và đóng góp của ba nhà thơ trong nền văn học thơ Thái Nguyên
Đề tài cũng giúp người viết hiểu thêm về con người và phong cách sáng tác của các nhà thơ
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu như đã nêu ở trên, chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ sau:
Vận dụng lí thuyết về sinh thái để đi sâu tìm hiểu
Tìm hiểu khái quát về ba nhà thơ và đi sâu vào các tập thơ có giá trị của ba nhà thơ Tìm hiểu về môi trường sinh thái và con người Thái Nguyên đã tạo nên những nét đặc sắc cho ba nhà thơ
Tìm hiểu đặc điểm thơ của ba nhà thơ trên một số phương diện nội dung và nghệ thuật thơ
Xác định những đóng góp của ba nhà thơ cho thơ Thái Nguyên
Trang 145 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Nghiên cứu thơ Thái Nguyên nhìn từ góc độ sinh thái (Qua thơ Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Phan Thái)
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nội dung: Đi sâu vào nghiên cứu các tập thơ của các nhà thơ và chỉ ra được tinh thần sinh thái trong thơ Thái Nguyên nói chung và sự khác biệt trong cảm quan sinh thái của ba thế hệ nhà thơ
Phạm vi tư liệu: Các tập thơ của Ma Trường Nguyên: Tiếng lá rừng gọi đôi (
2007, Nxb (2007, Nxb Văn hóa dân tộc), Cây nêu (2007, Nxb Văn hóa dân tộc), Trái
tim không ngủ(1988, Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Bắc Thái), Câu hát vắt qua vai(2007, Nxb Văn hóa dân tộc); Mở núi(2007, Nxb Hội nhà văn); Bắc cầu vồng thăm nhau (2007, Nxb Hội nhà văn); Các tập thơ của Võ Sa Hà: Sóng nhạc hồn tôi(), Ngựa đá(2001, Nxb Quân đội Nhân Dân Hà Nội), Cánh chim về núi (2004 Nxb Hội nhà văn
Hà Nội), Lửa trắng (2009, Nxb Lao động Hà Nội); Các tập thơ của Phan Thái: Quẩy
nắng vào đêm(2012, Nxb Hội nhà văn); Về sông xưa(2014, Nxb Hội nhà văn); Giấc
mơ con quay về (2016, Nxb Hội nhà văn)
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích tổng hợp
Phương pháp đối chiếu so sánh
Phương pháp hệ thống
Phương pháp nghiên cứu liên ngành
7 Đóng góp của luận văn
Khẳng định được những thành tựu và đóng góp của Ma Trường Nguyên, _ Võ
Sa Hà, _ Phan Thái trong thơ Thái Nguyên
Luận văn thể hiện rõ sự khác biệt trong phong cách sáng tác của các thế hệ khác nhau khi viết về thơ Thái Nguyên
Góp thêm cái nhìn mới về thơ Thái Nguyên dưới góc nhìn sinh thái
Đồng thời ở mức độ nào đó, luận văn cũng đóng góp làm tài liệu tham khảo cho công tác học tập, nghiên cứu và giảng dạy về văn học Thái Nguyên
Trang 158 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung chính gồm ba chương:
Chương 1: Giới thuyết chung
Chương 2: Cảm thức sinh thái trong thơ các nhà thơ Thái Nguyên (Qua thơ
Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Phan Thái)
Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện vấn đề sinh thái trong thơ Thái Nguyên (Qua thơ Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Phan Thái )
Trang 16NỘI DUNG Chương 1 GIỚI THUYẾT CHUNG
1.1 Những vấn đề chung về sinh thái và văn học
1.1.1 Khái niệm sinh thái và phê bình sinh thái
1.1.1.1 Khái niệm sinh thái
“Sinh thái” là khái niệm dùng để chỉ quan hệ giữa sinh vật và môi trường [tr.47] Trong đó sinh vật là một cơ thể sống với các đặc trưng như chuyển động, trao đổi chất, sinh trưởng, sinh sản và phản ứng đối với các kích thích bên ngoài Còn môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người…Nói như vậy thì mối quan hệ giữa giữa con người và môi trường là mối quan hệ biện chứng Trước nguy cơ sinh thái hiện nay, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữa con người với con người cần có sự thay đổi thế giới quan nhận thức Con người không những tôn trọng và có trách nhiệm trong việc bảo vệ môi sinh mà còn có trách nhiệm với chính bản thân, cộng đồng và xã hội
1.1.1.2 Phê bình sinh thái
Thuật ngữ sinh thái học (ecology) có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp, bao gồm oikos (chỉ nơi sinh sống) và logos (học thuyết) Sinh thái học, vì thế, là học thuyết nghiên cứu về nơi sinh sống của sinh vật, và đối tượng nghiên cứu của bộ môn khoa học này
là tất cả các mối tương tác giữa cơ thể sinh vật sống và môi trường.Từ chỗ là một bộ môn gắn liền với sinh học, sinh thái học dần mở rộng, ảnh hưởng đến nhiều bộ môn khoa học khác, trong đó có khoa học xã hội và nhân văn
Sinh thái (oikos) theo nghĩa gốc tiếng Latinh là nhà ở, nơi cư trú, bất kì một sinh vật sống nào cũng cần nơi cư trú của mình Thuật ngữ sinh thái học (ecology) có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp, bao gồm oikos (chỉ nơi sinh sống) và logos (học thuyết, khoa học) Thuật ngữ “sinh thái học” chỉ thật sự ra đời vào năm 1869 do nhà sinh vật học người Đức Ernst Haecker đưa ra Ông chính là người đầu tiên đặt nền móng cho môn khoa học sinh thái, nghiên cứu về mối tương quan của động vật với các thành phần môi trường vô sinh
Trang 17Với tư cách là một khuynh hướng phê bình văn hóa và văn học, phê bình sinh thái (ecocrticism), được hình thành ở Mĩ vào giữa những năm chín mươi của thế kỉ
XX, đã hấp thu tư tưởng cơ bản của sinh thái học vào nghiên cứu văn học “dẫn nhập quan niệm cơ bản nhất của triết học sinh thái vào phê bình văn học” Trong các định nghĩa về phê bình sinh thái, định nghĩa theo bản dịch của tác giả Trần Thị Ánh Nguyệt trong bài báo Nghiên cứu văn học trong thời đại khủng hoảng môi trường đăng trên tapchisonhuong.com.vn, khái niệm phê bình sinh thái được phát biểu như
sau: “phê bình sinh thái là nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự
nhiên Cũng giống như phê bình nữ quyền xem xét ngôn ngữ và văn học từ góc độ giới tính, phê bình Marxit mang lại ý thức của phương thức sản xuất và thành phần kinh tế để đọc văn bản, phê bình sinh thái mang đến phương pháp tiếp cận trái đất là trung tâm (earth - centered approach) để nghiên cứu văn học” [10, tr.40]
Hiện nay, Phê bình sinh thái xuất hiện như một phản ứng trước sự tàn phá môi trường, quá trình đô thị hóa và sự mất cân bằng sinh thái đe dọa sự tồn vong của trái đất Mặc dù phê bình sinh thái đã manh nha từ trước, nhưng phải đến những năm 70 của thế kỉ XX, khi Joseph W Meeker cho xuất bản Sinh thái học của văn học và chính thức đề xuất tên gọi sinh thái học văn học (literary ecology) thì các nhà nghiên cứu mới bắt đầu quan tâm đến mối quan hệ giữa văn hóa, văn học và môi trường Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình khác, chẳng hạn như Phê bình văn học sinh thái Sự tưởng tượng lãng mạn và sinh học trí tuệ của Karl Kroeber, Hợp tuyển phê bình sinh thái học: Những điểm nhấn trong sinh thái học văn học của Cheryll Glotfellty và Harold Fromm Vào năm 1992, Hội Nghiên cứu văn học và môi trường được thành lập tại Đại học Nevada, Hoa Kì.Từ đó trở đi, văn sinh thái (ecolit) và phê sinh thái (ecocrit) xuất hiện liên tục trong nhiều bài viết khác nhau.Phê bình sinh thái (văn hóa) từ đó nhanh chóng trở thành hiện tượng toàn cầu Giới nghiên cứu văn học Trung Quốc cũng bắt đầu chú ý đến phê bình sinh thái với sự góp mặt của một số học giả tiêu biểu như Đình Hiểu Nguyên, Lỗ Khu Nguyên
Thực ra về bản chất, phê bình sinh thái ra đời bắt nguồn từ phản ứng lại với truyền thống coi con người là trung tâm, xem nhẹ, phủ nhận thiên nhiên được phản ánh trong văn học Tuy nhiên, gần đây, khái niệm phê bình sinh thái được mở rộng hơn, khi coi môi trường tinh thần xã hội cũng là một kiểu hệ sinh thái tác động đến văn học nghệ thuật
Trang 18Tìm hiểu, nghiên cứu văn học từ góc nhìn phê bình sinh thái hầu như chưa được chú ý nhiều ở Việt Nam nó mới được chú ý khoảng vài thập niên gần đây Hiện nay, phê bình sinh thái mới xuất hiện một số công trình về sinh thái học, song còn rất non yếu Một số bài viết và công trình của các học giả nước ngoài đã bước đầu được dịch và giới thiệu, mà đáng chú ý hơn cả là Sinh thái học nhân văn của Georges Oliver (Huy Yên, Võ Bình, Đỗ Ngọc Hải dịch, Nxb Thế giới, 1997, tái bản 2002) Riêng về phê bình sinh thái văn học thì mới có những nốt dạo đầu là các công trình của Trần Đình Sử, Trịnh Bích Liên, Đỗ Văn Hiểu, Nhã Thuyên Từ việc giới thiệu về phê bình sinh thái ở Việt Nam
cũng còn nhiều hạn chế, thiếu tính hệ thống Có thể thấy bài viết “Phê bình sinh thái - cội
nguồn và phát triển của Đỗ Văn Hiểu” trên Tạp chí Nhà văn (số 11/2012) là bài tổng
thuật công phu và đầy đủ nhất về phê bình sinh thái từ trước tới nay
Như vậy, sau nhiều thập kỉ hiện diện, phê bình sinh thái vẫn đang trong tiến trình vận động, chưa hề bị giới hạn và đóng khung trong phạm vi hay phương pháp nào cả Từ nhiều năm trở lại đây, phê bình sinh thái luôn được các nhà nghiên cứu, các nhà văn học quan tâm, nghiên cứu và tìm hiểu để phần nào làm thức tỉnh ý thức của con người trước sự tàn phá môi trường sống
1.1.2 Khái niệm văn học
Văn học là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội và con người Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu, cách thể hiện nội dung các đề tài được biểu hiện qua ngôn ngữ Khái niệm văn học đôi khi có nghĩa tương tự như khái niệm văn chương và thường bị dùng lẫn lộn Tuy nhiên, về mặt tổng quát, khái niệm văn học thường có nghĩa rộng hơn khái niệm văn chương, văn chương thường chỉ nhấn mạnh vào tính thẩm mĩ, sự sáng tạo của văn học về phương diện ngôn ngữ, nghệ thuật ngôn từ Văn chương dùng ngôn từ làm chất liệu
để xây dựng hình tượng, phản ánh và biểu hiện đời sống
Văn học có nhiều thể loại khác nhau như: tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, kịch bản, lý luận phê bình Văn học có lịch sử phát triển từ lâu đời từ văn học dân gian đến văn học viết Văn học là một bộ phận quan trọng của văn nghệ
Xét theo nghĩa rộng thì văn học chính là thuật ngữ dùng để gọi chung cho mọi hành vi ngôn ngữ nói- viết và các tác phẩm ngôn ngữ, bao gồm cả những tác phẩm được xếp vào loại chính trị, triết học, tôn giáo Như vậy theo nghĩa rộng thì văn học chính là văn hóa
Trang 19Xét theo nghĩa hẹp thì văn học lại là văn hóa - nghệ thuật mà chúng ta vẫn thường dùng hiện nay Nó bao gồm tất cả những tác phẩm ngôn từ được sáng tác bằng hư cấu và tưởng tượng Như vậy nếu chúng ta hiểu văn học theo nghĩa hẹp thì những tác phẩm về chính trị, tôn giáo, triết học lại nằm ngoài phạm trù này Nói cách khác văn học hiểu theo nghĩa hẹp chính là văn chương
Văn học chính là một hình thái ý thức xã hội thẩm mỹ Văn học được bắt nguồn từ đời sống, phản ánh mọi khía cạnh của đời sống hay bày tỏ một quan điểm, một lập trường đối vối đời sống, một sự việc, hiện tượng, số phận trong xã hội
Theo định nghĩa của Từ điển thuật ngữ văn học: văn học là sự phản ánh đời
sống xã hội, thể hiện nhận thức và sự sáng tạo của con người Văn học lấy con người làm đối tượng nhận thức trung tâm Văn học nhận thức con người với toàn bộ tính tổng hợp, toàn vẹn, sống động trong các mối quan hệ đời sống phong phú và phức tạp của nó Văn học xây dựng những hình tượng nghệ thuật có khả năng tác động vào
Vì vậy văn học có thể phản ánh quá trình vận động không ngừng của đời sống trong không gian và thời gian ở bất cứ giới hạn nào Trong văn học có hai loại đó là tự sự (gồm truyện, tiểu thuyết, kí…), loại trữ tình (thơ ca, hò vè…) Trong phạm vi nghiên cứu tôi tìm hiểu về thơ Thái Nguyên
Thơ, thơ ca hay thi ca, là một khái niệm chỉ các loại sáng tác văn học có vần điệu, có đặc điểm ngắn gọn, súc tích, nhiều ý cô đọng Một bài văn cũng có thể là một bài thơ nếu sự chọn lọc các từ trong đó súc tích và gây cảm xúc cho người đọc một cách nhanh chóng Bên cạnh đó, một bài thơ thường còn mang tính vần giữa câu nọ với câu kia và tổ hợp của các câu gây ra âm hưởng nhạc tính trong bài Thơ thường dùng như một hình thức biểu tả cảm xúc trữ tình, hoặc tình cảm xúc động trước một hiện tượng xảy ra trong cuộc sống, như khi người ta đứng trước một phong cảnh ngoạn mục, hoặc đứng trước một thảm cảnh Sự tương tác giữa tình cảm con người và hoàn cảnh tạo nên những cảm nghĩ mà người ta muốn bày tỏ với một phong độ chắt lọc, tinh khiết, không rườm rà, song có mức thông tin cao, đột phát, nhưng cô đọng và chiết khúc Muốn làm được như vậy, người làm thơ phải có một con mắt quan sát chi tiết, tổng quát hóa, và nhanh chóng liên tưởng giữa những hình ảnh quan sát được với những gì vốn có trước đây
Trang 201.1.3 Mối quan hệ giữa sinh thái và văn học
Giữa văn học và môi trường sinh thái có mối quan hệ hữu cơ mật thiết với nhau Cũng như mối quan hệ giữa con người và môi trường, con người và tự nhiên đã được đề cập đến trong văn chương từ thời cổ đại Trong tâm thức của nhân loại nói chung, người phương Đông và đặc biệt là giới tao nhân mặc khách nói riêng, thiên nhiên là người bạn lớn, người mẹ vĩ đại luôn tương giao, tương thông, tương cảm với con người, là bến bờ nương tựa và gột rửa linh hồn, là nơi lánh ẩn và di dưỡng tinh
thần của họ Thi hào Tagore từng nói: “Nghệ sĩ là người tình của thiên nhiên” Hồ Chí Minh cũng từng khái quát: “Cổ thi thiên ái thiên nhiên mĩ” Việc thiên nhiên,
môi trường, tự nhiên tồn tại trong đời sống văn học một cách lâu dài, bền bỉ như thế, hẳn đã tạo nên một nền văn học sinh thái? Không phải như thế Trong văn học quá khứ, dù nhà văn có trân trọng, có yêu thiên nhiên thiết tha đến mấy, miêu tả thiên nhiên đẹp đẽ, thơ mộng và hùng vĩ đến mấy cũng chỉ để tỏ cái tình, cái tài, cái khí, cái chí của người cầm bút Và đương nhiên thiên nhiên chỉ là khách thể của văn
chương, là phương tiện nghệ thuật để nhà văn “tải đạo”, “ngôn chí” Câu thơ “Cảm
thời hoa tiễn lệ/ Hận biệt điểu kinh tâm” (Cảm thương thời thế hoa rơi lệ/ Hận biệt li chim cũng động lòng) của Đỗ Phủ trong bài Xuân vọng “là một biểu hiện điển hình của kiểu văn học lấy nhân loại làm trung tâm” Bản thân thiên nhiên cũng như hoa và
chim không quan trọng, quan trọng là chúng có thể là công cụ để biểu đạt tình cảm của các nhà văn Bản chất của văn học sinh thái là kiên quyết bài trừ những thái độ công cụ hóa và phương pháp hóa đối với tự nhiên Điều này giúp chúng ta có thể vạch một ranh giới rõ ràng trong việc miêu tả tự nhiên giữa tác phẩm văn học sinh thái và tác phẩm văn học phi sinh thái
Hơn nữa, văn học sinh thái đặc biệt chú trọng đến trách nhiệm và nghĩa vụ của con người đối với tự nhiên, khẩn thiết kêu gọi con người bảo vệ vạn vật trong tự nhiên và duy trì cân bằng sinh thái, nhiệt tình ca ngợi sự hi sinh của con người vì lợi ích của môi trường sinh thái Nó đưa trách nhiệm của nhân loại đối với tự nhiên thành định hướng đạo đức chủ yếu điều đó được đề cập đến trong các giai đoạn văn học
Trang 21Trong ca dao dân ca thì môi trường tự nhiên là hình ảnh để người dân lao động bày tỏ nỗi niềm Như bài ca về quê hương có bốn mùa với những hình ảnh quen thuộc như có gió, có trăng, có chùa để thể hiện sự thanh bình của làng quê
Quê em có gió bốn mùa Có trăng giữa tháng, có chùa quanh năm
Chuông hôm, gió sớm, trăng rằm Chỉ thanh đạm thế âm thầm thế thôi
Những hình ảnh dân dã quen thuộc đời thường được đưa vào câu thơ lục bát
để diễn tả một tình cảm đẹp Đó là tình thương nhớ quê nhà, nhớ những gì gần gũi than quen dân dã như: canh rau muống, cà dầm tương … toàn là những hương vị thân quen của cuộc sống đời thường giản dị mà thanh bình
Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao
(Ca dao) Thơ dân gian, mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên là hòa đồng, gần gũi Khi nói về thân phận người phụ nữ được so sánh như chẽn lúa đòng đòng phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai
Thân em như chẽn lúa đòng đòng Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai
(Ca dao)
Hay “Thân em như củ ấu gai”, “Thân em như hạt mưa sa”…
Cũng như ca dao thơ trung đại với chủ đề thiên nhiên vẫn có vị trí quan trọng và được nhiều nhà thơ đề cập đến
Dâu già lá rụng tằm vừa chín Lúa sớm nở hoa thơm, cua đang lúc béo Nghe nói ở nhà, dẫu nghèo vẫn tốt Đất Giang Nam tuy vui cũng chẳng bằng về nhà
(Quy hứng - Nguyễn Trung Ngạn)…
Trang 22Hay trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao
(Nhàn) Một cặp câu đã lột tả hết tất cả cuộc sống sinh hoạt và thức ăn hằng ngày của
“lão nông nghèo” Mùa nào đều tương ứng với thức ăn đấy, tuy không có sơn hào
hải vị nhưng những thức ăn có sẵn này lại đậm đà hương vị quê nhà, khiến tác giả an phận và hài lòng Mùa thu có măng trúc ở trên rừng, mùa đông ăn giá Chỉ với vài nét chấm phá Nguyễn Bỉnh Khiêm đã “khéo” khen thiên nhiên đất Bắc rất hào phòng,
đầy đủ thức ăn Đặc biệt câu thơ “Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao” phác họa vài đường
nét nhẹ nhàng, đơn giản nhưng toát lên sự thanh tao không ai sánh được Một cuộc sống dường như chỉ có tác giả và thiên nhiên, mối quan hệ tâm giao hòa hợp nhau
Còn trong Thơ mới, thiên nhiên như một khách thể thẩm mĩ để nhà thơ soi ngắm và hưởng thụ Rất nhiều thi sĩ thể hiện sự tinh tế tột bậc khi miêu tả thiên nhiên Xuân Diệu từng có những câu thơ như thế này:
Dịu dàng đàn những ánh tơ xanh Cho gió du dương điệu múa cành Cho gió đượm buồn, thôi náo động Linh hồn yểu điệu của đêm thanh
(Trăng) Và đây là những câu thơ của Hàn Mặc Tử:
Trong làn nắng ửng khói mơ tan Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng Sột soạt gió trêu tà áo biếc Trên giàn thiên lí - bóng xuân sang
(Mùa xuân chín)
Như vậy trong Thơ mới, những vần thơ về đồng quê thể hiện tình yêu mà các thi sĩ dành cho thiên nhiên là những vẻ đẹp thanh tân Xét về mặt nào đó, đây cũng chính là ý thức chống lại sự tàn phá môi trường trong thời buổi văn minh công
nghiệp Nhớ rừng của Thế Lữ mang vẻ đẹp “hoài cổ” qua khối ẩn ức lớn dần vì ý
thức được sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại, giữa tự do và bị tước đoạt tự do, giữa tự nhiên hoang sơ rộng lớn và môi trường nhân tạo nhỏ hẹp của con hổ
Trang 23Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?
(Nhớ rừng)
Độc giả dễ dàng nhận thấy “khối sầu đô thị” trong thơ Xuân Diệu (Lời kĩ nữ),
Vũ Hoàng Chương (Say), Đinh Hùng (Bài ca man rợ) Những bài thơ này, ta không được gặp một thứ thiên nhiên trong trẻo, thanh bình của làng quê như trong thơ của Nguyễn Bính hay những nét văn hóa tươi tắn như trong thơ Tết của Đoàn Văn Cừ
Vẻ đẹp của thiên nhiên trong Thơ mới còn được thể hiện rất chân thực qua những
“bức tranh quê” của nhóm thi sĩ đồng quê hay trong thơ của Nguyễn Nhược Pháp,
Nam Trân Những hình ảnh ấy có thể sẽ trở thành những bảo tàng nghệ thuật, nó giúp con người thời hiện đại tìm được niềm thư thái trong những trang thơ ấy
Hàn Mặc Tử:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
(Đây thôn Vĩ Dạ) Nguyễn Bính:
Thong thả dân gian nghỉ việc đồng Lúa thì con gái mượt như nhung Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng Ngào ngạt hương bay, bướm vẽ vòng
(Xuân về)
Trang 24Huy Cận:
Một buổi trưa không biết ở thời nào Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao
Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ
Mà đôi lứa đang bên vườn tình tự
(Đi giữa đường thơm) Đâu đây không phải là những bức tĩnh vật mà là những sinh thể thiên nhiên luôn chuyển động, cựa quậy Thiên nhiên có thể bày ra hữu hình, có thể ẩn giấu, vô hình Dường như các nhà thơ mới phải rất tinh tế mới có thể cảm nhận và hữu hình hóa những thứ nhiều khi vô hình ấy Dĩ nhiên, sức quyến rũ của thơ đó chính là sự đan dệt khéo léo giữa cái hữu hình và cái vô hình của thiên nhiên Đó là sự đan dệt để tạo nên những khoảng trống mà người tiếp nhận sẽ làm đầy nó bằng trường liên tưởng và kinh nghiệm thẩm mĩ của mình
Thử đọc một đoản khúc của Huy Cận sẽ thấy:
Nắng chia nửa bãi, chiều rồi Vườn hoang trinh nữ khép đôi lá rầu Sợi buồn con nhện giăng mau
Em ơi! Hãy ngủ anh hầu quạt đây
Thiên nhiên và thế giới tự nhiên trong thơ đã trở thành một điểm nhấn quan trọng khi lí giải mối gắn kết giữa lịch sử của loài người và nơi sinh thành nuôi dưỡng họ Nhìn chung, môi trường sinh thái trong thơ ca đã được các thi sĩ mọi thời đại khám phá, biểu đạt hết sức phong phú và đa dạng, đa chiều Cho dù trí tưởng tượng của họ có vượt thoát ra khỏi hiện thực thì cuối cùng, trong thẳm sâu tâm hồn họ vẫn
là nỗi mê đời, niềm khát sống, khát yêu, khát khao hòa nhập Và trong nhãn quan nghệ thuật của họ, thiên đường không ở đâu xa xôi mà hiện hữu ngay trong cõi thế đầy bí ẩn này, đó là nơi trần thế
Vấn đề quan trọng đặt ra ở đây là văn bản nào có thể được sử dụng làm đối
tượng nghiên cứu của Phê bình sinh thái Dĩ nhiên, đối tượng nghiên cứu lí tưởng của
Phê bình sinh thái là những văn bản văn học sinh thái theo đúng nghĩa của nó Văn
Trang 25học sinh thái đúng nghĩa chỉ thực sự xuất hiện khi môi trường toàn cầu xấu đi một cách nghiêm trọng trong thời hiện đại Nếu phê bình sinh thái chỉ chọn tác phẩm văn học sinh thái như vậy làm đối tượng nghiên cứu thì phạm vi vận dụng nghiên cứu của
nó rất hạn hẹp Bởi vì trước thời kì cách mạng công nghiệp, trước thời kì môi trường toàn cầu xấu đi một cách trầm trọng rất khó tìm được tác phẩm văn học viết một cách tự giác về vấn đề bảo vệ môi trường họ chỉ viết có trong vô thức về vấn đề đó mà thôi Hơn nữa, ngay cả từ sau cách mạng công nghiệp phát triển môi trường sinh thái bị ảnh hưởng nghiêm trọng, không phải đa số tác phẩm văn học trên thế giới đều là văn học sinh thái Ở Việt Nam đến thời điểm hiện nay chưa có một dòng văn học được gọi là văn học sinh thái, văn học bảo vệ môi trường Vậy liệu có thể ứng dụng phương pháp phê bình này ở Việt Nam không? Chúng ta sẽ ứng xử như thế nào đối với những văn bản tác phẩm văn học trung đại và những văn bản tác phẩm hiện đại không thực sự là văn học sinh thái theo đúng nghĩa của nó?
Để lý giải cho vấn đề đó, Phê bình sinh thái trước hết tập trung vào phân tích văn bản văn học, tìm ra những nhân tố thể hiện ý thức sinh thái Nếu đi theo hướng này, thì phạm vi khảo sát của phê bình sinh thái sẽ mở rộng rất nhiều Trên thực tế, tư tưởng sinh thái đã manh nha từ lâu, Trung Quốc cổ đại có tư tưởng “thiên nhân hợp nhất”, “đạo pháp tự nhiên”, châu Âu thế kỉ XVIII-XIX có trào lưu triết học trở lại với tự nhiên Những tư tưởng triết học đó hoặc ít hoặc nhiều đều in dấu trong sáng tác văn học cổ kim đông tây, có điều trong nghiên cứu văn học trước kia chưa thực sự chú ý đến hàm ý sinh thái trong đó Vì vậy, những tác phẩm miêu tả phản ánh vẻ đẹp tự nhiên và quan hệ giữa con người và tự nhiên, mặc dù người viết đương thời không chủ đích viết sinh thái như hiện nay, nhưng chúng ta vẫn có thể đứng trên quan điểm của mình để phát hiện và tìm ra ý nghĩa sinh thái trong đó Do điều kiện lịch sử nên phần lớn hình tượng thiên nhiên trong thơ ca trung đại đều được dùng như một ẩn dụ, một phương tiện để kí thác tâm trạng, cái cớ để thể hiện tình cảm chủ quan của nhà thơ, nhưng ý thức sinh thái hàm ẩn trong đó là một thực tế khách quan không thể phủ nhận Có nhiều tác phẩm coi thiên nhiên là đối tượng thẩm mĩ độc lập, nhà thơ chiêm nghiệm vẻ đẹp tự nhiên của nó, họ coi thiên nhiên là trung tâm của cái đẹp bởi sự
Trang 26khát khao hoàn thiện trong mỗi con người Với những vần thơ của những nhà Nho ở ẩn sống vui với cảnh điền viên như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm chúng ta
dễ dàng tìm thấy tư tưởng ca ngợi quan hệ hài hòa thân thiết giữa con người và tự nhiên Sự giao cảm giữa con người và vũ trụ trong văn học trung đại Việt Nam đã tạo nên cảnh giới tươi đẹp Như vậy, trong văn học trung đại, tư tưởng sinh thái chưa được hình thành một cách tự giác và có hệ thống, nhưng họ đã thể hiện ra niềm tôn kính, ngưỡng mộ, tình yêu đối với tự nhiên Ngay thời hiện đại cũng có rất nhiều tác phẩm văn học không phải văn học sinh thái theo đúng nghĩa của nó,
nhưng lại bao hàm trong đó ý thức sinh thái rất mạnh mẽ, chẳng hạn như “Ông già
và biển cả” của Hemingway hay “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
Những tác phẩm như vậy hoặc ít hoặc nhiều đều có cống hiến nhất định cho việc thức dậy ý thức sinh thái trong người đọc
Khi phân tích văn bản văn học, Phê bình sinh thái chú ý đến hai loại cảm hứng: cảm hứng ngợi ca và cảm hứng phê phán Hiển nhiên văn học sinh thái thường phản ánh mâu thuẫn giữa con người và tự nhiên, và thường là thông qua phản tư và phê phán quan hệ mâu thuẫn này để thức tỉnh ý thức sinh thái, chỉ ra nguy cơ của việc con người chiếm đoạt tự nhiên, khai thác vô độ tự nhiên chính là tự đào huyệt chôn mình Hành động đó không chỉ làm cho môi trường sinh tồn xấu đi, mà còn tác động
xấu đến đời sống tinh thần của con người, đến nhân tính Nguyễn Huy Thiệp “cảnh
tỉnh rằng, nếu vô cảm với muôn loài sẽ có thể làm con người vô cảm trước đồng loại” (Con thú lớn nhất), còn Nguyễn Bình Phương lại phát hiện ra “mối liên hệ giữa việc con người thích tàn sát động vật với hành vi giết người” (Thoạt kì thủy) Bên
cạnh đó, Phê bình sinh thái cũng chú ý đến cảm hứng ngợi ca vẻ đẹp của tự nhiên, ngợi ca quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên Tìm ra những biểu hiện này trong văn học cũng chính là tìm mẫu lí tưởng cho thái độ ứng xử với tự nhiên
Thêm một vấn đề đặt ra cho Phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học là khi tiến hành nghiên cứu môi trường sinh thái vẫn phải tôn trọng nguyên tắc thẩm mĩ Nếu xa rời nguyên tắc thẩm mĩ thì sẽ đánh mất tính văn học và sẽ không còn là phê bình văn học nữa Vì thế, trong quá trình phân tích văn bản văn học, tìm ra những nhân tố sinh thái, nhân tố thể hiện quan hệ giữa con người và tự nhiên, Phê bình sinh thái có thể vận dụng các phương pháp của nghiên cứu nội tại Chẳng hạn tìm kiếm
Trang 27những biểu tượng nghệ thuật về sinh thái như biểu tượng sói, biểu tượng thảo nguyên, cánh đồng, sa mạc, biểu tượng nước, biểu tượng thiên tai, nạn dịch… Có thể nói những biểu tượng kiểu như vậy là linh hồn của văn học sinh thái, chúng đóng vai trò quan trọng trong tự sự văn học sinh thái Phê bình sinh thái cũng chú ý đến phân tích kết cấu mang tính đối thoại giữa con người và tự nhiên trong văn bản văn học
Tóm lại, văn học và môi trường sinh thái luôn luôn có mối tác động qua lại với nhau Một nhà văn đích thực cũng chính là một nhà sinh thái học, tác phẩm văn học
mà họ sáng tạo ra cũng chính là một tác phẩm đa dạng hóa mọi vấn đề trong cuộc sống của một dân tộc nào đó và khi đến với độc giả, được độc giả tiếp nhận thì quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học đó cũng chính là quá trình thưởng thức, tiếp nhận cái nhìn đa chiều về sinh thái học Thời đại ngày nay, với nhu cầu của cuộc sống con người ngày càng coi trọng môi trường sống của mình nên mỗi quốc gia, dân tộc ngày càng muốn tô điểm cho vẻ đẹp quê hương đất nước thân thiện với môi trường, tìm về với thiên nhiên để di dưỡng tâm hồn
1.2 Thơ Thái Nguyên và hành trình kiến tạo những giá trị sinh thái
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển thơ Thái Nguyên
Thái Nguyên là một tỉnh nằm ở phía đông bắc Việt Nam với diện tích hơn 3000Km2, tiếp giáp với thủ đô Hà Nội Thái Nguyên là tỉnh nổi tiếng với những đồi chè bát ngát, với những nhà máy thép có sản lượng khai thác hàng năm lớn và tốt vào loại nhất nhì trong cả nước Trong hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ, đây chính là Thủ đô gió ngàn, căn cứ địa cách mạng của cuộc kháng chiến Việt Nam Ngày nay Thái Nguyên đã và đang trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của khu vực đông bắc hay nói rộng hơn là của cả vùng trung du và miền núi phía bắc Việt Nam
Thái Nguyên cũng là một trong những mảnh đất có truyền thống văn hóa từ lâu đời, những truyền thống văn hóa đó chính là mầm sống thúc đẩy sự ra đời và phát triển của văn học Cũng như tiến trình phát triển của văn học cả nước, văn học nói chung và thơ ca Thái nguyên nói riêng cũng được phát triển bắt đầu từ văn học dân gian, thơ ca dân gian với nhiều tên tuổi và đạt được những thành tựu nhất định
Là một tỉnh thuộc khu vực phía Bắc có nhiều dân tộc anh em sinh sống, ngoài người Kinh ra còn có người Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay, Dao, H'Mông và người Hoa cho nên có một nền văn hóa rất phong phú, đa dạng Văn học Thái Nguyên chính
Trang 28là tổng hòa của tất cả những giá trị văn học của các dân tộc anh em đang sinh sống trên địa bàn Thái Nguyên Nó vừa chứa đựng những nguồn sống trong mạch chảy chung của văn hóa cộng đồng người Việt Nam nói chung vừa tích tụ những nét bản sắc mang tính đặc trưng riêng của cộng động dân cư Thái Nguyên
Trải qua rất nhiều những biến thiên của lịch sử và thời đại, văn học dân gian Thái Nguyên vẫn liên tục phát triển với nhiều loại hình khác nhau như: loại hình tự sự, loại hình trữ tình và loại hình trung gian Ở đây, do đối tượng nghiên cứu cho nên chúng tôi xin phép không nhắc đến loại hình tự sự Loại hình trữ tình trong văn học dân gian Thái Nguyên bao trùm là ca dao Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì ca dao bao gồm tất cả các thể loại hát dân ca trong đời sống sinh hoạt dân gian các dân tộc Thái Nguyên, đặc biệt là các bài hát Sli, Lượn Những bài hát dân ca này đã phản ánh rõ nét sự giao lưu văn hóa giữa người Kinh và người Tày
Văn học Thái Nguyên nói chung và loại hình trữ tình nói riêng chính là một kho báu về trí tuệ, tâm hồn, tình cảm, thẩm mĩ của nhân dân các dân tộc anh em ở Thái Nguyên Nó chính là cội nguồn, là nền tảng cho sự phát triển của văn học nói chung, thơ ca nói riêng giai đoạn sau này
Sau Cách mạng tháng Tám thành công, cùng với các nhà thơ đàn anh ở mọi miền đất nước, các tác giả là người dân tộc ít người có quê gốc ở Việt Bắc đã viết những tác phẩm bằng tiếng Tày, Dao, Nùng góp phần làm cho văn học kháng chiến thêm đa dạng, nhiều màu sắc
Năm 1957, hội Văn nghệ Việt Bắc được thành lập ở thị xã Thái Nguyên đã tạo nên một cuộc hội tụ lớn của tất cả các nhà thơ của sáu tỉnh miền núi phía bắc là Thái Nguyên, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn
Đến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước bùng nổ đã đưa văn học bước sang một giai đoạn mới: toàn Đảng, toàn dân tập trung, dồn toàn bộ sức lực cho sự nghiệp đánh đuổi ngoại xâm, thống nhất đất nước Những tác phẩm sáng tác trong thời kì này đều mang hơi thở nóng hổi của thời đại Tuy nhiên, do yêu cầu của thời đại mà trong giai đoạn của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống mỹ cứu nước, văn xuôi là thể loại phát triển hơn thơ ca trong văn học Thái Nguyên
Năm 1987 hội văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên ra đời đã tạo nên một bước ngoặt mới của thơ ca tỉnh nhà
Trang 29Đến thế kỉ XXI, cùng với sự chuyển mình của đất nước, nền văn học Thái Nguyên trong đó có thơ ca có bước tiến mới, đạt được nhiều thành tựu mới cả về số lượng, giá trị tác phẩm cũng như đội ngũ sáng tác Hòa vào dòng chảy văn chương của thời đại, sự xuất hiện của hàng loạt các nhà thơ mới bên cạnh những nhà thơ cũ với nhiều lứa tuổi, nhiều thể loại, nhiều bút pháp khác nhau đã làm cho kho tàng thơ ca nói riêng, văn chương Thái Nguyên nói chung ngày càng thêm phong phú, tiêu biểu là: Trần Thị Việt Trung, Nguyễn Kiến Thọ, Võ Sa Hà, Ma Trường Nguyên, Phan Thái, Minh Thắng, Lưu Thị Bạch Liễu, Nguyễn Thúy Quỳnh, Hoàng Tố Nga, Cao Hồng, Trong thơ của mình, các nhà thơ đều ít nhiều tự tạo cho mình một hướng đi riêng, không hòa lẫn với nhau: có nhà thơ thì nhẹ nhàng, có nhà thơ lại mạnh mẽ, thách thức hoặc khiêm nhường, gai góc hoặc dịu êm Tuy có những nét rất riêng như vậy nhưng giữa các nhà thơ vẫn có sự gặp ngỡ nhau trong nỗi buồn, sự cô đơn và đều có sự bứt phá về thi pháp thơ
Các nhà thơ sinh ra và lớn lên trong thời kỳ đất nước thống nhất này đều hướng ngòi bút của mình vào những biểu hiện của cuộc sống mới với những chủ đề về tình yêu, gia đình, cuộc sống và con người Các sáng tác của các nhà thơ thời kỳ này đã ít nhiều khẳng định được giá trị thông qua một số giải thưởng: giải thưởng thơ của Văn nghệ Quân đội và Báo Văn nghệ, giải thưởng của ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học Nghệ thuật Việt Nam, giải thưởng trong cuộc thi thơ tình Điều này đã chứng tỏ thơ ca Thái Nguyên ngày càng có một vị trí quan trọng trong nền thơ ca chung của cả dân tộc
1.2.2 Tinh thần sinh thái trong thơ Thái Nguyên
Lý thuyết Phê bình sinh thái là vấn đề khá mới mẻ và chưa nhận được nhiều sự quan tâm Mới có một số công trình nghiên cứu về vấn đề sinh thái như: Đỗ Văn
Hiểu (2012), Phê bình sinh thái - khuynh hướng văn học mang tính cách tân, Tạp chí
phát triển nghiên cứu và khoa học, Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh; Nguyễn Thị Tịnh
Thi (2013), Phê bình sinh thái - nhìn từ lí thuyết giải cấu trúc, Văn học hậu hiện đại-
lí thuyết và thực tiễn, Lê Huy Bắc chủ biên, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội; Lê Lưu
Oanh, Trần Thị Ánh Nguyệt (2016) Khuynh hướng phê bình sinh thái trong nghiên
cứu văn học, Tạp chí Lí luận phê bình văn học nghệ thuật, Số 41, Tháng 1 và một số
công trình nghiên cứu của các tác giả khác
Trang 30Đáng chú ý là cuốn Văn xuôi Việt Nam hiện đại sau 1975 nhìn từ góc nhìn
phê bình sinh thái của tác giả Lê Lưu Oanh - Trần Thị Ánh Nguyệt; bài Cảm hứng nhân văn trong tiểu thuyết Vi Hồng đăng trên Tạp chí nghiên cứu Văn học số 10
năm 2011 và Cảm quan sinh thái trong văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam đương
đại của PGS TS Đào Thủy Nguyên đăng trên Tạp chí nghiên cứu văn học, số 7-
2016 Đây là những bài viết đã dựa trên lí thuyết phê bình sinh thái để nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, giữa con người và con người trong văn học dân tộc thiểu số Việt Nam đương đại Những bài viết này sẽ là hướng gợi mở để tôi vận dụng lí thuyết phê bình sinh thái vào tiểu thuyết của nhà văn Vi Hồng Chỉ
có một số tác giả như Phạm Mạnh Hùng, Thiều Thị Phương Nga, Dương Thị Xuân… trong công trình nghiên cứu của mình đã đề cập đến tự nhiên Việt Bắc, hiện thực cuộc sống con người Việt Bắc
Vẻ đẹp tự nhiên đã được một số tác giả đề cập đến Trong Ảnh hưởng của văn
hóa dân gian trong một số tiểu thuyết của Vi Hồng, tác giả Hoàng Thị Minh Phương
đã nhận xét thiên nhiên trong tiểu thuyết của Vi Hồng rất đặc trưng của vùng miền
núi Đó là “bức tranh thiên nhiên đẹp đầy màu sắc, hoang sơ của rừng hoa, cánh
ruộng bậc thang bát ngát, trù phú với muôn vàn tiếng chim chóc, cũng có thể là thiên nhiên hùng vĩ hoang sơ đầy hiểm” [ 1, tr 23] Trong Vi Hồng - Tác phẩm và dư luận có
bài viết: Biểu tượng về thiên nhiên như một diễn ngôn về văn hóa Tày trong tiểu thuyết
Vi Hồng của tác giả Trần Thị Ngọc Anh và Nguyễn Thị Vân Anh khẳng định: “Thiên nhiên đã trở thành một bộ phận hữu cơ gắn bó mật thiết với con người” [ tr 229] Ở đây
các tác giả đã đưa ra một số biểu tượng thiên nhiên gắn bó với con người như: thác nước, dòng sông, hoa, ánh trăng… Tuy nhiên, vẻ đẹp tự nhiên mới chỉ được tìm hiểu rải rác chứ chưa được nghiên cứu một cách toàn diện
Truyện ngắn Cao Duy Sơn dưới góc nhìn phê bình sinh thái luận văn của
Trịnh Thị Thùy Dung.Trong công trình Văn học dân tộc thiểu sốViệt Nam thời
kỳ hiện đại - một số đặc điểm (2011), các tác giả Trần Thị Việt Trung - Cao Thị
Hảo có đề cập đến hình ảnh thế giới tự nhiên - đặc biệt là những con vật độc ác xấu xí để miêu tả nhân vật phản diện Tác giả đã chú ý đến mối quan hệ giữa
con người và tự nhiên như: “Với thủ pháp vật hóa các nhân vật phản diện trở
thành những con người tầm thường, thậm chí là dung tục, bản năng như loài cầm thú” [49, tr.144]
Trang 31Bản sắc văn hóa dân tộc trong văn xuôi của các nhà văn dân tộc thiểu số
(2014) của tác giả Đào Thủy Nguyên (Chủ biên) và một số tác giả khác đã khẳng
định “Thiên nhiên Cao Bằng trong sáng tác của Cao Duy Sơn không chỉ mang vẻ đẹp
của bức tranh sơn thủy mà còn hiện lên như một sinh thể hữu hình, biết chia sẻ với con người những vui buồn trong cuộc sống” [16, tr 163]
Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn (2010) của Lý Thị
Thu Phương có miêu tả thiên nhiên như sau “Cao Duy Sơn đã khám phá và sáng tạo
nên thế giới thiên nhiên đầy sức sống, đa săc màu, hung vĩ và thơ mộng,đưa người đọc đến một miền đất hoang sơ và chứa bao điều bí ẩn, diệu kì, cảm nhận phong vị miền núi phía Bắc độc đá, khó quên” [35, tr 55]
Một chút tình si trong thơ của Ma Trường Nguyên của tác giả Nguyễn Đức
Thiện đăng trên báo Văn nghệ Trẻ số 43 ngày 22/10/2006 đã bình về bài thơ “Câu hát
vắt qua vai” Trong bài thơ chất chứa rất nhiều chi tiết đời thường của quê hương núi
rừng Núi chiều, mây bọc, con chim, con sóc, con gà gô …Ta thử hình dung giữa một vùng đồi núi hoang vu, nơi bản mường người ở thưa thớt chỉ có gió rừng, suối reo,
Đây là những bài viết đã dựa trên lí thuyết phê bình sinh thái để nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, giữa con người và con người trong văn học dân tộc thiểu số Việt Nam đương đại Những bài viết này sẽ là hướng gợi mở để tôi vận dụng lí thuyết phê bình sinh thái vào văn thơ Thái Nguyên
1.3 Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Phan Thái và quá trình sáng tác
1.3.1 Quá trình sáng tác của nhà thơ Ma Trường Nguyên
1.3.1.1 Tiểu sử nhà thơ Ma Trường Nguyên
Ma Trường Nguyên là người dân tộc Tày Ông sinh ngày 17 tháng 5 năm 1944 tại xóm Đồng Chẩn, xã Phú Định, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên Ngay từ thuở thơ ấu, Ma Trường Nguyên đã được đắm mình trong những câu chuyện cổ tích, những điệu hát Sli, hát Lượn của dân tộc mình Điều đó đã ảnh hưởng rất nhiều đến việc sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ sau này
Trang 32Ma Trường Nguyên được coi là "người đốt lửa bừng trái tim" với "dáng
vẻ chân tình đến thật thà và hiền lành" Ông được coi là một trong những tác giả
tiêu biểu của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI
Tham gia vào quân đội và hoạt động trong một đội pháo cao xạ từ năm 1963 Ông đã được trải nghiệm qua những khó khăn, mất mát mà người lính pháo binh phải chịu đựng Đồng thời cũng được chứng kiện tinh thần gan dạ, quả cảm, sự lạc quan trong mọi khó khăn gian khổ của đồng đội, của nhân dân toàn miền Bắc Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Ông làm phóng viên cho báo Quân khu 3, biên tập viên nhà xuất bản Văn hóa dân tộc Tiếp đó, ông theo học trường viết văn Nguyễn Du Sau khi tốt nghiệp, ông về công tác tại quê hương Thái Nguyên
Trải qua một quá trình sáng tác, nhà thơ đã đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong nhiều cơ quan khác nhau của tỉnh Thái Nguyên: Phó giám đốc Sở Văn hóa - thông tin (1985), Chủ tịch Hội văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên (1998 - 2003), Bí thư Đảng đoàn Hội văn nghệ, Tổng biên tập báo Văn nghệ Thái Nguyên Cho dù ở cương vị nào ông cũng luôn hoàn thành xuất sắc công việc được giao
Trong những năm tháng trải qua trong cuộc đời, Ma Trường Nguyên đã tích lũy được một vốn tri thức phong phú, một nhân cách đáng kính trọng, một tình yêu quê hương đất nước tha thiết Chính điều đó đã tạo thành một mạch nguồn xuyên suốt trong các sáng tác của ông
1.3.1.2 Sự nghiệp sáng tác của Ma Trường Nguyên
Theo Ma Trường Nguyên, người làm thơ lúc nào cũng phải nuôi dưỡng trong
lòng mình một "dư vọng ngân nga" của cuộc đời, khi cần chỉ khẽ động vào cũng đã
thành thơ Thơ chỉ đến với những người biết rung cảm, nồng nhiệt với đời mà thôi Người làm thơ phải luôn gắn với đời, giao cảm với đời thì mới có thể có những vần thơ chân thật, chân thành nhất
Ma Trường Nguyên là nhà thơ sáng tác thơ ca từ rất sớm Năm 16 tuổi, ông đã
khởi đầu sự nghiệp văn chương của mình với bài thơ “Cờ hồng” được in trong tập
“Tiếng trống đồng xuân” do Ty văn hóa Thái Nguyên xuất bản Nhuận bút mà nhà
Trang 33thơ nhận được rất đặc biệt, đó là năm cuốn sách trong "Tủ sách lí luận - hướng dẫn
sáng tác" Đối với Ma Trường Nguyên thì những quyển sách này giống như những
người thầy đầu tiên dìu dắt ông trong những bước chập chững bước những bước đi đầu tiên vào sự nghiệp sáng tác văn chương
Giai đoạn từ 1960 - 1990, Ma Trường Nguyên chủ yếu sáng tác thơ in trên các
báo, tạp chí Những tập thơ in chung có: Đường qua kỉ niệm (1975), Rừng sáng
(1980), Quê núi (1987) Và các tập thơ riêng: Mát xanh rừng cọ (1985), Trái tim không ngủ yên (1988)
Năm 1991, tiểu thuyết đầu tiên được ông cho trình làng với tên gọi "Mũi tên ám
khói" Và liên tiếp 8 năm tiếp theo, nhà thơ đã cho ra đời tất cả 6 cuốn tiểu thuyết, một
tập truyện kí: Gió hoang (1992), Tình xứ mây (1993), Trăng yêu (1993), Bến đời (1995),
Rễ người dài (1996), Mùa hoa hải đường (1998), Cơn giông thời niên thiếu (Kí - 1997)
Đến năm 2004, sau một thời gian vắng bóng, ông trở lại với văn chương và gây ấn
tượng với một số thể loại khác như: tự truyện “Dòng suốt tuổi thơ tôi” và bốn tập thơ: Câu
hát vắt qua vai (2005), Cây nêu (2006), Bắc cầu vồng thăm nhau (2007), Mở núi (2011)
Năm 2009, ông tiếp tục trình làng tập kí Những người bạn và gần đây nhất,
năm 2012 là cuốn tiểu thuyết “Phượng Hoàng núi”
Ma Trường Nguyên đã nhận được nhiều giải thưởng cao về văn học nghệ thuật như:
Giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt
Nam cho tiểu thuyết “Rễ người dài” (1996)
Giải C Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam cho tập thơ
“Cây nêu” (2007)
Giải C giải thưởng văn học nghệ thuật 5 năm (1987 - 1992) của tỉnh Thái
Nguyên cho tập thơ “Trái tim không ngủ”
Giải B giải thưởng văn học nghệ thuật 5 năm của tỉnh Thái Nguyên với tiểu
thuyết “Mũi tên ám khói”
Giải B giải thưởng văn học nghệ thuật 5 năm (1992 - 1997) cho tiểu thuyết
“Mùi hoa hải đường”
Giải B văn học nghệ thuật 5 năm (2002 - 2007) cho tập thơ “Câu hát vắt qua vai”
Trang 34Với 50 năm miệt mài, say sưa với sự nghiệp văn chương, Ma Trường Nguyên
đã để lại nhiều những trang viết chân thật, đậm đà tình cảm, mang đậm dấu ấn cá nhân Những giải thưởng mà ông nhận được chính là những thành quả xứng đáng cho quá trình sáng tạo không mệt mỏi của ông
1.3.2 Quá trình sáng tác của nhà thơ Võ Sa Hà
1.3.2.1 Tiểu sử nhà thơ Võ Sa Hà
Võ Sa Hà tên thật là Ngô Gia Võ, ông sinh ngày 27/10/1959 tại thị trấn Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng Quê gốc của ông là ở Vọng Nguyệt, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
Võ Sa Hà là người ưa giao du, quý bạn và chiều bạn, cửa nhà anh luôn rộng mở với bạn văn chương Quê gốc Bắc Ninh, sinh tại Cao Bằng, hiện sống và làm việc ở
thành phố Thái Nguyên: “Trông về đằng Đông chập chùng biên ải/ Ngược lên phía Bắc
đá dựng lô nhô/ Xuôi về phương Nam bắt tay Kinh Bắc” Những “dư địa chí” ấy xuất
hiện trong thơ Võ Sa Hà như những miền văn hóa, lúc xù xì dữ dội, khi mềm mại trữ tình Khác với vẻ ngoài quảng giao, gặp nhau nói cười rộn ràng, thơ Võ Sa Hà dường như luôn phảng phất một nỗi buồn giàu chiêm nghiệm của người bôn ba, tự lập từ nhỏ, cùng lúc phải làm nhiều nghề để mưu sinh Những bài thơ Võ Sa Hà viết về núi thường hay Núi với anh là bạn rượu, là người tình, là khí chất, là nơi lưu giữ cả sự cô đơn và kiêu hãnh
Quê hương Cao Bằng của ông nằm ở địa đầu của tổ quốc, đã được hình thành
từ rất lâu đời Trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, Cao Bằng đã có một bề dày về truyền thống văn hóa cũng như lịch sử trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Là một tỉnh miền núi có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống cho nên Cao Bằng là một vùng đất có sự đa dạng, phong phú về văn hóa nhờ có sự giao lưu văn hóa của các dân tộc anh em Quê hương chính là một trong những ngọn nguồn cảm hứng trong các sáng tác của nhà thơ góp phần làm nên tính dân tộc và phong cách riêng, độc đáo trong thơ Võ Sa Hà Quê hương yêu dấu ấy đã hiện lên trong những trang thơ của ông thông qua những hình ảnh rất đỗi thân quen mà khi đọc chúng ta không thể nhầm sang một vùng quê khác như: ngọn đèn dầu li ti, bếp lửa đỏ suốt ngày đêm, sương muối phủ dày
Trang 35Đặc biệt, những sản vật đặc trưng của quê hương Cao Bằng như: hạt dẻ Trùng Khánh, lê Đông Khê cũng đã được ông đưa vào trong thơ rất đỗi tự nhiên, mộc mạc, giản dị góp phần làm nên một sức hút rất riêng cho những bài thơ của ông Có thể khẳng định rằng, Võ Sa Hà là một nhà thơ yêu quê hương da diết, nồng đậm
Võ Sa Hà có một tuổi thơ thiếu thốn tình cảm của mẹ: khi ông mới được 17 ngày tuổi đã mất mẹ Đến khi 17 tuổi, sắp trở thành sinh viên khoa văn thì lại mất cha Đây là một nỗi đau, sự mất mát quá lớn, không gì có thể bù đắp được Nỗi đau, nỗi buồn ấy luôn luôn thường trực trong tâm trí nhà thơ và sau này đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều sáng tác của ông
Thuở thiếu niên, Võ Sa Hà học phổ thông tại thị trấn Quảng Uyên Năm 1976, ông đạt giải Nhất học sinh giỏi văn toàn tỉnh Cao Lạng đồng thời cũng trong năm này ông đã tốt nghiệp phổ thông loại giỏi
Từ năm 1976 - 1980, Võ Sa Hà học tại khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Việt Bắc Vì là sinh viên ưu tú cho nên sau khi tốt nghiệp ông được giữ lại trường làm giảng viên Tuy nhiên không bao lâu, đến tháng 12/1980, ông tình nguyện nhập ngũ và công tác tại trường Văn hóa Quân khu I
Đến tháng 2/1984, ông ra quân, trở về tiếp tục làm giảng viên tại trường Đại học Sư phạm Việt Bắc - nay là trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Tháng 12 năm 1999, ông chuyển sang làm giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học của trường Đại học Sư phạm Hiện nay đang là trưởng khoa Giáo dục Tiểu học - Đại học
Sư phạm Thái Nguyên Đến năm 2002, Võ Sa Hà bảo vệ thành công luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam
Võ Sa Hà là một người luôn hết lòng vì công việc, dù cho ở cương vị nào: một người thầy giáo, một vị trưởng khoa hay một nhà thơ ông cũng luôn luôn dồn hết tâm sức của mình để hoàn thành Đồng thời ông cũng là một người có nghị lực sống và vươn lên không ngừng, chính sự phấn đấu vươn lên không mệt mỏi ấy đã giúp ông tích lũy được một vốn hiểu biết sâu rộng, làm tiền đề cho những sáng tác của mình
1.3.2.2 Sự nghiệp sáng tác của Võ Sa Hà
Thơ ca là một phần không thể thiếu trong cuộc đời Võ Sa Hà Ông đã cho
xuất bản tất cả bốn tập thơ là: Sóng bạc hồn tôi (Nxb Văn học, 1998), Ngựa đá (Nxb Quân đội nhân dân, 2001), Cánh chim về núi (Nxb Hội nhà văn, 2004), Lửa
trắng (Nxb Lao động, 2009)
Trang 36Thơ Võ Sa Hà rất giàu tính nhạc chính vì vậy mà nhiều bài thơ của ông đã được nhiều nhạc sĩ lựa chọn để phổ nhạc, đáng chú ý là trong số những bài được phổ nhạc ấy có những bài gây được ấn tượng rất tốt và giành được nhiều giải thưởng cao như: Quê anh - nhạc sĩ Hoàng Sòi (Đạt huy chương vàng Liên hoan ca khúc Cao Bằng), Thổ cẩm - nhạc sĩ Vũ Lực (Đạt giải xuất sắc trong Liên hoan âm nhạc các tỉnh khu vực phía bắc năm 2009), Chữ O đầu đời - nhạc sĩ Phạm Đình Chiến
Trong quá trình sáng tác của mình, Võ Sa Hà đã giành được nhiều giải thưởng cao như: Giải thơ Cao Bằng về đề tài chiến tranh biến giới (1980); đoạt giải nhì (không có giải nhất) - giải thưởng văn học nghệ thuật 5 năm (1998 - 2002) tỉnh Thái
Nguyên cho tập "Sóng nhạc hồn tôi"; Giải A tác phẩm văn học tỉnh Thái Nguyên với tập thơ "Cánh chim về núi" (2002 - 2006); Giải C - Giải thưởng Ủy ban toàn quốc Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam (2004) cũng với tập thơ "Cánh chim về
núi"; Giải B cuộc thi thơ tình do Hội nhà văn Việt Nam tổ chức trên báo Văn nghệ trẻ
trong hai năm 2006 - 2007; Giải khuyến khích cuộc thi thơ do Tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức (2008 - 2009) Thơ là thể loại chủ yếu được ông sáng tác, tuy nhiên ngoài sáng tác thơ thì Võ Sa Hà còn tham gia hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học; sáng tác truyện ngắn, tản văn và một số thể loại khác nữa
Với việc giành được nhiều giải thưởng cao đã nâng cao, khẳng định được giá trị của thơ Võ Sa Hà Thơ ông còn được tuyển chọn để đưa vào trong nhiều hợp tuyển thơ
ca của cả nước: "Hợp tuyển thơ văn các dân tộc thiểu số" - Nxb Giáo dục, 2001, "Thơ
Việt Nam 1975 - 2000" - Nxb Hội nhà văn Việt Nam, 2002, "Thơ viết về mẹ" - Nxb Lao
động, 2002, "Tuyển tập thơ tình Việt Nam và thế giới" (Nxb Quân đội nhân dân, 2005),
"Thơ với lời bình đài tiếng nói Việt Nam" - Nxb Hội nhà văn, 2006, "Chung bước quân hành" - Tập thơ viết về thương binh liệt sĩ, được xuất bản do Nxb Quân đội nhân dân,
2006, "Thơ Việt Nam 1975 - 2000" - Nxb Hội nhà văn, 2006, "Thơ tình Việt Nam thế kỉ
XX" - Nxb Giáo dục, 2007, "Sống mãi với thời gian" - Nxb Lao động, 2010
Nói tóm lại, Võ Sa Hà là nhà thơ có sự đóng góp lớn cho sự phát triển của phong trào sáng tác thơ ở khu vực miền núi Những bài thơ đậm đà bản sắc dân tộc, vùng miền của ông đã làm cho vườn hoa thơ ca dân tộc thêm nhiều màu sắc, nhiều phong vị
Trang 37Ông gửi gắm vào trong thơ những suy tư và những khát vọng của bản thân mình
Võ Sa Hà quan niệm con đường sáng tạo của nhà thơ được kéo dài vô tận, không có giới hạn, không bao giờ đến đích Thơ chính là mảnh đất để người thi sĩ gửi gắm những suy ngẫm của mình về cuộc đời, về con người và về chân lý sáng tạo nghệ thuật, về cái bản thể cô đơn nhiều khát vọng nhưng cũng không thiếu sự khổ đau của bản thân
Trong bài phỏng vấn nhà thơ ngày 3/12/2011 nhà thơ đã tâm sự: "Niềm đam
mê thơ có lẽ sẽ gắn bó với tôi suốt đời" Võ Sa Hà là nhà thơ viết nhiều về người
thân, về quê hương, về những miền đất mà nhà thơ đã đi qua, về những kỉ niệm tình yêu, tình bạn, tình đồng đội và về cả những vui buồn trong cuộc sống Ông gửi gắm vào trong thơ những suy tư và những khát vọng của bản thân mình
Thơ chính là mảnh đất để người thi sĩ gửi gắm những suy ngẫm của mình về cuộc đời, về con người và về chân lý sáng tạo nghệ thuật, về cái bản thể cô đơn nhiều khát vọng nhưng cũng không thiếu sự khổ đau của bản thân Một người thầy mẫu mực, một nhà thơ tâm huyết đã góp cho đời những vần thơ hay những cái nhìn đa dạng về thiên nhiên núi rừng Việt Bắc
1.3.3 Quá trình sáng tác của nhà thơ Phan Thái
1.3.3.1 Tiểu sử nhà thơ Phan Thái
Quê quán: Tân Lễ, Hưng Hà, Thái Bình Hiện sống tại Thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên, Hội viên Hội VHNT tỉnh Thái Nguyên
Tác phẩm đã xuất bản: Về sông xưa (thơ, 2010); Suýt chết vì bố vợ (truyện vui, 2010); Quẩy nắng vào đêm (thơ, 2012); Gặp nhau là cười (truyện vui, 2012) Cơm áo
chợ đời (tiểu thuyết, 2014); Sóng bên ngày nắng (tiểu thuyết, 2015)
Giải thưởng Hội Liên hiệp VHNT Việt Nam (tập thơ Về sông xưa, năm 2011) Giải Nhất thơ Cuộc thi sáng tác văn học về đề tài “Nông nghiệp - nông dân -
nông thôn” trên Báo VNTN (2011 - 2013)
1.2.3.2 Sự nghiệp sáng tác của Phan Thái
Hồi học lớp 7, Phan Thái đã ham thích đọc văn và ngây ngô nghĩ rằng mình cũng viết được.Vậy là Phan Thái làm bài thơ đầu tiên gửi cho báo Thiếu niên Tiền phong, tác phẩm được đăng đã khích lệ tinh thần Phan Thái rất nhiều Khi học cấp 3 cuộc sống nhiều khó khăn, mặc quần áo vá, đi xe đạp cũ, ngày ngày chỉ ăn cơm độn khoai sắn nhưng vẫn hay viết thơ gửi báo, mỗi lần lấy nhuận bút là dịp bạn bè được
Trang 38uống nước chè, ăn kẹo lạc…, vui sướng lắm Học xong thì Phan Thái đi bộ đội (1978), viết thơ về quê hương đất nước, về những người lính Sau ngày giải ngũ thi vào đại học Mỏ - Địa chất, học xong thì lập gia đình, lúc ấy nghèo, tích cóp mãi mới mua được chiếc xe đạp, có khi cả năm sắm sửa được mỗi cái phích nước Thế là Phan Thái quyết định dấn thân làm kinh tế, đi buôn và mở lò gạch.Sau này cuộc sống ổn hơn, mặc dù không viết nhiều nhưng thỉnh thoảng vẫn viết cộng tác bài cho các báo
Năm 2000, trong một lần Hội VHNT Thái Nguyên tổ chức cho các tác giả đi thực tế tại Mỏ than Phấn Mễ nơi Phan Thái làm việc Có giao lưu đọc thơ, lúc ấy “tôi
hứng khởi mang “sổ thơ” mình ra khoe, nhà văn Hồ Thủy Giang đọc rồi khen, đã
động viên tôi làm hồ sơ vào Hội”
Năm 2004 - 2005, Phan Thái bắt đầu viết truyện ngắn, rồi bước dần đến mảng tiểu thuyết Đến nay đã xuất bản 6 tập sách, trong đó có 2 tập thơ, 2 tiểu thuyết, 2 tập
truyện vui Hiện Phan Thái đang gửi in cuốn tiểu thuyết “Đèn giời”, thời gian tới sẽ
tập trung đầu tư, đi sâu hơn vào mảng văn xuôi Chuyện văn chương có làm mình sống đẹp và tình hơn hay không thì nên để bạn bè đồng nghiệp, hơn hết là độc giả nhìn nhận, Phan Thái chỉ dám nói rằng khi đến với văn chương, trải lòng trên những trang viết Phan Thái thấy đời sống mình phong phú hơn, suy nghĩ mọi sự thấu đáo, đa chiều hơn Với niềm đam mê, sự nhiệt huyết và tình yêu dành cho thơ ca Phan Thái
đã mang đến cho người đọc những bài thơ hay, trong sáng về cảnh người quê hương thấm đậm phong cách ca dao từ hình ảnh, ngôn ngữ đến nhịp điệu và lối diễn đạt, góp thêm cho dòng thơ Thái Nguyên nói riêng và thơ Việt Nam nói chung nhiều tác phẩm
có giá trị cao, được người đọc hôm nay và mãi đến sau này yêu thích và mến mộ
Sinh ra ở Thái Bình, vùng đất của lúa, của nghệ thuật chèo, của những làng cổ đặc trưng vùng Bắc Bộ Từ bé đã nghe hát chèo, hát đồng dao trẻ con… Nên Phan Thái viết nhiều thơ lục bát vì thấy ưng ý hơn các thể loại khác, nó giúp Phan Thái thể hiện thành công hơn những gì là hoài cổ, đó là sự trân trọng quá khứ, nguồn cội Sớm rời quê theo cha mẹ đi lập nghiệp, nên khi viết về miền quê nhà văn như thấy mình được trở lại Đắm mình trong những giá trị xưa cũ, là bầu bí chung giàn, lá lành đùm
lá rách, dây trầu quấn lấy thân cau Với Phan Thái sáng tác thơ là sự trải lòng mình, dòng chảy của mạch thơ không cố định, cứ bật ra theo cảm xúc và cứ tuôn trào
Trang 39Phan Thái kể: “Đến với nghề viết vì yêu thích chứ không phải vì mưu sinh, nên
coi việc viết nhẹ nhàng” Hồi ở đơn vị bộ đội, tôi viết vì nỗi nhớ nhà, nhớ quê trong
những đêm đứng gác; trong những cuộc giao tranh, nghe tin đồng đội hi sinh, chứng kiến bạn bè ngã xuống…, những câu thơ cứ bật ra tự nhiên dù chẳng nghĩ đến Cuộc sống không bao giờ toàn mỹ, tôi viết những lúc bản thân buồn ghê gớm, không hài lòng ghê gớm Tuy nhiên không phải dùng trang viết để lồng bực tức vào đó, mà viết
để nỗi niềm được giải tỏa, để cân bằng suy nghĩ và hành động Làm thơ, viết văn đòi hỏi người ta phải có tâm trạng, xây dựng được ý - tứ, cốt truyện, nhân vật, bối cảnh…, phải đặt mình vào nhân vật đó, xem họ suy nghĩ, hành động thế nào mới có thể tạo ra bất ngờ Viết là cách để tôi được “sống” nhiều hơn.Phan Thái viết bằng niềm đam mê Mặc dù công việc ở cơ quan khá bận, ngày trước Phan Thái hay chơi thể thao như cầu lông, tennis, sau này vì mê viết mà bỏ cả Cuộc sống có rất nhiều vấn đề, sự việc tác động vào nhận thức, Phan Thái muốn thông qua sáng tạo văn học để nói lên Nhiều khi viết vì có những điều không nói được, nhưng không ngộ nhận cá nhân mà đứng trên góc độ của cái chung để suy xét, đánh giá sao cho đúng nhất Cuộc sống vốn phức tạp, cái quan trọng là người cầm bút phải chọn lọc cần nói gì, cái gì không nên nói Cảm hứng được tạo ra khi suy nghĩ và hiểu về vấn đề mình nung nấu Ví như viết về làng quê phải có sự gắn bó, vì gia đình là công nhân nên Phan Thái không gắn với ruộng đồng, Phan Thái tìm về quê để xem người dân gặt lúa thế nào, trâu đẫm ra sao, tìm hiểu tại sao người ta gọi là áo nâu sồng, nón mê…; viết về đề tài công nghiệp thì phải hiểu, chưa hiểu thì nhà văn giở sách công nghiệp ra đọc Văn học là sự sáng tạo, tuy vậy, tôi nghĩ nền tảng của sáng tạo là phải hiểu thì mới viết được
Phan Thái thường viết bằng những cảm xúc tự nhiên nảy sinh trong tâm hồn, thổi hồn vào những câu thơ đem đến cho sự vật sự sống, thể hiện trạng thái, cảm xúc tinh vi nhất của sự vật và chính bản thân tác giả Cái tài của Phan Thái là ở chỗ, viết về những thứ quen thuộc với mọi người như đồng ruộng, làng quê,… nhưng vẫn tạo nên sự hấp dẫn riêng Nhà thơ nói sự vật, sự việc này mà như đang
Trang 40Tiểu kết chương 1
Khái niệm sinh thái, văn học và mối quan hệ giữa sinh thái và văn học là những giới thuyết quan trọng, cần thiết mà chúng tôi đi tìm hiểu trước khi đi sâu vào những ý chính của luận văn Giữa sinh thái và văn học luôn luôn có mối quan hệ mật thiết, gắn bó và có sự tác động qua lại lẫn nhau Môi trường sinh thái tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến văn học đồng thời văn học cũng góp phần làm cho những biểu hiện tích cực hay hạn chế của môi trường sinh thái đến đời sống của con người
Thơ Thái Nguyên là một bộ phận cấu thành nên nền thơ ca dân tộc Việt Nam Trải qua quá trình hình thành và phát triển Thơ Thái Nguyên đạt được những thành tựu đáng kể về số lượng và chất lượng
Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Phan Thái là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ Thái Nguyên Cả ba nhà thơ đều có một quá trình hoạt động sáng tác lâu dài cho đến tận ngày nay