Năm 1984, khi tập thơ Ánh trăng đoạt giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam công bố 1986, Nguyễn Duy được người đọc biết đến nhiều qua hàng loạt bài viết của các tác giả: Từ Sơn, Tế Hanh,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Mai Hương
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đề tài Bản sắc dân tộc trong thơ Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi Tất cả các số
liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Mọi tài liệu tham khảo, trích dẫn khoa học đều có nội dung chính xác Các kết luận khoa học chưa công bố ở bất kì công trình nghiên cứu nào khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2014
Học viên
Chu Thị Hồng Vân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS TS Mai Hương, người đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học, các quý thầy cô đã tận tình chỉ bảo và dạy dỗ, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình, người thân, bạn bè đã luôn bên cạnh khuyến khích, động viên giúp tôi vượt qua những khó khăn để hoàn thành khóa học của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2014
Chu Thị Hồng Vân
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lí do lựa chọn đề tài 5
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 7
3 Phương pháp nghiên cứu 17
4 Phạm vi nghiên cứu 17
5 Đóng góp của luận văn 18
6 Cấu trúc của luận văn 18
PHẦN NỘI DUNG 20
Chương 1: VỀ KHÁI NIỆM BẢN SẮC DÂN TỘC VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA NGUYỄN DUY, ĐỒNG ĐỨC BỐN 20
1.1 Về khái niệm bản sắc dân tộc 20
1.2 Hành trình thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn 25
1.2.1 Thơ Nguyễn Duy 26
1.2.2 Thơ Đồng Đức Bốn 35
Chương 2: BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG THƠ NGUYỄN DUY, ĐỒNG ĐỨC BỐN NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NỘI DUNG CẢM HỨNG 45
2.1 Quê hương, đất nước 45
2.1.1 Quê hương, đất nước trong thơ ca Việt Nam 45
2.1.2 Quê hương đất nước trong thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn 48
2.2 Bản sắc của con người 62
2.2.1 Về những người thân trong gia đình 66
2.2.2 Về những chàng trai nơi thôn dã 73
2.2.3 Về những cô gái quê, cô thôn nữ 77
Trang 6Chương 3: BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG THƠ NGUYỄN DUY, ĐỒNG
ĐỨC BỐN NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN 83
3.1 Vận dụng sáng tạo thể thơ lục bát truyền thống 83
3.2 Khai thác và vận dụng hình ảnh của thơ truyền thống 87
3.3 Ngôn ngữ, giọng điệu 96
3.3.1 Ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn 96
3.3.2 Giọng điệu thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn 102
PHẦN KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do lựa chọn đề tài
1.1 Công cuộc đổi mới được khởi xướng vào năm 1986 là một sự kiện
trọng đại tạo nên những chuyển đổi cơ bản trong đời sống xã hội Việt Nam Trong không khí đổi mới, dân chủ, văn nghệ đã được “cởi trói”, văn nghệ sĩ
có thể “nói thẳng”, “nói thật” về nhiều vấn đề của đời sống xã hội và con người Theo đó, cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ cũng được giải phóng triệt
để hơn Cuộc gặp gỡ giữa Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và giới văn nghệ sĩ
cả nước vào tháng 10 năm 1987 đã tác động rất lớn đến tinh thần của những người cầm bút, nhất là ý thức tự “cởi trói” trong lĩnh vực sáng tạo Điều đó dẫn tới sự thay đổi sâu sắc về tư duy nghệ thuật giai đoạn này Từ chỗ là những nghệ sĩ ngợi ca đất nước và nhân dân bằng cái nhìn sử thi và cảm hứng lãng mạn, giờ đây các nhà thơ chuyển từ “bè cao” sang “giọng trầm” Cái nhìn sử thi dần phai nhạt thay vào đó là cái nhìn mang đậm chất đời tư thế sự Đây là yếu tố hết sức quan trọng khiến cho nghệ thuật giai đoạn này thể hiện tinh thần dân chủ hóa sâu sắc Cảm hứng nhân bản và sự thức tỉnh ý thức cá nhân đã trở thành nền tảng và cảm hứng chủ đạo của văn học và thơ ca sau
1975 Nhà thơ không còn bị vướng bận với những kiểu hiện thực chủ yếu và hiện thực thứ yếu, không bị bó buộc trong những khung tư tưởng định sẵn mà
cố gắng thể hiện tính đa chiều của hiện thực đời sống và con người
1.2 Tư duy thơ thay đổi, quan niệm thơ thay đổi kéo theo một hệ quả
tất yếu là sự đổi mới toàn diện và sâu sắc của thơ Theo đó, những khuynh hướng mới trong thơ cũng như sự đa dạng trong phong cách sáng tạo của các nhà thơ được phát triển Khảo sát qua thơ Việt Nam sau 1975, chúng tôi nhận thấy, thơ có những khuynh hướng tìm tòi, đổi mới phương thức thể hiện đa dạng Trong đó có thể thấy, khuynh hướng trở về tiếp thu, sáng tạo truyền thống, hiện đại hóa trên cơ sở tiếp
Trang 8thu truyền thống là một trong những khuynh hướng tìm tòi khá đậm, khá thành công của thơ đương đại
1.3 Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn là những cây bút tiêu biểu của
thơ Việt Nam hiện đại Xuất hiện và trưởng thành trong phong trào thơ chống Mỹ, Nguyễn Duy đã sớm tạo được phong cách riêng độc đáo và ngày càng thu hút được sự mến mộ của công chúng Đến với thơ muộn hơn
và đời thơ cũng ngắn ngủi, nhưng với “giọng” riêng không lẫn, thơ Đồng Đức Bốn cũng đã tạo được dấu ấn riêng trong thơ Việt đương đại Mỗi người một vẻ nhưng một trong những điểm gặp gỡ và góp phần không nhỏ tạo nên nét riêng, thành công riêng cho cả hai cây bút là sự tiếp thu sáng tạo, hiệu quả thơ truyền thống - đổi mới trên cơ sở tiếp thu truyền thống thơ dân tộc Có thể nói các nhà thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn cùng nhiều cây bút khác đã khẳng định một trong những hướng tìm tòi đổi mới giàu hiệu quả của thơ đương đại Việt Nam
1.4 Tuy nhiên, qua khảo sát của chúng tôi, cho đến nay vẫn chưa có
công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, thấu đáo về vấn đề bản sắc dân tộc trong thơ đương đại nói chung và hai cây bút Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn nói riêng Các công trình, bài viết mới chỉ dừng lại ở một vài khía cạnh riêng biệt ở một tác giả hay cụm tác phẩm Từ những lí do đó, người viết đã
lựa chọn nghiên cứu đề tài: Bản sắc dân tộc trong thơ Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn Từ đó, nhằm khẳng định một trong những nét độc đáo trong phong
cách sáng tạo và đóng góp của hai cây bút Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn góp phần tạo nên diện mạo mới của thơ Việt Nam đương đại Ở một phạm vi nhất định, luận văn cũng góp phần vào việc tổng kết, đánh giá tiến trình vận động, đổi mới của thơ đương đại Việt Nam
Trang 9số công trình, bài viết tiêu biểu để thấy được tính hệ thống trong vấn đề mình đang nghiên cứu
Tác giả Nguyễn Hữu Quýnh với bài Hai xu hướng thơ hiện nay đã chỉ
ra sự khác biệt giữa cái mới của những thế hệ cầm bút trên thi đàn Việt Nam sau 1946 Tác giả bày tỏ thái độ trước những yêu cầu cách tân thơ hiện nay là:
Để có một nền thơ thuần hậu, nhân văn, trong sáng và đa dạng cần đối xử công bằng với mọi nhà thơ Đừng vì nhân danh đổi mới, hiện đại hay truyền thống mà bên trọng bên khinh Hãy để cho các khuynh hướng thơ được bình đẳng tồn tại với nhau, đừng dạy dỗ, đừng áp đặt, đừng khắt khe và cũng đừng
ôm ấp chiều chuộng thái quá ai cả Tự thơ nói lên tất cả Tự bạn đọc bầu chọn nhà thơ của họ Tự cuộc sống lâu dài định danh cho thơ Tóm lại cứ để cho thơ phát triển tự nhiên vì nó là thơ Tuy nhiên, tác giả chỉ dừng lại nhìn nhận một cách khái quát về xu hướng thơ hiện nay mà không đi vào nghiên cứu một tác giả, tác phẩm cụ thể nào
Phạm Vĩnh trong bài Tính dân tộc trong thơ Việt Nam: vĩnh cửu và luôn luôn biến đổi đã nghiên cứu tính dân tộc trong thơ Việt Nam trong suốt
chiều dài phát triển lịch sử thơ ca, để khẳng định: Người sáng tạo càng sâu sắc, độc đáo bao nhiêu thì càng đạt tính dân tộc, tính nhân loại ở độ cao bấy nhiêu Đồng thời tác giả khẳng định, tính dân tộc phải có xu thế mở, tức là nói đến tính dân tộc không có nghĩa là nói đến một giá trị bất biến, khuôn khổ và cứng nhắc mà phải luôn kế thừa và sáng tạo tiếp
Trang 10Tác giả Trần Sáng với bài Thử tìm hiểu tính dân tộc trong thơ hôm nay
đã ngợi ca cái mượt mà đằm thắm, cái chia sẻ, thấu hiểu mà thơ dân tộc đã có được Những gì mang tính dân tộc trong thơ hôm nay “Đó là những lời từ trái tim, là chủ nghĩa nhân đạo cao cả của người Việt cũng là cái đích hướng đến của nhân loại Những vần thơ đó đã chinh phục trái tim nhân loại trong khi nhà thơ vẫn đứng vững hai chân trên mảnh đất dân tộc mình”
Ngoài những bài nghiên cứu trên, chúng tôi thấy đã có những bài nghiên cứu chung về thơ của các tác giả Trần Đình Sử, Mã Giang Lân, Lý Hoài Thu, Nguyễn Văn Long, Mai Hương, Bích Thu trong đó ít nhiều đã đề cập đến yếu tố dân gian, chất dân gian trong thơ đương đại Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào vấn đề chung của thơ đương đại, chưa có điều kiện đi sâu vào bản sắc dân tộc trong thơ đương đại, đặc biệt của hai cây bút Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn
2.2 Lịch sử nghiên cứu về bản sắc dân tộc trong thơ của Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn
2.2.1 Các công trình nghiên cứu về thơ Nguyễn Duy
Nguyễn Duy xuất hiện trên thi đàn và mang đến một tiếng nói riêng đầy bản sắc, thu hút sự chú ý của nhiều độc giả Đã có khá nhiều bài viết đánh giá, thẩm bình về thơ ông Mỗi công trình nhìn nhận thơ Nguyễn Duy
từ một phương diện khác nhau, một khía cạnh nào đó trong đời thơ của ông Để thấy rõ hơn quá trình thẩm bình đánh giá đó, luận văn chủ yếu đi vào khảo sát các công trình nghiên cứu liên quan tới bản sắc dân tộc trong thơ Nguyễn Duy
Ngay từ những sáng tác đầu tay, nhất là sau giải thưởng cuộc thi thơ
của tuần báo Văn nghệ 1973, Nguyễn Duy đã nhanh chóng thu hút được sự
mến mộ của đông đảo công chúng và gây được sự chú ý của các nhà nghiên cứu, phê bình Trước hết phải kể đến ý kiến của Hoài Thanh về thơ Nguyễn
Duy trong bài viết Đọc một số bài thơ của Nguyễn Duy [48] :…“đọc thơ
Trang 11Nguyễn Duy thấy anh thường hay cảm xúc với những chuyện lớn, chuyện nhỏ quanh mình Cái điều ở người khác có thể chỉ là chuyện thoảng qua thì ở anh
nó lắng sâu và dường như dừng lại” Những nhận xét của Hoài Thanh đã
giúp chúng ta thấy được điểm riêng trong sáng tác của Nguyễn Duy Bằng cảm nhận tinh tế, sắc sảo, ông đã nhận ra vị quê mùa đằm thắm, chân chất trong thơ Nguyễn Duy, “quen thuộc mà không nhàm”, là “khúc dân ca” vùng
“đồng bằng miền Bắc đã cùng anh đi vào giữa đỉnh Trường Sơn” Chất thơ đó
“nhẹ nhàng hiền hậu”, “rất Việt Nam mà chúng ta vẫn giữ nguyên trong thử lửa” Bài viết đã đề cập đến tư duy thơ của Nguyễn Duy, đó là sự kết hợp của cảm xúc, tình thơ với ý thơ và sự suy ngẫm
Nhà phê bình Hà Minh Đức trong bài Về một số cây bút trẻ gần đây trong quân đội [20] đã viết về triết lí dân gian trong thơ Nguyễn Duy: “Thơ
Nguyễn Duy mang nhiều màu sắc dân gian Cách suy nghĩ và cảm xúc trên trực tiếp hay gián tiếp đều nằm trong mạch suy nghĩ quen thuộc của dân gian
và tự nhiên là anh phải tìm đến một lối phô diễn, một giọng điệu thơ thích hợp”, “anh chú ý nhiều đến thể lục bát, đến sự mềm mại, nhịp nhàng của các làn điệu dân ca” Cũng bàn về thơ lục bát, Lê Quang Trang nhận ra đây là thế mạnh của Nguyễn Duy “anh vốn là người sở trường về sử dụng thơ lục bát – một thể thơ có phần tĩnh và biến hóa không nhiều” [49]
Năm 1984, khi tập thơ Ánh trăng đoạt giải thưởng của Hội nhà văn
Việt Nam (công bố 1986), Nguyễn Duy được người đọc biết đến nhiều qua hàng loạt bài viết của các tác giả: Từ Sơn, Tế Hanh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Hữu Sơn, Ngô Vĩnh Bình, Lê Giang, Lê Quang Hưng, Nguyễn Quang Sáng… Những cây bút này đã có nhiều phát hiện mới mẻ, xác đáng về thơ Nguyễn Duy trong đó có đề cập tính dân gian ẩn chứa trong thơ Nguyễn Duy Nhà thơ Tế Hanh với tâm hồn nhạy cảm luôn gắn bó với quê hương đã cảm nhận sâu sắc về hồn quê, tình quê trong thơ Nguyễn Duy: “Một điểm đáng
Trang 12chú ý nữa là thơ Nguyễn Duy nói về ruộng đồng dù đó là Thanh Hóa quê anh hay Cà Mau quê bạn, có cái gì đó rất tha thiết” [24]
Lê Quang Hưng với bài Thơ Nguyễn Duy và Ánh trăng [25] đăng trên Tạp chí văn học số 3 năm 1986 có nhận định: “Những bài thơ trong Ánh trăng
thật đậm đà tính ca dao, nhiều đoạn thơ nhuần nhụy ngọt ngào khiến cho người ta khó phân biệt được đâu là ca dao đâu là thơ…” Ông cũng đã tìm ra
cái đặc sắc riêng của tập thơ Ánh trăng trong đó chúng ta thấy cái bóng dáng
của tính triết lí qua sự chiêm nghiệm suy tư của Nguyễn Duy về cuộc sống:
“Với Cát trắng, người đọc thích một tâm hồn cảm nhận được ý nghĩa và bề
sâu của cuộc sống từ sự vật, sự việc có vẻ bình thường Giờ đây, Nguyễn Duy vẫn nhạy cảm, giàu suy tư như thế và từng trải sâu sắc hơn Ý nghĩa phổ quát,
sự suy nghĩ trong thơ Nguyễn Duy thường có điểm tựa từ một âm thanh, một
sự vật đậm tính dân tộc”
Viết về giọng điệu thơ của Nguyễn Duy, Lại Nguyên Ân trong bài Tìm giọng mới thích hợp với người của thời đại mình [2] đã làm rõ giọng điệu trữ tình trong tập thơ Ánh trăng, tác giả đã nêu bật được thành công của Nguyễn
Duy khi “dệt nên những giai điệu trữ tình” Bên cạnh đó, Lại Nguyên Ân khẳng định trong thơ lục bát của Nguyễn Duy: “Có cái gì đó bên trong như cãi lại vẻ êm nhẹ nuột nà của câu hát ru truyền thống” Chính nhà thơ khi sáng tác đã “tạo nên cái tiếng cười khúc khích, giọng bông lơn bỡn cợt ngay giữa dòng trữ tình như là để phá bớt cái vẻ rưng rưng thống thiết cứ dâng trào…” Chính giọng điệu trữ tình là yếu tố chủ đạo tạo nên bản sắc dân tộc độc đáo trong thơ Nguyễn Duy, đặc biệt từ sau năm 1975
Năm 1987, Nguyễn Quang Sáng trong bài viết Đi tìm tiềm lực trong thơ Nguyễn Duy [45] cũng đã nhận định: “Nguyễn Duy vốn có ưu thế và trội
hẳn lên trong thể thơ lục bát, loại thơ ngỡ như là dễ làm, ai cũng làm được, nhưng để đạt tới hay thì khó thay, nếu không nói là khó nhất Thơ lục bát của Nguyễn Duy không rơi vào tính trạng quen tay, nó có sự biến đổi, chuyển
Trang 13động trong câu chữ” Thơ lục bát Nguyễn Duy “đượm tính dân tộc và nhuần nhuyễn ngôn ngữ dân gian Lời thơ đơn sơ, gần với khẩu ngữ Tư duy thơ thì hiện đại, hình thức thơ thì phảng phất hương vị cổ điển phương Đông…”
Tác giả Đỗ Ngọc Thạch đi sâu vào hình ảnh Người vợ trong thơ Nguyễn Duy [50] và thấy rõ “hồn quê” có sức “lay động tận sâu thẳm tâm
linh… đưa ta trở về với bản ngã, với những gì con người nhất”
Vũ Văn Sỹ trong bài viết Nguyễn Duy – Người thương mến đến tận cùng chân thật [47] đánh giá: “Cái đáng quý nhất trong thơ Nguyễn Duy là
anh viết về đất nước, về nhân dân, về đồng đội, về những người thân và về chính mình bằng tấm lòng “thương mến đến tận cùng chân thật” ” Tác giả thấy được sự chân thành hết mực của tâm hồn thơ được thể hiện trong thơ lục bát của Nguyễn Duy đồng thời khẳng định tài năng của ông ở thể loại này
Phạm Thu Yến nghiên cứu về đặc điểm thơ Nguyễn Duy mà chủ yếu là trên thể thơ lục bát đã đi sâu vào những biểu hiện trong mối quan hệ giữa ca dao và thơ hiện đại, cụ thể là tiếng vọng của ca dao trong thơ lục bát Nguyễn Duy: “Đọc thơ Nguyễn Duy, ta như được gặp một thế giới ca dao sinh động, phập phồng làm nền cho tiếng đàn độc huyền đầy sáng tạo của hồn thơ thi sĩ” Tác giả cũng khẳng định “thể thơ lục bát – thể thơ đặc trưng của dân tộc được Nguyễn Duy sử dụng nhuần nhụy, giúp tác giả chuyển tải một cách nhẹ nhàng trong sáng những suy nghĩ và tình cảm sâu sắc của con người Có lẽ, những bài thành công nhất của Nguyễn Duy là những bài làm theo thể lục bát” [55] và thơ Nguyễn Duy rõ ràng là phản ca dao qua việc khai thác các ý đối lập với những tứ quen thuộc trong ca dao để tạo nên những tứ mới khiến cho cả ca dao và thơ càng bay bổng hơn
Chu Văn Sơn trong bài viết Nguyễn Duy – Thi sĩ thảo dân [46] đã có
nhiều khám phá mới mẻ, mang tính hệ thống về thơ Nguyễn Duy Tác giả đã
đi vào khai thác nhiều khía cạnh trong thơ Nguyễn Duy từ quan niệm nghệ thuật, quan niệm thẩm mĩ đến cái tôi, thế giới nhân vật và giọng điệu thơ,
Trang 14trong đó có đề cập đến triết lí mang đậm tính nhân sinh “Ta là dân vậy thì ta tồn tại” của thơ Nguyễn Duy Tác giả đánh giá “Nguyễn Duy là thi sĩ thảo dân ngay từ quan niệm nhân sinh và nghệ thuật” và cũng chính quan niệm nghệ thuật này đã đồng hành cùng Nguyễn Duy suốt con đường sáng tạo nghệ thuật của ông và càng về sau thì nó càng rõ ràng và sắc nét hơn Nguyễn Duy là nhà thơ “ham mê chiêm nghiệm triết lí” nhưng triết lí trong thơ của Nguyễn Duy là triết lí “thảo dân” nhưng chất “thảo dân” không chỉ mang tính ý thức xã hội mà đồng thời còn là ý thức thẩm mĩ được chuyển hóa trong hình tượng cái tôi thi sĩ
Ngoài ra còn khá nhiều bài viết phân tích, bình giá về các bài thơ của
Nguyễn Duy như: Vũ Quần Phương viết về Hơi ấm ổ rơm, Nguyễn Bùi Vợi viết về bài thơ Ánh trăng, tác giả Lê Trí Viễn, Chu Huy viết về bài Tre Việt Nam, Hoàng Nhuận Cầm viết về Tiếc thay áo trắng má hồng, Nhị Hà viết về bài Xuồng đầy Bên cạnh đó, còn có nhiều bài viết của các tác giả
Trần Hòa Bình, Trần Đăng Khoa, Văn Giá, Đoàn Minh Tuấn, Nguyễn Thị Bích Nga Nhìn chung các tác giả đều nhận thấy ở thơ Nguyễn Duy có sự biến hóa sáng tạo, mang tính trí tuệ Với sự cách tân linh hoạt, nhuần nhuyễn giữa lục bát truyền thống và hiện đại cùng với một tâm hồn thơ đầy cảm xúc, thơ của Nguyễn Duy đã chạm được vào sâu thẳm trái tim người đọc, đánh thức các giác quan để người đọc có thể thẩm thấu ý nghĩa thơ ông ở nhiều phương diện
Bài Tre Việt Nam [53] đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu
văn học GS Lê Trí Viễn đã chỉ ra phẩm chất con người Việt Nam thông qua hình ảnh cây tre, đồng thời thấy được giọng điệu quen thuộc của ca dao dân gian trong bài thơ: “Người ta gặp ở đây vừa âm hưởng của ca dao – dân ca ngọt ngào thân mật, vừa vang vọng của thơ ca bác học lắng sâu vào trí tuệ Cách tân linh hoạt nhưng lại nhuần nhuyễn cả xưa lẫn nay, cả truyền thống
lẫn hiện đại” Cũng về bài thơ này, Chu Huy khẳng định “Tre Việt Nam là
Trang 15một trong những bài thơ hay của Nguyễn Duy Bài thơ dào dạt cảm hứng cấu
tứ sâu sắc, độc đáo kết tinh từ những hình ảnh cuộc sống dân dã đời thường
mà ai đã đọc một lần thì nhớ mãi” [26]
Trần Hòa Bình trong Bình văn ấn tượng với “giai điệu thư thái lâng lâng” của bài thơ cất lên từ nhịp thơ lục bát thân quen trong bài Tiếng hát mùa gặt của Nguyễn Duy Nguyễn Thị Bông lại mang cảm giác xốn xang khi phát
hiện ra Điểm gặp nhau thú vị của Tú Xương với Nguyễn Duy [4] qua hai bài thơ Thương vợ và Vợ ốm: “hai thi nhân của hai thời đại, một thì ngang
ngạnh… một thì trầm lắng… dịu dàng đằm thắm… lại có những điểm gặp nhau tuyệt vời”
Ngoài những bài viết mang tính chất nghiên cứu, phê bình phân tích, bình giảng về thơ Nguyễn Duy còn có một số khóa luận, luận văn thạc sĩ chọn thơ Nguyễn Duy làm đề tài nghiên cứu
2.2.2 Các công trình nghiên cứu về tác giả Đồng Đức Bốn
Cho đến nay, các bài viết về nhà thơ Đồng Đức Bốn chủ yếu tập trung vào thơ lục bát và xoay quanh một số khía cạnh như: tài năng bẩm sinh của nhà thơ, nét độc đáo, chất thơ mộc mạc, cá tính nghệ sĩ, giọng điệu hay chất
dân gian Có thể kể tới một số bài viết tiêu biểu: Đồng Đức Bốn vị cứu tinh của thơ lục bát (Nguyễn Huy Thiệp), Đồng Đức Bốn – kẻ mượn bút của trời (Đỗ Minh Tuấn), Múa võ trong không gian hẹp (Lê Quang Trang), Đồng Đức Bốn – phiêu du vào lục bát (Nguyễn Đăng Điệp), Những câu thơ tình tang quê mùa (Đoàn Hương), Đọc thơ lục bát của Đồng Đức Bốn (Nguyễn Thị Anh Thư), Đóng gạch nơi nao? (Phạm Tiến Duật), Nhà thơ Đồng Đức Bốn nhàu nát và trau chuốt (Trần Huy Quang), Đồng Đức Bốn – tựa bão để sống làm người (Nguyễn Anh Quân), Đồng Đức Bốn - thi sĩ đồng quê (Băng
Sơn)…
Những bài viết này đã có một số ý kiến đề cập đến chất dân gian, chất đồng quê của thơ Đồng Đức Bốn, tuy nhiên mới ở mức độ đan xen khi khảo
Trang 16sát thơ lục bát hoặc lướt qua chứ chưa đi sâu vào bản chất vấn đề Ở phần này, chúng tôi tập trung vào khảo sát một số bài viết liên quan đến vấn đề bản sắc dân tộc trong thơ Đồng Đức Bốn
Trong bài Đồng Đức Bốn - Vị cứu tinh của thơ lục bát, Nguyễn Huy
Thiệp viết: “Đồng Đức Bốn đã từng nhận nhiều giải thưởng trong các cuộc thi
thơ của báo Văn nghệ, tạp chí Văn nghệ Quân đội và báo Tiền phong Anh là
người sở trường làm thơ lục bát Có lẽ anh là người làm thơ lục bát hay nhất trong khoảng 50 năm trở lại đây ở nước ta, kể từ khi Nguyễn Bính – một nhà thơ chân quê đồng thời cũng là một thi sĩ đệ nhất lãng tử giang hồ qua đời” Bài viết còn đề cập đến hình ảnh nông thôn trong thơ Đồng Đức Bốn, vẫn là những thôn Đoài, thôn Đông, vẫn là cái ngậm ngùi của sự nghèo nàn, mất mát khiến lòng ta nhói đau nhưng trong thơ Đồng Đức Bốn lại mang một màu sắc khác, tạo nên cái mới lạ, độc đáo riêng biệt, không trộn lẫn của thơ anh
Nguyễn Huy Thiệp cũng đã nêu lên tính đặc trưng của thơ lục bát là dễ làm, khó hay “Có thể nói thơ lục bát là một thể thơ nôm na cổ truyền đặc trưng Việt Nam Người Việt Nam vị tình Thơ lục bát cũng là một thể thơ vị tình Nó gần gũi với lối sống, nếp nghĩ của người nông dân Việt Nam thật thà, chất phác, thơ lục bát rất dễ làm nhưng chính vì thế mà khó hay… Đồng Đức Bốn là người tự dưng đốn ngộ với thể thơ lục bát” Như vậy có thể thấy một
số bài viết đã bắt đầu quan tâm đến vấn đề thể loại và mối liên hệ mật thiết giữa thơ lục bát Đồng Đức Bốn và dòng thơ lục bát truyền thống
Đỗ Minh Tuấn trong bài Đồng Đức Bốn – Kẻ mượn bút của trời nhận
xét: “Sự xuất hiện của Đồng Đức Bốn đã đem lại cho thơ lục bát, thơ truyền thống một niềm tự tin đáng kể”, “thơ Bốn vụt lên với sự sáng trong giản dị mà không kém phần sâu sắc, mới lạ và ấn tượng như mang cả hồn thiêng của tổ
tiên trong mỗi lời đối thoại, mỗi tiếng nhủ thầm” Còn trong bài viết Trời đưa anh đến cõi thơ, Đỗ Minh Tuấn lại chỉ ra niềm kiêu hãnh, biết ơn của Đồng
Trang 17Đức Bốn với thơ lục bát: “cái tình cảm của Bốn với thơ lục bát nhìn bề ngoài giống như tình cảm của người nông dân với con trâu”
Nguyễn Đăng Điệp cũng đánh giá rất cao thơ lục bát Đồng Đức Bốn:
“Từ lục bát của ca dao, Nguyễn Du đã tạo nên một đột biến: “Khi Nguyễn Du
viết Kiều đất nước hóa thành văn” (Chế Lan Viên) Thể thơ dân tộc này hiện
hình một cách tài hoa qua “khối tình lớn – khối tình con” (Tản Đà) rồi chia thành hai ngả trong Thơ mới: Cái chân quê trong sáu – tám của Nguyễn Bính
và cái hàm súc cổ điển trong thơ Huy Cận Hiện giờ, ngoài cái “thượng thừa” của Bùi Giáng, lục bát sống trong hồn Nguyễn Duy, rồi Đồng Đức Bốn… Làm được lục bát hóa ra là việc khó khăn… Là một thể loại ai cũng quen mặt,
ai cũng thuộc tên, nếu không có cái mới, lập tức kẻ làm thơ sẽ bị đuổi khỏi chiếu May thay, Đồng Đức Bốn đã trụ lại được” Rõ ràng Đồng Đức Bốn được đánh giá là một trong những tên tuổi sáng giá nhất trong làng thơ lục bát Việt Nam Ở phần cuối bài viết, tác giả còn nhấn mạnh, Đồng Đức Bốn rồi cuối cùng cũng trở về với ca dao, với tình đời dù cay đắng nhưng vẫn ngọt ngào Cái chất dân gian trong thơ Đồng Đức Bốn vẫn là cầu nối anh với thế
hệ độc giả bây giờ Dù có thế nào đi chăng nữa thì khuynh hướng sáng tác của Đồng Đức Bốn vẫn là trở về với cội nguồn
Trong phần đầu của bài viết Những câu thơ tình tang quê mùa, Đoàn
Hương đề cập đến chất dân ca, ca dao trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn Bài viết đã có những phân tích khá kĩ về chất quê trong thơ Đồng Đức Bốn – mạch nguồn cảm hứng chủ đạo của nhà thơ Đọc thơ lục bát của Đ ồng Đức Bốn, Đoàn Hương cảm nhận “như một kẻ đánh mất quê được trở về quê” Đọc thơ Đồng Đức Bốn để ta tìm thấy quê, trở về với quê hương trong tâm tưởng của ta
Với giọng điệu tự nhiên pha chút ngang tàng trong bài Đóng gạch nơi nao, Phạm Tiến Duật đã khẳng định: “Một mình Đồng Đức Bốn tự làm một
Trang 18cuộc trường chinh Gã xông thẳng vào trận địa lục bát và chỉ một thời gian ngắn Đồng Đức Bốn trở thành ông vua trẻ của thể loại này”
Nhà văn Trần Huy Quang trong bài Đồng Đức Bốn – Nhàu nát và trau chuốt đánh giá về chất đồng quê trong thơ Đồng Đức Bốn từ góc độ câu thơ:
“Thơ Đồng Đức Bốn đấy, mỗi câu giống như lời nói của các bà nông dân lam
lũ, yếm trễ ngực, váy xắn quai cồng, đòn gánh oằn vai”
Trong Tựa bão để sống làm người, Anh Quân thấy được nhạc tính giàu
chất dân gian trong thơ lục bát nói chung và thơ Đồng Đức Bốn nói riêng:
“Thực ra trong thơ ca, lục bát là thể thơ mang tính nhạc đậm nhất, ở thơ Đồng Đức Bốn càng thấy rõ điều này Bất kì một bài nào của anh đều như những bài hát dân ca, điệu hò câu ví thuở xưa”
Băng Sơn trong bài Đồng Đức Bốn – Thi sĩ đồng quê đã nhận định khá
sâu sắc về hồn quê mùa trong thơ Đồng Đức Bốn, coi ông là “Một nhà thơ kiệt xuất trong lục bát, có lẽ là hồn Việt chắt lọc ngàn năm để ứ dồn vào tâm hồn thi sĩ làm ta nghiêng ngả mê say những vần thơ như từ ca dao đi ra, như
từ thơ đi vào ca dao, cứ ngọt lịm và ở lại”
Trong Vài ý nghĩ tản mạn về thơ Đồng Đức Bốn, Nguyễn Thanh Toàn
cũng nhận xét: “Thế mạnh thơ Đồng Đức Bốn là thể thơ đồng quê, ngôn ngữ đồng quê, cảm hứng đồng quê… Đặc biệt là tình ý tư tưởng đồng quê”
Ngoài ra một số bài viết của Nguyễn Ánh Ngân, Nguyễn Thanh Phong, Nguyễn Việt Hà, Văn Chinh… cũng đã có những ý kiến đánh giá khá sâu sắc, xác đáng về thơ Đồng Đức Bốn
Qua những bài viết, nghiên cứu về Đồng Đức Bốn có thể thấy, anh được đánh giá là nhà thơ xuất sắc của dòng thơ lục bát Việt Nam đương đại Thơ lục bát của Đồng Đức Bốn khẳng định lại một lần nữa thể thơ lục bát ưu thế của thơ Việt Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến cho rằng, thơ lục bát của Đồng Đức Bốn còn gai góc, thô mộc, còn có vẻ gì chất phác, ngô nghê Nhìn
Trang 19chung, Đồng Đức Bốn xứng đáng được coi là người tiếp nối dòng chảy dân gian trong thơ ca Việt Nam và có những đóng góp không nhỏ trên thi đàn
Tóm lại, qua lịch sử tìm hiểu nghiên cứu về thơ Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn, chúng tôi thấy trong một số bài viết về thơ của hai tác giả ít nhiều
đã đề cập đến vấn đề bản sắc dân tộc trong thơ của từng cây bút Tuy nhiên,
qua khảo sát, có thể thấy những bài viết này mới chỉ đề cập đến một số khía cạnh hoặc một vài yếu tố dân gian trong thơ của từng tác giả riêng biệt, chưa
đề cập một cách trực tiếp, chưa khảo sát vấn đề một cách hệ thống, toàn diện
Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: Bản sắc dân tộc trong thơ Nguyễn Duy
và Đồng Đức Bốn nhằm đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về
bản sắc dân tộc trong thơ của hai cây bút đặc sắc này, từ đó góp phần nhận diện, khẳng định một hướng tìm tòi, đổi mới thành công của thơ đương đại
Việt Nam
3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, người viết sử dụng các pháp nghiên cứu chủ yếu như:
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp thống kê, phân loại
4 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu bản sắc dân tộc trong sáng tác của hai tác giả Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn Phạm vi khảo sát là các tập thơ chính của Nguyễn Duy và toàn bộ thơ Đồng Đức Bốn
* Nguyễn Duy
- Cát trắng (Thơ, 1973)
- Ánh trăng (Thơ, 1984)
- Mẹ và em (Thơ, 1987)
Trang 20- Con ngựa trắng và rừng quả đắng (1992)
- Chăn trâu đốt lửa (Thơ, 1993)
5 Đóng góp của luận văn
- Từ khảo sát, phân tích thơ của hai tác giả, luận văn nhận diện, đúc kết những nét đặc sắc của các cây bút về phương diện kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống trong việc hiện đại hóa thơ; khẳng định nỗ lực đổi mới thơ của hai tác giả
- Luận văn cũng khảo sát và nhận diện một trong những khuynh hướng tìm tòi sáng tạo có hiệu quả của thơ đương đại Việt Nam
- Ở một phạm vi nhất định, luận văn góp phần tổng kết, đánh giá về tiến trình vận động, đổi mới của thơ đương đại Việt Nam và sự vận động của thơ lục bát trong thơ Việt Nam hiện đại
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Trang 21- Chương 1: Về khái niệm bản sắc dân tộc và hành trình sáng tạo của Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn
- Chương 2: Bản sắc dân tộc trong thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn nhìn từ góc độ nội dung cảm hứng
- Chương 3: Bản sắc dân tộc trong thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn nhìn từ góc độ nghệ thuật thể hiện
Trang 22PHẦN NỘI DUNG Chương 1: VỀ KHÁI NIỆM BẢN SẮC DÂN TỘC VÀ HÀNH TRÌNH
SÁNG TẠO CỦA NGUYỄN DUY, ĐỒNG ĐỨC BỐN
1.1 Về khái niệm bản sắc dân tộc
Ngày nay, khi sự giao lưu trên thế giới đang được đẩy mạnh hơn bao giờ hết, thì vấn đề văn hóa dân tộc trở thành mối quan tâm hàng đầu, là tâm điểm chú ý của các bộ môn khoa học xã hội và khoa học nhân văn Để có thể giải quyết được nhiệm vụ của đề tài, trước hết chúng tôi thấy cần làm rõ về khái niệm bản sắc dân tộc
Theo Từ điển văn học (Bộ mới) [39]: “Bản sắc dân tộc và tính dân tộc
là những thuật ngữ gần như tương đương nhau, biểu thị một số thuộc tính dân tộc học văn hóa nhất định “Tính (hoặc bản sắc) dân tộc của văn học” - chỉ là những đặc tính mà một nền văn học dân tộc có được do sự liên hệ mật thiết
của nó với đời sống văn hóa – lịch sử của chính dân tộc ấy” Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học [38] cũng định nghĩa tính dân tộc là khái niệm thuộc phạm
trù tư tưởng - thẩm mĩ chỉ mối liên hệ khăng khít giữa văn học và dân tộc, thể hiện qua tổng thể những đặc điểm độc đáo tương đối bền vững chung cho các sáng tác của một dân tộc, được hình thành trong quá trình phát triển lịch sử phân biệt với văn học của các dân tộc khác Nói như vậy, văn học và văn hóa của một dân tộc có mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời Và không thể hiểu đúng văn học nếu không tìm hiểu bình diện văn hóa của nó
Truyền thống văn hóa là một trong những loại hình tồn tại của xã hội đương đại Nó “Ghi dấu ấn lịch sử đã qua của chính bản thân nó, nhưng còn kéo dài một cách cực kì dai dẳng trong hiện tại và luôn có tham vọng xác lập truyền thống mới” [27] Thật vậy, truyền thống văn hóa không chỉ thu hẹp ở việc duy trì hay truyền lại các thành quả văn hóa ngày trước, mà còn tích hợp trong diễn trình lịch sử những truyền thống mới bằng cách đem thích nghi cái
Trang 23mới này với các truyền thống cũ Vì thế, truyền thống văn hóa có vai trò và ảnh hưởng to lớn đối với đời sống xã hội và con người Đặc biệt đối với sáng tạo nghệ thuật thì truyền thống văn hóa càng giữ vị trí quan trọng Nó đóng vai trò là cơ sở, nền tảng của mọi sự sáng tạo, nó quy định mọi cảm nhận và
sự miêu tả của các nhà văn về đối tượng
Tóm lại: “Việc nghiên cứu truyền thống văn hóa cũng tức là nghiên cứu tính dân tộc, bản sắc dân tộc Bởi vì tính dân tộc của văn học không chỉ là một phạm trù tư tưởng xã hội và nghệ thuật mà còn là một phạm trù văn hóa, là kết tinh của văn hóa dân tộc trong sáng tác văn học nghệ thuật” [3, tr 6-7].Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã từng nhấn mạnh: “Vấn đề dân tộc là vấn
đề văn hóa, đừng tìm vấn đề dân tộc ở chỗ khác” [22, tr 155] Sau này, nhà nghiên cứu Hồ Sĩ Vịnh cũng tiếp tục khẳng định: “Nói đến văn hóa là nói đến dân tộc Văn hóa là gương mặt của dân tộc Một dân tộc đánh mất truyền thống văn hóa (…) thì dân tộc ấy sẽ mất tất cả” [54, tr 6]
Khái niệm “dân tộc” ở tiếng Việt hiện đại có hai nghĩa chính: 1) “dân tộc – quốc gia”, tức là một cộng đồng xã hội người, được tạo nên do quá trình hình thành tính cộng đồng về lãnh thổ, về quan hệ kinh tế, về ngôn ngữ văn học, về một số đặc điểm văn hóa và tính cách; 2) các cộng đồng chủng tộc người – bộ lạc, bộ tộc, sắc tộc… nằm trong và hợp thành dân tộc – quốc gia Văn học, nghệ thuật là một trong những phương diện hoạt động về tinh thần của cộng đồng dân tộc trong quá trình lịch sử, gắn bó với đời sống lịch sử của dân tộc Nó là một bộ phận của lịch sử dân tộc Tính dân tộc có mặt ổn định nếu nhìn nó trong sự tương quan giữa các dân tộc với nhau Đọc một bài thơ Việt Nam và một bài thơ Trung Quốc, người ta vẫn phân biệt được bài thơ này với bài thơ kia Bài thơ Việt Nam vẫn có cái gì Việt Nam có thể trong tứ thơ, trong giai điệu… Những cái đó cho phép người nghiên cứu rút ra tính dân tộc trong thơ Nhưng nói rằng tính dân tộc có mặt ổn định không có nghĩa
là tính dân tộc là cố định nhất thành bất biến Bài viết “Tính dân tộc trong văn
Trang 24học hiện nay”, trích từ cuốn “Tìm hiểu bản sắc dân tộc trong thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh” [36] giải thích: “Dân tộc là một cộng đồng người hình thành trong quá trình lịch sử Các dân tộc không phải là bao giờ cũng có, nó ra đời trong một giai đoạn tiến hóa lịch sử nhất định và khi đã hình thành dân tộc rồi thì dân tộc không ngừng tiến hóa Vì vậy những bản sắc dân tộc cũng luôn luôn tiến hóa, tính dân tộc không phải cứ như thế mãi từ thời kì này qua thời kì lịch
sử khác […] Dân tộc có những truyền thống, truyền thống dân tộc là bản sắc,
là đặc tính, là nét sinh hoạt của dân tộc được phát huy đến trình độ rất cao, có một hiệu lực rất lớn ở một thời kì lịch sử và từ đó về sau trở thành một bài học, một tấm gương cho đời sau tiếp tục noi theo Thí dụ truyền thống đoàn kết chống giặc ngoại xâm thời Trần, truyền thống kiên trì chịu khổ, chịu khó đánh giặc của quân dân Lam Sơn chống quân Minh Như thế những truyền thống của dân tộc có nguồn gốc lịch sử của nó…” [3, tr 11-12]
Riêng về văn học, khác với một số loại hình nghệ thuật khác, văn học dân tộc gắn với chất liệu của nó là ngôn ngữ dân tộc; văn học là một bộ phận hợp thành quan trọng của văn hóa ngôn từ dân tộc Lịch sử hình thành, tồn tại
và phát triển của các nền văn học dân tộc đều gắn (ở mức khác nhau) với quá trình hình thành, sinh tồn và phát triển của xã hội – dân tộc Trên cơ sở này
tác giả cuốn Từ điển văn học đưa ra những biểu hiện của bản sắc dân tộc trong văn học: Bản sắc dân tộc của văn học thể hiện ở ngôn ngữ dân tộc (bản ngữ), tức là cái chất liệu đặc thù, phân biệt một nền văn hóa ngôn từ này với những nền văn hóa ngôn từ khác (Ở những bộ phận hoặc giai đoạn văn học
viết bằng ngôn ngữ chung của khu vực hoặc bằng một ngôn ngữ quốc tế hóa nào đó, tính dân tộc ở chất liệu ngôn ngữ sẽ bộc lộ gián tiếp, kết hợp các yếu
tố khác) Sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ (bản ngữ) là bộ phận văn học bộc lộ rõ nhất những tiềm năng văn hóa (nhất là những ký ức lịch sử dân tộc đã in sâu vào bản ngữ) và khả năng nghệ thuật của ngôn ngữ dân tộc, bảo toàn, phát triển và làm giàu cho nó Bản sắc dân tộc được bộc lộ khá rõ ở nội dung đời
Trang 25sống dân tộc được văn học miêu tả và thể hiện: Màu sắc dân tộc ở thiên nhiên
và cảnh quan đất nước; những nét độc đáo của các giá trị và định hướng giá trị vốn tiêu biểu cho dân tộc, những nét độc đáo về cách nhìn cách cảm của dân tộc; tóm lại là tâm lí và tính cách dân tộc được thể hiện trong văn học
Cùng chung quan điểm trên, cuốn Từ điển thuật ngữ văn học giải thích
một cách cụ thể hơn: Tính dân tộc thể hiện ở mọi yếu tố từ nội dung cho đến hình thức của sáng tác văn học Về nội dung, dễ dàng nhận thấy trước hết,
tính dân tộc biểu hiện trong sự phản ánh “màu sắc” dân tộc của thiên nhiên, của đời sống vật chất và tinh thần của xã hội Đọc sáng tác của một dân tộc, ta như sống cuộc sống của dân tộc đó với những đặc điểm của thế giới riêng Tuy nhiên, tính dân tộc của văn học không chỉ biểu hiện ở những vật thể, đường nét, màu sắc có thể nắm bắt được Nội dung căn bản của tính dân tộc là
ở tinh thần dân tộc, thể hiện ở tính cách dân tộc và cái nhìn dân tộc đối với cuộc đời Đó là những yếu tố tương đối bền vững được hình thành và phát triển trong những hoàn cảnh địa lí và con đường phát triển lịch sử riêng của dân tộc, là một phẩm chất chỉnh thể biểu hiện trong một phức hợp liên kết các phẩm chất nhất định
Tính dân tộc còn biểu hiện ở hình thức văn học Mỗi nền văn học dân tộc có hệ thống thể loại truyền thống, có các phương tiện miêu tả, biểu hiện riêng, nhất là có ngôn ngữ dân tộc thể hiện bản sắc riêng trong tư duy và tâm hồn dân tộc mình
Tính dân tộc còn thể hiện ở quá trình phát triển lịch sử độc đáo của văn học cùng các đặc sắc do quá trình lịch sử ấy mang lại Ví dụ, có thể nhận thấy
sự khác biệt về văn học dân tộc giữa chủ nghĩa hiện thực Nga và chủ nghĩa hiện thực Pháp thế kỉ XIX
Gớt đã từng khẳng định một nghệ sĩ chỉ có thể được coi là một nhà văn mẫu mực của dân tộc nếu tác phẩm của anh ta “thấm nhuần tinh thần dân tộc” Nói như vậy, một tác phẩm đạt đến đỉnh cao, là đại diện của nền văn học
Trang 26dân tộc phải là tác phẩm không những xây dựng được “những hình tượng văn học vừa đơn lẻ, vừa có thể mang tính khái quát, điển hình cho dân tộc ấy” mà
“tinh thần dân tộc thấm sâu vào toàn bộ các yếu tố của tác phẩm khiến cho người đọc khi tiếp xúc với tác phẩm như thấy được cả “mùi hương của đất đai”, ở mỗi từ ngữ người đọc có thể cảm nhận thấy “dường như có hai lần ý nghĩa nghệ thuật, một ý nghĩa hôm nay, và một ý nghĩa mang từ thời ấu thơ đầy xúc cảm, trong những từ thân thuộc nghe vừa ngon lành, vừa hữu hình, ý vị”” [40, tr 77-78]
Bản sắc dân tộc ở văn hóa nói chung, ở văn học nói riêng, không phải
là một đại lượng nhất thành bất biến, cũng không có sẵn từ khởi thủy Con đường hình thành của nó không phải theo lối tự sinh, biệt lập, trái lại, từ trong giao lưu, tiếp nhận, cộng sinh, tạp giao, đồng hóa với các nhân tố văn hóa, văn học từ bên ngoài dân tộc, rồi từ đó sinh thành, phát triển, tạo ra bản sắc Những đổi mới trên cơ sở tiếp nhận ảnh hưởng từ các yếu tố ngoại lai, một khi đã có thành tựu, lại mang vào văn hóa, văn học dân tộc những phẩm chất
và truyền thống mới, phát triển và đổi mới nó Sự phát triển văn học, nhất là văn học hiện đại, gắn liền với thành tựu của những cá tính sáng tạo kiệt xuất, chính những thành tựu của họ đã góp phần quyết định vào việc duy trì, phát triển, làm giàu bản sắc dân tộc cho văn học
Ở cuối thể kỉ XX, xu thế giao lưu, hòa nhập của các nền văn hóa, văn học, xu hướng thế giới hóa – trở nên một tất yếu không tránh khỏi Đồng thời chính quá trình này lại đề ra vấn đề duy trì tính đa dạng văn hóa, duy trì những giá trị mang bản sắc dân tộc trong thế giới hiện đại
Tóm lại, có thể tổng kết một vài ý chính về khái niệm bản sắc dân tộc như sau: Bản sắc dân tộc hay tính dân tộc của văn học mang nội dung lịch sử
và phải được xem xét theo quan điểm lịch sử Nó được hình thành trong cả một quá trình lâu dài mà những cái mốc quan trọng là sự hình thành dân tộc
và sự vận dụng ngôn ngữ dân tộc làm ngôn ngữ văn học Trong suốt quá trình
Trang 27ấy, nó không ngừng được phong phú thêm bởi sự tiếp thu tinh hoa của nước ngoài Vì vậy, một sáng tác văn học có tính dân tộc cao phải vừa kế thừa được truyền thống văn học dân tộc, vừa đổi mới và có đóng góp vào sự phát triển của truyền thống ấy Nói như vậy, tính dân tộc hiện nay là sự kế thừa có chọn lọc, có cải biến, có phát triển tính dân tộc trong lịch sử, là sự hấp thụ tất cả những tinh hoa của văn hóa nhân loại Tính dân tộc hiện nay là một sự hài hòa
cả mới lẫn cũ Cái mới không có nghĩa là cái gì từ bên ngoài đem vào Cái từ ngoài đem vào phải phù hợp với ta, phải được đồng hóa thành cái của ta Như vậy, cái mới không còn là “của người” nữa mà chính là “của ta” rồi Cái mới cũng là cái cũ của ta được chọn lọc và hiện đại hóa Mặt khác, cái cũ không phải chỉ là cái bản sắc di sản cũ của dân tộc ta mà còn là cái kho tàng quý báu
về tư tưởng và văn hóa của nhân loại từ bao nhiêu đời nay nữa Vì vậy, quan niệm cho rằng cũ là tính dân tộc, mới là không phải tính dân tộc là một quan niệm mơ hồ, không chính xác [36, tr 17] Cũng cần phải chú ý tới những biểu
hiện phong phú, đa dạng của tính dân tộc trong sáng tác văn học trên cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật Có như vậy mới có thể đánh giá một cách đúng đắn, tổng thể, toàn diện về tính dân tộc trong văn học Đây cũng là mục tiêu của đề tài đặt ra khi xem xét những biểu hiện của tính dân tộc trong sáng tác của hai nhà thơ Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn Vấn đề này sẽ được người viết tiếp tục triển khai trong những chương tiếp theo của luận văn
1.2 Hành trình thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn
Khi nói đến những chặng đường sáng tạo của một tác giả, nhà thơ P.Antokolxky cho rằng: “Cũng như trong bất kì một lĩnh vực nào cái quan trọng nhất trong nghệ thuật là quá trình, là sự hình thành, là cuộc đấu tranh, là
sự tìm tòi, là một dòng nước không bao giờ cạn tự khơi lấy một dòng sông”
Để tìm hiểu về hành trình sáng tạo và những quan niệm nghệ thuật trong thơ Nguyễn Duy cũng như Đồng Đức Bốn, chúng tôi cho rằng không thể chỉ
Trang 28dừng lại ở phạm vi xem xét từng tác phẩm của các tác giả mà phải nhìn nhận
sự nghiệp sáng tác của họ như một hành trình mà mỗi tác phẩm chỉ là một sự kiện, một mắt xích, một cột mốc trong hành trình đó
1.2.1 Thơ Nguyễn Duy
1.2.1.1 Hành trình sáng tạo
Chúng ta biết rằng, thời đại Nguyễn Duy sống và sáng tạo là một thời đại đầy biến động của lịch sử, văn hóa, xã hội Việt Nam Có thể nói, chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc lại dồn dập nhiều biến cố, sự kiện đến vậy Nó đã có những tác động sâu sắc đến đời sống văn học, mà trước hết là quan điểm, tư tưởng - nghệ thuật của các nhà văn trong đó có Nguyễn Duy Vốn rất nghiêm túc với nghề nghiệp, lại luôn khao khát khẳng định mình, Nguyễn Duy không ngừng trăn trở làm sao viết cho hay, cho dễ đi vào lòng người Suy nghĩ ấy đã thôi thúc ông phải tìm tòi, đổi mới và sáng tạo Trong kháng chiến chống Mỹ, những nhà thơ cùng thời với Nguyễn Duy thường nói nhiều về cái chung, nhân danh cộng đồng, dân tộc Trong khi đó, Nguyễn Duy lại lặng lẽ một lối
đi riêng - tìm về với nguồn cội dân gian Nguyễn Duy quan niệm “nếu quá hiện đại thì dễ mất chân” Quan niệm này đã chi phối đến quan điểm thẩm mĩ của ông Ông vẫn theo sát cuộc chiến tranh, vẫn bám sát những sự kiện trọng đại của đất nước, có điều ông nhìn nó bằng cái nhìn của dân gian và phản ánh
nó với lối nói quen thuộc giản dị, đời thường
Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh tại xã Đông Vệ, thị xã Thanh Hóa (nay là thành phố Thanh Hóa), tỉnh Thanh Hóa Nơi đây từng được coi là vùng đất thiêng vừa mang tính huyền thoại, vừa mang tính lịch sử lại giàu truyền thống văn hóa Cũng giống như nhiều vùng miền khác, Thanh Hóa là một vùng quê có nhiều lễ hội dân gian và hình thức sinh hoạt văn hóa của cộng đồng Đây cũng là miền quê nổi tiếng về âm nhạc dân gian với
những làn điệu dân ca trong trẻo, mượt mà
Trang 29May mắn được sinh ra và hầu như sống nhiều trên mảnh đất thiêng, vùng đất có một nền văn hóa dân gian phong phú, đặc sắc, nên con người Nguyễn Duy đã thấm một cách tự nhiên nền văn hóa ấy, từ lối sống đến tư tưởng, tình cảm, cách nhìn, cách nghĩ Đọc các tác phẩm của Nguyễn Duy, người đọc thấy niềm tự hào của ông về mảnh đất quê hương đã sinh ra nhiều tài năng cho dân tộc Người ta thấy cái không khí thiêng liêng của đền chùa, miếu mạo phảng phất trong khá nhiều bài thơ của Nguyễn Duy Đặc biệt là hình ảnh vùng quê nghèo lặp đi lặp lại khá nhiều đến trở thành một ám ảnh
miên man không bao giờ dứt trong đời thơ của nhà thơ
Xét về hoàn cảnh gia đình, từ nhỏ Nguyễn Duy đã mồ côi mẹ Ông ở với bà ngoại và lớn lên trong tiếng ầu ơ mang hơi ấm tình thương của bà Trong tâm hồn Nguyễn Duy, bà ngoại là hình ảnh gần gũi, thân thuộc nhất
Bà ngoại Nguyễn Duy không biết chữ nhưng thuộc rất nhiều ca dao, hò vè, truyện tiếu lâm… Những ngày tháng thơ ấu sống cùng bà ngoại, Nguyễn Duy được đắm mình trong những câu ca dao, những câu chuyện cổ tích Nguồn văn hóa dân gian ấy như dòng sữa ngọt ngào của mẹ đã nuôi ông lớn lên rồi ngấm vào tâm hồn ông, ngấm vào thơ ông một cách tự nhiên lúc nào không biết Đây có thể là điều khiến sau này nhà thơ viết thành công thể loại lục bát và vận dụng ca dao một cách điêu luyện, tài tình Hòa nhập với thơ ca đương đại, song cái cội rễ, cái linh hồn của thơ Nguyễn Duy vẫn
là chất truyền thống, vẫn mang mạch thuần Việt
Năm 1965, Nguyễn Duy từng làm tiểu đội trưởng tiểu đội dân quân trực chiến tại khu vực cầu Hàm Rồng, một trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ trong những năm chiến tranh chống Mỹ Năm 1966 ông nhập ngũ, trở thành lính đường dây của bộ đội thông tin, tham gia chiến đấu nhiều năm trên các chiến trường Đường 9 Khe Sanh, Đường 9 Nam Lào, chiến trường miền Nam, biên giới phía Bắc (năm 1979) Sau đó ông giải ngũ, làm
việc tại Tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam và là trưởng đại diện văn
Trang 30phòng báo tại phía Nam Có thể nói những năm vào quân ngũ trở thành người lính và sau đó lại làm báo đã tạo điều kiện cho Nguyễn Duy đi qua nhiều vùng đất của Tổ quốc Rồi tiếp tục cuộc hành trình vượt ra ngoài biên giới, Nguyễn Duy đã đi tới các nước Xã hội chủ nghĩa, qua các nước Tây Âu và
Mĩ Ông được ví như con ngựa sung sức, luôn ở tư thế động, đôi chân không biết mỏi Đến đâu ông cũng viết, cũng xúc cảm và suy ngẫm Ông khám phá cuộc sống để nếm trải, lắng nghe, quan sát và suy nghiệm Vì vậy, Nguyễn Duy đã chắt lọc, đã “đãi cát tìm vàng” từ núi cát của đời sống thực tế Ông chắt gạn lấy những hạt bụi vàng và chuyển hóa thành thơ Đó cũng là lí do vì sao các sáng tác của Nguyễn Duy có bản sắc riêng, không biến dạng, không pha tạp do hoàn cảnh sống
Nguyễn Duy làm thơ rất sớm, khi đang còn là học sinh trường phổ thông Lam Sơn, Thanh Hóa Năm 1973, ông đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần
báo Văn nghệ với chùm thơ: Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, Tre Việt Nam sau này được đưa vào trong tập Cát trắng Ngoài thơ, ông cũng viết tiểu thuyết,
bút kí Năm 1997, Nguyễn Duy tuyên bố “gác bút” để chiêm nghiệm lại bản thân rồi tập trung vào làm lịch thơ, in thơ nên các chất liệu tranh, tre, nứa, lá, thậm chí bao tải Từ năm 2001, ông in nhiều thơ trên giấy dó Nguyễn Duy đã biên tập và năm 2005 cho ra mắt tập thơ thiền in trên giấy dó (gồm 30 bài thơ thiền thời Lý, Trần do ông chọn lọc)có nguyên bản tiếng Hán, phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ tiếng Việt, dịch nghĩa và dịch thơ tiếng Anh với ảnh nền và ảnh minh họa của ông
Nguyễn Duy được tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007 và nhiều phần thưởng cao quý khác
Tác phẩm chính:
Thơ: Cát trắng (1973), Ánh trăng (1984), Đãi cát tìm vàng (1987), Mẹ và em
(1987), Đường xa (1989), Sáu và Tám (1994), Về (1994), Bụi (1997)
Trang 31Thể loại khác: Em Sóng (kịch thơ - 1983), Khoảng cách (tiểu thuyết - 1986),
thơ truyền thống này Bài thơ Tre Việt Nam của ông đã được đưa vào sách
giáo khoa phổ thông
Nguyễn Duy còn có bộ ba bài thơ theo thể tự do nổi tiếng được công chúng biết tới viết về những trăn trở, suy nghĩ của ông về tương lai đất nước,
tương lai của con người và môi sinh Bài thơ đầu mang tên Đánh thức tiềm lực viết từ năm 1980 đến năm 1982 với những suy tư về tiềm lực và tương lai
của đất nước Bài thơ thứ hai được viết lúc ông tới thăm Liên Xô và đến năm
1988 mới hoàn thành mang tên “Nhìn từ xa… Tổ quốc” Bài thơ viết về những trì trệ, bất cập mà ông mắt thấy tai nghe trong thời kì bao cấp, với
những câu thơ rất mạnh mẽ “như những nhát dao cứa vào lòng người đọc” (Lê Xuân Quang) Bài thơ thứ ba viết sau đó chục năm, mang tên Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ vẫn cùng thi pháp với hai bài thơ trước nhưng chủ đề lại rộng
hơn: Những suy nghĩ về thiên nhiên, không gian và tương lai con người
Nguyễn Duy thuộc thế hệ nhà thơ xuất thân từ cuộc kháng chiến chống
Mỹ, khi mà chiến tranh là đời sống và chiến đấu là lẽ sống của mỗi con người Nguyễn Duy là con của người mẹ “Áo nhuộm bùn váy nhuộm nâu bốn mùa”, người mẹ của “đồng đất quê mình” nên chất chân chỉ mộc mạc đã ăn vào máu thịt nhà thơ Khi cuộc chiến bảo vệ quê hương mới khép lại, ta vẫn
Trang 32nghe những lời thơ nặng đằm tình cảm đồng đội, quê hương, lời thơ phát ra từ trái tim của người trẻ tuổi mở lòng mình để hiến dâng và yêu thương “Gừng càng già càng cay” - thơ Nguyễn Duy cũng vậy Thời gian càng làm những câu thơ thêm sâu sắc, ý nghĩa Đọc thơ Nguyễn Duy trước và sau đổi mới, ta
dễ nhận thấy một sự chuyển mình trong lối suy nghĩ khiến thơ ông giàu chiêm nghiệm và đậm màu sắc triết lí Nếu trước đổi mới, dư âm của cuộc chiến tranh, với chiến thắng lẫy lừng của toàn dân tộc ảnh hưởng tới nhiều bài thơ Nguyễn Duy, thì sau đổi mới, dòng thơ Nguyễn Duy thể hiện một cái nhìn khá toàn diện về cuộc chiến tranh với cả nước mắt và nụ cười, cả động, cả tĩnh, đồng thời tác giả đi sâu khám phá về cuộc sống con người – cả một thế giới đời thường xô bồ, ồn ã đi vào thơ ông trong những phút tĩnh lặng nhất của lòng mình Trong cuộc sống vội vã, con người có ít thói quen nhìn lại ngày hôm qua, thơ Nguyễn Duy cho ta những phút giây giật mình, để nhận ra
đã bỏ qua chính mình, chạy theo những gì khó lí giải được bằng sự gần gũi, bình dị Thơ Nguyễn Duy như lời đánh thức, đánh thức cõi tâm tình đang dần ngủ quên giữa bao bộn bề đời thường
Thơ Nguyễn Duy mang nỗi nhớ của một người con xa quê, đồng thời lại chất chứa một dự cảm về tương lai Nỗi nhớ quê như nhớ về một giá trị đẹp đẽ của văn hóa dân tộc sẽ dần nhạt nhòa với thời gian và nhịp sống Có thể nói, thơ Nguyễn Duy trước đổi mới đã có chút nuối tiếc, muốn níu kéo những giá trị đẹp đẽ đó, đã lo lắng và đã buồn Buồn vì chính mình và buồn hơn ở quanh mình Đổi mới là cái bản lề, con người được tự do và tự chủ nhiều hơn nên cuộc sống vận động mạnh mẽ, có lúc lấn át những riêng tư và suy tư Thơ Nguyễn Duy chứa cái nhìn dữ dội hơn: nếu trước đó chỉ là dự cảm thì giờ hiện thực phơi bày trước mắt, nếu trước đó là lời vỗ về an ủi mình
và mọi người thì giờ là lời thẳng thắn, sắc cạnh
Thơ Nguyễn Duy cả trước và sau đổi mới đều mang đến cho người đọc những xúc cảm sâu lắng, bởi một điều giản dị là tác giả viết bằng một tấm
Trang 33lòng chân thật, bộc bạch hết mình cái tôi chân quê Trong thơ Nguyễn Duy, vừa đậm dấu ấn truyền thống lại vừa thể hiện những cách tân đáng ghi nhớ Tác giả đã kết hợp hai giá trị này trong thơ mình một cách nhuần nhị khiến cho mỗi dòng thơ là một hơi thở tự nhiên và chân tình đến gan ruột Đó là yếu
tố quan trọng bậc nhất để thơ Nguyễn Duy đến được và “kết kén” được trong tâm tình của người đọc
Sau hơn ba mươi năm với hơn mười tập thơ, Nguyễn Duy tuyên bố không làm thơ nữa Nguyễn Duy chân thành bộc bạch: “thơ bỏ tôi chứ tôi không bỏ thơ” Ông nhận ra rằng mình cứ lặp đi lặp lại mình nên không làm thơ nữa Tuy vậy, cái nghĩa vụ của một người công dân yêu nước vẫn theo đuổi ông Những năm gần đây, Nguyễn Duy làm lịch bằng thơ, làm thơ bằng lịch với những minh họa của gồng gánh, thúng mủng, nong nia, giành mẹt, rổ
rá, dần sàng, chum vại, cái nồi đất, cái điếu cày… như để bày tỏ cái tông tích, cái cội rễ của thơ mình Có lẽ ông là người đầu tiên đưa thơ đi triển lãm Bởi thế, khi Nguyễn Duy tuyên bố gác thơ, ngừng thơ thì chúng ta chỉ nên hiểu là ngừng làm thơ chứ không ngừng sống với thơ Năm 2010, ông đã cho ra đời tuyển tập thơ Nguyễn Duy
1.2.1.2 Quan niệm nghệ thuật của nhà thơ Nguyễn Duy
Đến với thơ Nguyễn Duy gần như không rõ một tuyên ngôn nghệ thuật nào Thơ Nguyễn Duy đem đến cho người đọc cảm giác dường như nhà thơ làm thơ như một nhu cầu tự tại để giãi bày những gì đang diễn ra trong hồn cốt mình, có cái hăm hở, có cái lắng sâu, có cả cái “tào lao” như chuyện phiếm… thơ chính là mình, là mình không chút gọt rũa Chính vì vậy, nếu đi tìm một tuyên ngôn nghệ thuật trong thơ Nguyễn Duy quả thật không dễ dàng Nhưng hãy lắng nghe lời thú nhận chân thực của ông về “cái nghề thiên phú” này, ta sẽ hiểu được sâu sắc hơn thiên chức của một nghệ sĩ - một nhà thơ trong quan niệm của Nguyễn Duy
Trang 34Nguyễn Duy nói: “Có đụng chạm xã hội mới ra cái thần hồn văn chương… Còn nhà văn… thật? Ở anh nhà văn thật ấy có một nhà hiền triết, một nhà văn hóa, một nghệ sĩ Thực ra cái lõi của văn chương là triết Từ cả những chuyện tầm phào nhất cũng có thể phả triết học vào, có thế mới dội lại được cuộc đời Chỉ khác nhà triết học trình bày triết học của mình bằng lí lẽ, khoa học, còn nhà văn bằng cảm xúc Thời buổi hiện đại rồi đâu phải ai cũng thành nhà thơ được Làm thơ phải đọc, phải đi đó đi đây, không có kiến thức tổng hợp xã hội sao làm thơ ra cái thời hôm nay? Để thành một nhà văn lớn ở nước mình khó lắm, phải là một nhà văn hóa lớn, không thâu tóm được tinh hoa văn hóa dân tộc vào một cá thể không thể trở thành một nhà văn hóa lớn! ” Chỉ bằng từng ấy ngôn từ ta đã hiểu khá trọn vẹn về quan niệm nghệ thuật của nhà thơ Nguyễn Duy đặt ra cái trách nhiệm tất yếu của người làm thơ là phải đi, phải tìm hiểu - phải dấn thân mới tìm được bản sắc cuộc sống, nhất là cuộc sống đầy biến động của hiện tại Nhưng không phải là bản chất nông cạn ai tìm cũng thấy, mà phải là bản chất chứa trong đó triết lí của cuộc sống, triết lí của cảm xúc Thơ Nguyễn Duy giàu triết lí, những triết lí không thuần túy lí lẽ mà được tạo nên từ cách lí giải hiện tượng cuộc sống rất tinh tế
và thông minh, chen lẫn cảm xúc chân thành như “Cơm bụi ca”, “Tháp Chàm”, “Tiếng hát hòa bình”, “Gặp một người lính trẻ”… Có khi triết lí từ những đối tượng tưởng như không thể triết lí: Ti vi, Sida, ly hôn, chứng khoán, cơm bụi… Thơ Nguyễn Duy bắt kịp với thời đại, nói được nỗi niềm của con người thời đại bởi trong quan niệm của nhà thơ luôn đề cao ý thức về thời đại mình đang sống Không thể chạy theo lối thoát li riêng mình, thơ phải gắn với cuộc sống, dù cuộc sống ấy thế nào nhà thơ cũng phải đứng vững trên mảnh đất hiện tại Nguyễn Duy đã ý thức rất rõ thời cuộc, chính vì vậy nhận
ra rất rõ nhiệm vụ của một người nghệ sĩ trong thời cuộc hiện tại Nhà thơ trân trọng và yêu mến truyền thống, song đi vào những giá trị hiện đại lại cũng là một thế mạnh của nhà thơ, nó làm cho thơ ông vừa có cái mềm mại,
Trang 35ngọt ngào của truyền thống, vừa có cái linh hoạt, mới mẻ của hiện đại Chính
vì có cái linh hoạt của hiện đại mà trong quan niệm của nhà thơ, nhà văn “có năm bảy loại” và có một loại nhà văn… thật Nhà văn Thật phải song hành cùng với nhà văn “năm bảy” kia trong một cộng đồng, và có thể ngay trong một con người Điều quan trọng là giữa hai loại nhà văn này có tồn tại đấu tranh? Và nhà văn Thật có khẳng định được giá trị của mình hay không? Nhà văn Thật – đó là nhà văn trước hết phải có sự chủ động trong việc nhập cuộc, vào đời Nhưng nhà văn – giống như một giá trị tinh thần cao khiết, không thể làm việc dưới sự hối thúc của đồng tiền Có cực đoan quá chăng khi xem yếu
tố tài chính là một động lực không xứng đáng để sáng tạo trong thời hiện đại này? Từ xưa, các cụ đã coi cái tài văn chương là cái tài thiên bẩm, và để xứng với cái thiên bẩm ấy phải là đạo làm người cao khiết, một cốt cách thanh cao, nho nhã… Nguyễn Duy là người “phục cổ” thì chẳng lý gì lại có thể phủ nhận một quan niệm đẹp và giàu tính nhân văn của cha ông mình Một nhà văn phải là một nhà văn hóa lớn! Nguyễn Duy đặt ra nhiệm vụ cho người nghệ sĩ – một nhiệm vụ cả cuộc đời chứ không phải ngày một ngày hai Và chính ông trên con đường sáng tạo của mình cũng không ngừng trau dồi vốn văn hóa, không chỉ riêng văn hóa dân tộc mình mà văn hóa nhân loại để làm giàu thêm cho tâm hồn và đẹp thêm mỗi trang thơ Nguyễn Duy luôn tạo nên cái mới trong thơ bởi ông nhận thức một cách sâu sắc về sự sáng tạo và trách nhiệm của nhà thơ trong thời đại, của một duyên kiếp nặng nợ với văn chương, với cuộc đời Trong thơ Nguyễn Duy, giá trị nào cũng được thể hiện trong sự kết hợp nhuần nhị giữa cái hiện đại và cái truyền thống, nó đã trả lời thực tế hơn
cả cho quan niệm nghệ thuật của nhà thơ Đó là thơ – sự kết hợp giữa những
nỗ lực giữ gìn và tìm kiếm Đọc thơ Nguyễn Duy người ta luôn có cảm giác như được gặp gỡ hai con người, mới mẻ và truyền thống, nhưng ở tâm hồn nào cũng cuốn hút và gợi suy ngẫm Đó là cái riêng mà không phải nhà thơ nào cũng tạo dựng được trong thơ mình Nguyễn Duy với quan niệm nghệ
Trang 36thuật gan ruột này và bằng những trang thơ đã chứng minh cho lối suy nghĩ nghiêm túc và đầy trách nhiệm về người nghệ sĩ, và Nguyễn Duy đã khẳng định được vị thế của mình trong tâm thế của những người từng đọc thơ ông
Ngay từ những ngày đầu làm thơ, quan niệm nghệ thuật của Nguyễn
Duy đã khá rõ và càng về sau càng sâu sắc hơn “Ta là dân vậy thì ta tồn tại”
Đây không hẳn là quan điểm nghệ thuật mà đúng hơn là một nhận thức, một chiêm nghiệm về cuộc đời của Nguyễn Duy, mà ở đó thơ ca đã là một phần máu thịt Ý thức được điều đó, Nguyễn Duy đã tìm về với văn hóa, văn học dân gian, tiếp tu ̣c phát huy hồn cốt của văn học dân gian trong thơ ca bởi theo ông văn chương không nhất thiết phải khác la ̣ Cái mới nằm ngay trong cái tưởng chừng như đã xưa cũ Ông từng phát biểu:
Nghìn năm trên dải đất này
Cũ sao được cánh cò bay la đà
Cũ sao được sắc mây xa
Cũ sao được khúc dân ca quê mình (Khúc dân ca)
Bám chặt vào cội rễ dân gian, thơ ông luôn hiển hiện cái chất mô ̣c ma ̣c, ngọt ngào của những làn điê ̣u dân ca Từng là nhà thơ khoác áo lính xông pha trên nhiều chiến trường khốc liệt, Nguyễn Duy có cách nhìn, cách thể hiện riêng về chiến tranh Ông nhìn chiến tranh bằng cái nhìn của một thi sĩ thảo dân Một thảo dân đích thực bao giờ cũng vừa thiết tha với số phận đất nước, vừa lo âu cho thân phận chúng sinh Trong cái nhìn ấy, phần trăn trở nhất của chiến tranh vẫn là thân phận người, thân phận lương dân [46, tr 7] Vì vậy quan niệm nhân sinh bao trùm trong toàn bộ sáng tác của Nguyễn Duy là
“Nghĩ cho cùng mọi cuộc chiến tranh/ Phe nào thắng thì nhân dân đều bại”
Có lẽ ảnh hưởng từ nét văn hóa làng quê xứ Thanh - một vùng quê nghèo nên cái tôi trong thơ Nguyễn Duy không phải là cái tôi cao đạo, ngông
ngạo với đời, mà là một cái tôi giản dị, giàu lòng yêu nước “Dù ở đâu cũng
Trang 37Tổ quốc trong lòng/ Cột biên giới đóng từ thương đến nhớ” Thơ Nguyễn
Duy cũng thường nói về cái khổ, điều mà ông hiểu sâu sắc trong những ngày
còn thơ ấu Nguyễn Duy nhạy cảm với cái khổ "Tôi trót sinh ra nơi làng quê nghèo/ quen cái thói hay nói về gian khổ/ dễ chạnh lòng trước cảnh thương tâm" Điều đó không có nghĩa là Nguyễn Duy than nghèo kể khổ Xu hướng của ông là tìm cái đẹp trong cái khổ Đứng trong cái khổ, Nguyễn Duy vẫn
giàu tinh thần lạc quan yêu đời, không ngừng vươn mình, vượt khổ Quan điểm này của ông thể hiện rất phổ biến trong các sáng tác Vì vậy mà cái đẹp bao trùm trong sáng tác của nhà thơ đó là cái đẹp đơn sơ Có thể nói quan niệm nghệ thuật này của Nguyễn Duy đã tiếp thu từ quan niệm về cái đẹp trong văn hóa của người Việt Cái đẹp không phải là cái cao sáng, mĩ miều
mà là cái đơn sơ, bình dị Quan niệm nghệ thuật này đã giúp nhà thơ vững vàng trong suốt hành trình sáng tạo thơ
1.2.2 Thơ Đồng Đức Bốn
1.2.2.1 Hành trình sáng tạo
Đồng Đức Bốn sinh ngày 30/3/1948, ở xóm Lê Lác, thôn Song Mai (tức làng Moi), xã An Hồng, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng Theo lời kể lại của chính Đồng Đức Bốn, tuổi thơ của thi sĩ gắn liền với những buổi chiều lang thang trên đồng cỏ hoe vàng, bắt châu chấu về nướng ăn hoặc tát cá đồng mang ra chợ bán Mẹ Đồng Đức Bốn là người phụ nữ chân quê, lam lũ nhưng
bà thuộc nhiều ca dao tục ngữ và những khúc hát ru trong lành Còn người cha lại có tư chất nghệ sĩ, hồi trẻ cũng đã từng khát vọng thơ ca nhưng bất đắc chí, mộng văn chương không thành Đồng Đức Bốn khi sinh ra đã hội tụ cả hai yếu tố: tiếp tục mang khát vọng của người cha và lại được hấp thu nguồn văn học dân gian từ người mẹ
Để đến với nghệ thuật, với thơ ca, Đồng Đức Bốn đã phải vật lộn với những thử thách khắc nghiệt của cuộc sống Có lẽ, chính cuộc đời - trường đại học chân chính của mọi thiên tài - đã giúp nhà thơ có nhân sinh quan sâu sắc
Trang 38ngay từ lúc bắt đầu cầm bút cũng như luyện rèn cho ông cái bản lĩnh kiên gan bước vào mảnh đất thơ lục bát, mảnh đất đã trồng nên nhiều cây cổ thụ lớp trước như Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Bính,… mà nếu không khéo, ông sẽ bị chết rợp dưới tán các cây cổ thụ đó Tâm huyết, tài năng, sự khổ luyện đã giúp con thuyền thơ Đồng Đức Bốn vượt qua mọi thử thách để vượt trùng dương trên hành trình chinh phục độc giả thơ của thời đại mới
Thuở hàn vi, chàng thanh niên chân chất làng Moi “đã từng là thanh niên xung phong Giải ngũ, Đồng Đức Bốn về làm việc tại Xí nghiệp sửa chữa
ô tô Hải Phòng làm thợ gò bậc 6/7”, sau đó về làm việc tại Xí nghiệp xuất nhập khẩu gia cầm Hải Phòng, anh giữ chân đại diện cho Xí nghiệp ở Hà Nội… (Nguyễn Huy Thiệp) Những tháng ngày ấy, có ai ngờ Đồng Đức Bốn
đã ấp ủ tấm lòng tri ân với thơ ca
Từ những ngày đầu sáng tác, Đồng Đức Bốn có viết thơ lục bát và cả
những thể thơ khác Tập thơ xuất bản năm 1992, Con ngựa trắng và rừng quả đắng, “chen lẫn với một số bài thơ lục bát khá độc đáo là rất nhiều bài thơ tự
do, ỡm ờ, nửa dơi, nửa chuột, lúc cao giọng chính trị, lúc học đòi cung cách trí thức lả lơi…” [10, tr 535] và chính sau bước thể nghiệm “ném đá dò đường” ấy, nhà thơ đã phát hiện ra lục bát mới hợp tạng với mình nhất Với định hướng này, Đồng Đức Bốn không bơ vơ giữa muôn nẻo lộ trình đến với thơ nữa mà rẽ vào một con đường cụ thể - thơ lục bát và thể thơ dân tộc này
đã gắn bó, góp phần định hình phong cách sáng tạo của nhà thơ
Đồng Đức Bốn đến với thơ không phải là sớm, sau phút ngỡ ngàng ban đầu, ông đã định vị ngay được sở trường của mình – thơ lục bát Với giọng thơ lạ trên lãnh địa này, tác giả dần khẳng định được vị trí vững chắc của mình trong lòng độc giả yêu mến thơ Cái lạ ở thơ Đồng Đức Bốn, không phải
do những cách tân cầu kì về hình thức hay câu chữ, mà chính ở khả năng phát hiện cái sâu sắc, tinh tế trong cái giản đơn thường ngày, lồng trong một giọng điệu thơ chua xót, đặc trưng và nhất là ở năng lực kết nối hình ảnh, tạo ra
Trang 39những biểu tượng lạ lẫm mà đầy quyến rũ, kiểu như: “Mải mê đuổi một con diều/ Củ khoai nướng để cả chiều thành tro” (Chăn trâu đốt lửa) Nói cách khác, “sự hiện đại trong thơ Đồng Đức Bốn chính là ở nội lực bên trong của từng câu thơ”[10, tr 547]
Theo Nguyễn Huy Thiệp, Đồng Đức Bốn làm thơ như một định mệnh thiêng liêng của trời đất dành cho ông, vị trí thơ Đồng Đức Bốn do vậy cũng
vô cùng đặc biệt – vị cứu tinh của thơ lục bát: “Đồng Đức Bốn là một nhà thơ khai sáng và sáng tạo ra những cái mới trong thơ lục bát Anh thuộc diện nhà thơ bảo tồn, bảo lưu các giá trị thơ ca truyền thống” Quả thật, “đây là một điều khá đặc biệt trong chợ trời lẫn lộn trắng, đen, thật giả, lẫn lộn chuyên nghiệp và nghiệp dư hôm nay” [10, tr 546]
Như đã hoàn thành sứ mệnh được giao phó, sau khoảng 15 năm cầm
bút sáng tác, Đồng Đức Bốn rời cõi người, cõi thơ: “Chăn trâu đốt lửa xong rồi/ Thì ta trả bút cho trời làm hoa” (Trả bút cho trời), để lại một gia tài thơ
gồm sáu tập thơ dầy dặn mà có đến gần 80% là thơ lục bát: Con ngựa trắng
và rừng quả đắng (1992), Chăn trâu đốt lửa (1993), Trở về với mẹ ta thôi (2000), Cuối cùng vẫn còn dòng sông (2000), Chuông chùa kêu trong mưa (2002) và Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc (2006)
Hành trình thơ Đồng Đức Bốn phát triển khá nhanh, khi đã bén duyên lục bát, ông viết liên tục, khỏe và đều tay Những mạch nguồn lớn trong thơ Đồng Đức Bốn không mấy thay đổi qua các tập thơ Ấy là những nguồn cảm hứng mạnh mẽ bắt nguồn từ quê hương, làng mạc, từ cuộc sống, từ đời tư, từ
chính hình ảnh cái tôi ngạo nghễ “Hiểu tôi là ngọn núi cao/ Thương tôi có một ngôi sao cuối trời”… cùng lối viết tự nhiên, giọng điệu vừa chua xót vừa
kiêu bạc, hình ảnh thơ quen thuộc nhưng đầy ấn tượng: dòng sông, con đò, con đường, mưa, nắng, gió, bão, con ngựa, gai, chùa chiền…
Trong thơ Đồng Đức Bốn có quê hương, có làng mạc, có những bức tranh quê êm ả và dữ dội, còn có cả hương bồ kết đặc sệt quê mùa phả vào
Trang 40thơ… Thơ Đồng Đức Bốn bàn đến chuyện tình yêu, thất tình, tình đơn phương, tình yêu nở muộn… và bàn đến phố phường, chuyện nhân sinh – cuộc sống… với những triết lí sâu sắc đến bất ngờ Đặc biệt giai đoạn nhà thơ trên giường bệnh, khát vọng cuộc sống, ý thức dâng hiến đã khiến cho Đồng Đức Bốn sáng tác được nhiều bài thơ, nhiều câu thơ “thánh” như bắt được của Trời vậy Ý thơ ám ảnh, dư ba… những tình cảm vốn chân thật, mạnh mẽ lại thiết tha, da diết của một người ham sống, yêu sống
1.2.2.2 Quan niệm nghệ thuật của Đồng Đức Bốn
Mỗi nghệ sĩ đến với thơ ca đều mang theo những quan niệm nghệ thuật của riêng mình dù nói hay không nói trực tiếp bằng lời Đồng Đức Bốn đã nhiều lần trực tiếp bộc lộ quan niệm thơ trong thực tiễn sáng tác và cả khi trả lời phỏng vấn của độc giả Ông không ngần ngại đưa ra những ý kiến đầy tâm
huyết: “…mỗi ngày tôi đều nghiệm ra rằng thơ là thứ tôi tâm huyết”[10, tr 681], “Thơ hay là sự thăng hoa Trời cho cộng với những trải nghiệm khổ hạnh của một đời người”[10, tr 682], “Thơ là lộc của Trời, cũng là cái Tội trời đày” [10, tr 687] Đặc biệt, Đồng Đức Bốn ý thức: “thơ phải đạt đến độ
giản dị Không có nghĩa có sao nói vậy, mà giản dị chính là cách tiếp cận để đến với bản chất cuộc đời cũng như cõi sâu xa của tâm hồn Lối nói giản dị là lối nói của dân gian Tri thức kinh nghiệm dân gian, chính là phần tiềm thức trong mỗi con người hiện đại” [10, tr 690] Những quan niệm này nhất quán
và càng ngày càng sâu sắc hơn trong hành trình sáng tác của nhà thơ Đồng Đức Bốn
*Trời cho được chút lộc thơ
Với Đồng Đức Bốn làm thơ là một cái duyên và là ân huệ mà ông Trời
đã dành riêng cho mình:
Trời cho được cái lộc thơ
Cứ leo núi Tản Tây hồ lội sương
(Tôi viết tặng tôi)