Vua Nam Hán điều quân tiếp viện, nửa đường nghetin Hoằng Thao chết trận, vội cùng tàn quân rút chạy, ý chí xâm lược nước ta củaquân Nam Hán bị đè bẹp.Trận Bạch Đằng lần thứ nhất năm 938
Trang 1Trải qua các thời kỳ lịch sử của cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giànhchính quyền cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, cán bộ, chiến sĩ và cáctầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về lịch sử, truyền thống hào hùng của LLVT,nhân dân và các dân tộc tỉnh Quảng Ninh luôn là lực lượng nòng cốt đi đầu cùngvới nhân dân cả nước viết nên trang sử vẻ vang, truyền thống hào hùng của dântộc, xứng đáng là giai cấp tiên phong, lãnh đạo trong thời kỳ cách mạng Nhân
dịp kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống LLVT tỉnh 18/10 (1947-2017), Đảng ủy
Bộ CHQS tỉnh tổ chức phát động Cuộc thi tìm hiểu "LLVT tỉnh Quảng Ninh 70
năm lịch sử và những chiến công".
Cuộc thi tìm hiểu "LLVT tỉnh Quảng Ninh 70 năm lịch sử và những
chiến công" nhằm tuyên truyền sâu rộng đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ và các tầnglớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về lịch sử, truyền thống hào hùng của LLVT, nhândân và các dân tộc tỉnh Quảng Ninh trong thời gian qua
Đồng thời, khơi dậy niềm tự hào về truyền thống quê hương đất mỏ anhhùng, truyền thống “đoàn kết, sáng tạo, bất khuất, kiên trung, chiến thắng” củaLLVT tỉnh, góp phần xây dựng ý chí quyết tâm, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuấtsắc mọi nhiệm vụ được giao
Đối tượng dự thi là cán bộ, chiến sĩ LLVT tỉnh (bao gồm cả bộ đội thườngtrực, lực lượng DQTV và dự bị động viên); cán bộ, chiến sĩ các đơn vị bộ đội chủlực đóng quân trên địa bàn tỉnh, học sinh, sinh viên và các tầng lớp nhân dân, dântộc trong và ngoài tỉnh
Là cán bộ đang công tác tại trường Cao đẳng Công nghiệp Cẩm Phả thuộc
Bộ Công Thương Việt Nam, hưởng ứng Cuộc thi tìm hiểu "LLVT tỉnh Quảng
Ninh 70 năm lịch sử và những chiến công", thông qua bài viết với nội dung trả
lới 10 câu hỏi theo nội dung của Đảng ủy Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh
Tìm hiểu về lịch sử, truyền thống của Đảng bộ Quân sự tỉnh, LLVT vànhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Ninh, quá trình xây dựng chiến đấu, trưởngthành và những chiến công xuất sắc của quân và dân tỉnh Quảng Ninh
Trang 2Để làm bài dự thi tôi xin phép tham khảo và sử dụng một số tư liệu và hìnhảnh minh họa của một số tác giả đăng trên các Website của LLVT tỉnh QuảngNinh, LLVT trong cả nước, cùng với đề cương do ban tổ chức cung cấp
Do điều kiện thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế, bài viết không tránhkhỏi thiếu sót rất mong nhận được ý kiến tham gia của Ban tổ chức, Ban giámkhảo và bạn đọc, để bài viết được hoàn thiện hơn
Kính chúc toàn thể các đồng chí của LLVT Việt Nam nói chung và các đồng chí của LLVT tỉnh nói riêng dồi dào sức khỏe và chúc cuộc thi thành công tốt đẹp!
Người viết
Nguyễn Thị Quyên
Trang 3TRẢ LỜI CUỘC THI TÌM HIỂU 70 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG
LLVT TỈNH QUẢNG NINH (18/10/1947 - 18/10/2017)
Câu hỏi 1: Sông Bạch Đằng nơi quân và dân ta đã lập nên chiến công oanh
liệt vào thế kỷ X và XIII hiện nay thuộc những địa phương nào? Ai là người lãnhđạo lập nên những chiến công đó?
* Trả lời: Quảng Ninh là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước chống giặc
ngoại xâm Nhiều tên đất, tên làng, tên sông đã gắn liền với những chiến công oanhliệt, một trong những địa danh gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dântộc ta là sông Bạch Đằng (còn gọi là Bạch Giang), hiện là sông Vân Cừ, sông chảygiữa thị xã Quảng Yên/ tỉnh Quảng Ninh và Thuỷ Nguyên/ TP Hải Phòng Sông cóchiều dài 32km, là con đường thuỷ tốt nhất để đi vào Hà Nội (Thăng Long ngàyxưa)
Sông Bạch Đằng là nơi quân và dân ta (thế kỷ X và XIII) đã lập nên nhữngchiến công oanh liệt Những chiến công đó là:
- Chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất: Cuối mùa đông năm 938, vua NamHán phong con là Vạn Vương Hoằng Thao làm Gia Vương sai đem thủy quân đixâm lược nước ta Nắm vững đường tiến quân từ hướng biển vào, Ngô Quyền đãhuy động quân sĩ đẵn gỗ, đẽo thành cọc, đầu bịt sắt nhọn, cắm xuống sông BạchĐằng, xây dựng thành một trận địa ngầm, có quân mai phục hai bên, sẵn sàng chờgiặc tới
Hoằng Thao đem thủy binh ồ ạt kéo vào phía cửa sông Bặch Đằng Đanglúc thủy triều lên ngập hết bãi cọc, Ngô Quyền cho quân dùng thuyền nhẹ rađánh, nhử quân Nam Hán từ Vịnh Hạ Long vào Quân ta vờ rút chạy, tướng trẻHoằng Thao mắc mưu, đắc chí thúc quân đuổi theo vượt qua trận địa ngầm củaquân ta Quân ta chiến đấu cầm cự với giặc Khi thủy triều rút mạnh, Ngô Quyền
ra lệnh cho toàn bộ quân ta phản công địch Thủy quân Nam Hán hoảng hốt quayđầu lại Ra đến gần cửa biển, thuyền địch đâm phải cọc nhọn, bị vỡ và bị đâm rất
Trang 4nhiều quân giặc phần bị giết, phần bị chết đuối, thiệt hại đến quá nửa HoằngThao cũng bỏ mạng tại đây Vua Nam Hán điều quân tiếp viện, nửa đường nghetin Hoằng Thao chết trận, vội cùng tàn quân rút chạy, ý chí xâm lược nước ta củaquân Nam Hán bị đè bẹp.
Trận Bạch Đằng lần thứ nhất (năm 938)
Trận Bạch Đằng lần thứ nhất (năm 938) của chủ tướng Ngô Quyền, khôngchỉ là chiến thắng nhanh nhất chỉ trong một ngày mà còn là mẫu mực của sự khaiphá cách đánh và thắng giặc độc đáo của Việt Nam từ ngàn xưa Khi chọn dòngquang hà Bạch Đằng để chỉ một trận đánh giải quyết thắng lợi cả một cuộc khángchiến Ngô Quyền là người đầu tiên quyết định dùng phương thức gây chiến trựcdiện đánh đầu phủ đầu, đánh giặc ngay sau khi chúng kéo vào cửa ngõ của nonsông
Khí thế là như vậy, về thực lực, Ngô Quyền là chủ tướng còn biết mình ,biết người khi thấy rằng quân giặc mạnh hơn ta rất nhiều, vì vậy ông biết khaithác caí thiêng liêng của dòng sông rồi sẽ đi vào lịch sử để dùng kế thiên thời và
Trang 5địa lợi của non sông, đất nước mà tăng lực cho nhân hòa của đạo quân khángchiến mà mình đứng đầu Đây chính là tài năng quân sự của một bật chủ tướng.
Từ đây mà tìm ra sự lợi hại của thủy chế dòng quang hà Bạch Đằng Lần đầu tiênđưa thủy triều vào thành một nhân tố, một lực lượng thủy chiến của trận đánh.Đây là sự sáng tạo đầu tiên mà lịch sử vàng son của dân tộc đã ghi công lao choNgô Quyền Đến như lại nghĩ ra cách cây tre, cây cọc bọc sắc nhọn mà tung hứngcùng thủy triều biến dòng sông thành những chiến bẩy nhân tạo khổng lồ, biếnnhững cây chông cổ truyền của dân tộc, phóng đại thành một trận địa cọc Đâychính là sự thiên tài quân sự của một vị chủ tướng và tất cả những điều hiếu chísáng tạo như thế đã đúc kết thành ngôn từ một thời được chép vào chính sử, thành
lời tổng kết chiến tranh đầu tiên của Ngô Quyền:“Nếu ta sai người đem cọc lớn
đóng ngầm ở cửa biển trước, vót nhọn đầu và bịt sắt, thuyền của họ nhân khi nước triều lên, tiến vào bên trong àng cọc, bấy giờ ta sẽ dễ bề chế ngự, không kế
gì hơn kế này cả” Việc đưa những lời độc ngôn như thế này muốn thuộc về sự
mưu trí, tính toán của trận đại chiến rồi thiên biến, thuận hóa, điều binh khiểntướng mà chính xác đến từng chi tiết và phút chót trong thực hành chiến tranh,khi ấy là những ưu việc tài năng quân sự của Ngô Quyền
Trang 6Ngô Quyền
Vào cuối mùa thu năm 938, đoàn chiến thuyền của đại quân xâm lược nhàNam Hán đích thân do Hoàng thái tử Lưu Hoằng Tháo rất hung hăng trong ý đồchiến tranh nhưng vẫn chần chừ, thận trọng khi mới kéo binh đến cửa ngõ quang
hà Bạch Đằng của nước Việt, Bấy giờ vẫn là lúc triều cường, những cây chôngkhổng lồ và về sau được gọi là những chiếc cọc Bạch Đằng lợi hại vẫn chỉa mũinhọn vào thế chờ giặc chìm sông nước, vùng của sông phải làm sao như cho giặctiến sâu vào bãi chông của sông Bạch Đằng trước khi thủy triều xuống Đây chính
là sự tài tình của trận chiến thành công
Tiếp theo là làm sao phải đánh chặn, đánh được quân giặc tháo chạy ngược
ra cửa sông vừa đến lúc thủy triều xuống Những chiếc cọc Bạch Đằng lợi hại đãđội nước mà nhô lên chặng đứng, đâm nát chiến hạm của quân địch, hổ trợ đắclực cho các cánh quân tiêu diệt sạch ở nơi quang hà Bạch Đằng Giang ấy, toàn bộquân xâm lược bị giết tại trận và đại chỉ huy Hoằng Tháo Trận Bạch Đằng lầnthứ nhất của vị chủ tướng thiên tài Ngô Quyền mãi mãi xứng đáng ngợi ca hào
hùng của chính sử Đại Việt sử kí toàn thư:“Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới
hợp của đất Việt ta mà phá được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa Có thể nói một cơn giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy” (Lê Văn Hưu).
Và không chỉ sử thần Ngô Sĩ Liên, ở thế kỉ XV mà cả Ngô Thì Sĩ sử thần ở
thế kỉ XVIII nữa:“ Trận thắng lớn trên sông Bạch Đằng là cơ sở sau này cho
việc phục lại quốc thống Những chiến công các đời Đinh, Lê, Lý, Trần vẫn còn nhờ vào cái uy danh lẫm liệt ấy để lại ấy Trận Bạch Đằng này là vũ công cao cả, vang dội đến nghìn thu, há phải chỉ lừng lẫy ở một thời bấy giờ mà thôi”(Việt sử
tiêu án)
Vang vọng đến ngàn thu, không chỉ một thời mà mãi mãi chiến công vànhân thân của lịch sử đánh trận Bạch Đằng lần thứ nhất của tướng Ngô Quyền, vềnhững sáng tạo thần kì đầu tiên, về hậu quả mở ra của một trong những chiếnthắng lớn của cửa khẩu Trung Nguyên lần thứ nhất…Tất cả đều từ trận đánh vàtrận thắng đầu tiên trên sông, từ đây trở thành dòng sông lịch sử Từ đây trở thành
Trang 7dòng sông mà tất cả các con sông của nước Việt đều nhóm lại hàng trăm và hàngtrăm năm sau vẫn còn sống mãi bao thế hệ công dân nước Việt ở khắp mọi nơi.
Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 có ý nghĩa lịch sử to lớn, là mốc son chóilọi chấm dứt hơn một nghìn năm Bắc thuộc; phá tan mưu đồ “đồng hóa” - mộtchính sách đặc trưng nổi bật của chủ nghĩa Đại Hán tộc; mở ra một kỷ nguyênmới trong lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên phát triển của quốc gia phong kiến độc lập,
tự chủ, thời kỳ trưởng thành của dân tộc Việt Nam Chiến thắng đó đã để lại cho
chúng ta nhiều kinh nghiệm quý, nhất là nghệ thuật đánh bại quân xâm lược ngay
từ cửa ngõ đất nước được thể hiện ở một số điểm sau:
Một là, quyết định “phương lược” đánh giặc sớm, đúng đắn, sáng tạo Có
thể thấy phương lược trong trận chiến Bạch Đằng là hết sức táo bạo nhưng đúngđắn, chính xác mà trước đó chưa hề có trong lịch sử chống giặc ngoại xâm củadân tộc Trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng đắn về tương quan so sánh lựclượng, Ngô Quyền thấy rõ chỗ mạnh của địch: quân đông, vũ khí, trang bị mạnh,nhất là các thuyền chiến lớn Nhưng quan trọng hơn, thấy rõ những điểm yếu chí
tử của chúng; đó là: tướng giặc (Lưu Hoằng Tháo) còn trẻ, chưa có nhiều kinhnghiệm trận mạc, kiêu ngạo, chủ quan, khinh địch, không có nội ứng lại cơ động
từ xa đến, địa hình xa lạ, hiểm trở nên tinh thần mỏi mệt, cùng những ám ảnh bởi
thất bại của lần xâm lược trước Về phía ta, Ngô Quyền đã diệt trừ nội phản, ổn
định nội bộ bên trong để rảnh tay chống giặc ngoại xâm; được nhân dân đồng tìnhủng hộ, sự đồng lòng của các tướng lĩnh, hào kiệt quyết tâm đánh giặc giữ nước.Bởi thế, trong thời gian ngắn, lực lượng của ta đã có tới vài vạn người; trong đó,đạo quân Ái Châu do Ông trực tiếp tuyển mộ, huấn luyện làm nòng cốt Tuy cónhiều thuận lợi, nhưng quân ta cũng gặp nhiều khó khăn, đó là: thời gian chuẩn bịngắn, lực lượng kháng chiến chưa được huấn luyện kỹ, vũ khí, trang bị còn thô sơ
so với địch Song xét tổng quan, sức mạnh tổng hợp của ta mạnh hơn địch Thư
nhất, yếu tố con người - toàn dân ủng hộ và tập hợp được các tướng lĩnh có tài
thao lược Thư hai, khu vực ta lựa chọn đánh địch có địa hình thiên hiểm, thuận
lợi cho ta bày thế trận để phát huy cao nhất sức mạnh của các lực lượng và trang
bị, vũ khí (thuyền nhỏ, cung nỏ) Thư ba, quân Nam Hán từ xa đến nên tinh thần
Trang 8uể oải, không thông thạo địa hình, thổ nhưỡng, thủy triều Như vậy, quân ta hội tụ
đủ ba nhân tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, lấy “sức nhàn thắng sức mỏi” Do
đó, khi bàn phương lược mưu, kế, thế trận chống giặc với các tướng sĩ, Ngô
Quyền nói:“Hoằng Tháo là một đưa trẻ dại, đem quân từ xa đến, quân lính mỏi
mệt, lại nghe được tin Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ưng, đã mất vía trước rồi; quân ta sưc còn mạnh địch với quân mỏi mệt, tất phá được Song
họ có lợi ở thuyền, nếu ta không phòng bị trước thì chuyện được thua chưa thể biết được Nếu ta sai người đem cọc lớn đóng ngầm ở cửa biển trước, vạt nhọn đầu mà bịt sắt, thuyền của họ nhân khi nước triều lên tiến vào bên trong hàng cọc, bấy giờ ta sẽ dễ bề chế ngự Không kế gì hơn kế ấy cả” 2 Sau khi phân tíchđánh giá kỹ những điểm mạnh, yếu của ta và địch, Ngô Quyền quyết định tổ chứcmột trận quyết chiến chiến lược tiêu diệt đạo binh thuyền giặc ngay tại vùng cửasông Bạch Đằng, nơi chúng ắt phải đi qua để tiến vào nội địa nước ta
Hai là, chủ động nắm tình hình địa hình, thời tiết, khí hậu, thủy văn, thiết
lập thế trận đánh địch hiểm, chắc.Theo sử sách để lại, sông Bạch Đằng có tên gọi
là sông Vân Cừ, cửa sông rộng hơn 2 dặm, ở đó có nhiều núi cao, nhiều nhánhsông đổ lại, sóng cồn man mác giáp tận chân trời; cây cối um tùm che lấp bờsông, thực là một nơi hiểm yếu Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi của thế trận này là việc
bố trí và phát huy sức mạnh của các bãi cọc ngầm dưới lòng sông Các bãi cọcnày phải ở nơi hiểm yếu, được ngụy trang bằng con nước thủy triều lên và sẽ pháthuy tác dụng khi địch rút chạy ra biển vào thời điểm thủy triều xuống Để làmđược điều đó, Ngô Quyền đã khéo chọn: những người giỏi địa lý trực tiếp theodõi, tìm hiểu trong dân nắm chắc quy luật (thời điểm, mức độ, tốc độ) thủy triềulên xuống hằng ngày để chọn vị trí đóng cọc; huy động quân, dân vào rừng đẵn
gỗ, vận chuyển ra vị trí tập kết; động viên nhân dân tích cực rèn mũi sắt, Chính
vì thế, chỉ trong thời gian ngắn, mặc dù, thời tiết những ngày cuối năm, mưa dầm,gió bấc, trời rét buốt da, buốt thịt kéo dài, nhưng hàng nghìn cây gỗ lim, sến đầuvạt nhọn, bịt sắt đã được bí mật cắm xuống lòng sông (khu vực cửa Nam Triệuhiện nay) Một vấn đề quan trọng nữa quyết định thắng lợi của trận đánh là bố trílực lượng chính diện và hai bên sườn đủ mạnh, phối hợp chặt chẽ với nhau để
Trang 9chặn đứng và tiến công mãnh liệt quân địch tại cửa sông Bạch Đằng Đây là vấn
đề có tính then chốt, bởi nếu để địch tràn qua điểm chặn đầu, tiến sâu vào nội địathì thế trận do ta dày công xây dựng sẽ trở nên vô nghĩa Nhận rõ điều này, NgôQuyền đã chú trọng xây dựng thế trận chặn địch vững chắc phía đầu nguồn cùngmột lực lượng tinh nhuệ do Ông trực tiếp chỉ huy; còn lại phần lớn quân thủy,quân bộ được bố trí mai phục ở hai bên bờ sông có nhiệm vụ đánh ập vào hai bênsườn, dìm địch xuống lòng sông, tạo điều kiện cho thủy quân tiêu diệt Việc bố tríbãi cọc, triển khai thế bố trí lực lượng ở cửa sông Bạch Đằng tạo thành thế trậnthủy chiến hiểm hóc, vững chắc - “đất chết” của địch
Ba là, tổ chưc chỉ huy tài tình, khéo léo, linh hoạt, kịp thời theo “con
nước” Để trận quyết chiến chiến lược kết thúc thắng lợi trong một lần thủy triều
lên xuống là việc làm không hề đơn giản Nếu tính toán của ta không chính xác,
“lực không mạnh, thế không vững”, không buộc được địch phải rút chạy đúngthời điểm (thủy triều xuống) thì trận đánh không những không thắng lợi mà có thểphải chịu thất bại nặng nề, đất nước sẽ lại chìm trong cảnh nô lệ của phong kiếnphương Bắc Trong trận quyết chiến chiến lược này, Ngô Quyền đã khéo phánđoán, xử lý và dẫn dắt tình huống, chuyển hóa thế trận một cách linh hoạt, có lợinhất để từng bước phá vỡ đội hình hành quân đường dài của địch, không chochúng triển khai đội hình chiến đấu, tiêu diệt từng bộ phận, tiến lên đánh bại hoàntoàn quân địch Ở đây còn biểu hiện rõ nghệ thuật nghiên cứu, nắm chắc quy luật
tự nhiên, theo dõi chặt chẽ “nhất cử, nhất động” của đạo binh thuyền địch; từ đó,tính toán nhử, dụ địch vào “đất chết” để tạo và chớp thời cơ tiến công tiêu diệtchúng Trong suốt trận đánh, Ngô Quyền luôn nắm và giữ quyền chủ động trênchiến trường, vận dụng linh hoạt các thủ đoạn tác chiến: vừa đánh, vừa lui, vậnđộng tiến công kết hợp với cản phá bằng trận địa cọc, truy kích tiêu diệt địch tháochạy Với nghệ thuật phát triển cách đánh liên tục, sáng tạo theo tiến độ trận đánhnên quân địch đang từ thế chủ động đã lâm vào bị động đối phó, bất ngờ, đẩychúng đến chỗ tuyệt vọng, sụp đổ và bị tiêu diệt hoàn toàn
Ngoài ra, Ngô quyền còn chủ động khơi dậy tinh thần độc lập dân tộc, cốkết cộng đồng, động viên mọi tiềm lực trong dân, nhất là sức người, sức của cho
Trang 10trận đánh Khi nghe tin Ông dấy binh đánh giặc, nhân dân khắp nơi nô nức manglương thực, thực phẩm, vũ khí, thuyền chiến tham gia và ủng hộ cuộc khángchiến Các thanh niên, trai tráng ở Gia Viện (nơi Ngô Quyền đặt đại bản doanh),Lâm Động (Thủy Nguyên, Hải Phòng), Đằng Châu (Kim Động, Hưng Yên),…người mang vũ khí, kẻ mang thuyền bè, tìm đến cửa quân xin diệt giặc Ba anh
em Lý Minh, Lý Bảo, Lý Khả ở Hoàng Pha (Hoàng Động, Thủy Nguyên), ông tổ
họ Phạm ở Đằng Giang (An Hải, Hải Phòng) cũng chiêu mộ dân binh, hăng hái
tham gia kháng chiến,… làm cho đội quân của Ngô Quyền, từ một đội binh Ái
Châu đã nhanh chóng trở thành đội quân dân tộc.
Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc Nó
đã để lại cho thế hệ sau bài học quý về nghệ thuật đánh bại quân địch ngay từ trậnđầu, tuyến đầu ở môi trường sông nước, kết thúc thắng lợi chiến tranh trong thờigian cực ngắn Bài học đó đã được vận dụng trong lịch sử chống ngoại xâm củacha ông ta và đến nay vẫn còn nguyên giá trị, nhất là đối với chiến tranh bảo vệ
Tổ quốc trong tương lai (nếu xảy ra)
- Chiến thắng Bạch Đằng lần thứ 2: Năm 981, quân Tống theo hai đườngthủy bộ ào ạt tiến vào xâm lược nước ta Quân bộ từ Ung Châu (Quảng Tây) theođường Lạng Sơn tiến vào Quân thủy từ Quảng Châu (Quảng Đông) vượt biểntiến sang Hai đạo quân thủy bộ của địch dự kiến sẽ phối hợp với nhau vào vâyhãm Kinh thành Hoa Lư (Ninh Bình)
Được muôn dân, tướng sĩ ủng hộ, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn trực tiếplãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Tống Phát huy sáng tạo chiến thuật củaNgô Quyền hơn 40 năm trước, ông sai quân sỹ đóng cọc ở sông Bạch Đằng đểngăn chặn chiến thuyền của địch Trên các đường tiến công khác của địch, ông bốtrí lực lượng ngăn chặn
Khoảng cuối mùa xuân năm 981, trên sông Bạch Đằng đã diễn ra trận thủychiến ác liệt Với truyền thống thủy chiến ưu việt của dân tộc, quân ta chiến đấu hếtsức dũng cảm, đánh lui thủy quân địch, làm thất bại âm mưu phối hợp hai đạo quânthủy bộ Trên các mặt trận khác, quân ta cũng chặn đánh quyết liệt Quân địch bịđại bại, tướng giặc Hầu Nhân Bảo bị giết chết, nhiều tướng của địch bị bắt sống
Trang 11Vua Lê Đại Hành
Chủ tướng của trận Bạch Đằng lần hai diễn ra sau trận Bạch Đằng lần thứnhất chỉ 43 năm là quan thập đạo tướng quân Lê Hoàn Vị Hoàng đế mang cương
vị Thiên Phúc Lê Đại Hành Lên ngôi hoàng đế ở kinh đô Hoa Lư mùa thu năm
980, đến mùa xuân năm sau, anh hùng dân tộc Lê Hoàn đã lập chiến công BạchĐằng, lập nên đại võ công trở thành chủ tướng của trận Bạch Đằng lần thứ hai.Trước Đây chưa đầy năm, những biến cố của kinh đô Hoa Lư vào mùa đông năm
Trang 12979, khi Đinh Tiên Hoàng bị giết hại bởi kẻ ngu thần Đỗ Thích “tham vọng nuốt
cả sao trời”, đa dẫn đường xâm lược lên tham vọng hơn nữa của Vưong triều nhàTống nhằm vào nước Đại Việt từ thời năm 980
Trong hoàn cảnh lịch sử ấy Dương Thái Hậu đã sáng suốt công bằng theo ýnguyện của các tướng sĩ là cần phải có một người cầm đầu xứng đáng trước lúc
họ ra trận sống mãi với quân thù Được trao ngôi từ nước Đại Cồ Việt từ dòng họnhà Đinh cho Lê Hoàn cũng là người mang trọng trách , sư mệnh đứng đầu củacuộc kháng chiến giữ nước của vị tướng dẹp loạn 12 sứ quân hơn 10 năm trướcđây.Vị tướng tài họ Lê trở thành vị hoàng đế nước Việt và trở thành chủ tướng
của trân Bạch Đằng lần hai cũng trong tình thế ấy:“Người có theo về không? Chớ
rước lấy tội lỗi Ta đang chuẩn bị xe ngựa quân lính, sắp sửa các thư chiêng trống, nếu quy phục thì ta tha cho, nếu trái lệnh thì ta quyết đánh Theo hay không, lành hay giữ, tự ngươi nghĩ lấy”
Trận chiến Bạch Đằng thứ hai - Lê Hoàn đánh Nhà Tống
Mặc kệ cho lời răng đe của nhà Tống, Lê Hoàn và quân lính không hề naonúng, dân nước Đại Cồ Việt một lần vào trận đánh giữ nước Bấy giờ mùa đông
Trang 13năm 980, các cánh quân của Tống chia nhiều đường, nhiều ngã mà tiến vào đấtViệt Những kẻ chủ mưu đứng đầu là Hầu Nhân Bảo theo dòng quang hà BạchĐằng mà tiến quân.
Tấm bảng đồ chiến sự cuối mùa đông đầu mùa xuân những năm 980 - 981của thế kỉ X cho thấy vị trí đặt cả bản doanh của vị Hoàng đế Đại cồ Việt khoảngcách khi ấy chính là nhằm giương gươm múa võ với cánh quân thủy lực của giặc
Và từ đấy, ý đồ giữ nước của Lê Hoàn rõ ràng muốn đánh quân giặc hung hăn củatướng Hầu Nhân Bảo Nay trên Bạch Đằng giang lịch sử nhưng không thể lặp lạikinh nghiệm và bài học của trận Bạch Đằng giang lần thứ nhất do Ngô Quyềnlàm chủ tướng trước kia Mà trận đánh trên sông Bạch Đằng lần này là thiên biến,vạn hóa Từ mưu lược và cách đánh giặc của nước Việt nghìn xưa, một lần nữađược Lê Hoàn làm sôi động trên chiến trường Bạch Đằng giang thiêng liêng.Trước tiên là những trận đánh cầm cự kéo dài để kìm giam chân giặc, vừa làmnản lòng chúng
Những chiếc cọc Bạch Đằng được dựng lại nhưng không phải để phá giặc
mà lại ngăn giặc Như lời chép của sách Đại Nam nhất thống chí rằng “Năm thiên
phúc thư hai tưc là năm Dương lịch 981 bọn tướng là Hầu Nhân Bảo sang xâm lược sông Bạch Đằng Lê Hoàn sai sĩ tốt đóng cọc ngăn sông” Chỉ ngăn sông
mà kết cục lại là bắt được Hầu Nhân Bảo đem giết chết như lời chính sử trongkho sách đồ sộ của phương Bắc…
Trang 14Đền Vua Lê Đại Hành tại Hoa Lư
Đã bằng câu viết nguyên văn sau đây cho thấy hiệu quả của một cách dùng
binh “ Đại tướng Lê Hoàn khôn khéo vận dụng trên sông Bạch Đằng năm 981.
Trang 15Tại sông Bạch Đằng lấy kế trá hàng mà làm tướng Hầu Nhân Bảo mắc mưu và bị giết hại Đây là chủ tướng Lê Hoàn của trận Bạch Đằng lần thư hai bằng mưư trí dùng binh đánh giặc đã đạt được mục tiêu chiến lược của mình là tiêu diệt kẻ cầm đầu bộ máy xâm lược của tống triều”.
Nhà sử học Lê Văn Lan nhận định: “ Ở trận Bạch Đằng năm 981 này thì
Lê Hoàn với tư cách là chủ Soái, đã tiến hành cuộc kháng chiến, cuộc chiến tranh rất khác với cuộc kháng chiến trên sông Bạch Đằng lần trước và sau đó Bởi vì lúc này các cánh quân thủy bộ đã vào sâu trong đất liền, cho đến trước khi
Lê Hoàn dùng sưc cầm cự trên sông Bạch Đằng lịch sử này rồi sau đó mới dẫn,
dụ dỗ địch và kể cả thủ pháp được dùng là trá hàng để rồi giết được chủ tướng của giặc là Hầu Nhân Bảo trên sông Bạch Đằng lịch sử Sau đó lại triển khai tiếp một loạt trận đánh trong đó có trận đánh lớn ở Tư Kết, kết thúc cuộc chiến chống xâm lược hết sưc là vẽ vang”.
Kết thúc giải phóng oanh liệt, cuộc kháng chiến chống Tống với anh hùngdân tộc Lê Hoàn được nên công và thành danh ở chiến trường sông Bạch Đằng
Vị chủ tướng trận Bạch Đằng lần thứ hai cũng hệt như chủ tướng trận Bạch Đằnglần thứ nhất, giương cao ngọn cờ chiến thắng, ca khúc khải hoàng trở về kinh đô
Cổ Loa - Hoa Lư Cởi tấm chiến bào, võ tướng khoát lại tấm hoàng bào, nhà vuangồi vững trên ngai vàng quân chủ Hoàng đế Thiên Phúc Lê Hoàn ngời sáng tàinăng thao lược với những chiến công trên sông Bạch Đằng lần thứ hai Vì thế màsống mãi trong bảng vàng bia đá, đền đài, lễ hội, sống mãi trong lòng nhân dâncủa bao thế hệ khắp nơi, mãi mãi được tôn vinh và kính thờ
- Chiến thắng Bạch Đằng lần thứ 3: Tháng 12/1287, quân Nguyên chiathành 3 đạo từ 3 mũi tiến đánh nước ta Tháng 2/1288, quân Nguyên vượt sôngHồng đánh chiếm kinh thành Thăng Long, triều đình nhà Trần tạm thời rút luichiến lược Do rút kinh nghiệm thất bại lần trước, Thoát Hoan thấy đại bản doanhcủa hắn tại Thăng Long đang đứng trước nguy cơ bao vây, tiến công, tháng3/1288 giặc đốt phá kinh thành Thăng Long, rồi rút quân về Vạn Kiếp Nhưngkhu Vạn Kiếp cũng không còn là nơi an toàn Lương thiếu, quân số hao hụt, tinhthần binh sĩ rã rời, lại bị quân ta tập kích liên tục Thấy mưu đồ xâm lược sắp thất
Trang 16bại, Thoát Hoan lo sợ và sớm tìm đường rút lui để khỏi bị tiêu diệt hoàn toàn.Thoát Hoan quyết định chia quân làm hai đạo, theo đường thủy bộ rút về trước Ô
Mã Nhi, Phàn Tiếp chỉ huy đạo quân bộ rút về trước theo đường Lạng Sơn Mọi
âm mưu và hành động dù có được tính toán đến đâu cũng không thoát khỏi taimắt của nhân dân và xét đoán tinh tường của nhà quân sự thiên tài Trần QuốcTuấn Bạch Đằng là một sông lớn do sông Đá Bạc, sông Giá và nhiều nhánh sôngkhác đổ vào Dòng sông rộng mênh mông, bên phải có dãy núi đá vôi Tràng Kênh
ăn sát bờ, bên trái có rừng cây um tùm che lấp bờ biển Theo sự chỉ đạo của TrầnQuốc Tuấn, quân ta đẵn gỗ lim, táu trên rừng về, đẽo nhọn đầu cắm xuống sôngtạo thành chướng ngại vật lớn Thủy quân ta mai phục trong các nhánh sông, sông
Đá Bạc được mở rộng để quân địch tiến vào Bộ binh tận dụng địa hình giấu quântrong núi đá Tràng Kênh và rừng rậm bên Tả Ngạn
Ngày 8/2/1288, một đội quân địch đi trước dò đường tiến vào sông Giá ĐếnTrúc Động (Thủy Nguyên, Hải Phòng), đội thuyền này bị quân ta chặn đánh phải rútlui Nhiệm vụ trận Trúc Động là bịt đường sông Giá, buộc toàn bộ quân địch phảihành quân theo sông Đá Bạc vào sông Bạch Đằng, vào trận mai phục của Trần QuốcTuấn
Sáng ngày 9/4/1288, đoàn thuyền địch bắt đầu tiến vào sông Bạch Đằng.Một đội chiến thuyền của ta được lệnh tiến đánh, rồi giả thua rút chạy Ô Mã Nhiliền thúc quân đuổi theo Lúc bấy giờ, nước thủy triều rút, nên vấp phải cọc gỗ,nhiều thuyền địch bị tan vỡ và bị đánh Ngay lúc quân địch đang rối loạn, thì thủyquân của ta từ hai bên bờ đổ ra đánh quyết liệt Quân ta lao những bè lửa đượcchuẩn bị sẵn vào thuyền địch Đạo quân của vua Trần cũng kịp thời đến ứngchiến Cuộc chiến đấu ác liệt từ mờ sáng đến chiều tối, quân ta tiêu diệt toàn bộđạo thủy quân của địch Các tướng giặc như: Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ đều bị bắt sống Quân ta thu được hơn 400 chiến thuyền, vô số giặc bị vùi thâydưới dòng sông Bạch Đằng
Trang 17Trần Hưng Đạo
Trần Hưng Đạo là người có đức – tài, về nhân cách ông đặt mối thù chunglên mối thù riêng Ông tập trung vào việc chống ngoại xâm là chính, đối với TrầnCảnh, Trần Chung thì ông vẫn giữ đoàn kết Vua tôi đồng lòng, cả nước ra sức
Đó là yêu cầu chiến lược, là bài học lớn của chúng dân được Trần Hưng Đạo rút
ta từ ba lần chống Nguyên – Mông xâm lược Từ vai trò của vị tướng quân thờiTrần trẻ tuổi, cuộc kháng chiến lần thứ nhất đến cương vị của một vị Quốc côngthiết chế, đứng đầu sự nghiệp quân sự của toàn bộ quân dân Đại Việt Ở cuộckháng chiến gian khó nhất, ở cả ba cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông xâmlược Là cuộc kháng chiến lần hai đến lúc mở màng cuộc kháng chiến lần thứ ba.Đứng trên cương vị tối cao mà ở đó là nhờ những vị thống xoái già dặn, tài năng
sự nghiệp chiến tranh và chiến trường đầy ấp vinh quang của chiến công và chiếnthắng oanh liệt của thời đại tràng đầy hào hứng đông ca lúc bấy giờ
Trận Bạch Đằng lần thứ ba đã được dựng lại sự hình thành trận Bạch Đằnggiang, giờ đây đã rõ ra là một dòng sông chiến trường lịch sử sau Ngô Quyền, Lê
Trang 18Hoàn lập đaị võ công Cũng có nghĩa là giặc đã biết đến dòng sông ấy, đến dòngsông thiêng liêng ấy, nguy hiểm ấy là bị đánh cho toàn bộ Vì thế không còn conđường nào khác đành phải qua dòng sông ấy, giặc cũng hết sức đề phòng và thật
sự đã đề phòng quá sức Bây giờ là đầu tháng ba âm lịch năm 1288, toàn bộ cánhquân gồm 500 chiến thuyền, sau năm tháng tung hoành ngang dọc trên non sôngđất nước Đại Việt
Trong trận này tổng lực đại binh thủy bộ giờ đã lâm vào cảnh chia haiđường thủy bộ mà chạy về nước Cánh thủy binh Nguyên - Mông do tướng Ô MãNhi chỉ huy rút lui qua đường sông Bạch Đằng này, chính là đối tượng để đánhmột trận nhớ đời của tướng Trần Hưng Đạo
Vẫn là trận địa cọc tuyệt vời của trận Bạch Đằng lần thứ nhất, nhưng đâykhông phải là chiến trương đánh giặc khi giặc tiến vào mà là đánh giặc trênđường rút lui tháo chạy ngược chiều từ trong dòng sông ra ngoài Thời gian củatrận đánh không phải là giờ giấc của thuỷ triều mà là hướng gió của một ngọn gióđông Cách dẫn dụ theo đường nào và vào lúc nào khi đến là rơi vào chiếc bẩykhổng lồ thứ ba này Vì thế phải cũng khác, càng phải khác là cách đánh của mộtlực lượng khổng lồ sau nhiều lần trước mà là hết sức, quá sức đề phòng So với sựphòng bị mưu lược của trận Bạch Đằng lần thứ hai, chỉ có được đó chính là thiêntài quân sự của vị chủ tướng kiệt xuất mới có thể nắm vững được, giải quyết đượctrọn vẹn những vấn đề lớn như thế nào trong muôn vàng chiến sự, chiến trận vàchiến công sông Bạch Đằng lần thứ ba
Với công lao rất lớn của vị chủ tướng trân Bạch Đằng lần thứ ba cũng như
cả sự nghiệp kháng chiến giữ nước thời Trần đã vô cùng sứng đáng ngay sau đại
võ công sông Bạch Đằng được triều đình phong từ Quốc Vương lên Đại Vương.Nhưng lòng dân mọi thời đại Trần Quốc Tuấn không chỉ là Hưng đại Vương màcòn được dự vào hàng tiên thánh và trở thành đức thánh Trần và hơn thế nữa đượcsánh là Ngọc Hoàng Thượng Đế Cùng với Ngô Quyền, Lê Hoàn, Trần Hưng Đạochính là hợp thành bộ ba chủ tướng của ba đại võ công lịch sử trên chỉ một dòngsông Bạch Đằng
Trang 19Như vậy, ba cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc chống xâm lược Nam Hán,Nhà Tống, Nguyên - Mông đều kết thúc thắng lợi, rõ ràng bằng những trận đánh
ở trên dòng sông Bạch Đằng “ Thiên Hiệp” ấy là chữ của Nguyễn Trãi đã nói về
Trang 20cái thế trời cho, tức là nói về các yếu tố Thiên và địa của chiến trường sông BạchĐằng Ngay từ thời Trần đã có những tứ thơ, lấy án văn rất lạ để nối tiếp về mộtvấn đề rất lớn trong chiến công Sông Bạch Đằng, ấy là đâu phải chỉ có thiên hiệp,đâu phải chỉ có trời mà còn có người, còn có yếu tố con người Trong các sử sách
và văn thư cổ thì người là yếu tố nhân hỏa sau yếu tố thiên thời địa lợi, ở chỗ nàyđược qui vào caí đức của nhà vua để cái phận số của non sông-đất nước Nhưngthật ra cái chính là cái thiên biến vạn hóa của khoa học nghệ thuật quân sự do các
vị chủ soái thiên tài của trận Bạch Đằng trọng dụng trong hoàn cảnh, trường hợprất khác nhau để tạo ta thế và lực, để tạo ra thiên thời địa lợi và nhất là nhân hỏatrên tài năng quân sự kiệt xuất của mình
Trang 21Câu hỏi 2: Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, quân và dân
Quảng Ninh đã chiến đấu bao nhiêu trận? tiêu diệt và bắt sống bao nhiêu têngiặc? thu bao nhiêu vũ khí ? Nêu tóm tắt một số trận đánh tiêu biểu của quân vàdân Quảng Ninh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)?
Trả lời:
* Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, quân và dânQuảng Ninh đã đánh 3159 trận, làm chết và bị thương 22.100 tên địch, bắt 2831tên, thu trên 8000 súng các loại và nhiều quân trang, quân dụng khác
* Một số trận đánh tiêu biểu của quân và dân Quảng Ninh trong cuộckháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược (1945-1954):
- Khởi nghĩa vũ trang ở Đông Triều, Mạo Khê, Tràng Bạch, Chí Linh ngày08/6/1945
a) Sự lãnh đạo của Đảng
Vào cuối năm 1944 đầu năm 1945, Xứ uỷ Bắc Kỳ tích cực khôi phục lạicác tổ chức Đảng từ cơ sở đến tỉnh, phát triển rộng khắp phong trào Việt Minhtrong các tầng lớp nhân dân vùng Duyên hải Bắc Bộ Sau Hội nghị Quân sự cáchmạng Bắc kỳ tại Hiệp Hoà (Bắc Giang) từ ngày 15 đến 20/4/1945 do đồng chíTổng Bí thư Trường Chinh chủ trì, Hội nghị đã quyết định thành lập 7 chiến khutrong cả nước gồm: Chiến khu Lê Lợi, Chiến khu Hoàng Hoa Thám, Chiến khuQuang Trung, Chiến khu Trần Hưng Đạo (Miền Bắc), Chiến khu Phan ĐìnhPhùng, Chiến khu Trưng Trắc (Miền Trung), Chiến khu Nguyễn Tri Phương(Miền Nam) Tại vùng Đông Bắc và Duyên hải Bắc bộ, được sự chỉ đạo của Xứ
ủy Bắc Kỳ, tỉnh uỷ Hải Dương cử hai đồng chí Trần Cung và Hải Thanh trực tiếpphụ trách việc chuẩn bị lập chiến khu ở khu vực Chí Linh- Đông Triều Trước đó,
Xứ uỷ còn giao cho một số đồng chí trong đó có đồng chí Nguyễn Bình về HảiPhòng mua sắm vũ khí, liên hệ với các cơ sở Việt Minh, tranh thủ vận động binhlính địch, tạo điều kiện cho việc khởi nghĩa chống Nhật Đồng chí Nguyễn ĐứcThịnh, Xứ uỷ viên Xứ uỷ Bắc Kỳ và một số đồng chí khác thường xuyên theo dõi
và chỉ đạo công tác chuẩn bị thành lập Chiến khu
Trang 22b) Phong trào cách mạng của nhân dân vùng Đông Bắc và vùng Duyên hải Bắc
Bộ phát triển mạnh mẽ
Cuối năm 1944 đầu năm 1945 ảnh hưởng và thanh thế của Mặt trận ViệtMinh trong cả nước và trong vùng đang lên cao, các đoàn thể cứu quốc đượccũng cố và phát triển rất nhanh, có nơi như làng Hổ Lao, Bắc Mã hầu hết dân làngđều tham gia các đoàn thể, nhiều nơi thanh niên tự động tổ chức, rồi tự động đitìm cán bộ về hướng dẫn hoạt động, các đội tự vệ vũ trang được thành lập ở khắpnơi, các cơ sở Việt Minh bí mật được cài cắm trong nhiều trại lính ở Hải Phòng,Đông Triều, Cửa Ông, Uông Bí, Kiến An, Trường Quân sự Bí Chợ Do bị áp bứcbóc lột, nạn đói hoành hành làm hàng ngàn người chết, quần chúng nhận thấykhông thể cam chịu được nữa Một số nơi quần chúng đã tự động nổi dậy chốngthuế, phá kho thóc của Nhật chia cho dân nghèo, tự vũ trang chống phỉ Sau khiđược tuyên truyền giác ngộ về đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc, quầnchúng đã hăng hái tham gia các tổ chức của Mặt trận Việt Minh, tham gia các đội
du kích cách mạng sẵn sàng chờ lệnh nổi dậy khởi nghĩa
c) Bộ máy cai trị của giặc Nhật ngày càng trở nên bất lực, hoang mang, rệu rã
Chiến tranh Thế giới lần thứ hai đang bước vào giai đoạn kết thúc vớinhững thắng lợi to lớn của Liên Xô và lực lượng Đồng Minh Nhật làm cuộc đảochính hất cẳng Pháp, nội bộ kẻ thù chia rẽ nghiêm trọng Lợi dụng tình hình ấy
bọn “ Việt quốc” , “Việt cách ” tay sai của Tưởng và bọn ngươì Hoa từ Trung
Quốc tràn sang hoạt động phá hoại, hoành hành cướp phá, khiến vùng Đông Bắccàng thêm rối ren Trước cao trào cách mạng của quần chúng phát triển mạnh mẽ,nguỵ quyền ở các thôn xã tan rã từng mảng, nhiều tên quan lại, binh lính trong bộmáy chính quyền bù nhìn tay sai thân Nhật ở cấp tỉnh và huyện hoang mang lo sợnằm im hoặc có người đã liên lạc với Việt Minh để được bảo toàn tính mạng, một
bộ phận ngã theo phong trào yêu nước của nhân dân ta
=> Cuộc khởi nghĩa đánh chiếm bốn đồn địch và sự ra đời của Chiến khu
Trần Hưng Đạo
Trang 23Đầu tháng 6/1945, một sự kiện quan trọng diễn ra tại khu căn cứ ĐôngTriều Sau một thời gian nhận bức thư đề nghị cùng Việt Minh hợp tác chốngNhật, đầu tháng 6/1945 tướng phỉ Lương Sâm gửi thư đề nghị Tỉnh bộ Việt Minh
cử đại diện đến nơi đóng quân của bọn chúng để đàm phán Ban lãnh đạo khu căn
cứ thống nhất cử Trần Cung và Hải Thanh đi
Phát xít Nhật tại Đông Dương
Trong buổi đàm phán, phó tướng phỉ Lương Đại Bân tỏ ý khoe khoang lựclượng và cho biết quân phỉ sẽ đánh đồn Chí Linh vào đêm ngày 7 rạng sáng8/6/1945 Với mục đích áp chế tinh thần đối phương, hai cán bộ của ta cho biếtphía Việt Minh có lực lượng vũ trang rất mạnh, đã chuẩn bị đánh đồn từ lâu vàquan trọng là có nhiều cơ sở trong binh lính ở đồn
Cuối cùng hai bên thống nhất cùng tấn công đồn Chí Linh vào sáng8/6/1945, do phía Việt Minh chỉ huy, đồng thời huy động lực lượng đánh luôn cácđồn Đông Triều, Tràng Bạch, tước vũ khí bọn chủ mỏ Mạo Khê
Trang 24Theo đó, Nguyễn Bình, có Nguyễn Hiền làm nội ứng phối hợp có nhiệm vụtấn công đồn Đông Triều (Nguyễn Hiền là Đồn trưởng đồn Đông Triều đã được tagiác ngộ, sau này được Nguyễn Bình rất tin dùng); Hải Thanh phụ trách việc phốihợp với quân phỉ Lương Đại Bân lấy đồn Chí Linh; Trần Cung, có Nguyễn VănĐài phối hợp phụ trách lấy đồn Tràng Bạch, tước vũ khí của bọn chủ mỏ ở MạoKhê.
Ngày 07 tháng 6 năm 1945 phần lớn những công việc chuẩn bị cho khởinghĩa đã hoàn tất Buổi tối tại nhà hội viên cứu quốc Nguyễn Kim Ngọc ở làngĐạm Thuỷ (Đông Triều) Ban lãnh đạo khu căn cứ họp bàn và quyết định kế hoạchkhởi nghĩa vào ngày 08/6/1945 Cuộc họp đã thảo luận phương án đánh chiếmcác vị trí địch, phân công cán bộ trực tiếp chỉ huy đánh từng vị trí Đ/c NguyễnBình có Nguyễn Hiền làm nội ứng phối hợp phụ trách đánh đồn Đông Triều Đ/cHải Thanh phụ trách phối hợp với quân phỉ Lương Đại Bân đánh đồn Chí Linh.Đ/c Trần Cung có Đ/c Nguyễn Văn Đài phối hợp, phụ trách lấy đồn Tràng Bạch
và tước vũ khí bọn chủ mỏ Mạo Khê
Rạng ngày ngày 08 tháng 6 năm 1945 lực lượng vũ trang cách mạng ởĐông Triều kết hợp với lực lượng cách mạng của quần chúng được các cơ sở củaViệt Minh chỉ đạo đã đồng loạt nổi dậy đánh các đồn Đông Triều, Mạo Khê,Tràng Bạch, Chí Linh thủ tiêu bộ máy chính quyền bù nhìn tay sai phát xít Nhật,lực lượng do Nguyễn Bình chỉ huy xuất quân Trên cánh tay trái từng người đềuđeo băng vải đỏ với ba chữ "Việt Minh quân" Riêng Nguyễn Bình cài ở trướcngực một phù hiệu bằng vải đỏ hình chữ nhật thêu ba chữ "TCH" (Tổng chỉ huy).Tất cả đều hừng hực khí thế cho cuộc tấn công đồn Đông Triều
Chiều 08/6/1945 các đoàn quân khởi nghĩa cùng những binh sĩ mới tìnhnguyện quay súng về với cách mạng đều tập trung đông đủ tại đình làng Hổ Laotrong không khí tưng bừng của ngày hội chiến thắng Ban lãnh đạo khởi nghĩahọp, kiểm điểm việc thực hiện kế hoạch khởi nghĩa và đề ra những nhiệm vụtrước mắt trong công cuộc khởi nghĩa và bảo vệ Chiến khu Cuộc họp quyết địnhthành lập Uỷ ban quân sự cách mạng gồm bốn người Uỷ ban phân công Đ/c Hải
Trang 25Thanh: Bí thư phụ trách công tác chính trị, Nguyễn Hiễn: Uỷ viên quân sự, Đ/cNguyễn Bình: Uỷ viên kinh tế (tài chính, quân nhu, vũ khí), đ/c Trần Cung: Uỷviên phụ trách công tác dân vận, xây dựng chính quyền và liên lạc với cấp trên.Chiều cùng ngày Ban lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đã tổ chức một cuộc mít tinh lớntại sân đình Hồ Lao, Đ/c Trần Cung thay mặt Ban lãnh đạo khởi nghĩa tuyên bốchính thức thành lập Chiến khu kháng chiến mang tên "Đệ Tứ chiến khu", cùng
lực lượng vũ trang chiến khu mang tên "Du kích cách mạng quân" và công bố
danh sách Uỷ ban quân sự cách mạng lãnh đạo chiến khu Tiếp đó, đ/c Nguyễn
Bình đại diện Uỷ ban quân sự cách mạng tuyên đọc "Bảy điều kỷ luật" của "Du
kích cách mạng quân" với nội dung như sau:
"Mọi người phải tuân theo kỷ luật sắt của cách mạng:
1 Khi chiến đấu phải dũng cảm, kỷ luật Được lệnh tiến thì phải tiến, được lệnh lui thì lui Quân lệnh rõ ràng, chấp hành nghiêm minh, sai sẽ bị kỷ luật.
2 Khi đóng quân phải giữ bí mật, phải bảo vệ dân, không được lấy của dân.
3 Anh em đồng đội phải thương yêu nhau, nhắc nhở nhau khi sai sót, khi
ốm đau phải giúp nhau để kịp thời chữa chạy.
4 Khi chiến đấu, nếu người nào bị thương hoặc hy sinh đồng đội phải dùng đủ mọi cách đưa người đó về đơn vị.
5 Khi canh gác, phải có tư thế, khẩu hiệu phải thuộc Tuyệt đối không được gác nằm hoặc gác ngủ.
6 Không được gian dâm vợ con nhân dân Không được quan hệ nam nữ bất chính Không được ăn cắp của công và của dân.
7 Tư thông với giặc, tiết lộ quân cơ là nặng tội nhất.
Các điều kỷ luật trên, tuỳ theo nặng nhẹ mà xử, nặng nhất là xử bắn Việc
kỷ luật phải có ý kiến của cấp trên, cộng với ý kiến của cấp dưới Bất cư ai cũng không được lợi dụng kỷ luật hoặc xuyên tạc, làm với ý đồ xấu đều bị nghiêm trị".
Ngày 8 tháng 6 năm 1945 với thành tích đánh thắng cùng một lúc bốn đồnbinh địch ở Đông Triều, Chí Linh, Mạo Khê, Tràng Bạch, đó là chiến công vangdội, đánh dấu ngày chính thức ra đời của Chiến khu Trần Hưng Đạo - Đệ Tứ
Trang 26chiến khu, một căn cứ địa cách mạng có ý nghĩa và tầm vóc quan trọng nhiều mặttrong giai đoạn tiền khởi nghĩa và trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở vùngDuyên Hải Đông Bắc Tổ quốc.
Sự ra đời của chiến khu Trần Hưng Đạo trước ngày Tổng khởi nghĩa19/8/1945 hơn 2 tháng và sau khi Trung ương Đảng đã có chủ trương thành lậpcác căn cứ địa cách mạng chống Nhật trong cả nước là phù hợp với yêu cầu lịch
sử và những nhân tố khách quan và chủ quan ở vùng Đông Bắc
- Trận chiến đấu tập kích đồn Uông Bí và Trại Bí Chợ của du kích quânchiến khu Đông Triều, ngày 01/7/1945
Tháng 7-1945 Ủy ban Quân sự cách mạng Chiến khu Trần Hưng Đạo quyếtđịnh tấn công vào tỉnh lỵ Quảng Yên để hỗ trợ cho các địa phương Hòn Gai, Kiến
An, Hải Phòng hoạt động mạnh mẽ hơn Với tài chỉ huy linh hoạt và quyết đoáncủa Nguyễn Bình, du kích quân cách mạng đã có một trận đánh táo bạo, chínhxác, chiếm toàn bộ tỉnh lỵ Quảng Yên
Đây là địa phương duy nhất ở miền Bắc được giải phóng trước Cách mạngTháng Tám - một thành tích quân sự nổi bật của Chiến khu Trần Hưng Đạo vàngười có công lớn nhất chính là Nguyễn Bình
Trang 27Bức tượng bán thân Trung tướng Nguyễn Bình tại Bảo tàng Quân sự Việt Nam
Trang 28Trại thanh niên ở Bí Chợ do viên quan hai Nhật chỉ huy, huấn luyện Đâycũng là trường đào tạo sĩ quan của Đảng Đại Việt, thường xuyên có 70 học viên,
án ngữ trên trục đường số 18 chếch về phía bắc phố Uông Bí Từ trại thanh niênĐại Việt xuôi về hướng đông nam theo trục đường 18 là đồn Uông Bí
Đồn đóng trên một đồi cao khoảng 50m, xung quanh cây cối xanh tốt.Dưới chân đồi ở hướng đông nam là ngã ba sông Ở điểm cao khống chế này, địch
có thể kiểm soát toàn bộ hoạt động trên sông và trung tâm thị trấn Uông Bí ĐồnUông Bí có 4 sĩ quan và một lính Nhật chỉ huy 80 lính bảo an binh và lính khố
đỏ Trong đồn có cai Dung là cơ sở của ta và đội Cẩn, đội Kinh là những người cócảm tình với cách mạng
Trại Bí Chợ giải quyết một cách chớp nhoáng, Nguyễn Bình lập tức lênđường đến Uông Bí để chỉ đạo lực lượng đánh đồn Uông Bí đang trên đường tới.Sáng 1/7/1945, nhờ sự hiệp đồng chặt chẽ, đồn Uông Bí cũng nhanh chóng bị hạ.Chiến thắng Uông Bí và Bí Chợ tạo thêm thế và lực cho Chiến khu Trần HưngĐạo, mở hướng phát triển về phía Quảng Yên, Hòn Gai và Kiến An, Hải Phòng
Nhờ thu được số lượng lớn vũ khí, lực lượng vũ trang Chiến khu TrầnHưng Đạo có điều kiện phát triển nên Ủy ban Quân sự cách mạng chiến khuquyết định tổ chức thêm lực lượng vũ trang tập trung Tổng quân số của chiếnkhu đã lên tới 400 người, được biên chế thành các trung đội hoàn chỉnh, trong đó
có cả một tiểu đội nữ vũ trang tuyên truyền, một tiểu đội nữ du kích, một tiểu đội
nữ cứu thương Đặc biệt sau đó còn tổ chức thêm một đơn vị thủy binh
- Trận tập kích đánh chiếm tỉnh lỵ Quảng Yên của du kích quân chiến khuĐông Triều, ngày 20/7/1945
Tháng 7/1945, trên đà thắng lợi, Ủy ban Quân sự cách mạng chiến khuquyết định đánh chiếm tỉnh lỵ Quảng Yên Quảng Yên là nơi tập trung các cơquan chính quyền bù nhìn cấp tỉnh và có lực lượng bảo an binh khá đông, là địaphương nằm trên các trục đường giao thông thủy, bộ quan trọng Chiếm được nơi
Trang 29này sẽ tạo đà cho phong trào cách mạng ở các địa phương phát triển mạnh mẽhơn.
Đoàn Giải Phóng quân ở Việt Bắc về duyệt binh ở Quảng trường Ba Đình sau Cách Mạng
tháng Tám
Quảng Yên cách Hải Phòng và núi Đèo không xa lắm, hai nơi này đều cóquân Nhật chốt giữ Để sang được Quảng Yên, địch phải đi bằng ca nô rồi đổquân lên bến, hai bên bờ đều là những bãi sú vẹt, trong khi nước sông đang lêncao Quân ở núi Đèo đến phải dùng ôtô chuyển quân, sau đó qua phà Rừng nênmất nhiều thời gian
Còn quân ở Hòn Gai tới dù đi đường thủy hay bộ cũng đều mất rất nhiềuthời gian vì đường đi có nhiều cây cối rậm rạp, nhiều dốc Ta phải có lực lượngchặn địch ở cả đường thủy lẫn đường bộ, không để chúng chi viện cho QuảngYên Một điều cần lưu ý là đánh chiếm một tỉnh lỵ khác với đánh một đồn
Ngoài việc tước vũ khí của bảo an binh, còn phải kiểm soát các công sở,kho tàng và dinh tỉnh trưởng Ban chỉ huy đã bàn bạc nhất trí đánh chiếm QuảngYên phải bảo đảm nhanh gọn, không cho địch kịp trở tay, không để phải nổ súng
Trang 30Chiều 20/7/1945, trong khi Nguyễn Bình cùng Quách Lĩnh, Sơn Vĩ vàNguyễn Hùng Phong đang gấp rút chuẩn bị cho trận đánh thì bỗng nghe vài tiếngsúng nổ trong thị xã Quảng Yên Thì ra có mấy thanh niên Đại Việt từ Hải Phòngsang, chúng vào dinh tỉnh trưởng lấy súng xả đạn lên trời rồi ép tỉnh trưởng NgôNgọc Thanh, một người có cảm tình với cách mạng giao chính quyền và vũ khícho chúng.
Nguyễn Bình lập tức cử Quách Lĩnh, Hùng Phong mang theo 2 đội viên dukích đến dinh tỉnh trưởng để bắt bọn chúng Đến nơi, mọi người thấy có 4 thanhniên Đại Việt đang cầm súng ngắm nghía, ngoài đường dân chúng tò mò xúm lạixem rất đông Quách Lĩnh, Hùng Phong đang phân vân chưa biết xử lý cách nàothì Nguyễn Bình đột ngột xuất hiện Ông ra lệnh đưa đám thanh niên Đại Việtxuống thuyền và giải tán đám đông
Sự việc xảy ra ngoài dự kiến, tin Việt Minh có mặt tại tỉnh lỵ Quảng Yênđược nhân dân truyền đi rất nhanh Tình thế bắt buộc, Nguyễn Bình quyết địnhđánh chiếm Quảng Yên ngay trong đêm 20/7 Trận đánh diễn ra đúng kế hoạch, tathu toàn bộ vũ khí, đạn dược với 500 khẩu súng, nhiều quân trang, quân dụng,lương thực, thuốc men
Ngày 22/7/1945, Nguyễn Bình tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại sân vậnđộng tỉnh lỵ Quảng Yên Hàng ngàn nhân dân trong tỉnh lỵ và các làng phụ cậngiương cao cờ đỏ sao vàng trong niềm hân hoan chào mừng thắng lợi của cáchmạng
Có thể nói đây là một chiến thắng mang tầm chiến lược, tạo đà thuận lợicho việc tiến đến giải phóng các địa phương ở khu Duyên hải Bắc Bộ Và người
có công lớn nhất trong thắng lợi vẻ vang này chính là Nguyễn Bình Trong nhữngngày Cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Bình đã chỉ huy lực lượng vũ trang cáchmạng phối hợp với nhân dân tổ chức giành chính quyền ở thành phố Hải Phòng,Kiến An và Hải Dương
Trang 31Cách mạng Tháng Tám thành công, tháng 9/1945, do quy mô phát triển củaChiến khu Trần Hưng Đạo ngày càng rộng lớn và nhiệm vụ ngày càng nặng nề,theo chỉ thị của Trung ương, Chiến khu Trần Hưng Đạo được đổi thành Chiến khumiền Duyên hải Bắc Bộ (sau này là Quân khu 3) gồm các tỉnh Hải Dương, HảiPhòng, Kiến An, Quảng Yên, Hòn Gai và Hải Ninh Và người được giao đảmnhiệm Tư lệnh là Nguyễn Bình.
Đến giữa tháng 7/1945, thế và lực của ta đều phát triển thuận lợi, do đó Uỷban quân sự chiến khu quyết định tiến đánh tỉnh lỵ Quảng Yên Theo kế hoạch,trận đánh tỉnh lỵ Quảng Yên định vào ngày 23/7/1945 một lực lượng quân sựtương đối mạnh của chiến khu Đông Triều được lệnh tập trung quân từ chiềungày 19/7/1945 Sáng 20/7/1945, trong khi đồng chí chỉ huy trận đánh và một sốcán bộ đang đi kiểm tra tình hình chuẩn bị chiến trường thì nhận được tin cơ sởbáo: Bọn Đại Việt ở Hải Phòng sang Quảng Yên thúc ép Tỉnh trưởng (có cảm tìnhvới Việt Minh) giao chính quyền cho chúng, nhưng bị từ chối Trước tình hìnhkhẩn trương đó, ta phải hành động ngay để chặn đứng âm mưu của bọn Đại Việtthân Nhật Giờ nổ súng được định vào đêm 20/7/1945
Trận đánh tỉnh lỵ Quảng Yên (cách Hải Phòng 20km) đêm 20/7/1945 làtrận đánh lớn nhất của quân cách mạng chiến khu Đông Triều kể từ ngày thànhlập Nó cũng là trận đánh phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa lực lượng quân sựcủa chiến khu Đông Triều với lực lượng quần chúng cách mạng địa phương vàgiữa cán bộ Việt Minh Quảng Yên với bộ phận lãnh đạo chiến khu Đông Triều vềviệc triển khai lực lượng, mở rộng phạm vi hoạt động của nghĩa quân Đông Triều
hỗ trợ cho phong trào quần chúng vùng Quảng Yên và lân cận
Chỉ sau vài phát súng của quân khởi nghĩa, tên chỉ huy lực lượng bảo anbinh Quảng Yên đã đầu hàng không điều kiện Ta thu toàn bộ vũ khí, gồm trên
400 súng các loại và nhiều đồ dùng quân sự Chiến thắng Quảng Yên đã có tiếngvang và ảnh hưởng khá rộng lớn Đây là lần đầu tiên trong lịch sử đấu tranh vũtrang của Đảng ta trước Tổng khởi nghĩa tháng Tám, quân cách mạng đã đánhchiếm một tỉnh lỵ ở vùng trung du (mặc dù địch có số quân đông) và phá bỏ bộ
Trang 32máy chính quyền bù nhìn cấp tỉnh Đây cũng là lần đầu tiên nghĩa quân chiến khuĐông Triều sử dụng một lực lượng quân sự khá lớn, đánh chiếm một vị trí có ýnghĩa chiến lược quan trọng của địch, nhưng không phải chiến đấu gay go, đổmáu vì đã chuẩn bị chu đáo, có quần chúng nhân dân làm hậu thuẫn, làm tốt côngtác binh vận, nhất là biết chọn thời cơ, tiến công bất ngờ Đây cũng là cuộc khởinghĩa từng phần kế tiếp các cuộc khởi nghĩa từng phần trước đây của du kíchchiến khu Đông Triều, chuẩn bị điều kiện tiến lên Tổng khởi nghĩa
- Trận đánh chiếm tàu Cray-xắc và Ô-đa-xi-ơ trên vịnh Hạ Long, ngày 07
và 11/9/1945
Thực hiện âm mưu tái xâm lược nước ta, thực dân Pháp cho bọn tàn quân
từ Trung Quốc lén lút chiếm một số đảo vùng biển Đông Bắc Đầu tháng 9 năm
1945, chúng cho chiếc tàu Cray-xắc (Crayssac) đến vùng biển Hòn Gai tiến hànhcác hoạt động khiêu khích và móc nối với bọn phản động trong đất liền Quyếttâm bảo vệ lãnh hải của Tổ quốc, theo lệnh của đồng chí Nguyễn Bình, Khutrưởng chiến khu Duyên hải, Đại đội Ký Con dùng hai tàu Bạch Đằng, Giao Chỉ
và một ca nô cùng một trung đội từ Hải Phòng tiến ra Hòn Gai vây bắt tàu địch.Các thuyền đánh cá của nhân dân đang hoạt động trên biển cũng tích cực hỗ trợ.Bọn giặc trên tàu Cray-xắc có nhiều vũ khí trang bị nhưng trước áp lực của quândân ta, chúng hoang mang, lúng túng buộc phải đầu hàng Ta bắt toàn bộ quânđịch trên tàu, cả chỉ huy và thủy thủ người Pháp, giải thoát một số thủy thủ ngườiViệt Số thủy thủ này tình nguyện theo cách mạng, được biên chế vào đơn vị tàucủa ta Đại đội Ký Con thu tàu Cray-xắc, 1 khẩu pháo 37mm, 2 trọng liên, 2 đạiliên, 1 ba dô ca, 2 cạc bin, một số súng trường Ngày 8 tháng 9 năm 1945, đồngchí Nguyễn Bình-Khu trưởng Chiến khu Duyên hải đến thăm, biểu dương cán bộ,chiến sĩ Đại đội Ký Con Đồng chí ra lệnh gỡ chữ Cray-xắc và gắn chữ Ký Conbằng đồng vào mũi tàu Từ đây, tàu Ký Con được biên chế trong lực lượng vũtrang Chiến khu Duyên hải (sau là Chiến khu 3)
Ngày 11 tháng 9 năm 1945, địch huy động tàu Ô-đa-xi-ơ (Audacieuse) đếnvùng biển Hòn Gai tìm kiếm tàu Cray-xắc Ta dùng ngay tàu Ký Con (tức tàuCrayxắc) vừa chiếm được đánh đuổi và chiếm tàu Ô-đa-xi-ơ, bắt 8 sĩ quan và
Trang 33thủy thủ Pháp, thu 1 đại liên, 1 ba dô ca cùng một số vũ khí trang bị khác Ngày
12 tháng 9, tàu Ô-đa-xi-ơ, tàu Ký Con cùng một số ca nô được tổ chức thành mộtthủy đội thuộc Ủy ban Hải quân Việt Nam làm nhiệm vụ tuần tiễu vùng ven biển
từ Hòn Gai đến Hải Phòng Phát huy thắng lợi, Bộ Tư lệnh khu Duyên hải quyếtđịnh tiến công giải phóng hai đảo Cô Tô và Vạn Hoa, nơi quân Pháp từ Bắc Hải(Trung Quốc) xuống chiếm đóng sau khi quân Nhật đầu hàng Đồng Minh Đêm
10 tháng 11 năm 1945, ta tiến đánh Vạn Hoa, đêm 13 tháng 11 đánh đảo Cô Tô
Cô Tô là một đảo lớn dài 12 ki lô mét, rộng 2,5 ki lô mét nằm ở vùng biển ĐôngBắc Quân Pháp có 3 tàu và 11 một trung đội chiếm đóng đảo Đêm 13 tháng 11,khoảng 50 cán bộ, chiến sĩ Đại đội Ký Con chia làm hai bộ phận đổ bộ lên đảo
Bộ phận đánh Đồn Cao (hướng chủ yếu) gặp khó khăn do địch chống trả quyếtliệt, ta bị thương vong nhiều, không giải quyết được mục tiêu đề ra Bộ phận đánhhướng Đền Hạ (hướng thứ yếu) tiến công quyết liệt, địch hoảng sợ bỏ chạy Sángngày 14 tháng 11, theo kế hoạch, ta định rút nhưng địch đã phá huỷ hết thuyền bè,triệt đường rút của ta Trước tình hình đó, cán bộ, chiến sĩ ta phải ở lại đảo chiếnđấu liên tục 4 ngày (từ ngày 14 đến 18 tháng 11 năm 1945) 17 đồng chí hy sinh,
22 đồng chí bị địch bắt, trong đó có Đại đội trưởng Lê Phú và Trung đội trưởngNhâm Ngọc Bình Đây là một tổn thất lớn đối với Đại đội Ký Con Chỉ có tiểuđội đồng chí Lê Hai tìm được thuyền, sáng ngày 15 tháng 11, bí mật từ đảo Cô Tôvượt biển về đảo Minh Châu, sau đó về đảo Cát Bà an toàn
- Trận tập kích địch ở Hà Lầm, đêm 24 rạng ngày 25/12/1946
Sau tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 chính quyền ở ba tỉnh: Quảng Yên, HònGai, Hải Ninh vừa được thành lập đã phải đối phó quyết liệt với bọn đế quốc vàtay sai Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ tỉnhQuảng Yên, Hòn Gai, Hải Ninh đã phát huy sức mạnh của chính quyền nhân dân,dựa vào khí thế cách mạng của công nhân và đồng bào các dân tộc đã vượt quanhiều thử thách to lớn, giữ vững và củng cố được chính quyền, tổ chức xây dựngLLVT vững mạnh về mọi mặt để bước vào cuộc kháng chiến chống thực dânPháp xâm lược
Trang 34Từ tháng 10/1945-11/1946 quân, dân Quảng Ninh đã ra sức xây dựngLLVT, bán vũ trang ở khu mỏ, hàng trăm công nhân mỏ đã tình nguyện gia nhập
bộ đội Trước yêu cầu bảo vệ đất nước, phong trào tự chế tạo vũ khí và đoạt vũkhí của địch để trang bị cho mình phát triển mạnh mẽ; hình thức đấu tranh pháttriển phong phú, đẩy mạnh kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang đãbuộc quân Tưởng và bọn phản động phải rút khỏi Hòn Gai (từ 4/4 đến12/4/1946)
Với bản chất hiếu chiến của chủ nghĩa đế quốc và được Mỹ ủng hộ, thựcdân Pháp đã phản bội Hiệp định tạm ký ngày 14/9/1945 và Hiệp định sơ bộ ngày06/3/1946, từng bước đẩy mạnh các hoạt động quân sự lấn chiếm, khiêu khích vàtrắng trợn xâm phạm chủ quyền nước ta Cùng đánh chiếm các vùng khác, ngày13/4/1946, thực dân Pháp đem 1.025 quân vào chiếm đóng Hòn Gai, Cửa Ông,LLVT ta đã hỗ trợ nhân dân xuống đường biểu tình tuần hành phản đối giặc Pháp
vi phạm Hiệp định tạm ký và Hiệp định Sơ bộ
Trước tình hình ngày càng căng thẳng, ngày 19/10/1946 Hội nghị quân sự toànquốc của Đảng đã họp và nhận định: “nhất định không sớm thì muộn, Pháp sẽđánh mình và mình nhất định phải đánh Pháp” cũng sau hội nghị quân sự toànquốc, Bộ Quốc phòng được thành lập, các chiến khu được điều chỉnh, tiến hànhlập các khu uỷ và bộ chỉ huy các chiến khu tạo nên sức mạnh đồng bộ của cảnước chuẩn bị bước vào kháng chiến Đúng như nhận định của Đảng ta, Phápkhông chỉ đánh chiếm miền Nam, mà còn mở rộng ra miền Bắc Đêm19/12/1946, theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng
nổ Do vị trí chiến lược của vùng Đông Bắc, quân và dân 3 tỉnh Quảng Yên, HònGai, Hải Ninh liên tục giáng trả các cuộc tiến công, càn quét của địch Hưởng ứnglời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 20/12/1946 tự
vệ công nhân Hòn Gai, Cẩm Phả phối hợp với vệ quốc quân đứng lên chiến đấuquyết liệt với giặc, ta phá hỏng 3 trạm biến thế điện, một xưởng cơ khí, 14 đầu xelửa và 3 cần trục của bọn chủ mỏ Phong trào toàn dân đánh giặc được phát triểnsâu rộng, chiến tranh du kích phát triển, LLVT được tổ chức rộng khắp và chiếnđấu dũng cảm, lập công xuất sắc Đêm 24 rạng ngày 25/12/1946, tự vệ công nhân
Trang 35mỏ và bộ đội chủ lực của ta từ Xích Thổ (Hoành Bồ) tiến về tiêu diệt đồn HàLầm Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt, giặc Pháp điên cuồng chống trả, nhưng cuốicùng đã bị ta tiêu diệt tại chỗ 22 sĩ quan, hạ sĩ quan Pháp và thu nhiều vũ khí,trang bị quân sự.
- Trận phục kích đoàn xe quân sự của địch ở Điền Xá, Tiên Yên, ngày04/3/1949
Đường số 4 – nơi diễn ra trận phục kích chiến thắng oanh liệt
ngày 04/3/1949
Tiên Yên là đầu mối giao thông quan trọng, cửa ngõ của cả vùng, đượcxem là “ngã ba biên giới”, “thủ phủ” miền Tây của tỉnh Quảng Ninh ngày nay.Đường 331 đi Bình Liêu và cửa khẩu Hoành Mô, dài trên 50 km Đường số 4 nối
từ Cao Bằng – Lạng Sơn, có nhánh nối sang Hà Bắc, qua Tiên Yên ra cảng MũiChùa Tiên Yên lại là điểm giữa của đường 18A đoạn thành phố Hạ Long điMóng Cái Tiên Yên có bến tàu thuỷ vận chuyển hàng hoá đi Cửa Ông, Cẩm Phả,Hải Phòng Huyện có 40 km bờ biển, có nhiều cửa sông, vùng kín, có giá trị lớn
Trang 36về quốc phòng Điền Xá là 1 xã miền núi thuộc huyện Tiên Yên, tỉnh Hải Ninh(cũ) Xã cách trung tâm huyện Tiên Yên khoảng 15 km về phía Tây Bắc Địa hìnhcủa xã là những đồi núi trập trùng và rừng rậm, ngọn núi cao nhất của xã là ngọnĐiền Xá cao 364,5m Xã có đường số 4 chạy qua, nối huyện Tiên Yên với huyệnĐình Lập (Lạng Sơn) và có sông Phố Cũ xuôi về thị trấn và hợp lưu với sôngTiên Yên.
Với đặc điểm địa hình trên, huyện Tiên Yên thực sự là một vùng đất có vịtrí chiến lược quan trọng Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâmlược, Tiên Yên là địa bàn tranh chấp phức tạp, thực dân Pháp đã lập ra ở đây mộtnhà tù lớn, và một căn cứ quân sự lớn và ngay cuối năm 1945 khi thực dân Phápquay trở lại xâm lược nước ta thì chúng đã nhanh chóng chiếm đóng lại Tiên Yên
Sau chiến dịch Đông Bắc lần thứ nhất (tháng 10/1948) vùng tự do của tađược mở rộng, cơ sở kháng chiến được củng cố vững chắc hơn, lực lượng của ta
đã trưởng thành và lớn mạnh vượt bậc
Kế hoạch của thực dân Pháp là biến Đông Bắc và Tây Bắc – Bắc Bộ thànhhành lang Đông Tây bị thất bại Do đó, bước sang năm 1949, nhiệm vụ phong toảbiên giới của địch là một việc hết sức quan trọng, nhằm ngăn chặn sự liên hệ củacách mạng Việt Nam với cách mạng các nước XHCN Vì thế, vào thời gian này,thực dân Pháp tích cực phòng thủ miền duyên hải, bằng cách củng cố và tăngcường các vị trí đóng quân, xây dựng công sự, thường xuyên tuần tra chặt chẽ,đặc biệt là trên mặt biển
Ở Đặc khu Hòn Gai, từ 17 đồn bốt (năm 1948) địch đã xây thêm, nâng tổng
số đồn lên 31 với 1.000 quân của 4 đơn vị chiến đấu Chúng thường xuyên mởcác cuộc càn quét vào làng ven thị để thiết lập hành lang an toàn bảo vệ cho Khumỏ
Ở Hải Ninh, địch đóng 24 vị trí, ở một số vị trí lẻ như Đường Hoa, ĐôngNgũ, Cốc Lỷ chúng rút quân Âu Phi về các vị trí chính, thay vào đó là lính dõngcanh gác và giao cho địa phương phải nuôi Trong tháng 1/1949 địch đã càn 5 lầnvào Bình Liêu, Hà Cối, Vạn Ninh, Bình Ngọc, Xuân Lan, Vĩnh Thực, Cái Chiên,Đồng Khuy, Khe Phít, Khe Đài, Đình Đại
Trang 37Song song với củng cố quân sự, địch tăng cường các hoạt động chính trị.Chúng lợi dụng tình hình kinh tế của ta còn khó khăn, nhất là ở huyện Hoành Bồ,Cẩm Phả, chúng lôi kéo đồng bào các dân tộc thiểu số bằng cách tổ chức bán gạo,muối, đường, sữa gây cho họ tâm lý xấu về kháng chiến Địch còn lợi dụng các tổchức tôn giáo (chủ yếu là thiên chúa giáo) lôi kéo cha cố và một số thanh niêncông giáo lập “đội nghĩa dũng binh”, để bảo vệ bọn hội tề thiên chúa giáo phảnđộng, chống lại kháng chiến.
Cuối tháng 2/1949 Hội nghị BCH Đảng bộ Liên khu I đã họp để bàn nhữngnhiệm vụ công tác lớn trong năm 1949 Hội nghị đã xác định nhiệm vụ công táclớn trong năm 1949 là phát triển chiến tranh du kích rộng rãi, đẩy mạnh vận độngchiến tới trình độ cao, chuyển mặt trận chính của ta về hậu phương địch, thiết lậpnhiều vùng tự do ngay trong lòng địch
Thực hiện nghị quyết của Hội nghị BCH Đảng bộ Liên khu, Bộ chỉ huyLiên khu I quyết định mở một đợt phản công lớn trên phạm vi rộng từ Bắc Cạn,Cao Bằng, Lạng Sơn đến Quảng Yên, Móng Cái, nhằm tiêu hao, tiêu diệt địch,làm tê liệt giao thông, uy hiếp, cô lập, tiến tới bức địch rút khỏi một số vị trí màchúng đang chiếm đóng, phát triển phong trào chiến tranh du kích
Tháng 3/1949, T.W quyết định mở chiến dịch Đông Bắc lần thứ 2 Nhiệm
vụ của tỉnh Hải Ninh, Đặc khu Hòn Gai và Quảng Yên là: “Phối hợp với mặt trậnđường số 4 và chiến trường toàn quốc, phát triển và củng cố cơ sở Đông Bắc.Đánh phục kích lớn, tiêu diệt tiếp tế và tiếp viện, phá hoại triệt để đường 13,đường số 4, phô trương thanh thế, nghi binh, lợi dụng, lôi kéo làm tan rã nguỵbinh Phát triển cơ sở ở Hải Ninh, Quảng Yên, Hòn Gai, tìm đường thông sangbiên giới”
Đầu tháng 3/1949, công tác chuẩn bị đã xong Để đánh lạc hướng phánđoán của địch, giành thế bất ngờ cho hướng chính, các đơn vị tham gia chiến dịchĐông Bắc được lệnh đánh địch trước, tiến công chúng trên đường số 4, đồng thờitiến hành nghi binh ở hướng Đông Triều, Phả Lại thuộc tỉnh Quảng Yên
Trận mở màn cho chiến dịch Đông Bắc là trận phục kích đoàn xe quân sựcủa địch ở Khe Mò - Điền Xá ngày 4/3/1949 Lực lượng tham gia trận đánh này
Trang 38là Tiểu đoàn 215 thuộc Trung đoàn 98, Tiểu đoàn 426 thuộc Trung đoàn 59 Lựclượng của ta được bố trí dọc theo hai bên đường số 4 đoạn Khe Mò - Điền Xácách thị trấn Tiên Yên 15 km về phía Tây Bắc Lực lượng được bố trí cách mặtđường từ 80 đến 150m Tiểu đoàn 215 có nhiệm vụ đánh chặn đầu và chính diệnbên phải đội hình của địch Tiểu đoàn 426 có nhiệm vụ đánh khoá đuôi và chínhdiện bên phải đội hình địch Khi địch lọt vào trận địa phục kích của ta thì đồngloạt nổ súng chia cắt đội hình địch để tiêu diệt chúng Bộ đội tổ chức đào các hầmhào, công sự ẩn nấp nguỵ trang, bí mật phục kích chờ địch đến để nổ súng.
Ngày 4/3/1949 một đoàn xe vận tải quân sự của địch bao gồm 30 chiếc,chở một Tiểu đoàn lính lê dương đi thay phiên cho quân lính ở Lạng Sơn Khiđoàn xe từ Tiên Yên đi Đình Lập tới Khe Mò - Điền Xá (cách Tiên Yên 15 km)thì lọt vào trận địa phục kích của ta Lập tức quân ta được lệnh nổ súng, chặn đầu,khoá đuôi, đồng loạt xung phong chia cắt đội hình địch Bị đánh bất ngờ, quânđịch lúng túng cho đoàn xe dừng lại, bọn lính nhanh chóng xuống xe tìm cáchchống cự Nhiều tên bị tiêu diệt ngay từ loạt đạn đầu, những tên sống sót chạyxuống khe vực ẩn nấp và không kịp trở tay chống cự Số lính tụt xuống đườngchống cự lại đều bị ta tiêu diệt gần hết Trận đánh diễn ra ác liệt Sau 30 phútchiến đấu dũng cảm, quân ta hoàn toàn làm chủ trận địa và trận đánh giành đượcthắng lợi hoàn toàn
Chiến thắng ngày 4/3/1949 ở Khe Mò - Điền Xá có công đóng góp củađồng bào người Thanh Phán ở Châu Sơn – Bắc Lãng Đồng bào ta ở đây đã chegiấu bộ đội, tiếp tế hậu cần và dẫn đường, cung cấp tin tức cho ta
Sau chiến thắng giòn giã này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi điện khenngợi đơn vị: “Tôi đã được tin thắng lợi của quân ta trong trận tiêu diệt địch ởĐiền Xá (Tiên Yên) Tôi có lời khen ngợi chiến công mùa Xuân của các đồng chí.Các đồng chí hãy cố gắng hơn nữa”
Kết quả quân ta đã tiêu diệt tại chỗ 125 tên địch, bắt sống 25 tên, trong đó
có tên quan hai Bay-ơ, chỉ huy đoàn xe, phá 16 xe vận tải quân sự, thu 68 súng, 2máy vô tuyến điện
Trang 39Chiến thắng Điền Xá đã phá thế an toàn của địch ở tuyến đường số 4 vàgây được lòng tin cho nhân dân trong vùng Chiến thắng Điền Xá đã có tiếngvang lớn, góp phần cổ vũ, động viên quân và dân Đông Bắc thêm phấn khởi tintưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến, vào chủ trương đúng đắn mở chiếndịch Đông Bắc lần thứ 2 của T.Ư Đảng.
- Trận tập kích địch ở thị xã Móng Cái, ngày 27/3/1949
Tháng 01/1949, Pháp mở cuộc càn với quy mô lớn, dài ngày vào đảo CáiChiên nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang của ta Nhiều tiểu đoàn địch dùng tàuchiến, ca nô từ các hướng bao vây vùng mặt biển rồi cho quân đổ bộ lên đảo cànquét Quân và dân Móng Cái đã anh dũng kiên trì chiến đấu, đẩy lùi nhiều cuộctiến công của địch Ngày 25/01/1949, trước sức phản công mạnh mẽ của quân vàdân ta, quân Pháp buộc phải rút lui
Đầu tháng 3/1949, để giành thế chủ động và bất ngờ trong chiến dịch ĐôngBắc, quân ta tiến công địch trên đường số 4 Thực hiện Nghị quyết của Liên khu
ủy 12 và Tỉnh ủy Hải Ninh, Huyện ủy Móng Cái quyết định tổ chức tập kích vàothị xã Móng Cái nhằm tiêu hao sinh lực địch, giải thoát cho một số cán bộ của ta
và Trung Quốc đang bị địch giam tại nhà tù thị xã
Lúc 14 giờ ngày 27/3/1949, lực lượng của bạn ở khu Lò Bát cải trang thànhdân thường đột nhập vào thị xã, khống chế đồn đầu cầu của địch Đúng 15 giờ, từtrận địa pháo của địch do các đồng chí nội ứng của ta chiếm lĩnh đã bắn thẳng vàobọn chỉ huy đang ngồi xem bóng đá tại sân Đông Trì Đến 16 giờ cùng ngày, lựclượng cách mạng đã làm chủ hoàn toàn thị xã Móng Cái (ta đã tiêu diệt 120 tênđịch, 200 lính, thu 441 vũ khí các loại, trên 10.000 viên đạn, phá hủy 5 xe quân
sự, giải thoát gần 200 người bị giam cầm) Quân Pháp điều quân từ Hải Phòng raứng cứu nhưng lực lượng của ta đã rút lui về căn cứ
Trận tập kích táo bạo vào thị xã Móng Cái ngày 27/3/1949 là thắng lợiquân sự lớn, có tiếng vang trong vùng địch kiểm soát, khiến nội bộ địch nghi kị
và thanh trừng lẫn nhau Hầu hết chánh tổng, lý trưởng bị giết vì tội cấp giấy choquân nội ứng của ta Thổ phỉ, ngụy binh đều bị đưa về Hà Cối, Tiên Yên thanh
Trang 40lọc, tối đến bị thu súng; hàng trăm lính của Voòng A Sáng bị thủ tiêu Bọn ngụybinh hết sức hoang mang, lo sợ
- Trận tập kích địch ở đồn Bình Liêu đêm 24 ngày 25/12/1950
Sau thất bại nặng nề trên chiến trường biên giới, Bộ tham mưu quân viễnchinh Pháp nhận định có nhiều khả năng quân ta sẽ tiếp tục đánh xuống vùngtrung du và đồng bằng Bắc Bộ trong Đông Xuân 1950 – 1951 Để chuẩn bị đốiphó với ta, chúng đã tăng cường phòng thủ trung du; triển khai lực lượng cơ độngtrên các địa bàn chiến lược và triển khai kế hoạch lập tuyến công sự mới và tiếnhành phá làng dồn dân lập “vành đai trắng”
Tại mặt trận Đông Bắc, địch còn chốt lại ở các vị trí: Bình Liêu, Tiên Yên,Móng Cái nhằm ngăn chặn sự hoạt động của ta, đồng thời địch rút quân ở đồnHoành Mô về co cụm tại đồn Bình Liêu trên núi (ở hai mỏm núi Lý Hoàng và NàLàng), tăng cường quân ở Tiên Yên, Bình Liêu để cố giữ thị trấn Bình Liêu nhằmphá vỡ khu du kích, uy hiếp tinh thần nhân dân và thực hiện kế hoạch cắt đườngliên lạc giữa miền Đông và miền Tây Hải Ninh, giữa Hải Ninh với vùng duyênhải Đông Bắc
Diễn biến trận tập kích đồn Bình Liêu (Đêm 24 ngày 25/12/1950)
Đồn Bình Liêu là một vị trí quan trọng của địch trên tuyến phòng thủ ĐôngBắc Hải Ninh Trong chiến dịch biên giới khi đốt phá, rút chạy khỏi Đình Lập,