BÀI DỰ THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ 70 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG BỘ HUYỆN TAM ĐƯỜNG I PHẦN THI TRẮC NHIỆM Câu 1 Tổ chức Đảng đầu tiên (Tiền thân của Đảng bộ huyện Phong Thổ, huyện Tam Đường) được thành lập vào.
Trang 1BÀI DỰ THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ 70 NĂM NGÀY THÀNH LẬP
ĐẢNG BỘ HUYỆN TAM ĐƯỜNG
I PHẦN THI TRẮC NHIỆM
Câu 1 Tổ chức Đảng đầu tiên (Tiền thân của Đảng bộ huyện Phong Thổ, huyện Tam Đường) được thành lập vào năm nào? Do cấp nào thành lập?
Đáp án đúng: Đáp án C Năm 1950; Tỉnh ủy Lào Cai
Câu 2 Khu du kích Bình Lư và Tam Đường được thành lập vào thời gian nào?
Đáp án đúng: Đáp án A Ngày 07/11/1952
Câu 3 Đồng chí Nguyễn Chương – Trưởng ban cán sự Đảng đầu tiên của huyện Phong Thổ hy sinh vào tháng, năm nào? Ở đâu?
Đáp án đúng: Đáp án B Tháng 2/1951 – Bình Lư (nay thuộc huyện Tam Đường) Câu 4 Huyện Phong Thổ được giải phóng hoàn toàn vào năm nào?
Đáp án đúng: Đáp án C Năm 1954
Câu 5 Đại hội lần thứ nhất Đảng bộ châu Phong Thổ được tổ chức vào thời gian nào? Đồng chí nào được bầu làm bí thư Châu ủy?
Đáp án đúng: Đáp án B: 07-10/6/1961; Đồng chí Đàm Ngọc Côn được bầu làm
bí thư châu ủy
Câu 6 Phong Thổ là đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh lai châu từ năm nào?
Đáp án đúng: Đáp án C: Năm 1962
Câu 7 Cán bộ, nhân dân, lực lượng vũ trang huyện Phong Thổ đã vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng danh hiệu gì?
Đáp án đúng: Đáp án C: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân
Câu 8 Huyện Tam Đường được chia tách thành lập năm nào? Khi mới thành lập huyện Tam Đường có bao nhiêu xã, thị trấn?
Đáp án đúng: Đáp án B: 2002; có 14 xã và 01 thị trấn
Câu 9 Tính đến 31/3/2020 huyện Tam Đường có bao nhiêu xã (thị trấn), bản?
Đáp án đúng: Đáp án C: 13 xã, thị trấn và 126 bản
Trang 2Câu 10 Sau khi thành lập, huyện ủy lâm thời Tam Đường chính thức ra mắt, đi vào hoạt động ngày, tháng, năm nào?
Đáp án đúng: Đáp án C: Ngày 21/9/2002
Câu 11: Từ khi chia tách thành lập huyện đến tháng 6 năm 2020, Đảng bộ huyện Tam Đường có mấy lần tổ chức Đại hội?
Đáp án đúng: Đáp án B: 4 lần
Câu 12 Tính đến 31/3/2020 Đảng bộ huyện Tam Đường có bao nhiêu tổ chức cơ sở Đảng, bao nhiêu tổ chức Đảng trực thuộc Đảng bộ cơ sở?
Đáp án đúng: Đáp án A: 50 chi, Đảng bộ cơ sở; 198 chi bộ trực thuộc Đảng bộ
cơ sở
Câu 13 Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Tam Đường lần thứ XIX, nhiệm
kỳ 2015 – 2020 đã đề ra những chương trình trọng điểm nào?
Đáp án đúng: Đáp án C: Cả hai phương án trên
Câu 14 Chủ đề: “Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng bộ; phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc; đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, dịch vụ, xây dựng nông thôn mới; tăng cường quốc phòng – an ninh; đưa Tam Đường thành huyện phát triển khá trong tỉnh” được Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ
mấy đề ra?
Đáp án đúng: Đáp án C: Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XIX
Câu 15 Tính đến 31/3/2020, huyện Tam Đường có những xã nào được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới?
Đáp án đúng: Đáp án A: Bình Lư, Bản Bo, Bản Giang, Bản Hon, Nùng Nàng,
Hồ Thầu
II PHẦN THI VIẾT
Câu 1 Ban Cán sự Đảng Phong Thổ được thành lập ngày, tháng, năm nào? gồm
bao nhiêu đồng chí, ai là Trưởng Ban Cán sự Đảng đầu tiên? Nêu bối cảnh lịch sử và ý nghĩa ra đời của của Ban Cán sự Đảng Phong Thổ?
Trả lời:
Ngày 01/10/1950, Tỉnh ủy Lào Cai ra Quyết nghị số 005-QN/LKvề thành lập Ban Cán sự đảng huyện Phong Thổ, gồm các đồng chí: Nguyễn Chương, Tô Vũ, Tiến Phương (Văn phòng Tỉnh ủy), Đỗ Đức Lữ (huyện Bắc Hà), Đinh Hải (cán bộ Hoa vận) làm ủy viên Ban cán sự
Bối cảnh lịch sử và ý nghĩa ra đời của Ban Cán sự Đảng Phong Thổ
Tháng 01 - 1950, Ban thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị về việc mở Chiến dịch Tây Bắc đặt tên là Chiến dịch Lê Hồng Phong I, với mục tiêu làm tan rã khối ngụy binh, tiêu diệt một số vị trí địch, lấy ảnh hưởng chính trị với quốc tế và nhân dân
Trang 3để nuôi dưỡng lực lượng ta, từ đó,khôi phục lại phong trào ở Lào Cai,mở thông đường quốc tế
Phương hướng tác chiến và mục tiêu trên đã chọn Lào Cai là hướng chính của chiến dịch Tỉnh ủy Lào Cai đã đề ra nhiệm vụ cho tỉnh là “Huy động sức người, sức của phục vụ Chiến dịch Lê Hồng Phong” mở rộng khu tự do, phá tan hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền của địch Nhiều đồng chí trong cấp ủy được phân công đi sát mặt trận để chỉ đạo các mặt công tác ở địa phương
Tham gia chiến dịch Lề Hồng Phong I có lực lượng của Trung đoàn 102 của Bộ, Trung đoàn 165 của Khu và sự phối hợp của lực lượng vũ trang địa phương
Mở đầu chiến dịch là trận công kích tiêu diệt vị trí Phố Lu (từ 8 đến 13/02/1950) thắng lợi Trên đà tiến công, các đơn vị bộ đội nhanh chóng giải phóng Bản Lầu, Chợ Châu, lập khu du kích, bức địch rút chạy khỏi các vị trí Bến Đền, Làng Cù, giải phóng hai xã Gia Phú, Xuân Giao và một phần các xã Phong Dụ, Võ Lai cùng thôn Cam Cọn (Kim Sơn)
Cuối tháng 3 năm 1950, đợt mộtChiến dịch Lê Hồng Phong kết thúc bộ đội được lệnh rút ra ngoài Quân Pháp đã tái chiếm Than Uyên, thiết lập một hệ thống phòng thủ mới, từ tháng 4 đến tháng 8 năm 1950 chúng tăng cường càn quét các khu
di tích
Trước âm mưu và những hoạt động đối phó của kẻ thù, Tỉnh ủy Lào Cai một mặt chủ trương phối hợp với lực lượng quân sự mở rộng vùng giải phóng, củng cố các chi, đảng bộ, các cấp uỷ và chính quyền ở các huyện, mở rộng khu du kích và cơ sở cách mạng, mặt khác kỳ thời đề ra các biện pháp chống địch càn quét, tích cực chuẩn
bị cho đợt hai Chiến dịch Lê Hồng Phong
Tháng 6 năm 1950, Ban thường vụ Trung ương Đảng chủ trương mở chiến dịch biên giới căn cứ vào thực tế chiến trường bộ chỉ huy chiến dịch chọn hướng chính là Đông Bắc(Cao - Bằc - Lạng) hướng phụ là Tây Bắc (Lào - Yên) đây chính là bước hai của chiến dịch Lê Hồng Phong với nhiệm vụ: Kiềm chế, thu hút lực lượng ứng chiến
và phối hợp mặt trận Đông Bắc tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch; phá vỡ khối ngụy quân, ngụy quyền
Đêm 16/9/1950 quân ta nổ súng đánh Đông Khê, sau hai ngày chiến đấu ác liệt quân địch bị tiêu diệt hoàn toàn
Trong không khí chiến thắng và nhằm chuẩn bị đợt Chiến dịch Lê Hồng Phòng Ban Cán sự Đảng huyện Phong Thổ được thành lập, sự ra đời của Ban Cán sự Đảng huyện Phong Thổ (tổ chức tiền thân của Đảng bộ huyện Phong Thổ) là sự kiện chính trị trọng đại đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong đời sống chính trị và xã hội ở địa phương Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban Cán sự phong trào đấu tranh của đồng bào
Trang 4các dân tộc chống thực dân Pháp xâm lược và chính quyền tay sai phản động đã chuyển từ tự phát lên tự giác, trở thành bộ phận trong cuộc kháng chiến toàn quốc Đây là nhân tố có ý nghĩa quyết định ảnh mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của Phong Thổ
Câu 2.Tên huyện Tam Đường có từ khi nào? Nêu những biến đổi về đơn vị, địa
giới hành chính của huyện Tam Đường từ khi thành lập đến nay? Giới thiệu về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của huyện?
Trả lời:
- Tên huyện Tam Đường: Ngày 14/01/2002 Chính phủ ban hành Nghị định số 08/2002/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Mường Tè, huyện Mường Lay để thành lập huyện Mường Nhé và chia tách huyện Phong Thổ để thành lập huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu Huyện Tam Đường được thành lập với 82.843,7 ha diện tích tự nhiên và 52.567 nhân khẩu Huyện Tam Đường có 15 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã : Lản Nhì Thàng, Thèn Sin, Sùng Phài, Nậm Loỏng, Nùng Nàng, Tam Đường, Tả Lèng, Bản Hon, Bản Giang, Hồ Thầu, Bình Lư, Bản Bo, Khun Há, Nà Tăm và thị trấn Phong Thổ
- Nêu những điều chỉnh về đia giới, đơn vị hành chính của huyện Tam Đường từ khi thành lập đến nay:
+ Ngày 26/11/2003 Quốc hội ra Nghị quyết số 22/2003/QH11 về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh Trong đó trên tỉnh Lai Châu thành tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên; huyện Tam Đường thuộc tỉnh Lai Châu mới, thị trấn Phong Thổ thuộc huyện Tam Đường đồng thời là Tỉnh lị
+ Ngày 10/10/2004 Chính phủ ra Nghị định số 176/2004/NĐ-CP về việc thành lập
xã Lai Châu và thành lập thị trấn thuộc các huyện Tam Đường, Phong Thổ tỉnh Lai Châu Theo Nghị định này một phần diện tích và dân số của huyện Tam Đường được tách ra để thành lập thị xã Lai Châu mới, đồng thời thị trấn Tam Đường cũng được thành lập Huyện Tam Đường còn lại 75.760,70 ha diện tích tự nhiên và 42.131 nhân khẩu
+ Ngày 27/12/2006 Chính phủ ra Nghị định số 156/2006/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, huyện; thành lập xã thuộc các huyện Phong Thổ, Tam Đường, Sìn Hồ và Than Yyên, tỉnh Lai Châu Theo Nghị định quyết định thành lập xã Sơn Bình thuộc huyện Tam Đường đồng thời, chuyển xã Lả Nhì Thàng thuộc huyện Tam đường về huyện Phong Thổ Huyện Tam Đường thời điểm này còn còn có 68.656,56 ha diện tích tự nhiên và 40.685 nhân khẩu
+ Ngày 08/4/2008 Chính phủ ra Nghị quyết số 4/2008/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã thành lập xã thị trấn thuộc huyện Than Uyên, huyện Tam Đường, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Quyết định thành lập xã Giang Ma thuộc
Trang 5huyện Tam Đường Huyện Tam Đường lúc này có 68.472,56 ha diện tích tự nhiên và 46.271 nhân khẩu
+ Ngày 10/01/2020 Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết 886/NQ-BTVQH về việc về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã thuộc tỉnh Lai Châu Theo đó điều chỉnh toàn bộ 21,60 km2 diện tích tự nhiên, 1.898 người của
xã Sùng Phài thuộc huyện Tam Đường vào thành phố Lai Châu Sauk hi sắp xếp Huyện Tam Đường có 662,92 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 52.470 người;
có 13 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 12 xã: Bản Bo, Bản Giang, Bản Hon, Bình Lư, Giang Ma, Hồ Thầu, Khun Há, Nà Tăm, Nùng Nàng, Sơn Bình, Tả Lèng, Thèn Sin và thị trấn Tam Đường Huyện Tam Đường giáp các huyện Phong Thổ, Sìn Hồ, Tân Uyên, thành phố Lai Châu và tỉnh Lào Cai
- Giới thiệu về vị trí đia lý, điều kiện tự nhiên của huyện:
Tam Đường huyện vùng cao nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Lai Châu tọa độ địa
lý từ 220 10 phút đến 22030 phút vĩ độ Bắc, 103018 phút đến 103046 phút kinh độ Đông Phía Bắc giáp huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu và huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai; phía Tây giáp huyện Sìn Hồ và thành phố Lai Châu; phía Đông giáp huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai; phía Nam giáp huyện Sìn Hồ và huyện Tân Uyên Với tổng diện tích tự nhiên 66.292,6 ha, Tam Đường có địa hình phức tạp được cấu tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Phía Đông Bắc là dãy Hoàng Liên Sơn kéo dài hơn 80 km với đỉnh Phan Xi Păng cao 3.143m Phía Đông Nam là dãy Pu Sam Cáp dài khoảng 60 km Xen kẽ giữa những dãy núi cao là các lòng chảo và sông suối như: Lòng chảo Tam Đường - Bản Giang có diện tích khoảng 3500 ha, dốc thoải đều từ Bắc xuống Nam, độ cao trung bình 900m; Lòng chảo Tam Đường - Thèn Sin chạy dài theo suối Nậm So diện tích khoảng 500ha; Lòng chào Bình Lư - Nà Tăm - Bản Bo diện tích 1.800 ha, độ cao 600 - 800m Đây là vùng có tiềm năng phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng cây lương thực cây công nghiệp
Tam Đường nằm vùng nhiệt đới gió mùa, với hai mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng
4 đến tháng 9 tập trung chủ yếu vào các tháng 6, 7, 8 chiếm 75 - 80% tổng lượng mưa trong năm trung bình từ 1.800 - 2.000mm/năm, cao nhất là 2.500mm/năm Vào mùa này thường xuyên xuất hiện mưa đá trung bình 1,6 lần/năm; going xuất hiện nhiều nhất vào tháng 5 kèm gió xoáy Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, thời tiết khô hanh, ít mưa, lạnh và thường xuyên xuất hiện sương mù, sương muối vào tháng 12, tháng 01 ở vùng cao như: Đèo Hoàng Liên Sơn, đèo Giang Ma
Số giờ nắng trung bình trong năm ở Tam Đường từ 2.100 - 2.300 giờ Độ ẩm không khí trung bình là 83%, độ ẩm thấp nhất là 56% Hướng gió chính là hướng Đông Nam, tốc độ gió trung bình từ 1 - 2 m/s trong cơn dông có thể đạt từ 30 - 40 m/s Lượng bốc hơi trung bình năm là 889,6 mm Do diện tích rộng và địa hình phức tạp
Trang 6nên biên độ dao động nhiệt ở Tam Đường khá mạnh, trung bình khoảng 8 - 90C, vào mùa Đông lên tới 9 - 100C, có nơi 11 - 120C Tuy nhiên ở một số nơi có độ cao trên 1.000m tỉ số biên độ ngày đêm giảm trung bình khoảng 7 - 80C, vào mùa Đông nhiệt
độ khoảng 8 - 90C Nhiệt độ trung bình năm từ 22 - 260C, nhiệt độ cao nhất 350C nhiệt độ thấp nhất có thể xuống dưới 00C
Hệ thống sông suối thủy văn của Tam Đường được bố trí tương đối đều với 2 hệ thống chính: Thứ nhất: Sông Nậm Mu chảy qua Nà Tăm, Bản Bo được hình thành từ 4 con suối chính: Suối Nậm Giê từ đỉnh Hoàng Liên Sơn, suối Nà Đa từ Hồ Thầu, suối Nậm Đích từ Khun Há, suối Nậm Mu từ Bản Hon Đây là các con suối đầu nguồn sông
Đà cung cấp nước chủ yếu cho vùng đồng bằng Bình Lư và các nhà máy thủy điện Bản Chát, Hội Quảng, Sơn La; Thứ hai: Suối Nậm So từ Tả Lèng qua xã San Thàng (thành phố Lai Châu) xã Thèn Sin hòa vào dòng Nậm Na Những con suối là nguồn cung ứng nước sinh hoạt chủ yếu cho khu vực thành phố Lai Châu và cho nhân dân xã lân cận Dó địa hình bị chia cắt mạnh, các con sông có độ dốc lớn nên có nhiều tiềm năng xây dựng các trạm thủy điện nhỏ vừa
Theo đánh giá của các chuyên gia địa chất khu vực huyện Tam Đường có tầng
đá vôi Điệp Đồng Dao nên có thể có nhiều hang động castơ, nguồn nước ngầm tương đối phong phú, tuy nhiên chưa có kết quả thăm dò và trữ lượng cụ thể nên việc khai thác còn hạn chế
Trên địa bàn có một số mỏ khoáng sản có giá trị kinh tế cao mỏ đất hiếm Đông Pao; mỏ vàng, vàng đa kim ở Khun Há, Tả Lèng, Thèn Sin; mỏ sắt, chì kẽm ở Khun
Há, Bình Lư, Sơn Bình; đất sét Bình Lư; nước khoáng ở Bình Lư, Bản Hon, Thèn Sin;
mỏ đá ốp lát nhiều màu ở Đông Pao; mỏ đá ốp lát granít ở Giang Ma, Hồ Thầu; mỏ đá vôi ở Bản Bo có chất lượng tốt để làm xi măng và hàng chục điểm khai thác cát, đá, sỏi trên dòng sông Nậm Mu Với nguồn khoáng sản khá phong phú chất lượng lớn, Tam Đường có nhiều thuận lợi cho phát triển các ngành công nghiệp
Tổng diện tích đất có rừng là 32.540 ha, tỷ lệ che phủ rừng 47% Nhìn chung, tài nguyên rừng của Tam Đường có trữ lượng lớn, có thảm thực vật đa dạng có thể đầu tư phát triển ngành kinh tế rừng
Câu 3 Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ huyện Tam Đường gồm bao nhiêu
đồng chí, ai là Bí thư Đảng bộ? Những nhiệm vụ quan trọng nào được Đảng bộ huyện xác định cần phải tiến hành ngay sau khi được thành lập?
Trả lời:
Thực hiện Quyết định số 572-QĐ/TU ngày 09/9/2002 của Ban thường vụ Tỉnh
ủy Lai Châu, Ban chấp hành Đảng bộ lâm thời huyện Tam Đường được thành lập gồm
32 đồng chí Đồng chí Lê Xuân Phùng giữ chức vụ Bí thư Huyện ủy, các đồng chí Đỗ
Trang 7Huy Lưu, Lương Thị Lợi giữ chức vụ Phó Bí thư Huyện ủy Ngày 21/9/2002 huyện ủy lâm thời chính thức ra mắt và đi vào hoạt động
Những nhiệm vụ quan trong nào được Đảng bộ huyện xác định cần phải tiến hành ngay sau khi đươc thành lập:
Một là tiến hành ngay việc kiện toàn tổ chức bộ máy Nhận thức điều đó, Đảng
bộ đã nhanh chóng củng cố hệ thống chính trị, ổn định tổ chức bộ máy, sắp xếp nhân
sự các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể, các xã, thị trấn Chỉ trong một thời gian ngắn, dù nguồn nhân lực còn thiếu nhưng các phòng ban, đơn vị đã được nhanh chóng sắp xếp ổn định; đội ngũ cán bộ,đảng viên đoàn kết yên tâm công tác, lỗ lực khắc phục khó khăn thực hiện tốt các công việc được phân công
Hai là sớm tiếp nhận bàn giao tài sản cơ sở vật chất từ huyện cũ để tạo điều kiện
bố trí nơi làm việc tạm thời cho các đơn vị một cách phù hợp;
Ba là đẩy nhanh công tác xây dựng cơ sở vật chất trang thiết bị cho từng đơn vị
Bốn là quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng và Nghị quyết đại hội Đảng các cấp, xác định nhiệm vụ trong bối cảnh lịch sử mới, khẩn trương xây dựng phương hướng, giải pháp phù hợp và sớm có biện pháp thực hiện nhằm nhanh chóng phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh của huyện, tranh thủ mọi nguồn lực đầu tư, thu hút vốn đầu tư của mọi thành phần kinh tế để phát triển kinh
tế - xã hội, ổn định an ninh chính trị trật tự xã hội
Câu 4 Từ ngày thành lập huyện đến nay, Đảng bộ huyện Tam Đường đã tổ
chức bao nhiêu kỳ Đại hội? Nêu rõ thời gian, đại điểm, số lượng đại biểu tham dự từng
kỳ Đại hội? Họ, tên các đồng chí Thường trực Huyện ủy qua các thời kỳ?
Trả lời:
Từ ngày thành lập huyện đến nay, Đảng bộ huyên Tam Đường đã tổ chúc 03 kỳ Đại hội:
- Từ ngày 09 đến ngày 10/6/2003 Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Tam Đường lần từ XVI (nhiệm kỳ 2003 - 2005) được tổ chức trong thể tại Hội trường Ủy ban nhân dân huyện với 94 đại biểu đại diện cho gần 1.400 đảng viên trong toàn Đảng bộ Tại Đại hội đã bầu đồng chí Lê Xuân Phùng giữ chức vụ Bí thư Huyện ủy, đồng chí Đỗ Huy Lưu giữ chức vụ Phó Bí thư thường trực Huyện ủy, đồng chí Lương Thị Lợi giữ chức vụ Phó Bí thư Huyện ủy
- Từ ngày 11 đến ngày 12/10/2005 Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Tam Đường lần từ XVII (nhiệm kỳ 2005 - 2010) được tổ chức trong thể tại Hội trường Ủy ban nhân dân huyện với 120 đại biểu đại diện cho hơn 940 đảng viên trong toàn Đảng bộ.Tại Đại hội đã bầu đồng chí Phạm Văn Huỳnh giữ chức vụ Bí thư Huyện ủy, đồng
Trang 8chí Đỗ Hữu Trưởng giữ chức vụ Phó Bí thư thường trực Huyện ủy, đồng chí Lương Thị Lợi giữ chức vụ Phó Bí thư Huyện ủy
- Từ ngày 29 đến ngày 31/7/2010 Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Tam Đường lần từ XVIII (nhiệm kỳ 2010 - 2015) được tổ chức trong thể tại Trung tâm Hội nghị văn hóa huyện với 200 đại biểu đại diện cho hơn 1.570 đảng viên trong toàn Đảng bộ.Tại Đại hội đã bầu đồng chí Phạm Văn Huỳnh giữ chức vụ Bí thư Huyện ủy, đồng chí Úy Thị Sơn giữ chức vụ Phó Bí thư thường trực Huyện ủy, đồng chí Vương Văn Thắng giữ chức vụ Phó Bí thư Huyện ủy Sau đại hội, tháng 6/2011, đồng chí Phạm Văn Huỳnh chuyển công tác về tỉnh, đồng chí Vương Văn Thắng được bầu làm bí thư huyện ủy, đồng chí Nguyễn Tiến Tăng được bầu làm phó bí thư huyện ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân huyện
- Từ ngày 05 đến ngày 07/7/2015 Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Tam Đường lần từ XIX (nhiệm kỳ 2015 - 2020) được tổ chức trong thể tại Trung tâm Hội nghị văn hóa huyện với 221 đại biểu đại diện cho hơn 2.253 đảng viên trong toàn Đảng bộ Tại Đại hội đã bầu đồng chí Hoàng Thọ Trung giữ chức vụ Bí thư Huyện ủy, đồng chí Sùng Lử Páo giữ chức vụ Phó Bí thư thường trực Huyện ủy, đồng chí Từ Hữu Hà giữ chức vụ Phó Bí thư Huyện ủy
Câu 5 Hãy nêu những thành tựu nổi bật của Đảng bộ và nhân dân huyện Tam
Đường từ khi chia tách, thành lập tỉnh đến nay (tính đến 31/3/2020)?
Trả lời
Những thành tựu nổi bật của Đảng bộ và nhân dân huyện Tam Đường từ khi chia tách, thành lập tỉnh đến nay (tính đến 31/3/2020):
Thực hiện đường lối đổi mới theo tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức đặc thù của một huyện miền núi nhưng dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Lai Châu, Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc huyện Tam Đường luôn nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, năng động, sáng tạo, phát huy những tiềm năng, thế mạnh, kết hợp tranh thủ sự quan tâm giúp đỡ, đầu tư của Trung ương, tỉnh để tổ chức lại sản xuất, thực hiện đổi mới toàn diện các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng an ninh, xây dựng Đảng, hệ thống chính trị với những bước đi, việc làm cụ thể, thận trọng, vững chắc, vừa đổi mới vừa tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm Qua hơn 30 năm đổi mới, nhất là sau 18 năm chia tách, thành lập, cơ bản các chỉ tiêu, nhiệm vụ Đảng bộ huyện đề ra đều đạt và vượt; đến hết năm 2019, bộ mặt đô thị, nông thôn trên địa bàn huyện có bước khởi sắc, phát triển khá toàn diện về mọi mặt:
* Về kinh tế
Trang 9- Kinh tế phát triển ổn định, có bước tăng trưởng khá, thu nhập bình quân đầu người hết năm 2019 đạt 27 triệu đồng/năm, bình quân lương thực đầu người 750kg/người/năm, tăng hơn so với năm 2002 Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa vào sản xuất, dầu tư thâm canh tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, đã hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung như vùng chè ở Bản Bo, Sơn Bình , vùng lúa chất lượng cao ở Bình Lư, Thèn Sin, Thị Trấn góp phần tăng thu nhập, ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn Chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản phát triển mạnh cả về quy mô, số lượng và chất lượng; tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 6- 7%/ năm Triển khai thực hiện trồng mới, khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng, tỷ
lệ che phủ rừng đạt 47%
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực, từng bước hình thành các tổ hợp xã liên kết, trang trại, gia trại, hợp tác xã
Chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới được tập trung chỉ đạo quyết liệt, có sự quan tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị, tạo được sự đồng thuận của Nhân dân Bằng nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ và các biện pháp triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả, đến hết năm 2019, toàn huyện có 06 xã đạt tiêu chí xã nông
thôn mới (Bình lư, Bản Bo, Bản Hon, Bản Giang, Nùng Nàng, Hồ Thầu), bình quân
đạt 15,08 tiêu chí/xã
Kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện, đô thị có bước phát triển vượt bậc, đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, phục vụ y tế, giáo dục và nhu cầu văn hóa, văn nghệ, thể thao cho người dân; đến năm 2019, 100% xã có đường ô tô từ huyện đến trung tâm được cứng hóa; 98,7% số bản có đường tới bản được cứng hóa đi lại thuận tiện trong 4 mùa; 100% số bản, 99% số hộ được sử dụng điện lưới quốc gia; 98,7% dân
số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, 72,9% dân số thị trấn được cấp nước sạch
Hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển nhanh, chủng loại hàng hóa đa dạng, phong phú, đảm bảo cung ứng phần lớn vật tư, thiết bị cho sản xuất, hàng hóa tiêu dùng phục vụ đời sống Nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc Hoạt động du lịch có bước phát triển, kết cấu hạ tầng dược tăng cường đầu tư, đưa vào khai thắc một số điểm du lịch mới thế mạnh của huyện như du lịch cộng đồng
Sì Thâu Chải, Nà Khương, du lịch mạo hiểm đỉnh Pu Ta Leng ; tiếp tục chỉ đạo chỉnh trang, hoàn thiện các điểm du lịch đã hình thành, đầu tư xây dựng mới các điểm du lịch có tiềm năng, lợi thế rõ nét; quan tâm phát triển nguồn nhân lực phục vụ tại chỗ như tổ chức các lớp dạy nghề du lịch, liên kết đào tạo nghiệp vụ du lịch ngắn hạn tại huyện Sa Pa; từng bước hoàn thiện các dịch vụ phục vụ du khách Tổng lượt khách du lịch trong năm 2019 đạt khoảng 135.000 lượt khách
Trang 10Trụ sở làm việc của các cơ quan, ban, nghành huyện và các xã thị trấn, trường học, bệnh viện, trạm xá, nhà văn hóa, sân vận động, chợ được xây mới, nâng cấp đã đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ y tế, giáo dục và nhu cầu văn hóa, văn nghệ, thể thao cho người dân
Dịch vụ bưu chính viễn thông tiếp tục phát triển, mạng lưới internet phát triển mạnh, phổ biến trong nhiều gia đình
* Văn hóa – xã hội
- Giáo dục – đào tạo có bước phát triển nhanh cả về quy mô, số lượng và chất lượng, mặt bằng dân trí từng bước được nâng cao Chương trình kiên cố hóa trường học thực hiện có hiệu quả, tỷ lệ phòng học kiên cố, bán kiên cố đạt 95,4% (Tăng khoảng 40%) Hoàn thành và duy trì phổ cập giáo dục tiểu học dúng độ tuổi (năm 2007), phổ cập trung học cơ sở (năm 2008) và phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi (Năm 2013) Kỷ cương nề nếp và chất lượng dạy và học được nâng lên, đặc biệt là chất lượng mũi nhọn Số giáo viên dạy giỏi, học sinh giỏi cấp tỉnh, học sinh thi đỗ vào các trường đại học tăng mạnh qua các năm Chú trọng phát triển mô hình bán trú, trường học có học sinh bán trú, chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe, đảm bảo an toàn về thể chất và tinh thần cho học sinh Phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập được chú trọng Nhiều học sinh đạt giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi của tỉnh, huyện; duy trì và giữ vững kết quả phổ cập giáo dục, xóa mù chữ; công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia được quan tâm Khi chia tách huyện chưa có trường học nào đạt chuẩn quốc gia, năm 2019 huyện có 22/44 trường chuẩn quốc gia, đạt 50% tổng số trường đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn huyện Các cuộc vận động, các phong trào thi đua được triển khai có hiệu quả, tỷ lệ chuyên cần của học sinh đạt cao ở tất cả các cấp học, ngành học
- Hệ thống y tế từ huyện đến cơ sở được củng cố cả về chất lượng chán bộ, và
hạ tầng cơ sở, trang thiết bị, chất lượng khám chữa bệnh được nâng lên rõ rệt; có 14/14
xã đạt tiêu chí quốc gia vê y tế; tỷ lệ bác sĩ/vạn dân đạt 5; Công tác truyền thông giáo dục về dân số, các chương trình chăm sóc SKSS/KHHGĐ được tăng cường, tỷ lệ giảm
sinh trung bình đạt 0,8%o Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em được quan tâm thực
hiện; 14/14 xã, thị trấn đạt tiêu chí xã phù hợp với trẻ em
- Hoạt động văn hóa, thông tin – thể dục thể thao có nhiều chuyển biến tích cực Triển khai thực hiện tốt cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở
cơ sở, năm 2019 có 78,9% số bản, 84,5% số hộ gia đình, 96,9% cơ quan đơn vị, trường học dạt tiêu chuẩn văn hóa Hệ thống đài truyền thanh huyện và truyền thanh
xã, Cổng thông tin điện tử của huyện được đầu tư xây dựng, sửa chữa, nâng cấp phục
vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương