1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI dự THI 70 năm THÀNH lập ĐẢNG bộ

66 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 11,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác xây dựng Đảng được tập trung chỉ đạo toàn diện trên các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức. Phương thức lãnh đạo của Đảng được đổi mới, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên được nâng lên, lãnh đạo thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh qua từng giai đoạn

Trang 1

BÀI DỰ THITÌM HIỂU LỊCH SỬ 70 NĂM NGÀY THÀNH LẬP

ĐẢNG BỘ HUYỆN TAM ĐƯỜNG

I PHẦN THI TRẮC NHIỆM

Câu 1 Tổ chức Đảng đầu tiên (Tiền thân của Đảng bộ huyện Phong Thổ, huyện Tam Đường) được thành lập vào năm nào? Do cấp nào thành lập?

Đáp án đúng: Đáp án C Năm 1950; Tỉnh ủy Lào Cai

Câu 2 Khu du kích Bình Lư và Tam Đường được thành lập vào thời gian nào?

Đáp án đúng: Đáp án B: 07-10/6/1961; Đồng chí Đàm Ngọc Côn được bầu làm

bí thư châu ủy

Câu 6 Phong Thổ là đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh lai châu từ năm nào?

Đáp án đúng: Đáp án C: Năm 1962

Câu 7 Cán bộ, nhân dân, lực lượng vũ trang huyện Phong Thổ đã vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng danh hiệu gì?

Đáp án đúng: Đáp án C: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân

Câu 8 Huyện Tam Đường được chia tách thành lập năm nào? Khi mới thành lập huyện Tam Đường có bao nhiêu xã, thị trấn?

Đáp án đúng: Đáp án B: 2002; có 14 xã và 01 thị trấn

Câu 9 Tính đến 31/3/2020 huyện Tam Đường có bao nhiêu xã (thị trấn), bản?

Đáp án đúng: Đáp án C: 13 xã, thị trấn và 126 bản

Trang 2

Câu 10 Sau khi thành lập, huyện ủy lâm thời Tam Đường chính thức ra mắt, đi vào hoạt động ngày, tháng, năm nào?

Câu 13 Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Tam Đường lần thứ XIX, nhiệm

kỳ 2015 – 2020 đã đề ra những chương trình trọng điểm nào?

Đáp án đúng: Đáp án C: Cả hai phương án trên

Câu 14 Chủ đề: “Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng bộ; phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc; đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, dịch vụ, xây dựng nông thôn mới; tăng cường quốc phòng – an ninh; đưa Tam Đường thành huyện phát triển khá trong tỉnh” được Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ

mấy đề ra?

Đáp án đúng: Đáp án C: Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XIX

Câu 15 Tính đến 31/3/2020, huyện Tam Đường có những xã nào được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới?

Đáp án đúng: Đáp án A: Bình Lư, Bản Bo, Bản Giang, Bản Hon, Nùng Nàng,

Hồ Thầu

II PHẦN THI VIẾT

Câu 1 Ban Cán sự Đảng Phong Thổ được thành lập ngày, tháng, năm nào? gồm bao nhiêu đồng chí, ai là Trưởng Ban Cán sự Đảng đầu tiên? Nêu bối cảnh

lịch sử và ý nghĩa ra đời của của Ban Cán sự Đảng Phong Thổ?

Trả lời Ngày 01/10/1950, Tỉnh ủy Lào Cai ra Quyết nghị số 005-QN/LKvề thành lập Ban Cán sự đảng huyện Phong Thổ, gồm các đồng chí: Nguyễn Chương, Tô Vũ,

Tiến Phương (Văn phòng Tỉnh ủy), Đỗ Đức Lữ (huyện Bắc Hà), Đinh Hải (cán bộ Hoavận) làm ủy viên Ban cán sự

- Đồng chí Nguyễn Chương (Tỉnh uỷ viên dự khuyết) làm Trưởng ban cán sự đầu tiên

* Bối cảnh lịch sử và ý nghĩa ra đời của Ban Cán sự Đảng Phong Thổ:

* Bối cảnh ra đời Ban Cán sự Đảng Phong Thổ

Trang 3

Sau khi chiếm được Lai Châu (tháng 4-1890), thực dân Pháp ra sức thiết lập bộmáy cai trị, duy trì chế độ thổ ty, lập ra xứ Thái tự trị, xứ Nùng tự trị nhằm lừa bịp,mua chuộc dân tộc Thái, gây mâu thuẫn hằn thù giữa các dân tộc; xây dựng hệ thốngđồn bốt, cứ điểm quân sự dày đặc trên đất Tam Đường Cùng với đó, thực dân Pháp vàquan lại phong kiến tăng cường bóc lột Nhân dân, thi hành các chính sách sưu cao thuếnặng, vơ vét của cải, thực hiện chính sách ngu dân, khuyến khích phát triển các tệ nạn

xã hội Đời sống của Nhân dân Tam Đường lúc này vô cùng khổ cực, mâu thuẫn giữaNhân dân với thực dân Pháp và tay sai ngày càng gay gắt Đồng bào các dân tộc vớilòng căm thù giặc sâu sắc, nóng lòng chờ đón cán bộ cách mạng đến giác ngộ, lãnhđạo để đi theo cách mạng giải phóng quê hương

Đêm 9-3-1945 Nhật tiến hành đảo chính Pháp, tháng 4-1945 quân Nhật từ Sa Patiến vào Phong Thổ, vấp phải sự kháng cự của trung đội quân Pháp tại km 21 Bình Lư.Quân Pháp bị đẩy gần xuống km 8, km 5 rồi đóng chốt tại các đồi xung quanh Mộtcánh quân Pháp chặn đường rừng cấm Nậm Xe nhưng quân Nhật chia làm hai mũi tiếntheo hướng Hồ Thầu - gần thác nước Bình Lư với lực lượng khoảng gần 1 tiểu đoàn.Một trận kịch chiến đã diễn ra ở km 5 Viên sĩ quan Pháp là Ecuse bị giết tại trận Đượctin, viên quan ba Pháp là Renesabônô dẫn một trung đội xuống Bình Lư ứng cứu nhưng

bộ phận quân Pháp ở đây bị đánh rệu rã, đã rút chạy Toàn bộ quân Pháp ở Phong Thổchia làm hai mũi tháo lui Mũi thứ nhất sang Pu Sam Cáp, tiếp tục bị quân Nhật truykích, phải theo đường Sình Hồ, Pa Tần qua Huổi Luông sang Trung Quốc Mũi thứ haitheo đường Bình Lư, bị quân Nhật bắt sống rất nhiều Bọn tay sai trong đó có Đèo Văn

Ân, sang nương nhờ con rể Đào Gia Trụ ở Mường Là (Trung Quốc) để cùng quan thầychờ thời cơ quay lại địa phương

Tàn quân Pháp chạy sang Côn Minh (Vân Nam - Trung Quốc) đã lập ra Phái bộPháp ở Côn Minh (gọi tắt là Phái đoàn 5) mà thực chất là một tổ chức tình báo, biệtđộng tìm cách tung lực lượng hoạt động sát biên giới Việt - Trung điều tra tình hìnhchuẩn bị trở lại Việt Nam khi có điều kiện Trong số đó nhóm mang tên Gasenhơ lấyđịa bàn Pa Nậm Cúm (Phong Thổ) làm mục tiêu Đèo Văn Ân được giao nhiệm vụ nộiứng cho Pháp trong trường hợp Nhật vẫn mời ra giúp việc

Sau khi chiếm được Phong Thổ, quân Nhật vẫn duy trì sự thống trị như cũnhưng bằng những tên mới như tỉnh trưởng, phủ trưởng, châu trưởng; tổ chức "Đoànthanh niên" được thành lập do Lý Ngọc Dung đứng đầu, thu hút hầu hết lực lượng tiểuthương ở Phong Thổ tham gia, được trang bị vũ khí để bảo vệ Nhật còn gọi Đèo Văn

Ân - nguyên tri châu về giao cho chức tri phủ Tuy làm việc cho Nhật, nhưng Đèo Văn

Ân vẫn ngấm ngầm liên lạc với viên quan hai Pháp đang ở nhà Đào Gia Trụ - thổ tyMường Là (Trung Quốc) Nhật cũng nắm được tình hình, bố trí người giám sát và thudần quyền hành của tên tay sai này Cuối tháng 6-1945, Đèo Văn Ân có cuộc họp kínvới các con cháu họ Đèo ở Phong Thổ để bàn tính loại trừ lực lượng của Nhật Ân còn

cử trưởng bản Nậm Chom sang Mường Là liên hệ với con rể đem quân sang đánhNhật, tìm cách phá bằng được tổ chức "Đoàn thanh niên" Âm mưu chống đối này bịbại lộ, Đèo Văn Ân một lần nữa lại phải sang nương náu ở Mường Là để đón chờ cơhội mới

Trang 4

mạng Tháng Tám thắng lợi, quân Nhật đã rút khỏi Phong Thổ Liền theo đó, ngày28-8-1945 quân đội Tưởng Giới Thạch đã có mặt ở Phong Thổ dưới danh nghĩa quânĐồng minh vào tước khí giới quân Nhật Đi tới đâu chúng cũng chia ra từng bộ phận

để bắt bớ, tra tấn, giết người, cướp của Đèo Văn Ân được phong làm tổng đốc xứThái, trực tiếp cai quản Phong Thổ và Than Uyên, được phép tổ chức quân đội riêngtuyển từ các cựu binh, với quân số gần 200 tên, giao cho Đèo Văn Khâu và Đèo VănHen chỉ huy đóng tại Phong Thổ

Tháng 10-1945, lợi dụng việc thông tin liên lạc giữa Chính phủ Việt Nam Dânchủ Cộng hòa với vùng núi xa xôi bị gián đoạn, quân đội Tưởng Giới Thạch dùng thủđoạn để lừa bịp, tuyên truyền Việt Nam Quốc dân Đảng đã giành được chính quyền.Mọi công việc tổ chức và xây dựng chính quyền mới đều do Việt Nam Quốc dân Đảngđảm nhiệm Chúng đã cho Nguyễn Xuân Tôn - một tên Việt Nam Quốc dân Đảng vàoPhong Thổ bắt tay với Đèo Văn Ân

Tháng 11-1945, cấp trên đã cử hai cán bộ của Mặt trận Việt Minh là đồng chíThanh và Hồng vào Phong Thổ để tiếp xúc, gặp gỡ với Đèo Văn Ân, tuyên truyền vềđường lối của Mặt trận Việt Minh và thương lượng để lập chính quyền cách mạng Dothái độ không hợp tác của Đèo Văn Ân và thái độ thù nghịch của Việt Nam Quốc dânĐảng nên cuộc tiếp xúc và thương lượng đã không thành công

Cùng trong thời gian này, hai tiểu đoàn tàn quân Pháp ở Vân Nam (Trung Quốc)kéo vào Lai Châu đem theo tên tay sai Đèo Văn Long, câu kết với quân đội TưởngGiới Thạch và lực lượng Việt Nam quốc dân đảng âm mưu chiếm đóng lâu dài LaiChâu và Thượng Lào Đèo Văn Ân đã cử Đèo Văn Khâu sang tận Mường Là đón quânPháp Toán thứ nhất có khoảng 300 quân, chúng nghỉ lại Phong Thổ ba ngày rồi tiếptục tiến vào Lai Châu Chúng tuyên bố chỉ mượn đường, không có ý định chiếm PhongThổ Thực ra mọi mưu đồ đã được tính toán từ trước Khi toán thứ hai với lực lượnghơn 100 quân qua Phong Thổ vào tháng 1-1946, chúng đã gợi ý cho Đèo Văn Ân yêucầu quân Pháp đóng lại, liền chớp ngay thời cơ để chốt giữ các vị trí quan trọng Trongđội quân này có thiếu tá Puaxanchat, đại uý Đruniu đã từng có mặt ở Phong Thổ trướcđây Hai tiểu đội Việt Nam quốc dân đảng đồn trú ở đây không đủ sức chống lại phảirút về Sa Pa Pháp chiếm được Phong Thổ, phong cho Đèo Văn Ân chức châu uý, hứahẹn khi nào chiếm xong Lào Cai sẽ cho giữ chức tỉnh trưởng Quân Pháp tiếp tục tiến

ra Bình Lư, rồi dừng lại để củng cố lực lượng

Tháng 9-1946, Xứ uỷ Bắc Kỳ quyết định thành lập Ban cán sự Đảng tỉnh LàoCai gồm ba đồng chí do đồng chí Ngô Minh Loan làm Trưởng ban (có lúc gọi là Bíthư), hai đồng chí Lê Thanh và Đào Đình Bảng làm uỷ viên

Ban cán sự Đảng tỉnh Lào Cai ra đời đánh dấu bước ngoặt quan trọng tronglịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng ở địa phương, có tác dụng thúc đẩyphong trào cách mạng, tăng thêm niềm tin của quần chúng nhân dân trong quátrình đấu tranh

Nhờ sự chỉ đạo kịp thời và trực tiếp của Ban cán sự Đảng tỉnh, hoạt động quân

sự ở Lào Cai đã có bước phát triển Ngày 12-11-1946, bộ đội tiến vào giải phóng thị

xã, đánh đuổi lực lượng Việt Nam Quốc dân Đảng chạy sang Trung Quốc Tuy nhiên,

Trang 5

Phong Thổ vẫn nằm trong tay quân Pháp.

Với bản chất hiếu chiến, phản động, thực dân Pháp ngang nhiên xóa bỏ Hiệpđịnh sơ bộ ngày 6-3-1946 và Tạm ước ngày 14-9-1946, ngày càng lún sâu vào con

đường mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược Ngày 19-10-1946, Nghị quyếtHội nghị quân sự toàn quốccủa Đảng nhận định: "nhất định không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh

mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp" Đêm 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí

Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Hưởng ứng lời kêu gọi thiêng liêng của

Người, cả nước bước vào cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, gian khổ và

tự lực cánh sinh

Trước những chuyển biến quan trọng của đất nước và nhằm tăng cường sự lãnhđạo, tháng 1-1947, Khu uỷ Khu 10 quyết định thành lập Tỉnh uỷ lâm thời tỉnh Lào Caithay cho Ban cán sự Đảng tỉnh để nhận nhiệm vụ cách mạng nặng nề hơn trong giaiđoạn mới Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lâm thời gồm ba đồng chí: Lê Thanh - Bí thưTỉnh ủy, Đặng Châu Tuệ và Lý Bạch Luân - Tỉnh ủy viên Ngày 5-3-1947, Hội nghịtoàn thể đảng viên của Đảng bộ tỉnh Lào Cai đã tiến hành bầu Ban Chấp hành Đảng bộchính thức gồm bảy đồng chí, đồng chí Lê Thanh được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ

Ngay từ đầu năm 1947, sau khi đánh chiếm xong Tây Bắc, thực dân Pháp ra sứctuyển mộ thêm binh lính, xây dựng thêm đồn bốt, tổ chức các đơn vị ngụy binh ngườiThái, liên lạc với thổ ty, phìa tạo và bọn tay sai phản động cũ chuẩn bị tiến công ra vùng

tự do, đánh chiếm Lào Cai làm bàn đạp bao vây và tấn công căn cứ địa Việt Bắc Lựclượng của địch ở Sơn La, Lai Châu, Phong Thổ, Than Uyên thường xuyên uy hiếp cáchuyện thuộc vùng tự do Lào Cai

Nhằm chống lại những âm mưu của địch, ta bố trí các Tiểu đoàn 272, 273,

274 thuộc Trung đoàn 171 ở Bát Xát, Sa Pa và thị xã Lào Cai vừa làm nhiệm vụhuấn luyện, vừa sẵn sàng đánh địch, bảo vệ địa phương Một đại đội được bố tríđóng ở Ô Quy Hồ (Sa Pa) để án ngữ địch đóng tại Bình Lư Một số đại đội khácđóng ở Rừng Cấp (Mường Hum) đề phòng hướng Phong Thổ

Trong tháng 6 và tháng 7-1947, quân Pháp đã có những cuộc hành quân thăm dòlực lượng ta ở phía Bình Lư - Nậm Xe

Trung tuần tháng 9-1947, Khu ủy 10 chủ trương mở mặt trận Tây Tiến chủ độngđánh địch để ngăn cản không cho chúng tiến ra vùng tự do Thực hiện chỉ thị trên,Tỉnh uỷ Lào Cai đề ra nhiệm vụ cho các đơn vị thuộc Trung đoàn 171 (trước là Trungđoàn 117) cùng dân quân du kích tiến đánh Phong Thổ bằng hai mũi: một mũi từ Sa Pađánh vào Bình Lư và một mũi từ đường Mường Hum tiến qua rừng Cấp, Nậm Xe đánhvào Phong Thổ Tại Sa Pa, quân ta đánh thắng một số trận và đã tiến đến cách Bình Lư

5 km Tại Mường Hum, ta cũng đánh tan các vị trí địch ở dọc đường Nậm Xe cáchPhong Thổ 16 km Có trận đánh, địch bị tiêu diệt tới 50 tên

Ngày 29-9-1947, địch phản công ta ở Bình Lư, mở đầu cho chiến dịch đánhchiếm Lào Cai Bị bộ đội ta chặn đánh, chúng phải rút lui, nhưng lại chuyển quân lênPhong Thổ để đề phòng ta ở Bát Xát, Mường Hum

Ngày 6-10-1947, địch tập trung quân chia thành hai bộ phận Bộ phận thứ nhất

Trang 6

gồm 400 tên đánh qua Nậm Xe - Đèo Mây về Mường Hum Bộ phận thứ hai gồm 300tên theo đường Bình Lư tiến đánh Sa Pa Đi tới đâu, quân Pháp cũng cố tranh thủ sựủng hộ của bọn thổ ty phản động để tiếp tế lương thực, đưa đường Tiểu đoàn chủ lựccủa ta chỉ còn hơn một đại đội, không chống giữ nổi đã phải lui dần Ngày 16-10-1947,địch chiếm Bát Xát Ngày 17-10-1947, địch chiếm Sa Pa và đến ngày 28-10-1947,chúng chiếm được thị xã Lào Cai.

Nhận định về thời kỳ này Liên khu ủy 10 đã chỉ rõ:

"Thời kỳ thứ nhất: Địch tiến đánh, ta rút lui mất đất, mất dân (cuối năm 1946đến tháng 10-1947)

Đầu năm 1947, ở Lào Cai địch tiến đánh Bình Lư, Phong Thổ Riêng Lào Cai,tháng 10-1947 địch tập trung lực lượng đánh mạnh ra Mường Hum rồi tiến thẳng raBát Xát Chiếm được Bát Xát địch dừng lại đợi cánh quân từ Bình Lư tiến ra phối hợp.Sau đó chúng huy động thêm lực lượng từ Bình Lư vào phối hợp mở hai gọng kìm BátXát - thị xã, đánh chiếm Cốc Lếu và thị xã Lào Cai (cuối tháng 10-1947)

Thời kỳ thứ hai: Chiến sự Thu Đông (từ tháng 10 đến tháng 12-1947)

Ở Lào Cai, sang tháng 11-1947 địch tiến xuống Gia Phú và Cam Đường Cuốitháng 11-1947, địch liên lạc được với thổ ty ở Bắc Hà (Hoàng A Tưởng) kéo các thổ tynày công khai mang quân đánh lại ta ở Bắc Hà làm bộ đội phải rút về án ngữ căn cứ cuốicùng của Lào Cai là xã Xuân Quang

Về phía ta kỹ thuật chiến đấu còn rất non, bộ đội chưa được rèn luyện, kế hoạchphòng ngự hầu như không có, giặc đến chỉ biết chia quân giữ đất, rải bộ đội theo lối mànhmành, hễ bị địch đánh gọng kìm là rút lui Hơn nữa còn nặng tư tưởng trận địa chiến tronglúc thực lực chưa đủ Việc bảo tồn chủ lực không được hiểu thấu, lúc hành quân chỉ do

dự, địch đến thì tìm cách rút lui ngay

Một nguyên nhân rất quan trọng nữa là không chú ý nắm dân, coi thường lựclượng của dân, không làm cho dân hiểu ta, chỉ chú ý lôi kéo mấy tên trùm thổ ty mà rútcục chúng không theo ta Bởi vậy khi chiến sự xảy ra là mất ngay dân Bộ đội, cơ quankhông có chỗ nương tựa nên phải rút hoài

Địch chú ý dân, nắm dân và đã lôi kéo được dân Hơn nữa lại biết rõ địa thế chonên khi chúng đi tới đâu là hoàn thành bình định được vùng đó"

Liên khu uỷ 10 đã kịp thời có Chỉ thị số 49 về chủ trương đối với thổ ty và đồngbào miền núi gửi các cấp bộ Đảng nhằm uốn nắn các lệch lạc và sai lầm trên:

"Đối với thổ ty: Các cấp bộ Đảng địa phương chưa có kế hoạch cụ thể, tỉ mỉnên chính sách đề ra lúc thì tả khuynh, khi thì hữu khuynh (đề cao để cho thổ tykhinh nhờn, sao lãng làm cho họ bất mãn) Cán bộ công tác ở các vùng có thổ ty làmcông tác vận động quần chúng chưa tốt, quan liêu làm cho họ thiếu tin tưởng Một sốnơi lại cho thổ ty độc quyền bán muối tạo điều kiện để họ bóc lột dân hoặc để họ tíchtrữ chống lại ta Những thổ ty bị kẹp trong vùng địch kiểm soát ta chưa tìm cách liênlạc với họ hoặc với gia đình Chỉ chú ý lôi kéo một vài thổ ty có tiếng tăm mà khôngchú ý nâng đỡ những thổ ty nhỏ, những thổ ty kém thế lực cảm tình với ta Một số

Trang 7

thổ ty làm việc cho ta nhưng vẫn muốn phản lại hoặc đồng tình với bọn phản động đểbắt cán bộ, tố cáo nhân viên Chính phủ, mưu sát vệ quốc đoàn, giết hại người Kinh,cũng chưa có biện pháp kiên quyết trừng trị.

Muốn làm tốt công tác này, các cấp bộ Đảng phải đề ra một kế hoạch tỉ mỉ vàthống nhất nhằm hạn chế tác hại mà họ gây ra về chính trị, quân sự, tạo ra niềm tin và

sự trung thành của họ đối với Chính phủ, phải săn sóc, nâng đỡ các thổ ty nhỏ Nhữngthổ ty lừng chừng, ít tín nhiệm thì liên lạc, lôi kéo bằng nhiều biện pháp thích hợp.Trấn áp những thổ ty phản động, không cải tạo được

Giữ gìn sự đoàn kết giữa các thổ ty với Chính phủ và công cuộc trường kỳkháng chiến là một chính sách quan trọng Đội ngũ cán bộ được cử đi làm việc này cần

có kinh nghiệm và năng lực dân vận Có kế hoạch đào tạo con cháu thổ ty, thân hào,thân sĩ thành cán bộ cơ sở Có thể đưa một số thổ ty ra vùng tự do hoặc những thổ ty

có uy tín hoặc đang làm việc trong cơ quan, chính quyền ta viết thư, viết hiệu triệu kêugọi thổ ty lầm đường và đồng bào các dân tộc trong vùng tạm chiếm, đấu tranh chốngđịch, tham gia du kích ủng hộ bộ đội và du kích Cần tổ chức các phái đoàn gồm cácthổ ty có tín nhiệm đi các địa phương vận động đồng bào tham gia kháng chiến

Đối với đồng bào miền núi: Nhược điểm chung là các cấp bộ Đảng không chú ýgây dựng cơ sở quần chúng, vận động đồng bào tham gia kháng chiến, chưa giải thích

về chính thể dân chủ cộng hoà, không chú ý đem lại quyền lợi dân chủ, nâng cao mứcsống Khi chiến sự lan tới, không vạch kế hoạch để đồng bào cất giấu lương thực, làmvườn không nhà trống, làm lán trên rừng để tản cư, tránh địch khủng bố cướp bóc Chưalập ra được những tiểu tổ bí mật thu hút thanh niên trung kiên, do đó khi địch tràn đến

đã để quần chúng ở lại trong tình thế bỡ ngỡ, hoang mang Ở vùng địch kiểm soát cán

bộ chưa có kế hoạch vận động đồng bào chống đi phu, đi lính và không tiếp tế chođịch"

Từ những thực tế trên, bản chỉ thị đã đề ra nhiều biện pháp nhằm cải thiện đờisống cho đồng bào, xây dựng đời sống mới trên cơ sở coi trọng phong tục tập quán củatừng dân tộc, xây dựng các đoàn thể cứu quốc, đào tạo cán bộ người địa phương, đưacán bộ vũ trang tuyên truyền và cán bộ đảng vào hoạt động trong vùng địch

Như vậy, trong khoảng thời gian gần ba năm, nhân dân các dân tộc huyệnPhong Thổ vẫn còn trong cảnh bị nhiều kẻ thù (quân đội Tưởng Giới Thạch, quân độiPháp, Việt Nam Quốc dân Đảng, thổ ty phản động và tay sai của chúng) áp bức bóclột Nhân dân các dân tộc chưa được hưởng không khí độc lập và luôn sống trongcảnh chiến sự do kẻ thù gây ra

Cuộc tấn công lên Việt Bắc năm 1947 với âm mưu chiến lược "đánh nhanhthắng nhanh" của thực dân Pháp hoàn toàn bị phá sản Địch lâm vào thế bị động phảichuyển sang chiến lược chiến tranh lâu dài, thực thi chính sách "lấy chiến tranh nuôichiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt"

Đầu năm 1948, địch xúc tiến âm mưu trên tại Tây Bắc, lập ra khu quân sự TâyBắc, phía dưới có phân khu và tiểu khu Chúng ra sức bắt lính, xây dựng ngụy quân,ngụy quyền, thành lập các tiểu đoàn người Thái, củng cố các vị trí chiếm đóng, đẩy

Trang 8

mạnh việc vơ vét nhân tài, vật lực để nuôi dưỡng cuộc chiến tranh xâm lược.

Về chính trị, thực dân Pháp thực hiện chính sách chia để trị với mức độ caohơn và quy mô lớn hơn Tháng 3-1948, chúng thành lập "xứ Thái tự trị" và "xứ Nùng

tự trị"nhằm lừa bịp, mua chuộc dân tộc Thái, gây mâu thuẫn hằn thù giữa các dântộc

Tỉnh Phong Thổ gồm 5 châu: Mường So, Sình Hồ, Cốc Lếu - Bát Xát, Văn Bàn(Mường Chăn), Mường Than (Than Uyên) do Đèo Văn Ân làm tỉnh trưởng, Đèo VănNgảnh (con trai Đèo Văn Ân) làm phó tỉnh trưởng, cố vấn người Pháp là Đờlaven(Delavel), phó cố vấn là Tusa (Touchard) Trụ sở của tỉnh trưởng Đèo Văn Ân đượcđặt tại Mường So, có ba thư ký giúp việc (Lệnh Bá Cổn - phụ trách nhân sự và kế toán;Đèo Văn Hiên - thư ký, đánh máy; Hoàng Bá Ma - tiếp phát công văn) Ngoài ra còn

có châu đoàn Phong Thổ do Nông Văn Kiếm trông coi lính dõng; hành chính do bang

tá Đèo Văn Lứn phụ trách; tư pháp do Đèo Văn Tư và Đèo Văn Thêm chịu tráchnhiệm giữ trật tự và thu thuế; giáo dục có một trường dạy chữ Thái và tiếng Pháp từlớp 3 đến lớp 5, có 3 giáo viên; phòng phát thuốc có 2 người; phòng thương mại làmnhiệm vụ chuyển hàng hóa lên để đồn khố xanh bán cho binh lính và nhân dân

Hệ thống quân sự còn phải kể tới đồn khố xanh thuộc đội Gfot do viên chánhgiám binh Wifinl chỉ huy với quân số một đại đội Dưới quyền điều khiển của giámbinh còn có phòng thông tin do viên thư ký bàn giấy giám binh phụ trách, hàng ngày

có nhiệm vụ đi dán tranh ảnh để tuyên truyền

Tham gia vào đội ngũ ngụy quyền ở Phong Thổ đa số là con cháu họ Đèo, tùytheo địa vị lớn hay nhỏ mà được hưởng một số ruộng hay nương Họ Đèo cha truyềncon nối làm thổ ty ở Phong Thổ nên có uy quyền và tạo ra ân huệ cho nhiều người.Chúng bóc lột nhân dân một cách khéo léo làm cho họ nghĩ đó là bổn phận phải đónggóp của mình Nếu có kiện cáo về sự bóc lột nặng nề, Đèo Văn Ân đã vỗ về bằng cáchkhông cho một số thổ ty làm việc hoặc chuyển sang làm việc khác để mua chuộc lại tìnhcảm của dân Bên cạnh đó, Đèo Văn Ân không quên răn đe, làm cho dân chúng khiếp

sợ, không dám kêu ca hoặc chống lại chúng

Xứ Thái tự trị được tổ chức như một nhà nước thu nhỏ bao gồm các cơ quanhành chính, lập pháp, tư pháp, ngân hàng, hội đồng dân biểu toàn xứ Thái bao gồmhơn 70 nghị viện đại diện cho các sắc tộc xuất thân từ tri châu, trưởng phìa, phó phìatạo ở các địa phương Tuy nhiên, thực chất bên trong mọi quyền hành đều do thực dânPháp nắm giữ Các thổ ty chỉ là bọn tay sai để thi hành mọi chính sách do quan thầy đề

Chỉ thị 114/BT của Bộ Tổng tư lệnh, ngày 20-1-1948 về xây dựng căn cứ địa

Trang 9

Tây Bắc đã được Ban Thường vụ Liên khu uỷ chấp hành một cách nghiêm túc vàkhẩn trương Sau một thời gian gấp rút chuẩn bị, ngày 31-3-1948, Liên khu uỷ 10

đã ra Chỉ thị số 22-KU/CT về việc thành lập "Ban xung phong Quyết Thắng"(còngọi là Ban xung phong Tây Bắc ở Lào Cai) gồm các đồng chí: Hoàng Quy - Tỉnh uỷviên Lào Cai; Tiến Thanh - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 97; Trần Khánh - cán bộViệt Minh

Hướng xung phong được ấn định từ vùng tự do Yên Bái tiến vào Phong Thổbằng hai đường:

- Qua Thuỷ Vĩ, Cam Đường, Sa Pa vào Bình Lư, Tam Đường, Phong Thổ

- Hoặc từ Thuỷ Vĩ, Cam Đường hướng về Bảo Thắng, Bát Xát, Mường Humsang Phong Thổ

Sau khi cân nhắc kỹ, Liên khu uỷ 10 đã quyết định chọn đường thứ hai là đườngtiến quân của đội vũ trang tuyên truyền vì đường này đông dân, dễ nắm dân và tiếp tếthuận lợi hơn

Ban xung phong Quyết Thắng bao gồm:

- Tổ xung phong phát triển tiến vào trước có nhiệm vụ điều tra tình hình địa dư,

tình hình địch, bọn việt gian, hội tề cũng như đời sống, nguyện vọng của nhân dânnhằm gây cơ sở, tiếp tế cho dân cải thiện sinh hoạt của họ Đối với thổ ty, kỳ hào thìtìm cách thuyết phục

- Đội võ trang tuyên truyền tổ chức các cuộc mít tinh, giải thích, triển lãm để

tuyên truyền sâu rộng trong dân chúng; phá ngụy quyền, quét hội tề để lập chính quyềncủa ta; lôi kéo lính dõng, thổ ty và đánh địch khi cần thiết

- Tổ xung phong củng cố tìm cách bắt liên lạc với những cơ sở do đội võ trang

tuyên truyền giới thiệu để đào tạo cán bộ địa phương; nắm vững thổ ty, kỳ hào; pháttriển dân quân du kích Sau khi đã củng cố vững chắc các cơ sở, đại đội độc lập mớivào hoạt động, đặt kế hoạch tiêu diệt địch để thu lại đất đai, bảo vệ dân chúng

- Liên lạc, giao thông dùng một số quần chúng ở địa phương để lập các trạm

liên lạc giữa các tổ với cơ quan chỉ đạo (liên lạc với Ban Thường vụ Liên khu uỷ, vớiTỉnh uỷ để nhận chỉ thị, tài liệu và giới thiệu cơ sở quần chúng cho cấp bộ ở vùng tựdo)

Đồng chí Phạm Văn Học - Khu uỷ viên được Liên khu uỷ trực tiếp phụ tráchBan xung phong Quyết Thắng, đồng thời là Bí thư chi bộ của Ban

Liên khu uỷ còn đề ra phương châm hoạt động cho Ban là nhằm thẳng hướngchính, củng cố vững chắc chỗ đứng chân, khi cần mở đường nhanh chóng có thể nhảycách quãng Trên đường tiến quân, cứ vài ba chục cây số đặt trạm thu dung một trungđội vũ trang tuyên truyền và chú ý công tác vận động đồng bào Dao, Mông Các độixung phong cần phải tiến sâu, len lỏi vào vùng sau lưng địch và những nơi chúng íthoặc không chú ý đến

Bản chỉ thị đặc biệt nhấn mạnh: "Khu Tây Bắc là căn cứ hết sức quan trọng về

Trang 10

dựng căn cứ địa Tây Bắc là một nhiệm vụ quân sự cơ bản Công tác xung phong tiếnnhanh hay chậm sẽ quyết định một phần thắng lợi nhanh hay chậm của ta ở Bắc Bộ".

Ngày 10-4-1948, Ban xung phong Quyết Thắng được lệnh xuất phát Trênđường tiến quân, các đội công tác gặp muôn vàn khó khăn nhưng nhờ ý chí tiến côngkhông sợ hy sinh, gian khổ nên đã hoàn thành được những nhiệm vụ cơ bản Để uốnnắn những thiếu sót và khuyết điểm, ngày 2-8-1948, Liên khu uỷ 10 ra Chỉ thị số 68-KU/CT gửi Ban xung phong Quyết Thắng, nêu rõ các điểm cần phải sửa chữa sau:

- Thiếu sự bĩnh tĩnh, nhất là lúc Lào Cai bị mất đã tỏ ra chán nản, bi quan,không có kế hoạch trở về Khi quay trở lại hoạt động, thấy nhân dân ta, lại quá lạcquan

- Chủ quan khinh địch, khi gây được một số cơ sở quần chúng, không đề phòngđịch, vội vàng tổ chức việc trừ gian mà không chuẩn bị đối phó với tình thế bị khủng

bố nên có chỗ như ở Xuân Giao bị thiệt hại nặng nề

- Chủ trương tranh đấu không hợp thời, cơ sở chưa vững chắc đã dùng quân sựdiệt tề để địch khủng bố, phá cơ sở làm cho quần chúng hoang mang không dám thamgia phong trào và nuôi giấu cán bộ

- Giữ gìn bí mật kém nên bị Pháp càn quét ở Thái Vu, lý trưởng bắt được giaothông viên nộp cho địch

Liên khu uỷ 10 đã nhắc nhở phải kiên quyết tẩy bỏ những bệnh chủ quan, coithường và đánh giá thấp lực lượng địch, chủ trương tranh đấu bừa bãi Khi đã gâyđược cơ sở phải có kế hoạch chống càn, nắm quần chúng trung kiên, tùy hoàn cảnh mà

ấn định hình thức đấu tranh Phải áp dụng nguyên tắc bí mật trong từng bước công tác

Để hoàn thành nhiệm vụ tiến vào Phong Thổ, Ban xung phong Quyết Thắngphảicủng cố bàn đạp Xuân Giao, nối với Cam Đường để củng cố Cốc Lếu, Bát Xát và tiếnsang gây cơ sở ở phía nam Mường Hum như Tà Lềnh, Tam Lô, Tả Áng Phình Cũng

có thể tiến theo đường Ngòi Hum, Bản Lênh, Sai Na ở

Sa Pa Tránh tiến theo đường Thái Bô thẳng đến Bình Lư như dự định Chỉ khi nàonhững căn cứ bàn đạp Bát Xát, Mường Hum, Sa Pa đã ổn định thì mới vào Phong Thổ,Bình Lư, tránh địch chia cắt làm cho cán bộ, bộ đội không có chỗ đứng chân

Nhờ có sự uốn nắn kịp thời của Liên khu uỷ 10, công tác vũ trang tuyên truyền

mở đường vào Phong Thổ đã có những chuyển biến quan trọng Trong việc bắt mối đãtận dụng lợi thế của sự quen thuộc và đội ngũ quần chúng trung kiên Ngay cả đối vớinhững tên hội tề bất mãn nhất cũng là đối tượng để liên lạc Một vài địa bàn xa lạ đãkết hợp hình thức vũ trang xung phong để hỗ trợ Nguyên tắc bí mật được quán triệthơn, nên cũng hạn chế sự tổn thất của phong trào

Đối với việc gây cơ sở đã bám sát và nắm chắc địa bàn hơn nên kế hoạch côngtác đề ra khá phù hợp Một vài nơi còn lập được tổ trung kiên Những khu vực dân cưđông đúc được chú trọng gây cơ sở để từ đó tỏa ảnh hưởng đến các vùng xung quanh.Hạn chế được tư tưởng phát triển tràn lan, chỉ chú trọng đến diện rộng Có kế hoạch vềthành lập dân quân du kích, chống khủng bố đã được quán triệt và tuân thủ chặt chẽ

Trang 11

Nhìn trên đại thể, lực lượng quân sự của Pháp lúc này khá mạnh và Lào Cai đãtrở thành mặt trận chính của Liên khu 10 Sau khi chuyển vận binh lực từ Yên Bái,Sơn La, Lai Châu sang chiếm được thị xã Lào Cai, được sự hỗ trợ của thổ ty, thổ phỉ ởBắc Hà, Mường Khương, Pha Long địch đã mở đợt tấn công xuống phía nam và chiếmnhiều vùng thuộc biên giới Bước sang đầu năm 1949, ở những vùng tạm chiếm, địchchú trọng dùng quân sự thực hiện kế hoạch kinh tế, qua đó để gây ảnh hưởng và củng

cố địa vị chính trị của mình Hàng hóa được vận chuyển lên và đưa tới nhiều bản làng

xa xôi

Nhằm hỗ trợ cho phong trào đấu tranh ở cơ sở, một phân đội vũ trang tuyêntruyền từ vùng tự do Yên Bái hoạt động lên phía đông nam Phong Thổ, tiến vào TamĐường Thu hút nhiều quần chúng trung kiên tham gia vào đội vũ trang tuyên truyền

và làm chủ địa phương trong vòng nửa tháng Khi lực lượng quân đội rút khỏi TamĐường, một số người dân đã đi theo hoặc rút vào rừng để tránh sự khủng bố của địch

Cuối năm 1949, đại đội độc lập Kim Sơntừ Than Uyên được điều động lên hoạtđộng ở phía đông nam huyện Phong Thổ, được nhân dân hưởng ứng và ủng hộ Đội dukích Tả Lèng, Hồ Thầu đã được thành lập phối hợp cùng đại đội đánh địch ở Giang Ma,Bình Lư và hoạt động xung quanh thị trấn Phong Thổ, bắt mối với nhiều cơ sở ở các bảnxung quanh thị trấn Chưa đầy một năm, nhiều cơ sở đã hình thành từ Bình Lư qua TamĐường đến thị trấn Phong Thổ

Kết quả hoạt động của Ban xung phong Quyết Thắng và đại đội độc lập KimSơn đã có ý nghĩa rất quan trọng, tạo ra được một vùng ảnh hưởng cách mạng rộnglớn Đó là tiền đề quan trọng để tổ chức Đảng đầu tiên của huyện Phong Thổ ra đời

Ngày 6-1-1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị về mở chiến dịchTây Bắcvà chuẩn bị chiến trường Đông Bắcvới mục tiêu là: "Làm tan rã khối ngụybinh và phá ngụy quyền Tiêu diệt một số vị trí địch Khôi phục lại Lào Kay mởthông đường quốc tế"

Phương hướng tác chiến và mục tiêu trên đã chọn Lào Cai là hướng chính củachiến dịch Xác định rõ nhiệm vụ của mình, Tỉnh uỷ Lào Cai đã đề ra nhiệm vụ chotỉnh là: "huy động sức người, sức của phục vụ chiến dịch Lê Hồng Phong , mở rộngkhu tự do, phá tan hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền của địch" Nhiều đồng chí trongcấp uỷ được phân công đi sát mặt trận để chỉ đạo các mặt công tác ở địa phương

Tham gia vào chiến dịch này có lực lượng của Trung đoàn 102 của Bộ, Trungđoàn 165 của khu và sự phối hợp của lực lượng vũ trang địa phương

Mở đầu chiến dịch là trận tấn công tiêu diệt vị trí Phố Lu (từ ngày 8 đến ngày13-2-1950) Phát huy thắng lợi, các đơn vị bộ đội nhanh chóng giải phóng Bản Lầu,Chợ Châu, lập khu du kích, bức địch rút chạy khỏi vị trí Bến Đền, Làng Cù, giải phónghai xã Gia Phú, Xuân Giao và một phần các xã Phong Dụ, Võ Lao cùng thôn Cam Cọ(Kim Sơn) Cuối tháng 3-1950, màn một của chiến dịch Lê Hồng Phongkết thúc, bộđội được lệnh rút ra ngoài Quân Pháp tái chiếm Than Uyên, thiết lập hệ thống phòngthủ mới Từ tháng 4 đến tháng 8-1950, chúng tăng cường càn quét các khu du kích

Trước âm mưu và những hoạt động đối phó của kẻ thù, Tỉnh ủy Lào Cai một

Trang 12

mặt chủ trương phối hợp với lực lượng quân sự mở rộng vùng giải phóng, củng cố cácchi bộ đảng, các cấp ủy và chính quyền ở các huyện, mở rộng khu du kích và cơ sởcách mạng, mặt khác kịp thời đề ra các biện pháp chống địch càn quét, tích cực chuẩn

bị cho màn hai chiến dịch

Tháng 6-1950, Trung ương Đảng chủ trương mở chiến dịchBiên giới thu đông.Căn cứ vào thực tế chiến trường, Bộ chỉ huy chiến dịch chọn hướng chính là Đông Bắc(Cao - Bắc - Lạng), hướng phụ là Tây Bắc (Lào - Yên)đây chính là màn hai của chiếndịch Lê Hồng Phong với nhiệm vụ:

- Kiềm chế, thu hút lực lượng ứng chiếm và phối hợp mặt trận Đông Bắc

- Tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch

- Phá vỡ khối ngụy quân, ngụy quyền

Đêm 16-9-1950, quân ta nổ súng đánh vị trí Đông Khê (Cao Bằng) Sau haingày chiến đấu ác liệt, quân địch bị tiêu diệt hoàn toàn

Trong không khí chiến thắng và sự chuẩn bị màn hai của chiến dịch Lê HồngPhong, ngày 24-9-1950, Tỉnh uỷ Lào Cai ra Quyết nghị số 005-QN/LK về thành lậpBan cán sự Đảng huyện Phong Thổ gồm các đồng chí: Nguyễn Chương (Tỉnh uỷ viên

dự khuyết) trực tiếp làm Trưởng ban; Tô Vũ, Tiến Phương (Văn phòng Tỉnh uỷ), ĐỗĐức Lữ (huyện Bắc Hà), Đinh Hải (cán bộ Hoa vận) làm Uỷ viên Ban cán sự

Ngày 1-10-1950, Ban cán sự Đảng huyện Phong Thổ ra đời, khẳng định sựtrưởng thành của phong trào cách mạng ở địa phương đã đến lúc đòi hỏi phải có một tổchức đảng thì mới đủ sức đảm đương vai trò lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp sát sao đối với

cơ sở

 Ý nghĩa ra đời Ban Cán sự Đảng Phong Thổ:

Việc ra đời của Ban cán sự Đảng huyện Phong Thổ (tổ chức tiền thân của Đảng

Bộ huyện Phong Thổ) là một sự kiện lịch sử chính trị trọng đại, đánh dấu bước ngoặtquan trọng đối với đồng bào và nhân dân các dân tộc huyện Phong Thổ; thể hiện sựtrưởng thành trong phong trào cách mạng của huyện; tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽtrong phong trào đấu tranh cách mạng của đồng bào các dân tộc trong huyện, đưa cuộcđấu tranh giành quyền độc lập, tự do của huyện từ tự phát lên tự giác; từ đây mỗi bước

đi, mỗi thắng lợi giành được của huyện đều gắn liền với sự lãnh đạo trực tiếp của Bancán sự Đảng huyện, tiền thân của Đảng bộ ngày nay; đưa phong trào đấu tranh cáchmạng của đồng bào các dân tộc Phong thổ trở thành một bộ phận quan trọng trongcông cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thực hiện công cuộc đổi mới

Huyện Tam Đường ngày nay là tiền thân huyện Phong Thổ trước đây Trongsuốt quá trình lịch sử cách mạng, Phong Thổ là mảnh đất có truyền thống yêu nước,văn hóa lâu đời, là địa bàn chiến lược quan trọng về quốc phòng và an ninh Tháng11/1945, Pháp tái chiếm Phong Thổ và tăng cường củng cố chính quyền tay sai, ápbức, bóc lột Nhân dân Để đáp ứng yêu cầu cách mạng, ngày 01/10/1950, Tỉnh ủy LàoCai quyết định thành lập Ban Cán sự Đảng Châu Phong Thổ (tiền thân của Đảng bộhuyện Tam Đường ngày nay) gồm 5 đồng chí Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp

Trang 13

và chống Mỹ, quân và dân Phong Thổ đã đoàn kết vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ,góp phần cùng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân hoàn thành thắng lợi cuộc đấu tranhgiải phóng dân tộc, bước vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ban Cán sự Đảng Phong Thổ ra đời thể hiện truyền thống đoàn kết, yêu nước vàtruyền thống đấu tranh cách mạng của đồng bào các dân tộc trong huyện, đồng thờiqua đó, động viên nhân dân, cán bộ, đảng viên, chiến sỹ trong toàn huyện đẩy mạnhcác phong trào thi đua yêu nước, phấn đấu thực hiện hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụkinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại

Câu 2.Tên huyện Tam Đường có từ khi nào? Nêu những điều chỉnh về địa giới, đơn vị hành chính của huyện Tam Đường từ khi thành lập đến nay? Giới thiệu về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của huyện?

Trả lời

Bước vào thời kỳ phát triển mới, thể theo nguyện vọng của Nhân dân huyệnPhong Thổ, ngày 14/01/2002 Chính phủ ban hành Nghị định số 08/2002/NĐ-CP vềchia tách huyện Phong Thổ thành hai huyện Phong Thổ và Tam Đường Ngày20/9/2002 huyện Tam Đường ra mắt và chính thức đi vào hoạt động

Theo quyết định này huyện Tam Đường được thành lập với 82.843,7 Ha diệntích tự nhiên 52.567 nhân khẩu, 15 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã: Lản NhìThàng, Thèn Sin, Sùng Phài, Nậm Loỏng, Nùng Nàng, San Thàng, Tà Lèng, Bản Hon,Bản Giang, Hồ Thầu, Bình Lư, Bản Bo, Khun Há, Nà Tăm, và thị trấn Phong Thổ

Tam Đường là huyện cửa ngõ của tỉnh, có vị trí địa kinh tế kết nối giao thôngkhá thuận lợi, giáp với Thị xã Sa Pa – tỉnh Lào Cai; có tiềm năng, lợi thế về khí hậu,đất đai, nguồn lao động, cảnh quan thiên nhiên thuận lợi cho phát triển nông - lâmnghiệp, du lịch, giao lưu văn hoá giữa các vùng, miền Thực hiện Nghị định 176/CPngày 10/10/2004 của Chính phủ về điều chỉnh địa giới hành chính thành lập thị xã LaiChâu và thị trấn Tam Đường Trung tâm hành chính của huyện chuyển về xã Bình Lư.Huyện Tam Đường đã vượt qua khó khăn, khai thác tiềm năng, lợi thế, nỗ lực phấnđấu đạt nhiều thành tựu to lớn: kinh tế phát triển khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tíchcực; thu nhập bình quân đầu người đạt 17,5 triệu đồng/năm; 96% số hộ được sử dụngđiện lưới quốc gia, 100% đường liên xã, 87,2% số bản có đường đến bản được cứnghóa Sự nghiệp giáo dục phát triển toàn diện cả về quy mô, số lượng và chất lượng;người dân được quan tâm chăm sóc sức khỏe; an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hộiđược giữ vững…

Tại buổi lễ kỉ niệm 10 năm chia tách thành lập huyện Tam ĐườngThừa ủyquyền của Thủ tướng Chính phủ, các đồng chí lãnh đạo tỉnh trao Cờ thi đua - Đơn vịdẫn đầu phong trào thi đua năm 2011 cho thị trấn Tam Đường (huyện Tam Đường);trao Bằng khen cho UBND huyện Tam Đường và 2 cá nhân đã có thành tích tiêu biểuxuất sắc trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở, góp phần vào sựnghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc

Trang 14

Nhân dịp này, UBND tỉnh cũng tặng Cờ thi đua cho Văn phòng HĐND - UBNDhuyện; Bằng khen cho 11 tập thể, 22 cá nhân; UBND huyện tặng Giấy khen cho 72 tậpthể, 161 cá nhân…

Một số hình ảnh tại Lễ kỷ niệm:

Văn nghệ chào mừng Lễ kỷ niệm.

Quang cảnh Lễ kỷ niệm.

Trang 15

Đồng chí Tô Như Sơn - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, thừa ủy quyền của Thủ tướng

Chính phủ trao Cờ thi đua cho Đảng bộ, nhân dân thị trấn Tam Đường.

Đồng chí Giàng Páo Mỷ - Chủ tịch HĐND tỉnh thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trao Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho UBND huyện Tam Đường.

Trang 16

Đồng chí Lê Xuân Phùng - Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh trao Bằng

khen của UBND tỉnh cho các cá nhân có thành tích xuất sắc.

Đại biểu chụp ảnh lưu niệm cùng các đồng chí lãnh đạo huyện Tam Đường.

Năm 2017 huyện Tam Đường long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 15 năm chia táchthành lập huyện

Dự Lễ kỷ niệm có các đồng chí: Nguyễn Khắc Chử - Bí thư Tỉnh ủy; Vũ VănHoàn - Phó Bí thư, Chủ tịch HĐND tỉnh; Đỗ Ngọc An - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch

Trang 17

UBND tỉnh; Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành;Thường trực Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Tam Đường; nguyên lãnh đạo huyện

Tam Đường, Phong Thổ qua các thời kỳ

Sau 15 năm chia tách thành lập, huyện Tam Đường có bước phát triển khá ổnđịnh, kinh tế tăng trưởng khá, thu nhập bình quân đầu người năm 2016 đạt 21 triệuđồng, tăng 17 triệu đồng so với năm 2002; bình quân lương thực đầungười 727kg/năm, tăng 415kg so với năm 2002 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúnghướng và phát triển toàn diện Tổng giá trị sản xuất đến nay đạt 1.997,6 tỷ đồng, trong

đó, nông, lâm nghiệp, thủy sản 37,4%; công nghiệp, xây dựng 26,9%; thương mại,dịch vụ 35,7% Thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thônmới, toàn huyện có 4 xã đạt chuẩn nông thôn mới, bình quân đạt 12,23 tiêu chí/xã Cácphong trào điện sáng nông thôn, nông thôn xanh, sạch, đẹp được Nhân dân các dân tộctích cực triển khai thực hiện, đã có 30 bản, 13 xã có điện chiếu sáng công cộng đườngtrục bản, liên bản, trung tâm xã, với tổng chiều dài 21,6km Các hoạt động dịch vụ, dulịch có bước phát triển mạnh từ đầu năm đến nay, lượt khách du lịch đến địa bànhuyện ước đạt trên 33.000 người, doanh thu trên 9 tỷ đồng Sự nghiệp giáo dục pháttriển khá toàn diện cả về quy mô, số lượng và chất lượng Công tác chăm sóc, bảo vệsức khoẻ Nhân dân luôn được quan tâm, hệ thống y tế từ huyện đến cơ sở được củngcố

Tại Lễ kỷ niệm, đồng chí Đỗ Ngọc An - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBNDtỉnh ghi nhận, biểu dương, chúc mừng những thành tích mà Đảng bộ, Nhân dân cácdân tộc huyện Tam Đường đạt được trong 15 năm qua Với quyết tâm đến năm 2020đưa huyện Tam Đường trở thành huyện phát triển khá của tỉnh, đồng chí Chủ tịchUBND tỉnh đề nghị Đảng bộ, Nhân dân các dân tộc huyện Tam Đường đoàn kết, sángtạo, tập trung thực hiện tốt các giải pháp: đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp gắnvới phát triển cây chè, mắc ca; tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các tập đoàn kinh tếnhư: Tập đoàn TH, Tập đoàn Him Lam và các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nôngnghiệp; tăng cường quảng bá, thu hút phát triển du lịch gắn với giữ gìn phát huy cácbản sắc văn hóa dân tộc; quản lý tốt các công trình hạ tầng sau đầu tư; nâng cao chấtlượng giáo dục, y tế đáp ứng nhu cầu của Nhân dân; tăng cường công tác đảm bảo anninh trật tự, nhất là an ninh nông thôn, an ninh tôn giáo; đổi mới nội dung sinh hoạt chi

bộ, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở…

Trang 18

Văn nghệ chào mừng tại Lễ kỷ niệm.

Tại buổi Lễ, UBND tỉnh tặng Cờ thi đua cho Nhân dân và cán bộ huyện TamĐường có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua xây dựng và phát triển huyện(giai đoạn 2002 – 2017); tặng Bằng khen của UBND tỉnh cho 10 tập thể, 20 cá nhân, 8

hộ gia đình có nhiều đóng góp trong quá trình xây dựng và phát triển huyện (giai đoạn

2002 – 2017) Huyện Tam Đường tặng Giấy khen cho 25 tập thể, 163 cá nhân, 24 hộgia đình có nhiều đóng góp trong quá trình xây dựng và phát triển huyện (2002 –2017)

Những điều chỉnh về địa giới, đơn vị hành chính của huyện Tam Đường từ khi thành lập đến nay:

Ngày 14/01/2002 chính phủ ban hành nghị định số 08/2002/NĐ-CP, về việcđiều chỉnh địa giới hành chính huyện Mường Tè, Huyện Mường Lay để thành lậphuyện Mường Nhé và chia tách huyện Phong Thổ để thành lập huyện Tam Đường,tỉnh Lai Châu Theo nghị định này, huyện Phong Thổ được chia thành hai huyện: TamĐường và Phong Thổ ngày nay

Theo quyết định này huyện Tam Đường được thành lập với 82.843,7 Ha diệntích tự nhiên 52.567 nhân khẩu, 15 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã: Lản NhìThàng, Thèn Sin, Sùng Phài, Nậm Loỏng, Nùng Nàng, San Thàng, Tà Lèng, Bản Hon,Bản Giang, Hồ Thầu, Bình Lư, Bản Bo, Khun Há, Nà Tăm, và thị trấn Phong Thổ

Ngày 26 tháng 11 năm 2003, kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa XI nước cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Nghị quyết số 22/2003/QH11 về việc và điềuchỉnh địa giới một số tỉnh Trong đó có Lai Châu Thực hiện Nghị quyết trên tỉnh LaiChâu cũ được chia thành hai tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên, huyện TamĐường trở thành một trong năm huyện thuộc tỉnh Lai Châu mới Đồng thời, tỉnh lỵtỉnh Lai Châu đặt tại thị trấn Phong Thổ thuộc huyện Tam Đường

Trang 19

Ngày 10 tháng 10 năm 2004, Chính phủ ban hành Nghị định 176/2004/NĐ-CP

về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành lập thị xã Lai Châu và thành lập thị trấnTam Đường Toàng huyện Tam Đường lúc này có 13 xã, thị trấn với tổng diện tích đất

tự nhiên là 756,7Km2, dân số 4,3 vạn người, gồm 12 dân tộc anh em cùng chung sống.Việc chia tách địa giới hành chính của huyện

Phong Thổ cũ thành hai huyện Phong Thổ và Tam Đường, thành lập thị xã LaiChâu mới đồng thời thị trấn Tam Đường cũng được thành lập Theo đó:

+ Thành lập thị xã Lai Châu, thị xã tỉnh lỵ tỉnh Lai Châu trên cơ sở toàn bộ diệntích và dân số của thị trấn Phong Thổ và 2 xã: Nậm Loỏng, Tam Đường và một phầndiện tích, dân số của xã Sùng Phài thuộc huyện Tam Đường

+ Thành lập thị trấn Tam Đường trên cơ sở một phần diện tích và dân số của xãBình Lư (nguyên là một phần của xã Bình Lư trước kia)

Huyện Tam Đường còn lại 75.760,70 ha diện tích tự nhiên và 42.131 người.Ngày 27 tháng 12 năm 2006, Chính phủ ra Nghị định số 156/2006/NĐ-CP, vềviệc điều chỉnh địa giới hành chính xã, huyện; Thành lập xã thuộc các huyện PhongThổ, Tam Đường, Sìn Hồ và Than Uyên, tỉnh Lai Châu Chia xã Bình Lư thành hai xãBình Lư và Sơn Bình; chuyển xã Lản Nhì Thàng về huyện Phong Thổ quản lý HuyệnTam Đường thời điểm này có 68.656,56ha diện tích tự nhiên và 40.685 nhân khẩu có

13 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các xã Sùng Phài, Nùng Nàng, Bản Giang,Bản Hon, Thèn sin, Tả Lèng, Hồ Thầu, Bình Lư, Sơn Bình, Nà Tăm, Bản Bo, Khun

Há và Thị trấn Tam Đường

Ngày 8 tháng 4 năm 2008, chính phủ ra Nghị định số 41/2008/NĐ-CP, về việcđiều chỉnh địa giới hành chính xã; thành lập xã, thị trấn thuộc huyện Than Uyên,huyện Tam Đường, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Theo Nghị định này thành lập xãGiang Ma thuộc huyện Tam Đường trên cơ sở điều chỉnh 3.671,60 ha diện tích tựnhiên và 2877 nhân khẩu của xã Hồ Thầu Huyện Tam Đường lúc này có 68.472,56 hadiện tích tự nhiên và 46.271 nhân khẩu có 14 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 01 thịtrấn và 13 xã (Thị trấn Tam Đường, Sùng Phài, Nùng Nàng, Bản Giang, Bản Hon,Thèn sin, Tả Lèng, Hồ Thầu, Bình Lư, Sơn Bình, Nà Tăm, Bản Bo, Khun Há, GiangMa

Ngày 10 tháng 01 năm 2020, Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 ban hànhNghị quyết số 866/NQ – UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấphuyện, cấp xã thuộc tỉnh Lai Châu Theo đó điều chỉnh toàn bộ 21,60km2 diện tích tựnhiên, 1898 người của xã Sùng Phài thuộc huyện Tam Đường vào thành phố Lai Châu.Chuyển xã Sùng Phài về thành phố Lai Châu quản lý

Sau khi điều chỉnh, huyện Tam Đường còn lại 662,92 km2 diện tích tự nhiên và52.470 người, có 13 đơn vị hành chính cấp xã 1 thị trấn và 12 xã như hiện nay

1 Thị Trấn Tam Đường

1 Đặc điểm tự nhiên, xã hội của xã

Trang 20

- Vị trí địa lý: Thị trấn Tam Đường là trung tâm kinh tế văn hoá chính trị củahuyện, diện tích tự nhiên 1.772,86ha Dân số: 6.008 khẩu, có 11 dân tộc sinh sống gồmDân tộc Thái, Kinh, Giấy, Hoa, Mông, Dao, Lào, Lự, Kháng, Lô Lô và dân tộc khác.Mật độ dân số 399 người/km2

+ Phía Đông Bắc giáp xã Bình Lư huyện Tam Đường

+ Phía Nam giáp với xã Bình Lư huyện Tam Đường

+ Phía Đông giáp với xã Bình Lư huyện Tam Đường

+ Phía Tây Nam giáp với xã Bản Hon huyện Tam Đường

+ Phía Tây Bắc giáp xã Hồ Thầu huyện Tam Đường

- Địa hình: Chủ yếu thung lũng và đồi núi thấp đã hình thành cánh đồng Bình

Lư với diện tích lớn, đất đai mầu mỡ để chuyên canh lúa nước

- Khí hậu: Chịu ảnh hưởng chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa miền bắc ViệtNam

- Sông suối: Trên địa bàn có 1 hệ thống sông suối chính, phân bố đồng đều,nguồn nước dồi dào phù hợp cho việc phát triển nông lâm nghiệp theo hướng tập trungvới đa dạng các sản phẩm chất lượng cao

2 Tiềm năng phát triển

- Tiềm năng đất đai: Đất đai mầu mỡ thuận lợi cho phát triển nông, lâm nghiệp.Thị trấn nằm tiếp giáp với xã Bình Lư cùng có cánh đồng Bình Lư bằng phẳng, diệntích lớn thuận lợi để tạo vùng chuyên canh lúa nước

- Tiềm năng nguồn nước: Trên địa bàn có 1 hệ thống sông suối chính, nguồnnước dồi dào thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, thuỷ sản

- Tiềm năng về du lịch: Là trung tâm huyện nhưng thị trấn có Thác Thác Tình

đã được công nhận là thắng cảnh du lịch cấp tỉnh với cảnh quan đẹp, được mệnh danh

là thác nước đẹp nhất vùng Tây Bắc tạo điều kiện để phát triển du lịch và khám phá

Trang 21

Thác Tác Tình được mệnh danh là thác nước đẹp nhất khu vực Tây Bắc

Tác Tình” từ xưa đến nay vẫn được người dân gọi bằng cái tên thân thương nhưvậy, nó gắn liền với đời sống vật chất cũng như văn hoá bản địa thường ngày của đồngbào “Tác Tình” không chỉ đơn giản là tên một con thác mà còn là một truyền thuyếtmang âm hưởng tình ca của một đôi trai gái yêu nhau

Không biết từ bao giờ tên gọi “Tác Tình” đã hình thành và tồn tại trong tiềmthức của từng cư dân người Dao nói riêng và tất cả mọi người dân nơi đây nóichung.Theo tiếng Dao thì tác có nghĩa là nước từ trên cao đổ xuống, tình có nghĩa lànước từ trên thác đổ xuống tạo thành một vũng nước trên mặt đất (giống như một hồnhỏ)

Truyền thuyết kể lại rằng “Xưa kia, từ lâu lắm rồi không ai còn nhớ vào thời gian nào, tại một bản người dân tộc Dao dưới chân thác có một nàng Lở Lan xinh đẹp, vẻ đẹp của nàng được ví như những đoá Lan rừng – đẹp và ngào ngạt hương thơm Nàng đem lòng yêu một chàng trai trong bản, cả hai thương nhau và quấn quýt như con hươu, con nai trên rừng bên nhau sớm tối Nhưng hạnh phúc không được bao lâu thì tai hoạ đã ập xuống đầu hai người, tình yêu của họ đã gặp muôn vàn trắc trở, trông gai vì bị kẻ gian âm mưu hãm hại chia cách, không thể nên duyên chồng vợ Để giữ trọn tình yêu thuỷ chung của mình và lời thề ước giữa hai người, nàng Lở Lan đã trẫm mình xuồng dòng thác Cảm phục trước hành động của cô gái trẻ, người dân nơi đây đã đặt tên cho ngọn thác là thác Tác Tình để tưởng nhớ đến cô cùng với mong ước tác hợp cho chuyện tình của hai người”

Trang 22

- Tiềm năng dịch vụ: Nằm ở trung tâm huyện nơi có điều kiện giao thông thuậnlợi có trục quốc lộ 4D đi qua tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển dịch vụ, thương mạicũng như phát triển đồng bộ về cơ sở vật chất hạ tầng, kinh tế - văn hoá - xã hội

- Tiềm năng phát triển tiểu thủ công nghiệp: Nhân dân của thị trấn có truyềnthống phát triển các ngành nghề như: dệt thổ cẩm và sản xuất các ngành nghề truyềnthống ……

Nghề dệt truyền thống của đồng bào dân tộc Thái ở thị trấn Tam Đường

Tháng 10 năm 2004, thị trấn Tam Đường - thị trấn huyện lỵ huyện Tam Đườngđược thành lập trên cơ sở 2.300 ha diện tích tự nhiên và 4.456 người của xã Bình Lư

Quang cảnh trụ sơe làm việc các cơ quan của huyện

Trang 23

Khu trung tâm hành chính huyện lỵ

2 Xã Bình Lư

Bình Lư là một xã thuộc huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu, nước Việt Nam.Lịch sử hành chính: Tháng 1 năm 2002, xã Bình Lư chuyển từ huyện Phong Thổ vềhuyện Tam Đường mới thành lập Tháng 11 năm 2003, Quốc hội ra Nghị quyết trong

đó chia tỉnh Lai Châu thành tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên; huyện Tam Đườngthuộc tỉnh Lai Châu mới Tháng 10 năm 2004, 2.300 ha diện tích tự nhiên và 4.456người của xã Bình Lư được tách ra để thành lập thị trấn Tam Đường Xã Bình Lư cònlại 14.839 ha diện tích tự nhiên và 6.208 người Năm 2006, một phần diện tích và dân

số, bao gồm 10.936,6 ha diện tích tự nhiên và 2.292 người của xã Bình Lư được tách

ra để thành lập xã Sơn Bình

1 Đặc điểm tự nhiên, xã hội của xã

- Vị trí địa lý: Bình Lư là xã nằm ở phía đông nam huyện Tam Đường, diện tích

tự nhiên 4.580,86 ha Cách trung tâm huyện về Phía tây, Dân số: Xã có 1.049 hộ,4.409 khẩu, có 4 dân tộc sinh sống (Trong đó: Dân tộc thái 2.245 khẩu, chiếm 49%;Dân tộc kinh 1.427 khẩu, chiếm 32%; dân tộc giấy 463 khẩu, chiếm 10%; dân tộc Lự

420 khẩu, chiếm 9%) Mật độ dân số 103 người/km2

+ Phía Bắc giáp xã Trung Hồ Lèng, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai

+ Phía Nam giáp với xã Bản Hon, Nà Tăm, Khun Há huyện Tam Đường

+ Phía Đông giáp với xã Sơn Bình huyện Tam Đường

+ Phía Tây giáp với xã Hồ Thầu và thị trấn huyện Tam Đường

- Địa hình: Chủ yếu thung lũng và đồi núi thấp đã hình thành cánh đồng Bình

Lư với diện tích lớn, đất đai mầu mỡ để chuyên canh lúa nước

- Khí hậu: Chịu ảnh hưởng chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa miền bắc ViệtNam

- Sông suối: Trên địa bàn có 3 hệ thống sông suối chính, phân bố đồng đều,nguồn nước dồi dào phù hợp cho việc phát triển nông lâm nghiệp theo hướng tập trungvới đa dạng các sản phẩm chất lượng cao

Trang 24

2 Tiềm năng phát triển

- Tiềm năng đất đai: Đất đai mầu mỡ thuận lợi cho phát triển nông, lâm nghiệp.

Xã có cánh đồng Bình Lư bằng phẳng, diện tích lớn thuận lợi để tạo vùng chuyên canhlúa nước

Tập trung phát triển giống lúa Séng cù trên địa bàn xã Bình Lư

- Tiềm năng nguồn nước: Trên địa bàn có 3 hệ thống sông suối chính, nguồn

nước dồi dào thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, thuỷ sản và thuỷ điện vừa và nhỏ

- Tiềm năng về du lịch: Xã có động Tiên sơn với cảnh quan đẹp, suối nước nóng

tại khu vực bản Nà Đon với chất lượng nước tốt tạo điều kiện để phát triển du lịch

Trang 25

Thạch nhũ Động Tiên Sơn xã Bình lư

- Tiềm năng dịch vụ: Xã có điều kiện giao thông thuận lợi, tiếp giáp thị trấn

huyện Tam Đường thuận lợi cho phát triển dịch vụ, thương mại

- Tiềm năng phát triển tiểu thủ công nghiệp: Nhân dân trong xã có truyền thống

phát triển các ngành nghề như: Làm miến dong, dệt thổ cẩm, sản xuất vật liệu xâydựng đặc biệt là sản xuất gạch và khai thác đá

Nghề sản xuất miến dong Bình Lư

Trang 26

Nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, bà con xã Bình Lư sáng tạo ra miến dongđậu xanh, đậu đen Sản phẩm miến mới này đang được khách hàng cả nước ưa chuộng,bởi khi nấu chín sợi miến mềm hơn và có mùi thơm của đỗ, khác với loại miến thôngthường trước đó Đây là cơ hội để địa phương xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu chosản phẩm miến dong Bình Lư Thời gian tới, xã Bình Lư tiếp tục vận động nhân dânchuyển đổi một số diện tích trồng lúa năng xuất thấp sang trồng dong để đảm bảonguồn nguyên liệu; phối hợp với các đơn vị đẩy nhanh tiến độ thực hiện các quy trìnhcấp mã vạch cho sản phẩm; chỉ đạo nhân dân thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệmôi trường, cam kết sản xuất đảm bảo an toàn thực phẩm Để sản phẩm miến dongtrên địa bàn xã có thể vươn tới tất cả các siêu thị trên phạm vi cả nước và các cửa hàngtạp hóa lớn nhỏ Có như vậy kinh tế của địa bàn mới ngày càng phát triển đảm bảo đờisống cho nhân dân.

- Có vị trí địa lý như sau:

+ Phía Bắc giáp xã Hồ Thầu huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu

+ Phía Nam giáp với xã Khun Há huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu

+ Phía Tây giáp với xã Bản Giang huyện Tam Đường và huyện Sìn Hồ

+ Phía Đông giáp với xã Bình Lư huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu

Trang 27

2 Địa hình

- Xã Bản Hon có địa hình đa dạng với nhiều đồi núi cao và thung lũng Địa hình

có độ dốc nghiêng từ 80 đến 150 tập trung ở các khu vực gần khu dân cư

3 Điều kiện tự nhiên

- Bản Hon nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa Khí hậu phân chia 2 mùa rõ rệtmùa mưa bắt đầu từ tháng 4 kết thúc vào tháng 9, mùa khô bắt đầu từ tháng 10 và kếtthúc vào tháng 3 năm sau

- Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22oC, nhiệt độ cao nhất trong năm là 35oC vànhiệt độ thấp nhất là dưới 60C

- Khí hậu: Chịu ảnh hưởng biến đổi khí hậu toàn cầu thời tiết phức tạp, liên tụcxảy ra các đợi rét đậm Bản Hon cũng giống như các xã thuộc vùng núi phía Bắcthường xuyên xảy ra sương mù và sương muối

4 Tài nguyên thiên nhiên

4.1 Tài nguyên đất

- Xã Bản Hon có tổng diện tích đất tự nhiên là 5.443,06 ha chiếm 7,91% tổngdiện tích đất của huyện Tam Đường Trong đó nhóm đất nông nghiệp có diện tích4.322,12,61 ha, chiếm 79,41%, nhóm đất phi nông nghiệp 162,57 ha, chiếm 2,99% vàđất nhóm đất chưa sử dụng diện tích 958,37 ha chiếm 17,61% tổng diện tích tự nhiêncủa xã Xã có các loại đất chủ yếu sau:

- Đất mùn nâu đỏ, nâu vàng phát triển trên núi cao

- Đất đỏ vàng phát triển trên núi thấp, cấu tạo bởi đá Granit

- Đặc biệt trên địa bàn xã Bản Hon có các khu vực mỏ đất hiếm phân bố chủ yếutại các bản: Đông Pao I, bản Đông Pao II, bản Thẳm, bản Bãi Trâu, bản Nà Khum códiện tích rất lớn

Mỏ đất hiếm tại xã Bản Hon huyện Tam Đường

Trang 28

4.2 Tài nguyên nước: Trên địa bàn xã nguồn nước mặt chủ yếu là nước ở các

khe suối và các mó nước Có hai con suối khá lớn chảy qua địa bàn xã: Suối Nậm Honchảy từ bản Hoa Dì Hồ xuống Bản Hon và suối Nậm Mu chảy từ Xã Bản Giang sangđịa bàn xã Bản Hon Tuy nhiên do địa bàn có hiện tượng Caster, khả năng giữ nướckém cho nên lượng nước cung cấp cho sản xuất nông nghiệp bị hạn chế

4.3 Tài nguyên rừng

- Theo số liệu thống kê, năm 2011 xã Bản Hon có tổng diện tích đất lâm nghiệp

là 3.616,6 ha chiếm 66,44% diện tích đất tự nhiên

Trong đó, đất rừng sản xuất là 2.447,6 ha chiếm 44,97%, đất rừng phòng hộ là1.169 ha chiếm 21,48%

Độ che phủ rừng của xã Bản Hon là 66%

4 Tài nguyên khoáng sản

- Trong xã hiện có mỏ đất hiếm có diện tích rất lớn, phân bố tại: Đông Pao I,Đông Pao II, Bản Thẳm, Bãi Trâu, Nà Khum, hiện tại chưa được khai thác, chưa cóquy hoạch vùng khai thác và các cơ sở chế biến sản xuất

- Ngoài ra xã còn có mỏ đá (đen) hiện tại vẫn đang được công ty T&Q khai thácvới quy mô lớn, với diện tích khoảng 15 - 20 ha Tập trung chủ yếu ở Bản Thẳm

5 Tiềm năng phát triển

- Về đất đai: Diện tích đất nông nghiệp lớn với hệ thống nước tưới tiêu đáp ứngnhu cầu sản xuất, là điều kiện và tiềm năng cho phát triển nông lâm nghiệp theo hướngchuyên canh hàng hóa

Vườn cam của bà con nhân dân xã Bản Hon

Trang 29

- Tiềm năng nguồn nước: Trong xã có nhiều hệ thống khe suối có trữ lượngnước khá dồi dào, có 2 con suối tương đối lớn: Suối Nậm Hon chảy từ bản Hoa Dì Hồxuống Bản Hon và suối Nậm Mu chảy từ Xã Bản Giang sang địa bàn xã Bản Hon,cùng với hệ thống thủy lợi đã được đầu tư lớn là tiềm năng để phát triển nông nghiệp

và phục vụ sinh hoạt của người dân trên địa bàn xã

- Tiềm năng phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Trên địa bàn xã cótiềm năng về khai thác vật liệu xây dựng (đá, cát xây dựng, khai thác khoáng sản (Đấthiếm), khu công nghiệp Pu Sam Cáp và phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp,trong giai đoạn tới cần khai thác tạo thành những khu vực khoáng sản mang giá trịhàng hóa

- Tiềm năng du lịch: Du lịch văn hóa và sinh thái cũng là tiềm năng của xã Khu

du lịch cộng đồng Bản Hon là một trong khu du lịch sinh thái đẹp, cùng với phát triểncác mặt hàng truyền thống cần được quan tâm phát triển mang lại hiệu quả kinh tế caotrong giai đoạn tới

- Tiềm năng về nguồn lao động: Dân số đông với nguồn lao động dồi dào, chấtlượng nguồn lao động cơ bản tốt, người dân chăm chỉ, sáng tạo trong lao động sản xuất

là cơ sở quan trọng để phát triển kinh tế xã hội

Trang 30

- Phía Bắc giáp xã Sơn Bình, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu

- Phía Nam giáp huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu

- Phía Đông giáp huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai

- Phía Tây giáp xã Nà Tăm và Khun Há, huyện Tam Đường, tỉnh Lai ChâuTrên địa bàn xã có quốc lộ 32 đi qua, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại vàphát triển kinh tế xã hội

2 Địa hình

Xã Bản Bo được chia thành 2 vùng rõ rệt:

- Khu vực vùng thấp có độ cao từ 500 – 800m, chiếm 2/3 diện tích tự nhiên của

xã, tập trung chủ yếu từ Quốc lộ 32 đến khu vực giáp ranh với xã Khun Há và huyệnTân Uyên, đây là vùng có tiềm năng phát triển sản xuất nông nghiệp

- Khu vực đồi núi cao chủ yếu tập trung ở phía Đông Bắc, có độ cao từ 1.100 –2.200m, đây là khu vực có địa hình tương đối phức tạp nên tập trung chủ yếu cho pháttriển lâm nghiệp

3 Điều kiện tự nhiên

Xã Bản Bo nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa pha lẫn á nhiệt đới

- Nhiệt độ trung bình năm từ 24 – 260C, nhiệt độ cao nhất trong năm là 350C vànhiệt độ thấp nhất là 6 - 80C

- Lượng mưa trung bình hàng năm lớn, trung bình 2.600 mm/năm, cao nhất3.600 mm/năm, thấp nhất 1.800 mm/năm Lượng mưa phân bố không đều, tập trungchủ yếu vào các tháng 5, tháng 6, tháng 7 và tháng 8

- Độ ẩm không khí trung bình là 85%, độ ẩm thấp nhất là 58% Số giờ nắngtrung bình 1900 giờ/năm

- Bản Bo cũng giống như các xã thuộc vùng núi phía Bắc thường xuyên xảy rasương mù và sương muối Sương mù xuất hiện khoảng 15 ngày/năm

4 Tài nguyên thiên nhiên

4.1 Tài nguyên đất

Trang 31

Xã Bản Bo có tổng diện tích đất tự nhiên là 7.638,94 ha chiếm 11,11% diện tíchđất của huyện Tam Đường Trên địa bàn xã có rất nhiều loại đất khác nhau, trong đóchủ yếu là đất phù sa bồi tụ, đất feralit biến đổi phân bố chủ yếu ở các khu vực trồnglúa nước, đất feralit đỏ vàng và vàng nhạt, đất mùn trên núi cao… Nhìn chung, tínhchất đất ở đây khá thuận lợi cho việc phát triển cây công nghiêp và cây hàng năm

4.2.Tài nguyên nước

Xã có nguồn nước khá dồi dào phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất, chủ yếu từcác hệ thống suối, khe và các mó nước trên toàn xã Hệ thống suối cung cấp nước cho

xã là các con suối: Nậm Mu, Nậm Tàng và Nà Sẳng

Trên địa bàn huyện Tam Đường nói chung và xã Bản Bo nói riêng, lượng nướcdưới đất chưa được thăm dò đánh giá cụ thể về trữ lượng Tuy nhiên, do đặc điểm địachất tại khu vực này có hiện tượng Caster nên khả năng giữ nước bị hạn chế rất nhiều

4.3.Tài nguyên rừng

Theo số liệu thống kê diện tích rừng năm 2011, xã Bản Bo có tổng diện tích đấtlâm nghiệp là 4.809,46 ha chiếm 62,95% diện tích đất tự nhiên Trong đó, đất rừng sảnxuất là 1.344,2 ha chiếm 17,59 %, đất rừng phòng hộ là 3.465,26 ha chiếm 45,36 %

4.4 Tài nguyên khoáng sản

Trên địa bàn xã hiện nay chưa có điểm mỏ khai thác khoáng sản nào có giá trịcao trong công nghiệp Theo số liệu điều tra nghiên cứu khu vực xã có 2 mỏ cát lớnnằm ở bản Nà Can, Nà Ly và 4 mỏ đá ở bản Hưng Phong Khai thác vật liệu xây dựng

là lợi thế chủ yếu để phát triển công nghiệp trên địa bàn xã, hàng năm cung cấp hàngngàn mét khối cát, đá cho nhu cầu xây dựng trên địa bàn xã Bản Bo nói riêng và huyệnTam Đường nói chung

Khai thác vật liệu xây dựng tại xã Bản Bo

Trang 32

4.5.Tài nguyên nhân văn

Hiện nay toàn xã có 4.663 nhân khẩu với 944 hộ và có 8 dân tộc anh em sinhsống là dân tộc Kinh, dân tộc Thái, dân tộc Mông, dân tộc Giáy, dân tộc Kháng, dântộc Lào, dân tộc Lự và dân tộc Dao Mỗi dân tộc đều có phong tục, tập quán riêng vàđược lưu giữ qua nhiều thế hệ, đã tạo nên đời sống văn hóa, lễ hội phong phú trongvùng Các dân tộc luôn đoàn kết, cần cù và sáng tạo trong lao động, tin tưởng vào sựlãnh đạo của Đảng, cùng giúp nhau phát triển kinh tế, bài trừ và xóa bỏ dần các hủ tục,

tệ nạn xã hội để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân

Bình quân là 4 - 5 khẩu/hộ Mật độ dân số trung bình là 58 người/km2 Tổng sốlao động trong toàn xã là 2.422 người chiếm 54,5 % tổng dân số xã, trong đó làm việctrong lĩnh vực nông, lâm nghiệp 2.302 người, chiếm 95,45% trong tổng số lao động

5 Tiềm năng phát triển

- Tiềm năng đất đai: Đất đai màu mỡ thuận lợi cho sự phát triển nông lâmnghiệp, diện tích đất nông nghiệp lớn với hệ thống nước tưới tiêu đáp ứng nhu cầu sảnxuất, có tiềm năng để sản xuất nông nghiệp theo hướng chuyên canh hàng hóa, hìnhthành vùng sản xuất các mặt hàng nông sản chu lực như chè, ngô…

- Tiềm năng nguồn nước: Trong xã có nhiều hệ thống suối và khe suối có trữlượng nước dồi dào cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt

- Tiềm năng phát triển dịch vụ: Là xã cửa ngõ của huyện Tam Đường, với hệthống giao thông thuận lợi là tiềm năng lớn để phát triển thương mại dịch vụ, giaothương hàng hóa với các khu vực phụ cận

- Tiềm năng phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Trên địa bàn xã cótiềm năng về khai thác vật liệu xây dựng, chế biến gỗ

- Tiềm năng về nguồn lao động: Dân số đông với nguồn lao động dồi dào, ngườidân chăm chỉ, sáng tạo trong lao động sản xuất là cơ sở để phát triển kinh tế xã hội

Nhìn chung điều kiện tự nhiên (đất đai, khí hậu, hệ thống thủy văn) xã Bản Bothuận lợi cho việc phát triển Nông – Lâm – Ngư nghiệp theo hướng tập trung, đa dạngcác loại hình sản phẩm

Xã Bản Bo có tổng số diện tích theo km2 là 76,63 km², tổng số dân vào năm

1999 là 3492 người, mật độ dân số tương ứng 46 người/km²

Trang 33

Tổng Bí thư- Chủ tịch nước: Nguyễn Phú Trọng thăm đồi chè xã Bản Bo Tam Đường

5 Xã Sơn Bình

1 Vị trí địa lý:

Sơn Bình là xã cửa ngõ phía Đông Bắc thuộc huyện Tam Đường, có tổng diệntích tự nhiên là 10.829,14 ha Với 3.279 nhân khẩu và 9 dân tộc cùng sinh sống là:Kinh, Thái, Mông, Dao, Giấy, Hoa, Lô Lô, Lào mật độ dân cư là 30 người/km2 Cóđịa giới hành chính:

+ Phía Bắc giáp xã Bản Khoang, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

+ Phía Nam giáp xã Bản Bo, xã Nà Tăm, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.+ Phía Đông giáp xã San Xả Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

+ Phía Tây giáp xã Bình Lư, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu

Trên địa bàn xã có Quốc lộ 4D và 32 đi qua, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đilại và phát triển kinh tế xã hội

Lịch sử hành chính: Xã Sơn Bình được thành lập năm 2006 trên cơ sở điềuchỉnh 10.936,6 ha diện tích tự nhiên và 2.292 người của xã Bình Lư

2 Địa hình

Địa hình bị chia cắt lớn, chủ yếu là thung lũng và đồi núi cao Khu vực đồi núicao được phân bổ đều trong toàn xã có độ cao từ 1.100 tới 2.900 m Đây là vùng có

tiềm năng phát triển rừng và cây thảo quả 3 3 Điều kiện tự nhiên

Xã Sơn Bình nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa pha lẫn á nhiệt đới

Ngày đăng: 14/08/2020, 20:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w