1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÀI dự THI 75 năm LLVT TỈNH (bản DÀNH CHO bài CHẤT LƯỢNG)

51 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 10,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

®¸p ¸n chÊm thi PAGE BÀI DỰ THI TÌM HIỂU TRUYỀN THỐNG 75 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TỈNH NAM ĐỊNH Trên đất Nam Định, dấu tích con người ở thời kỳ này còn lưu lại ở các dãy núi thuộc huyệ.

Trang 1

BÀI DỰ THI TÌM HIỂU TRUYỀN THỐNG 75 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TỈNH NAM ĐỊNH

Trang 3

Trên đất Nam Định, dấu tích con người ở thời kỳ này còn lưu lại

ở các dãy núi thuộc huyện Vụ Bản và huyện Ý Yên nằm về phía tây bắccủa tỉnh Tại đây đã tìm thấy những chiếc rìu đá có vai mài lưỡi, các hònnghè, chày đá và bàn nghiền Đó là những dấu tích của những cư dânthuộc thời kỳ đồ đá mới hoặc sơ kỳ đồ đồng đã từ vùng rừng núi tiếnxuống khai phá vùng đồng bằng ven biển để sinh sống và dần dần tiếntới lập các làng xóm Vào lúc cực thịnh của thời kỳ đồ đá, ở tỉnh NamĐịnh cũng như nhiều địa điểm khác trên đất nước, đã nở rộ những nềnvăn hoá nguyên thuỷ Ngoài kinh tế hái lượm những sản phẩm sẵn cótrong tự nhiên, người nguyên thuỷ trên đất Nam Định đã bắt đầu sảnxuất nông nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm

Nằm trong cương vực nước Văn Lang của các Vua Hùng trải dài

từ miền trung du đến miền đồng bằng ven biển, vùng đất Nam Định khi

ấy tương đương với đất các huyện Vụ Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc, thành phốNam Định và phần phía bắc của huyện Nam Trực hiện nay Theo ngọcphả đền thờ Tam Bành ở thôn Bảo Ngũ, xã Quang Trung thì vào đời vuaHùng Vương, huyện Vụ Bản có tên là huyện Bình Chương thuộc bộ LụcHải, là một trong 15 bộ của nước Văn Lang Huyện Bình Chương lúc đónằm sát biển Tại đây có cửa biển Côi Sơn (Núi Gôi) mà dấu vết còn lạiđến ngày nay là địa danh cồn Dâu, cồn Cói ở các vùng quanh chân núi.Cùng với các nghề trồng lúa nước, trồng rau củ và hoa quả thì nhữngngành kinh tế khai thác vẫn giữ vai trò quan trọng Tại di chỉ núi Hổ,trong các di vật tìm được có nhiều mũi tên bằng đá và xương động vật.Cách đó không xa tại hang Lồ (núi Lê) cũng tìm thấy khá nhiều các loạixương thú khác nhau Săn bắn bổ sung nguồn thức ăn nhiều dinh dưỡngcho con người, đồng thời cung cấp da, xương, sừng cho một số nghề thủcông như chế tạo đồ trang sức, đồ dùng, vũ khí

Năm 1963, tại núi Mai Độ (còn gọi là núi Hình Nhân) thuộc xãYên Tân, huyện Ý Yên đã phát hiện một số hiện vật đồng có giá trị Núi

có 4 đỉnh, đỉnh cao nhất cao 52m Đây là núi đá có lẫn đất, không có câycao, trên mặt chỉ phủ một lớp cỏ mỏng Sườn phía đông có một khoảngđất tương đối bằng phẳng, rộng độ 2 sào, nguyên trước có một kiến trúctôn giáo không biết của đời nào vì đã bị phá hủy từ lâu Cách chân núi

về phía Tây 400m là thôn Mai Độ, phía Đông là thôn Mai Sơn, xungquanh núi là cánh đồng chiêm Các hiện vật đồng được phát hiện gồm códao, giáo và rìu

Sau khi nước Nam Việt bị nhà Tây Hán đánh chiếm vào năm 111TCN, đất nước bước vào một thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn một nghìnnăm Nam Định lúc đó nằm trong quận Giao Chỉ Do điều kiện thuận lợi

Trang 4

cho nghề trồng lúa nước, vùng đất Nam Định trở thành một trung tâmnông nghiệp từ rất sớm Trên cơ sở một nền văn hoá bản địa vững chắcthể hiện bản lĩnh, cá tính, lối sống và truyền thống mà cốt lõi là ý thứcđộc lập, tự chủ và tinh thần yêu quê hương, đất nước, cư dân Nam Định

cổ đã tiếp thu những yếu tố văn hoá mới, làm phong phú thêm văn hoátruyền thống Tuy nhiên, nét bao trùm lên lịch sử thời kỳ Bắc thuộc trênđất Nam Định vẫn là cuộc đấu tranh chống lại ách đô hộ và âm mưuđồng hoá của phong kiến ngoại bang, mà tiêu biểu là nhân dân NamĐịnh nói chung và đặc biệt là phụ nữ, đã hăng hái tham gia và nhanhchóng đứng dưới ngọn cờ nghĩa của Hai Bà Trưng (Đầu năm 40) chốnglại ách đô hộ của nhà Đông Hán Theo tư liệu lịch sử hiện có, Nam Định

có tới 20 tướng lĩnh cả nam lẫn nữ tham gia cuộc khởi nghĩa này Dấutích về các tướng lĩnh tham gia khởi nghĩa tập trung nhiều ở huyện VụBản, như: Lê Thị Hoa ở Phú Cốc, Chu Liên Hoa ở làng Vậy, DungNương và Phương Dung ở làng Cựu, Trần Cao Đạo ở làng Riềng, BùiCông Mẫn ở xã Trung Thành

Năm 542, Lý Bí nổi dậy khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhàLương Sau bốn năm chiến đấu anh dũng, cuộc khởi nghĩa giành đượcthắng lợi, Lý Bí lên ngôi, xưng Hoàng Đế, xây dựng nước Vạn Xuân độclập Đóng góp vào cuộc khởi nghĩa này, Nam Định có tướng quân Hoàng

Tề ở làng Lập Vũ (nay thuộc xã Hiển Khánh, huyện Vụ Bản) Ông được

Lý Bí phong chức Túc vệ tướng quân, ban gươm báu và luôn cho hầu bênmình Khi Lý Bí qua đời, Hoàng Tề theo Triệu Quang Phục

Sau khi Ngô Quyền mất, vùng hạ lưu sông Hồng khi đó chịu sựchi phối của sứ quân Trần Lãm Đất Nam Định dần trở thành nơi hội tụ

và đối đầu quyết liệt của hào khí bốn phương, trong danh sách 12 sứquân, rất nhiều vị tướng nhà Đinh và các sứ quân như: Trần Lãm, LãĐường, Ngô Nhật Khánh, Nguyễn Khoan, Phạm Bạch Hổ được thờ ởđây Đinh Bộ Lĩnh - người anh hùng "tài năng sáng suốt hơn người,dũng cảm mưu lược nhất đời", tự nhận về mình sứ mệnh thiêng liêngdẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước - không thể không tìm về vùngđất duyên hải cửa sông này

Dưới thời Lý, Trần, Nam Định không những là một cửa ngõ của

cả vùng châu thổ sông Hồng mà còn là một trung tâm kinh tế quantrọng Các vua Lý đã dành sự quan tâm đặc biệt cho vùng đất này Quacác tư liệu lịch sử, ta biết trên đất Nam Định xưa, nhà Lý đã cho xây ítnhất hai hành cung làm nơi cho vua dừng chân nghỉ lại trong những lần

đi kinh lý vùng đất này

Trang 5

Do vị trí trọng yếu, Nam Định trở thành một trong những nơigiao tranh quyết liệt Năm 1203, quân nổi loạn do Phí Lang và BảoLương cầm đầu từ Đại Hoàng (Ninh Bình) xuôi theo sông Đáy đến đấtNam Định, mở rộng hoạt động ra vùng hạ lưu Sự rối loạn lên đến cựcđiểm vào năm 1208, khi trong nước "người chết đói nằm chồng chất lênnhau" Đúng lúc triều Lý bất lực trong việc điều hành đất nước, vùng đấtNam Định lại là nơi hưng khởi của nhà Trần, một triều đại đầy sức sống

đã đưa quốc gia Đại Việt phát triển hưng thịnh và ba lần đánh thắngquân Nguyên - Mông Đời Trần được gọi là lộ Thiên Trường, sau lạichia làm ba lộ: Kiến Xương, An Tiêm, Hoàng giang

Tháng 4-1407, Minh Thành Tổ hạ chiếu đổi nước ta làm quậnGiao Chỉ - như một địa phương của quốc gia phong kiến nhà Minh.Bằng hành động này, nhà Minh đã bộc lộ rõ ý đồ không chỉ chiếm đóng

mà còn vĩnh viễn xóa bỏ nước ta, sáp nhập hẳn vào đế quốc Minh nhưtên gọi và đơn vị hành chính mà các đế chế đô hộ phương Bắc đã dùng

từ nửa thiên niên kỷ trước

Dưới quận, nhà Minh chia ra làm 15 phủ Phần đất Nam Định lúc

ấy thuộc hai phủ Kiến Bình và Phụng Hóa Phủ Phụng Hóa tương đươngvới phủ Thiên Trường cuối thể kỷ XIV, gồm bốn huyện là Mỹ Lộc, TâyChân, Giao Thủy và Thận Uy Bốn trong số chín huyện thuộc phủ KiếnBình thuộc về đất Nam Định là Ý Yên, An Bản, Vọng Doanh và ĐạiLoan Cả hai phủ thuộc tỉnh Nam Định đều bị nhà Minh đổi tên KiếnHưng đổi thành Kiến Bình với ý nghĩa xây dựng, kiến lập sự yên ổn,vững chắc, Thiên Trường đổi thành Phụng Hóa hàm ý tuân theo sự giáohóa, cải hóa của nhà Minh

Đời Lê, thuộc xứ Sơn Nam, đến niên hiệu Cảnh Hưng thứ 2 năm

1741, vùng đất này thuộc lộ Sơn Nam Hạ Nhà nước thời Lê sơ rất quantâm đến việc nông trang nói chung, công cuộc khai hoang mở rộng diệntích canh tác nói riêng bằng hàng loạt chính sách, nhất là dưới thời HồngĐức Cùng với hoạt động khẩn hoang tự nguyện của những người nôngdân, chính quyền trung ương nhà Lê cũng đặc biệt chú trọng đến việc tổchức khẩn hoang dưới hình thức đồn điền ở phía Nam khu vực sôngHồng, trong đó có Nam Định Khó có thể thống kê, khảo sát, xác địnhđược đầy đủ những đồn điền thời Lê sơ đã từng có ở Nam Định Ngoài

lý do thời gian đã quá lâu, còn có nhiều nguyên nhân chủ quan, kháchquan khác Cư dân đầu tiên của các đồn điền này trước hết và chủ yếu làcác binh lính, tù binh, tội nhân Họ ít và khó có điều kiện ghi chép đểtruyền lại cho đời sau về lịch sử khai hoang lập làng Tuy nhiên căn cứvào các nguồn tài liệu chính thống của nhà nước phong kiến như chính

Trang 6

sử, điền bạ…có thể thấy vùng Nam Định tập trung khá nhiều đồn điềnnhư: Sở Vĩnh Hưng (thuộc vùng của tổng Cổ Nông, Trực Ninh) SởĐông Hải (nơi có các thôn Đắc Sở, Thượng Đồng, Hạ Đồng thuộc TrựcNinh) Sở Hoa Diệp (thuộc vùng Phượng Để, Cổ Lễ, Trực Ninh) SởVọng Doanh (nằm trong vùng các xã Yên Quang, Yên Bằng, YênKhang thuộc Ý Yên)

Sự trù mật của các đồn điền ở ven cửa biển vùng Giao Thủy, bên

đê sông Hồng, sông Đáy tự đã làm nổi bật lên vị trí và vai trò đặc biệtquan trọng của vùng đất phủ Thiên Trường với nhà nước thời Lê sơ, vớiquốc gia Đại Việt nửa sau thế kỷ XV Nửa sau thế kỷ XV, trên vùng venbiển Nam Định chứng kiến một công trình kết tinh thành quả lao động tolớn của nhân dân Đại Việt Đó là việc khởi công và hoàn thành đê HồngĐức, một con đê ngăn nước mặn có quy mô lớn đầu tiên của vùng châuthổ Với sự đầu tư, quan tâm của trung ương và địa phương như vậy,công cuộc đắp đê ở vùng biển Nam Định, Ninh Bình thời Lê sơ đã đượctiến hành với tốc độ nhanh quy mô lớn Trên địa bàn Nam Định quanhững dấu tích còn lại thì thấy đê Hồng Đức kéo dài từ cửa Đại An, quaphần bắc Nghĩa Hưng, rồi Hải Hậu về đến Hội Khê Nhiều đoạn gầntrùng với con đường 56 hiện nay

Cùng với sự phát triển nho học của cả nước, giáo dục nho học ởNam Định thế kỷ XV có bước phá triển mới Ngay sau khi kết thúcchiến tranh, vào năm 1428, nhà Lê đã cho mở các trường học ở phủ, lộ.Điều đáng chú ý là trong thời Lê sơ, sự phát triển của nho học ở NamĐịnh không chỉ diễn ra trên các vùng đất cổ như Ý Yên, Vụ Bản hay tạivùng xung quanh ấp thang mộc của nhà Trần như Lộc Vượng, mà còn ở

cả địa bàn ven biển, nơi các làng mạc mới được hình thành Trong vòng

100 năm của thời Lê sơ, Nam Định có đến 22 tiến sĩ, đại bộ phận số đạikhoa này đều đỗ vào nửa sau thế kỷ XV, cho nên có thể nói Nho học ởNam Định đã thực sự có bước phát triển mới từ sau sự kiện Lương ThếVinh đỗ trạng nguyên (1463) Ngoài con số các trạng nguyên tiến sĩ kểtrên, biểu hiện quan trọng của thành tựu giáo dục nho học vùng NamĐịnh, điều đáng nói ở chỗ không ít vị đại khoa đã trở thành những nhânvật tiêu biểu cho trí tuệ, tài năng Đại Việt thế kỷ XV nói riêng, lịch sửdân tộc nói chung

Dưới triều Nguyễn, năm 1822 (Minh Mạng thứ 3) đổi tên trấn SơnNam Hạ thành trấn Nam Định Đến năm Minh Mạng 13 (1832) đổi trấnNam Định thành tỉnh Nam Định (tỉnh Nam Định được thành lập), với 4phủ, 18 huyện, bao gồm phần đất tỉnh Thái Bình hiện nay Năm 1890, TháiBình tách ra thành tỉnh riêng Nam Định còn lại 2 phủ và 9 huyện

Trang 7

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, các đơn vị hành chính trongtỉnh luôn có sự thay đổi Năm 1953, 7 xã ở phía Bắc sông Đào thuộchuyện Nghĩa Hưng được cắt nhập vào huyện Ý Yên Đồng thời, 3 huyện:

Mỹ Lộc, Vụ Bản, Ý Yên của tỉnh Nam Định nhập vào tỉnh Hà Nam

Đến tháng 4 năm 1956, 3 huyện này lại được cắt trả cho NamĐịnh Tháng 5 năm 1965, tỉnh Nam Định được hợp nhất với tỉnh HàNam thành tỉnh Nam Hà Theo cách đặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tênđảo ngược hai chữ là Nam Hà thành Hà Nam Ngày 13 tháng 6 năm

1967, 2 huyện Giao Thủy và Xuân Trường hợp thành huyện Xuân Thủy;huyện Mỹ Lộc nhập vào thành phố Nam Định Ngày 26 tháng 3 năm

1968, 7 xã phía Nam sông Ninh Cơ thuộc huyện Trực Ninh nhập vớihuyện Hải Hậu, 2 huyện Trực Ninh và Nam Trực nhập thành huyệnNam Ninh Năm 1975, Nam Hà hợp nhất với tỉnh Ninh Bình thành tỉnh

Hà Nam Ninh Đến ngày 12 tháng 8 năm 1991, lại chia tách thành 2 tỉnhNam Hà và Ninh Bình

Ngày 6 tháng 11 năm 1996, tách tỉnh Nam Hà để tái lập 2 tỉnhNam Định và Hà Nam Khi tách ra, tỉnh Nam Định có 7 đơn vị hànhchính gồm thành phố Nam Định và 6 huyện: Hải Hậu, Nam Ninh, NghĩaHưng, Vụ Bản, Xuân Thủy, Ý Yên Sau đó, trong nội bộ tỉnh Nam Định,các huyện hợp nhất trước đây lại chia tách và tái lập như cũ, đó là: XuânTrường, Trực Ninh, Giao Thủy, Nam Trực và tái lập huyện Mỹ Lộc(gồm 10 xã) Như vậy đến nay, tỉnh Nam Định có 11 đơn vị hành chính,bao gồm: 1 thành phố và 10 huyện

Địa hình Nam Định có thể chia thành 3 vùng:

Vùng đồng bằng thấp trũng: gồm các huyện Vụ Bản, Ý Yên, MỹLộc, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường Đây là vùng có nhiều khảnăng thâm canh phát triển nông nghiệp, công nghiệp dệt, công nghiệpchế biến, công nghiệp cơ khí và các ngành nghề truyền thống

Vùng đồng bằng ven biển: gồm các huyện Giao Thủy, Hải Hậu

và Nghĩa Hưng; có bờ biển dài 72 km, đất đai phì nhiêu, có nhiều tiềmnăng phát triển kinh tế tổng hợp ven biển

Vùng trung tâm công nghiệp - dịch vụ thành phố Nam Định: cócác ngành công nghiệp dệt may, công nghiệp cơ khí, công nghiệp chếbiến, các ngành nghề truyền thống, các phố nghề…cùng với các ngànhdịch vụ tổng hợp, dịch vụ chuyên ngành hình thành và phát triển từ lâu.Thành phố Nam Định là một trong những trung tâm công nghiệp dệt,công nghiệp nhẹ của cả nước và trung tâm thương mại - dịch vụ phíaNam của đồng bằng sông Hồng TP Nam Định là đô thị lớn thứ ba trên

Trang 8

toàn miền Bắc chỉ sau Hà Nội và Hải Phòng từ xưa đến nay Nam Định

có bờ biển dài 72 km có điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi và đánh bắthải sản Ở đây có khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia Xuân Thủy (huyệnGiao Thủy) và có 4 cửa sông lớn: cửa Ba Lạt sông Hồng, cửa Đáy sôngĐáy, cửa Lạch Giang sông Ninh Cơ và cửa Hà Lạn sông Sò

Tỉnh Nam Định có 2 trong số 5 khu vực đa dạng sinh học đượcUNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới châu thổ sôngHồng, 2 khu vực còn lại thuộc Thái Bình và Ninh Bình Khu dự trữ sinhquyển châu thổ sông Hồng nằm trên địa bàn các xã ven biển thuộc 3 tỉnhThái Bình, Nam Định và Ninh Bình đã được UNESCO công nhận là khu

dự trữ sinh quyển thế giới từ năm 2004 với những giá trị nổi bật toàn cầu

về đa dạng sinh học và có ảnh hưởng lớn đến sự sống của nhân loại Khu

dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng là một trong 8 khu dự trữ sinhquyển thế giới ở Việt Nam Tại Nam Định, phạm vi do UNESCO côngnhận gồm 2 tiểu vùng nằm ở cửa Ba Lạt và cửa Đáy

Vườn quốc gia Xuân Thủy thuộc các xã Giao Thiện, Giao An,Giao Lạc, Giao Xuân của huyện Giao Thủy Rừng phòng hộ ven biểnNghĩa Hưng thuộc các xã: Nghĩa Thắng, Nghĩa Phúc, Nghĩa Hải, NghĩaLợi; thị trấn Rạng Đông, xã Nam Điền huyện Nghĩa Hưng Khu dự trữsinh quyển châu thổ sông Hồng ở 3 tỉnh Thái Bình, Nam Định, NinhBình là khu dự trữ sinh quyển thế giới Cũng như các tỉnh trong vùngđồng bằng Bắc Bộ, Nam Định mang khí hậu cận nhiệt đới ẩm ấm Nhiệt

độ trung bình trong năm từ 23 - 24 °C Tháng lạnh nhất là các tháng 12

và 1, với nhiệt độ trung bình từ 16 - 17 °C Tháng 7 nóng nhất, nhiệt độkhoảng trên 29 °C Lượng mưa trung bình trong năm từ 1,750 - 1,800

mm, chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa ítmưa từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau Số giờ nắng trong năm: 1,650 -1,700 giờ Độ ẩm tương đối trung bình: 80 - 85% Mặt khác, do nằmtrong vùng vịnh Bắc Bộ nên hàng năm Nam Định thường chịu ảnhhưởng của bão hoặc áp thấp nhiệt đới, bình quân từ 4 - 6 cơn/năm Thuỷtriều tại vùng biển Nam Định thuộc loại nhật triều, biên độ triều trungbình từ 1,6 -1,7 m; lớn nhất là 3,31 m và nhỏ nhất là 0,11 m

Tỉnh Nam Định gồm có 1 Thành phố và 09 huyện: 229 đơn vịhành chính cấp xã gồm 194 xã, 20 phường và 15 thị trấn Thành phốNam Định: 20 phường và 5 xã; Giao Thủy: 2 thị trấn và 20 xã; Hải Hậu:

3 thị trấn và 32 xã; Mỹ Lộc: 1 thị trấn và 10 xã; Nam Trực: 1 thị trấn và

19 xã; Nghĩa Hưng: 3 thị trấn và 22 xã; Trực Ninh: 2 thị trấn và 19 xã;

Vụ Bản: 1 thị trấn và 17 xã; Xuân Trường: 1 thị trấn và 19 xã; Ý Yên: 1thị trấn và 31 xã

Trang 9

Nam Định có Bản đồ hành chính tỉnh Nam Định

Văn hóa truyền thống: Chợ Viềng ở huyện Vụ Bản mỗi năm cómột phiên vào ngày 8 tháng giêng Tết Âm lịch hằng năm Chợ ViềngNam Giang (Thị trấn Nam Giang, Nam Trực) vào ngày 7 tháng giêng(ÂL) hằng năm Sơn mài Cát Đằng (xã Yên Tiến, huyện Ý Yên) Lễkhai ấn Đền Trần vào đêm ngày 14 tháng giêng (ÂL) Nhà hát ChèoNam Định là một trung tâm văn hóa lớn của tỉnh, nằm trên đườngNguyễn Du, cạnh nhà văn hóa 3/2 thành phố Nam Định Nhà văn hóa3/2 là nơi tổ chức những sự kiện văn hóa lớn của cả tỉnh cạnh Quảngtrường Vị Xuyên

Di tích lịch sử Hành cung Thiên Trường:

Đền Trần là khu đền thờ các vị vua đời Trần nằm trên địa phậnphường Lộc Vượng, thành phố Nam Định Nơi đây vào đúng giờ Tý rằmtháng Giêng âm lịch có lễ Khai Ấn Tương truyền các vua Trần nghỉ tết

âm lịch hàng năm đến rằm tháng Giêng thì Khai Ấn trở lại quốc sự LễKhai Ấn hàng năm rất nhiều khách các tỉnh về Nam Định dự và xin lộcvua Trần

Trang 10

Đền An Lá (còn gọi là đình Cả), nằm trên mảnh đất rộng hơn 3000

m2, xung quanh là cánh đồng thuộc thôn An Lá, xã Nghĩa An, huyện NamTrực, cách trung tâm thành phố Nam Định gần 4 km theo tỉnh lộ 490C(quốc lộ 55 cũ) Đền thờ ông Nguyễn Tấn, một danh tướng thời Đinh Lễhội hàng năm tổ chức vào ngày 9-12/3 (ÂL) hàng năm Lễ hội chính vàongày 10-3 âm lịch Phủ Dầy thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh Đền Bảo Lộc thờTrần Hưng Đạo và An sinh vương Trần Liễu

Trang 11

Phủ Quảng Cung (Phủ Nấp) thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh, giángsinh lần thứ nhất ở xã Yên Đồng, Ý Yên Di tích thờ 12 sứ quân có rấtnhiều ở Nam Định cùng với các tướng nhà Đinh Trong số các vị đượcthờ có rất nhiều vị đến đây từ các vùng đất khác nhau Những dấu tíchcho thấy ở đây chính là vùng chịu sự ảnh hưởng và địa bàn gây dựng lựclượng của nhiều sứ quân hay các vị "hùng trưởng" khác như Phạm Bạch

Hổ, Kiều Công Hãn, Lã Đường, Ngô Nhật Khánh, Nguyễn Khoan, TrầnLãm dần dần trở thành nơi hội tụ và đối đầu quyết liệt của hào kiệt bốnphương

Chùa Keo Hành Thiện: Cách Hà Nội 108 km về phía nam, thẳngcầu Đò Quan 18 km, đến Làng Hành Thiện, Xã Xuân Hồng, huyện XuânTrường, tỉnh Nam Định Ở đây có một di tích lịch sử được xếp hạng của

Bộ văn hóa là Chùa Keo (Hành Thiện) – "Thần Quang Tự" được xâydựng năm 1062 vào thờ nhà Lý Ngoài ra còn có khu nhà ở của bácTrường Chinh Chùa Cổ Lễ nơi thiền sư Nguyễn Minh Không trụ trì(cùng với các thiền sư Từ Đạo Hạnh và Giác Hải là Nam thiền tam tổ)

Trang 12

Quần thể di tích thờ Vua Đinh ở Nam Định gồm Đền Vua Đinh(Yên Thắng), đền Thượng, đình Thượng Đồng, đình Cát Đằng ở YênTiến, Ý Yên và đền Vua Đinh ở làng việt cổ Bách Cốc, Vụ Bản.

Tháp chuông chùa Phổ Minh ngày trước có vạc Phổ Minh là mộttrong An Nam tứ đại khí, chùa Vọng Cung Phố cổ Thành Nam, ThànhNam Định, Cột cờ Nam Định, Mộ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến,tại núi Phương Nhi, xã Yên Lợi phía bắc huyện Ý Yên Mộ nhà thơ TúXương, tại Công viên Vị Xuyên, thành phố Nam Định

Ở tỉnh Nam Định có nhiều di tích tín ngưỡng thờ quốc sư MinhKhông thời Lý như: chùa Cổ Lễ (Trực Ninh), chùa Xuân Trung (XuânTrường) Ở Ý Yên, Thánh tổ nghề đúc đồng Nguyễn Minh Không đượcthờ ở đình Cổ Hương xã Yên Phương; đình Phúc Thọ xã Yên Thành và

Trang 13

đền Tống Xá xã Yên Xá Ông còn được phối thờ cùng Lý Thần Tông vàGiác Hải tại chùa Nghĩa Xá ở xã Xuân Ninh Xuân Trường Lễ hội chợViềng hàng năm gắn liền với việc thờ ông Nguyễn Minh Không, ông tổđúc đồng, nên trước đình ông Khổng, người dân thường bày bán đồđồng, đồ sắt Làng Tức Mặc, phường Lộc Vượng, thành phố Nam Địnhxưa là phủ Thiên Trường là quê hương của các vua nhà Trần, một trongnhững triều đại lừng danh nhất trong lịch sử Việt Nam với chiến tích 3lần chiến thắng Nguyên Mông.

Trang 14

Câu 1: Lực lượng vũ trang tỉnh Nam Định được thành lập ngày, tháng, năm nào? Bạn (đồng chí) cho biết hoàn cảnh ra đời, ý nghĩa của sự kiện này; kể tên các đồng chí chỉ huy đầu tiên?

Những năm đầu của thế kỷ XX, công cuộc khai thác thuộc địa củathực dân Pháp đã tác động sâu sắc đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hộicủa cả nước nói chung và Nam Định nói riêng Nông dân Nam Địnhchiếm gần 90% dân số là hình ảnh điển hình, đặc trưng của người nôngdân Bắc Kỳ Họ bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột nặng nề Ruộngđất, tư liệu sản xuất chủ yếu bị thực dân, địa chủ chiếm đoạt gần hết.Nông dân các huyện ý Yên, Vụ Bản, Mỹ Lộc-nơi vùng đồng bào chiêmtrũng còn cực khổ hơn, quanh năm trong cảnh sống ngâm da, chếtngâm sương với một vụ chiêm thất bát và đói nghèo bám riết Nông dântheo đạo Thiên Chúa còn bị Nhà chung lợi dụng thần quyền, giáo lý bóclột thậm tệ Họ sống trong cảnh đói nghèo lay lắt, tha phương cầu thực(ngay từ đầu thế kỷ XX, mỗi năm có hàng ngàn người rời bỏ quê hương

đi vào hầm mỏ, công trường, đồn điền cao su hoặc chuyển cư lên cáctỉnh Yên Bái, Phú Thọ, Bắc Giang, Thái Nguyên) Vì vậy, họ căm thùsâu sắc bè lũ thực dân phong kiến, hăng hái dưới sự lãnh đạo củaĐảng bộ, đóng vai trò chủ lực trong đấu tranh cách mạng và trong khángchiến chống thực dân Pháp

Cùng với quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp trên địabàn Nam Định, đội ngũ công nhân sớm ra đời và ngày càng phát triển

Số lượng công nhân trong các ngành công nghiệp, dịch vụ, giao thông,vận tải, xây dựng có khoảng 1,5 vạn người Hầu hết công nhân sốngtập trung ở thành phố Nam Định - một trong ba trung tâm công nghiệplớn ở Bắc Kỳ lúc bấy giờ Tuy số lượng không nhiều nhưng trong môitrường lao động tập trung và kỷ luật lao động công nghiệp, được Đảngcộng sản giáo dục rèn luyện, được tiếp thu những tư tưởng tiên tiếncủa thời đại, nên giai cấp công nhân có lòng yêu nước sâu sắc, có tinhthần cách mạng triệt để đã nhanh chóng trưởng thành và trở thành giaicấp lãnh đạo cách mạng Tầng lớp thợ thủ công, tiểu thương, tiểu chủ,dân nghèo thành thị có số lượng khá lớn trên địa bàn tỉnh Nam Định cả ởnông thôn và thành thị Do bị thực dân phong kiến áp bức, bóc lột, sảnxuất và đời sống rất bấp bênh, luôn luôn bị đe doạ phá sản cho nên đại

đa số tầng lớp này đều căm ghét đế quốc, có tinh thần yêu nước và sẵnsàng đi theo cách mạng Tầng lớp trí thức, viên chức được chính quyềnthực dân phong kiến đào tạo, sử dụng phục vụ cho chính sách cai trị vàkhai thác thuộc địa của chúng Họ sống và làm việc chủ yếu ở thànhphố, bị chèn ép nên phần lớn có tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc và

Trang 15

mong muốn tự do dân chủ Khi được giác ngộ, giáo dục, nhiềungười trong số họ đi theo cách mạng Giai cấp địa chủ Nam Định chỉchiếm 2% dân số nhưng chiếm đoạt 20% tổng số ruộng đất Có nhữngtên địa chủ như Vũ Ngọc Hoánh chiếm của nông dân hai huyện XuânTrường và Giao Thuỷ tới 360 ha và của nông dân Hải Hậu tới 468 ha.Nhưng trên thực tế, số đại địa chủ ở Nam Định sở hữu lớn không nhiều,hầu hết chỉ dừng lại ở mức từ 1,8 - 18 ha Chúng là tay sai đắc lực của

đế quốc và bóc lột cùng kiệt sức lao động của nông dân Khi bị đế quốcđụng chạm tới quyền lợi và khi phong trào cách mạng lên cao, một sốđịa chủ nhỏ có thái độ chống Pháp với mức độ khác nhau Song nhìnchung đây là chỗ dựa của đế quốc để áp bức bóc lột nhân dân ta

Tư sản Nam Định hình thành rõ rệt từ sau Đại chiến thế giới lầnthứ nhất, tập trung ở thành phố Phần lớn tư sản chuyên kinh doanhthương nghiệp, một số ít đầu tư vào sản xuất công nghiệp nhẹ, một số tưsản còn kiêm địa chủ Nhiều hiệu buôn được mở ra ở các phố HàngThêu, Hàng Khay, Hàng Quỳ, Hàng Giấy, Hàng Thao, Hàng Nâu, BếnNgự, Văn Miếu, Trường Thi, Cửa Bắc, Năng Tĩnh, Vải Màn,Phố Khách Tư sản Nam Định cho đến những năm 30 của thế kỷ XX sốlượng ít, cơ sở kinh tế yếu kém, không có địa vị chính trị; bị tư bản nướcngoài chi phối, chèn ép cho nên họ cũng mâu thuẫn với đế quốc, nhưng

về mặt kinh tế vẫn liên hệ với đế quốc và làm giàu bằng bóc lột giai cấpcông nhân Vì vậy, thái độ chính trị của họ cũng mang tính hai mặt: Mộtmặt chống đế quốc, phong kiến, tán thành độc lập dân tộc và dân chủ tự

do Mặt khác, có thái độ lừng chừng Khi phong trào cách mạng lên caothì ngả theo cách mạng Khi đế quốc mạnh thì dễ thoả hiệp Tiểu tư sảnNam Định bao gồm nhiều tầng lớp trong thủ công nghiệp, tiểu thương,viên chức, trí thức, học sinh Tầng lớp này ra đời gắn liền với quá trình

đô thị hoá thành phố Nam Định Tầng lớp tiểu tư sản đời sống bấp bênh,luôn bị đe doạ về kinh tế Trừ một thiểu số có quan hệ với đế quốc, phầnlớn đội ngũ này có trí thức, rất giàu tình cảm cách mạng, căm ghét bọn

đế quốc, tay sai, luôn luôn là lực lượng mở đường cho trào lưu tư tưởngcách mạng

Nam Định cũng là nơi đã sản sinh ra nhiều danh nhân nổi tiếnglàm rạng rỡ cho non sông đất nước Thời nhà Lý có Dương Không Lộ,Nguyễn Giác Hải ở đất Hải Thanh là những bậc đại thiền sư uyên thâmgiáo l ,nổi tiếng về thi ca và là những danh y có tài; có Vương Văn Hiệu

là nhà khoa bảng đầu tiên của Nam Định khi tham gia khoa thi thái họcsinh của nhà Lý mở năm 1218 Thời nhà Trần có Trần Nhân Tông, TrầnHưng Đạo, Trần Quang Khải là những vị anh hùng không những giỏi

Trang 16

chinh chiến mà còn là tác giả của những áng “thiên cổ hùng văn”,uyên thâm Phật học Nguyễn Hiền (Nam Trực), Đào Sư Tích (Cổ Lễ -Trực Ninh) là những vị trạng nguyên trẻ tuổi, tài trí thông minh, uyênbác Thời Lê, Nam Định có hơn hai chục người đỗ tiến sĩ, làm rạng rỡ

xứ Sơn Nam, tiêu biểu như Trạng Lường - Lương Thế Vinh (Liên

Bảo-Vụ Bản) Phạm Đạo Phú (Đại An) là người am hiểu nhiều lĩnh vực, ông

đã soạn cuốn sách toán học kinh điển Đại thành toán pháp và viết sách

lý luận đầu tiên về sân khấu Việt Nam Vũ Tuấn Chiêu (Cổ Ra Nam Trực) đỗ trạng nguyên khi ông 55 tuổi, nêu một tấm gương sáng vềvượt khó, kiên trì học tập Thời Nguyễn, tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh (ýYên) được cử giữ chức Tế tửu Quốc Tử giám (hiệu trưởng trường đạihọc duy nhất của cả nước lúc bấy giờ) Nam Định là đất học nên cótrường thi được lập ra từ thời Lê Từ năm 1886, cả Bắc Kỳ còn mộttrường thi hương ở Nam Định gọi là trường Hà Nam Ngoài ra, còn

-có trường tư Tam Đăng do hoàng giáp Phạm Văn Nghị chủ trì Có thểcoi đây là trung tâm giáo dục lớn ở phía nam đồng bằng Bắc Bộ đươngthời thu hút hàng ngàn nho sinh trong và ngoài tỉnh đến học với nhiềutên tuổi lẫy lừng như tam nguyên Trần Bích San, tiến sĩ Vũ Hữu Lợi(Nam Định), tam nguyên Nguyễn Khuyến (Hà Nam), tiến sĩ Tống DuyTân (Thanh Hoá), phó bảng Lã Xuân Oai, thủ khoa Nguyễn Cao (BắcNinh) Nam Định còn có nhiều làng văn hoá truyền thống, những giáophường độc đáo, những lễ hội kèm theo diễn xướng, trò chơi dân gian,những sinh hoạt phong phú như hội chùa Keo, Phủ Giầy, đềnTrần Những thành tựu văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần to lớn, phongphú, độc đáo của Nam Định đã góp phần tạo nên sức mạnh trong đấutranh với thiên nhiên và với giặc ngoại xâm Từ những năm đầu Côngnguyên, nhân dân Nam Định đã nổi dậy theo Hai

Bà Trưng khởi nghĩa chống lại ách thống trị hà khắc của quân xâmlược Đông Hán, góp phần “Rửa sạch quốc thù” “Nối lại nghiệp xưa họHùng” Trải qua các triều đại Lý, Lê, Trần, Nguyễn, nhân dân Nam Định

đã có những đóng góp đáng kể trong sự nghiệp giữ vững nền độc lập chodân tộc Đặc biệt thế kỷ XIII, hoà trong “ Hào khí Đông A” của dân ĐạiViệt, tên tuổi của vị anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn (Mỹ Lộc - NamĐịnh) cùng với những địa danh Vạn Kiếp, Bạch Đằng mãi mãi là nhữngnét son chói lọi trong lịch sử dân tộc Tinh thần yêu nước thiết tha, ýchí quật cường, bất khuất của các tầng lớp nhân dân là nguồn mạch nuôidưỡng, bồi đắp thành những di sản quý giá của quê hương, là những tiền

đề quan trọng để nhân dân Nam Định sớm tiếp nhận ngọn đuốc soi đường,ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào cách mạng theo khuynhhướng vô sản

Trang 17

Cùng với quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quânđội nhân dân Việt Nam, LLVT tỉnh Nam Định được sinh ra và lớn lêntrong cao trào cách mạng sôi nổi, rộng khắp, dưới sự lãnh đạo của Đảng.Trải qua chặng đường lịch sử đầy gian khổ, hy sinh nhưng rất vẻ vang,LLVT tỉnh đã lập nên nhiều thành tích, chiến công, đóng góp to lớn vào

sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốcViệt Nam XHCN

Ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, dưới sự lãnhđạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, phong trào đấu tranh của nhân dânchống ách thống trị của thực dân, phong kiến đã diễn ra ngày càng mạnh

mẽ sôi nổi, rộng khắp trong cả nước mà đỉnh cao là cao trào cách mạng1930-1931, 1936-1939 và 1939-1941 Có thể nói, đây là ba cuộc diễn tậpcho sự thành công của cách mạng tháng Tám Trong cao trào cách mạng

1930 - 1931, để bảo vệ lực lượng chính trị và đấu tranh chính trị của quần

chúng cách mạng, tại Nam Định các ban tự vệ, đội xích vệ (tự vệ đỏ) đã

được thành lập, bao gồm những đồng chí hăng hái và giác ngộ, được cácđoàn thể giới thiệu Đây là các tổ chức tiền thân của LLVT tỉnh

Trong giai đoạn cách mạng 1939-1945, để xây dựng lực lượngchuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền, tháng 5/1945 Ban cán sự Đảngtỉnh Nam Định quyết định lựa chọn một số đơn vị tự vệ đỏ lập ra đội vũtrang tuyên truyền, do đồng chí Phạm Ngọc Hồ phụ trách; tháng 7/1945tỉnh Nam Định thành lập Chi đội giải phóng quân Lạc Quần và Chi độiThành Nam có nhiệm vụ tuyên truyền cách mạng, vận động quần chúng,củng cố, phát triển lực lượng, đi đầu trong Tổng khởi nghĩa giành chínhquyền tháng Tám năm 1945

Từ 17-8 đến 22-8-1945, toàn bộ chính quyền địch từ tỉnh đếnhuyện đã sụp đổ hoàn toàn tại Nam Định Cách mạng Tháng Tám năm

1945 thành công đã mở ra cho toàn thể dân tộc Việt Nam nói chung vànhân dân Nam Định nói riêng một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử: đậptan ách thống trị của thực dân, đế quốc trong gần 100 năm và xoá bỏ sựtồn tại của chế độ chuyên chế gần 1000 năm, mở ra kỷ nguyên mới, kỷnguyên độc lập, tự do nhân dân đứng lên làm chủ vận mệnh mình Saucách mạng tháng Tám, nhân dân ta bước vào cuộc đấu tranh bảo vệ

và xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân Bên cạnh những thuận lợicăn bản là những khó khăn vô cùng to lớn Trước tình hình đó, Đảng,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt tài tình đưa nước ta thoát khỏi thế

“ngàn cân treo sợi tóc”, sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu lâu dài vớiPháp mà ta biết chắc là không thể tránh khỏi

Trang 18

Với dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa, thực dân Pháp đã lợidụng Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, tăng quân trái phép và bố trí lực lượngchiếm đóng các vị trí then chốt trên đất nước ta như Hà Nội, Nam Định,Vinh, Huế, Đà Nẵng, đánh chiếm các khu vực cửa ngõ giao thông thuỷ

bộ trọng yếu ở miền Bắc như Hải Phòng, Lạng Sơn

Tại Nam Định, đầu tháng 4-1946, quân Tưởng rút về nước, quânPháp vào thay thế Hơn 800 quân Pháp thuộc binh đoàn thuộc địa số 6

về đóng tại thành phố bao gồm các vị trí: trại Carô, nhà thờ Sanhtôma,Nhà máy sợi, dãy nhà sĩ quan, Nhà máy tơ, Nhà băng, Nhà máy chiếu,Nhà máy rượu Sở chỉ huy của chúng đóng tại nhà của chủ Nhà máy sợi(nay là nhà Bảo tàng truyền thống của Công ty dệt Nam Định)

Theo Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh (5-11-1946) và Thường vụTrung ương Đảng (báo Sự thật ngày 29-11 và 4-12-1946), Đảng bộ NamĐịnh đã động viên nhân dân trong tỉnh khẩn trương chuẩn bị khángchiến Từ giữa tháng 9 đến tháng 12-1946, Uỷ ban bảo vệ tỉnh và các đội

tự vệ thành phố gồm 700 người và mỗi huyện một đội tự vệ; lập nhiềuđội phá bom và đội cảm tử làm công tác phá hoại; tổ chức huấn luyệngấp cho dân quân, tự vệ; tổ chức đào nhiều hầm hố, làm nhiều công sựtrong thành phố, chuẩn bị kế hoạch và phương án tác chiến Mạng lướigiao thông liên lạc được tổ chức, đảm bảo sự chỉ đạo nhanh chóng vàkịp thời từ tỉnh đến các huyện Uỷ ban bảo vệ các cấp vận động nhândân đẩy mạnh tăng gia sản xuất, dự trữ được 20 tấn gạo, 1 tấn lươngkhô, 1 tấn đường và mật để cho bộ đội, tự vệ chiến đấu Công tác tuyêntruyền cũng được chú trọng nhằm làm cho các tầng lớp nhân dân, kể cảHoa kiều, ấn kiều hiểu rõ tình hình nhiệm vụ mới và đường lối, chínhsách của Đảng và Chính phủ trong giai đoạn hiện tại Uỷ ban bảo vệ tỉnh

đã tổ chức cơ sở ấn loát, ra báo và chuẩn bị nhiều truyền đơn, biểu ngữkêu gọi kháng chiến, củng cố và mở rộng công binh xưởng để sửa chữa

vũ khí Các mặt công tác y tế, cứu thương, vận động nhân dân tản cưcũng được chuẩn bị chu đáo

Phong trào tự trang bị vũ khí trong nhân dân ngày càng phát triểnsâu rộng Dân quân, tự vệ mỗi người đều có một thứ vũ khí thô sơ nhưkiếm, mã tấu, dao găm, gậy gộc Nhiều huyện tự mua sắm vũ khí trang

bị đủ cho một trung đội, có nơi có cả súng liên thanh Trong các thànhphố Nam Định, các ổ tác chiến, các chướng ngại vật được xây dựng.Nhiều trục đường giao thông quan trọng như Ngã tư Cửa Đông, Ngã sáuNăng Tĩnh được đắp ụ để ngăn cơ giới địch Nhiều đoạn đườngbiến thành giao thông hào Các dãy phố được đục tường thông từ nhà nọsang nhà kia để bộ đội, tự vệ vận động đánh địch Mọi nhà trong thành

Trang 19

phố đều dự trữ gạo, lương khô, cong nước cho bộ đội Các đội cứuthương, tiếp tế được thành lập và huấn luyện rất khẩn trương Ban chỉđạo tản cư tích cực vận động và tổ chức cho các cụ già, trẻ em đi trước.

Cả tỉnh hừng hực khí thế chuẩn bị chiến đấu, trở thành phong trào sôinổi và rầm rộ từ thành phố đến nông thôn, thể hiện quyết tâm chiến đấucao nhất

Cách mạng tháng tám thành công, Nước Việt Nam dân chủ cộnghoà ra đời, song thực dân Pháp lại quay trở lại xâm lược nước ta một lầnnữa Đáp lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Đảng và Bác Hồ kínhyêu “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước,nhất định không chịu làm nô lệ”, LLVT tỉnh Nam Định đã sát cánh cùngnhân dân, phối hợp chặt chẽ với Trung đoàn 34 bộ đội chủ lực anh dũngchiến đấu suốt 86 ngày đêm, kìm giữ, giam chân quân Pháp ở thành phốNam Định Những trận đánh diễn ra trong từng căn nhà, ngõ phố, từngnhà máy công sở, đã tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, kìm giữ,giam chân quân Pháp ở thành phố Nam Định, góp phần cùng thủ đô HàNội và một số địa phương ở Bắc bộ làm phá sản âm mưu “Đánh nhanh,thắng nhanh” của chúng; đồng thời chuẩn bị lực lượng, hậu phươngvững chắc, bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện

Tháng 3/1947 Chính phủ kháng chiến quyết định đổi tên “Bộ tổngchỉ huy quân đội quốc gia” thành “Bộ tổng chỉ huy quân đội quốc gia vàdân quân tự vệ” thành lập các tỉnh đội, huyện đội, xã đội dân quân trựcthuộc Uỷ ban kháng chiến các cấp Thực hiện quyết định của Chính phủ,ngày 20/4/1947, Ban chỉ huy tỉnh đội dân quân Nam Định (nay là Bộ chỉhuy Quân sự tỉnh Nam Định) được thành lập, trực thuộc Uỷ ban khángchiến tỉnh Nam Định, do đồng chí Lê Quang Vỹ làm Tỉnh đội trưởng,đồng chí Lê Quang Tuấn làm Chính trị viên Tỉnh đội có các cơ quantham mưu, Chính trị, Cung cấp, 3 đại đội trực thuộc và đội vũ trangtuyên truyền; tiếp đó các huyện đội, xã đội lần lượt ra đời Từ đây LLVTtỉnh Nam Định bước sang giai đoạn phát triển mới, được xây dựng, quản

lý, chỉ huy chặt chẽ, thống nhất; hiệu suất hoạt động, chiến đấu và côngtác ngày càng cao

Ngày 20/4 hàng năm đã trở thành ngày truyền thống của LLVT tỉnh Nam Định

Sự ra đời của tỉnh đội và sau đó là các huyện đội, xã đội trên địabàn toàn tỉnh không những đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ cáchmạng ở địa phương lúc bấy giờ mà còn là sự đảm bảo cho việc thực hiệnđường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện và đường lối quân sự củaĐảng Từ đây LLVT địa phương tỉnh có một hệ thống chỉ huy thống

Trang 20

nhất, từng bước đi vào hoạt động nề nếp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụSSCĐ chống địch mở rộng càn quét chiếm đóng.

Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, miền Bắc được hoàn toàn giảiphóng bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH, một bộ phận LLVT tỉnhchuyển ngành, lực lượng DQTV được xây dựng, phát triển đạt 9% dân số

Tháng 5 năm 1965 hai tỉnh Nam Định và Hà Nam sáp nhập thànhtỉnh Nam Hà, 2 cơ quan quân sự tỉnh hợp nhất, tổ chức biên chế ngangcấp trung đoàn Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc,LLVT tỉnh được kiện toàn, mở rộng, cơ quan quân sự tỉnh được biên chếthêm các ban Cao Xạ, Pháo binh, Dân quân, Phòng hoá, thành lập 5 đạiđội pháo cao xạ 37 ly, 2 tiểu đoàn 14,5 ly và 12,7 ly; dân quân tự vệ đạt13,5% dân số

Năm 1968 thành lập thêm Trung đoàn 19 chuyên huấn luyện quân

đi B và đoàn 586 chuyên tiếp nhận, nuôi dưỡng và giải quyết chính sáchthương, bệnh binh Năm 1971 cơ quan quân sự tỉnh biên chế ngang cấp

Sư đoàn với 3 phòng, 3 trung đoàn, 3 tiểu đoàn, 5 đại đội trực thuộc, dânquân tự vệ biên chế đến đại đội

Sau đại thắng 30 tháng 4 năm 1975 miền Nam hoàn toàn giảiphóng, cả nước đi lên CHXN Năm 1976 hai tỉnh Nam Hà, Ninh Bìnhsáp nhập thành tỉnh Hà Nam Ninh, cơ quan quân sự hợp nhất thành BộCHQS tỉnh Hà Nam Ninh Trên cơ sở 2 đội huấn luyện của 2 tỉnh độingày 23 tháng 02 năm 1976 Trường Quân chính tỉnh (đã sát nhập vớiTrung đoàn KTT 180) được thành lập, làm nhiệm vụ tập huấn, bồidưỡng KTQS, QPĐP cho cán bộ của tỉnh LLVT tỉnh được xây dựngđồng bộ, bao gồm lực lượng thường trực, lực lượng DQTV và lực lượngDBĐV

Chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc Tổ quốc nổ ra,LLVT được mở rộng, năm 1979 đã tổ chức hoàn chỉnh khung sư đoàn

381, ba huyện tuyến biển thành lập 2 tiểu đoàn và 1 đại đội cơ động Đạihội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 tháng 1986) xác định côngcuộc đổi mới toàn diện đất nước, cùng với toàn quân, LLVT tỉnh đượcxây dựng theo hướng chính quy, từng bước hiện đại, gắn với xây dựngkhu vực phòng thủ tỉnh, huyện, kết hợp chặt chẽ quốc phòng với anninh, quốc phòng - an ninh với kinh tế

Tháng 4 năm 1992 hai tỉnh Nam Hà và Ninh Bình được tái lập, BộCHQS tỉnh Hà Nam Ninh được kiện toàn thành hai Bộ CHQS tỉnh Từtháng 5 năm 1991 đến tháng 12 năm 1996 lực lượng vũ trang tỉnh tiếpnhận Trung đoàn 180 làm lực lượng thường trực cơ động của địa

Trang 21

phương, xây dựng Trung đoàn 182 dự bị động viên tròn khâu làm điểmcho Quân khu và Bộ Quốc phòng; mỗi huyện trọng điểm và thành phốNam Định xây dựng 1 tiểu đoàn DBĐV; các xã, phường, thị trấn xâydựng 1 trung đội dân quân cơ động.

Tháng 01 năm 1997 tỉnh Nam Hà được chia tách thành 2 tỉnh NamĐịnh và Hà Nam Một lần nữa Bộ CHQS tỉnh lại chia tách thành BộCHQS tỉnh Nam Định và Bộ CHQS tỉnh Hà Nam

Thực hiện quan điểm kết hợp quốc phòng - an ninh với kinh tế,tháng 12 năm 1998 Trung tâm dịch vụ việc làm được thành lập làmnhiệm vụ đào tạo nghề, giới thiệu việc làm cho bộ đội phục viên, xuấtngũ và nhân dân, năm 2007 nâng cấp thành Trường Trung cấp nghề số20; tháng 01 năm 2003 Ban quản lý dự án lấn biển Cồn Xanh được thànhlập làm nhiệm vụ quai đê lấn biển vùng biển Cồn Xanh (Nghĩa Hưng)

Trong giai đoạn đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, cùng với toàn

quân, LLVT tỉnh được xây dựng theo hướng “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, không ngừng phấn đấu ngang tầm yêu

cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới

Câu 2: Nêu những thành tích, chiến công của quân và dân tỉnh Nam Định trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)?

Với cuộc Cách mạng Tháng Tám, chính quyền mới đã được thiếtlập, nhân dân ta đã được giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột của thựcdân, phong kiến Nhưng nằm trong tình hình chung của cả nước, sau khichính quyền cách mạng được thành lập, Đảng bộ, LLVT và nhân dânNam Định cũng phải đối phó với nhiều khó khăn phức tạp Thù tronggiặc ngoài đe dọa, tình hình đất nước ở vào thế ngàn cân treo sợi tóc

Về kinh tế, mọi ngành sản xuất đều sút kém, đình đốn Sản xuấtnông nghiệp suy giảm, ruộng đất hoang hóa nhiều Hàng hóa khan hiếm,nạn đầu cơ tích trữ phát triển Về tài chính, ngân quỹ, kho bạc nói chungkhông còn gì Giữa lúc đó, các thế lực đế quốc núp dưới danh nghĩa quânĐồng minh để tước vũ khí quân đội Nhật cũng tràn vào từ hai đầu đấtnước Thực chất là chúng muốn lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ

Về phía chủ quan, Đảng bộ Nam Định còn thiếu kinh nghiệm trongcông tác lãnh đạo chính quyền Các tổ chức quần chúng, lực lượng vũtrang địa phương, tổ chức đảng ở cơ sở nhất là ở xã còn ít, trang bị

Trang 22

nghèo nàn chưa đáp ứng được yêu cầu cấp bách của phong trào cáchmạng trong giai đoạn mới.

Thuận lợi cơ bản nhất đối với chính quyền cách mạng non trẻ làđược sự ủng hộ mạnh mẽ của quần chúng Trong mọi hoàn cảnh, cáctầng lớp nhân dân Nam Định nói riêng và cả nước nói chung luôn vữngtin vào Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Minh, sẵn sàng đem tính mạng vàcủa cải để bảo vệ độc lập dân tộc và bảo vệ chế độ mới

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 3-9-1945, Chủtịch Hồ Chí Minh đã triệu tập phiên họp đầu tiên của Hội đồng chínhphủ, đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách cần phải làm ngay Ngày 25-11-1945,

Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc, khẳng định “Cuộc

cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giảiphóng Cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn, nó chưa hoàn thành, vì nướcchưa được hoàn toàn độc lập”

Vì vậy, nhiệm vụ cấp bách và quan trọng hàng đầu của Đảng bộ vànhân dân trong tỉnh là dồn toàn lực vào việc xây dựng và bảo vệ chínhquyền nhân dân trước sự tiến công thâm độc của những kẻ thù có tiềmlực quân sự lớn mạnh, tàn ác và nguy hiểm

Nhờ sự ủng hộ, đồng tình của nhân dân, cuộc bầu cử Quốc hộikhóa I và Hội đồng nhân dân các cấp diễn ra một cách tốt đẹp Ngày 6-1-1946, gần 100% số cử tri đã đi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội, trong số 36vạn cử tri có tới 33 vạn cử tri bỏ phiếu tín nhiệm cho những người Mặttrận Việt Minh giới thiệu Ngày 20-1-1946, cử tri Nam Định nô nức đibầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và tiến hành bầu cử hội đồng nhândân cấp xã vào ngày 18-3-1946

Ngày 10-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Nam Định, Chiềungày 10-1-1946, Chủ tịch đã nói chuyện với thân mật với đại biểu cáctâng lớp nhân dân, đại biểu các tôn giáo và cán bộ các ngành, các giớitrong tỉnh Bảy giờ sáng ngày 11-1-1946, trước hơn một vạn cán bộ, bộđội và nhân dân Bác ân cần nhắc nhở mọi người phải đoàn kết, thươngyêu nhau, chăm lo, mọi mặt công tác, ủng hộ Chính phủ Đây là lần đầutiên Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Nam Định Những lời chỉ bảo ân cầncủa Người đã để lại ấn tượng sâu sắc và cổ vũ Đảng bộ, nhân dân NamĐịnh đoàn kết, phấn đấu, khắc phục những khó khăn trở ngại, tiếp tục đilên trong giai đoạn mới của cách mạng

Với sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và quân dân trong tỉnh, nhữngkhó khăn bước đầu đã dần được khắc phục, đời sống nhân dân ổn định,chính quyền từ tỉnh đến cơ sở được củng cố, giữ vững; quân và dân Nam

Trang 23

Định có điều kiện bước vào cuộc kháng chiến lâu dài, chống thực dânPháp xâm lược.

Chiến đấu giam chân địch trong thành phố, chuẩn bị kháng chiến lâu dài.

Sau cách mạng tháng 8/1945, nhân dân ta hưởng nền độc lập chưađược bao lâu thì thực dân Pháp quay lại quyết xâm lược nước ta một lầnnữa Đối với Nam Định, chúng xác định là địa bàn quan trọng thứ 3 ởBắc Bộ sau Hà Nội, Hải Phòng, nên đã tập trung binh lực khá mạnh đểđánh chiếm

Với ý chí “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” và “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc” quân dân Nam

Định cùng với cả nước “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”

Trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, ngày 19-12-1946, Chủ

tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Cũng trong tháng 12-1946, Trung ương Đảng ra Chỉ thị toàn dân kháng chiến, vạch

ra những nét lớn về đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài

và tự lực cánh sinh

24h ngày 19-12-1946, cả thành phố Nam Định rền vang tiếng súng

mở đầu cuộc kháng chiến chống xâm lược Cuộc chiến đấu của ta nhằmkiềm chế, tiêu hao sinh lực địch trong thành phố diễn ra dài ngày và mỗilúc một ác liệt hơn Ta và địch đánh lấn, giành nhau từng căn nhà, gócphố từng nhà máy, xí nghiệp Trong cuộc chiến đấu không cân sức ấy đãxuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm, không sợ hy sinh, quyếttâm giết giặc lập công Điển hình là Đoàn Bạch Hạc - Chính trị viên trungđội (thuộc Tiểu đoàn 69), Triệu Hàn - Chính trị viên trung đội (thuộc Tiểuđoàn 69), Phạm Sơn - công nhân vận chuyển, tự vệ Nhà máy sợi mới tìnhnguyện vào bộ đội thuộc Tiểu đoàn 75, nữ chiến sĩ cứu thương NguyễnThị Ca Trong trận cuối cùng địch đánh giải vây thành phố (10-3-1947)

có bốn anh em ruột cùng chiến hào đã anh dũng hi sinh khi chiến đấu đếnviên đạn cuối cùng là Tạ Quang Khải, Tạ Hồng Quang, Tạ Quang Thuấn,

Tạ Quang Đức

Ngày 6-1-1947, quân dân Nam Định đánh thắng cuộc hành quânchi viện quy mô lớn của địch, chiến thắng to lớn này đã được Hồ ChủTịch thay mặt Quốc hội và Chính phủ điện khen ngợi và quyết định tặng

Trung đoàn 34 danh hiệu Trung đoàn tất thắng Hội nghị quân sự toàn

quốc (họp từ ngày 12 đến ngày 16 - 1 -1947) đã khen ngợi chiến công

Trang 24

của nhân dân Nam Định và nêu gương anh dũng chống thuỷ, lục, khôngquân địch.

Sau 86 ngày đêm liên tục chiến đấu, quân dân Nam Định đã kìmchế, giam chân một lực lượng lớn quân viễn chinh Pháp, giết và làm bịthương 400 tên, trong đó có nhiều sĩ quan và lính Âu - Phi, bắt sống sáutên, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng Cùng với Hà Nội, và một

số thành phố, thị xã khác ở Bắc Bộ, cuộc chiến đấu của quân dân NamĐịnh đã làm thất bại âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của thực dânPháp, góp phần cùng cả nước có thêm thời gian củng cố và xây dựng lựclượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài Qua chiến đấu ác liệt, lựclượng kháng chiến tại Nam Định vẫn được bảo toàn và ngày càng trưởngthành

Xây dựng làng chiến đấu, củng cố hậu phương, chống địch lấn chiếm (1947 tới 10-1949)

Ngay những ngày đầu cuộc kháng chiến, LLVT tỉnh có Trungđoàn 34 Tất Thắng làm nòng cốt cùng với toàn dân đã chủ động tiếncông, bao vây giam chân 650 tên giặc Pháp trong thành phố Nam Địnhsuốt hai tháng liền để hậu phương chuẩn bị kháng chiến lâu dài Đối mặtvới xe tăng, tàu chiến, máy bay, lính thiện chiến của giặc Pháp, quân dân

Nam Định đã đoàn kết chặt chẽ, thực hiện “Vườn không nhà trống”, đào

hào, đắp luỹ, ngăn sông để vây hãm, chia cắt quân địch gây cho chúngnhiều khó khăn, tổn thất nặng nề Trong khí thế sục sôi kháng chiến,khắp nơi trong tỉnh dấy lên phong trào xung phong, tình nguyện đầu

quân, đã tổ chức các đoàn quân “Tây Tiến”, “Nam Tiến” chi viện cho

các chiến trường khi thực dân Pháp gây hấn ở Nam Bộ, thành lập cácđội quyết tử quân, du kích, bạch đầu quân, hội mẹ chiến sỹ… Nhữngngười tu hành cũng xung phong ra trận ngày 27/2/1947 tại chùa Cổ Lễ(Trực Ninh) Hội Phật giáo cứu quốc Nam Định đã làm lễ tiễn 22 sư nam

và 2 sư nữ lên đường giết giặc

Cuộc chiến đấu giành giật giữa ta và địch diễn ra quyết liệt, cán bộ,chiến sỹ bộ đội địa phương, tự vệ các nhà máy, du kích các địa phươngchỉ bằng vũ khí thô sơ đã dũng cảm ngăn chặn bước quân thù, dùng bom

ba càng tự chế lao vào lô cốt, xe tăng địch Nhiều cán bộ, chiến sỹLLVT và đồng bào yêu nước đã nêu cao khí tiết cách mạng, chiến đấuđến viên đạn, hơi thở cuối cùng, chịu cực hình tra tấn, một lòng trungthành với Đảng, Bác Hồ, Tổ quốc và nhân dân

Các đơn vị bộ đội tỉnh, huyện lúc đầu quy mô nhỏ, trang bị thô sơ,hoạt động phân tán đã lớn dần thành đại đội, tiểu đoàn, vừa đánh nhỏlàm nòng cốt phát động chiến tranh du kích, vừa đánh tập trung cơ động;

Trang 25

có khả năng đánh độc lập vùng sau lưng địch, lại có khả năng phối hợpvới bộ đội chủ lực đánh tiêu diệt lớn, tiêu biểu là Tiểu đoàn 66 Bộ độiđịa phương của tỉnh đã gắn bó với địa phương và phối hợp với các đơn vịchủ lực chiến đấu dũng cảm, lập được nhiều chiến công

Lực lượng tự vệ và du kích các địa phương, đã liên tục quấy rối,tiêu hao sinh lực địch và phối hợp chặt chẽ với bộ đội trong các trận đánhlớn, khiến quân Pháp dù đã chiếm được những vị trí then chốt trên địabàn tỉnh nhưng chưa bao giờ ăn ngon, ngủ yên, ngày càng khốn quẫn

Địch càng ra sức càn quét, bình địch vùng tạm chiếm, thì ta càngđẩy mạnh hoạt động phục kích, chống càn, phá tề, trừ gian, tiến tới đánhnhững trận tiêu diệt lớn, hàng tiểu đoàn, binh đoàn Âu - Phi tinh nhuệ bị

tổn thất nặng Hàng mảng “Khinh quân” (nguỵ quân) tiêu diệt và tan dã.

Tiêu biểu là các trận chiến đấu bẻ gãy các trận càn quét lớn của địch : Amphi pi, Bơ răng ta nhơ… các trận đánh ở Nghĩa Xá, Cần Gai, Cầu Đôi, Đỗ

Xá, Kiên Hành, Đại Đồng, Thức Khoá, Đông Biên…

Bằng cách tổ chức các làng kháng chiến độc đáo, sáng tạo, quân vàdân Nam Định đã đập tan các cuộc càn quét, phản kích, giải vây củagiặc Tiêu biểu là các làng kháng chiến Liên Minh (Vụ Bản), Bắc Sơn(Nam Trực), Đồng Nguyên (Nghĩa Hưng)

Sau khi chiếm được mấy thành phố trống rỗng, thực dân Pháp tiếptục xua quân sang Đông Dương Mục tiêu của chúng trong thời gian này

là chiếm lấy những đường giao thông chính, lập vành đai bảo vệ thànhphố, thị xã, trên cơ sở đó đánh nống ra tiêu diệt lực lượng kháng chiến

và nhanh chóng kết thúc chiến tranh

Ở Nam Định, thực hiện âm mưu mở rộng chiếm đóng theo chiếnthuật vết dầu loang, địch đã mở nhiều cuộc càn quét xung quanh thànhphố để khủng bố nhân dân, phá cơ sở, gây tâm lý cầu an; dụ dỗ, thúc épdân hồi cư và đẩy lực lượng ta ra ngoài Từ tháng 4 đến tháng 6-1947,chúng đã đóng thêm một số vị trí ngoài thành phố như Đò Quan, VạnDiệp (Nam Phong, Nam Trực), Đệ Nhất (Mỹ Trung), Bảo Long (MỹHà), Lê Xá (Mỹ Thịnh) thuộc huyện Mỹ Lộc và Xuân Mai (Bình Lục,

Hà Nam) Cũng trong thời gian này, địch còn tổ chức một số trận đánh

ra vùng tự do để khủng bố tinh thần nhân dân, cướp bóc lương thực,thực phẩm và để vây quét lực lượng của ta, nhưng đều bị đánh trả đíchđáng như các trận chợ Dần (Vụ Bản) ngày 31-3-1947, trận Lê Xá (MỹThịnh, Mỹ Lộc), Núi Ngăm (huyện Vụ Bản) ngày 2-5-1947, trận Đại Đê(Vụ Bản) ngày 1-6-1947, trận Quang Sán (Mỹ Lộc) tháng 7-1947…

Ngày đăng: 24/10/2022, 22:35

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w