1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

11 quan tri tai chinh 4382

178 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 3,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2.Phân biệt khấu hao và hao mòn TSCĐ Khái niệm: Hao mòn là sự giảm sút về mặt giá trị và giá trị sử dụng của TSCĐ do TSCĐ tham gia vào các hoạt động DN và do các nguyên nhân khác Khấu

Trang 1

BÀI 1: LẬP KẾ HOẠCH KHẤU HAO TSCĐ

1 Khái niệm khấu hao tài sản cố định:

Là phương pháp phân bổ một cách có hệ thống Giá trị phải khấu hao của TSCĐ hữu hình trong thời gian sử dụng hữu ích của chúng

1.1 Một số khái niệm

- Nguyên giá: Là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có

được TSCĐ hữu hình tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng thái sẵn sàng sử dụng

- Hao mòn tài sản cố định là sự giảm dần về giá trị sử dụng và giá trị hoặc

giảm

giá trị của tài sản cố định

- Khấu hao: Là sự phân bổ một cách có hệ thống giá trị phải khấu hao của

TSCĐ hữu hình trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản đó

- Giá trị phải khấu hao: Là nguyên giá của TSCĐ hữu hình ghi trên báo cáo

tài chính, trừ (-) giá trị thanh lý ước tính của tài sản đó

- Thời gian sử dụng hữu ích: Là thời gian mà TSCĐ hữu hình phát huy được

tác dụng cho sản xuất, kinh doanh, được tính bằng:

+ Thời gian mà doanh nghiệp dự tính sử dụng TSCĐ hữu hình,

- Giá trị hợp lý: Là giá trị tài sản có thể được trao đổi giữa các bên có đầy

đủ hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá

- Giá trị còn lại: Là nguyên giá của TSCĐ hữu hình sau khi trừ (-) số khấu hao luỹ kế của tài sản đó

- Giá trị có thể thu hồi: Là giá trị ước tính thu được trong tương lai từ việc sử

dụng tài sản, bao gồm cả giá trị thanh lý của chúng

1.2.Phân biệt khấu hao và hao mòn TSCĐ

Khái niệm:

Hao mòn là sự giảm sút về mặt

giá trị và giá trị sử dụng của TSCĐ do

TSCĐ tham gia vào các hoạt động DN

và do các nguyên nhân khác

Khấu hao TSCĐ là sự phân bổ một cách có hệ thống giá trị phải khấu hao tài sản cố định trong suốt thời gian

sử dụng hữu ích của TS đó vào giá trị sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được sáng tạo ra

Trang 2

Bản chất:

Là một hiện tượng khách quan mà

trong quá trình sử dụng, TSCĐ bị hao

mòn do các nguyên nhân khác nhau:

tham gia vào hoạt động SXKD, các

nguyên nhân tự nhiên( hao mòn hữu

hình giảm sút giá trị và giá trị sử dụng)

do tiến bộ KHKT gây ra( hao mòn vô

hình: giảm sút thuần túy về mặt giá trị)

Là một biện pháp chủ quan của con người nhằm thu hồi số vốn đã đầu

tư vào TSCĐ Vì TSCĐ được đầu tư mua sắm để sử dụng nên được hiểu như một lượng giá trị hữu dụng đượ phân phối cho SXKD trong suốt thời gian sử dụng hữu ích Do đó việc trích khấu hao

là việc phân phối giá trị sử dụng TSCĐ đồng thời là biện pháp thu hồi vốn Phạm vi:

2 Các phương pháp tính khấu hao tài sản cố định

- Phương pháp khấu hao đường thẳng

- Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh

- Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm

2.1 Phương pháp khấu hao đường thẳng;

Phương pháp khấu hao đường thẳng là phương pháp trích khấu hao theo mức tính ổn định từng năm vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp của tài sản cố định tham gia vào hoạt động kinh doanh

Doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả kinh tế cao được khấu hao nhanh nhưng tối đa không quá 2 lần mức khấu hao xác định theo phương pháp đường thẳng để nhanh chóng đổi mới công nghệ Tài sản cố định tham gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao nhanh là máy móc, thiết bị; dụng cụ làm việc đo lường, thí nghiệm; thiết bị và phương tiện vận tải; dụng cụ quản lý; súc

Trang 3

vật, vườn cây lâu năm Khi thực hiện trích khấu hao nhanh, doanh nghiệp phải đảm bảo kinh doanh có lãi Trường hợp doanh nghiệp trích khấu hao nhanh vượt 2 lần mức quy định tại khung thời gian sử dụng tài sản cố định nêu tại Phụ lục 1 kèm theo Thông tư này, thì phần trích vượt mức khấu hao nhanh (quá 2 lần) không được tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập trong kỳ

a./Nội dung của phương pháp:

Tài sản cố định trong doanh nghiệp được trích khấu hao theo phương pháp khấu hao đường thẳng như sau:

- Xác định mức trích khấu hao trung bình hàng năm cho tài sản cố định theo công thức dưới đây:

Mức trích khấu hao trung bình hàng

năm của tài sản cố định =

Nguyên giá của tài sản cố định Thời gian trích khấu hao

- Mức trích khấu hao trung bình hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm chia cho 12 tháng

Trường hợp thời gian trích khấu hao hay nguyên giá của tài sản cố định thay đổi, doanh nghiệp phải xác định lại mức trích khấu hao trung bình của tài sản cố định bằng cách lấy giá trị còn lại trên sổ kế toán chia (:) cho thời gian trích khấu hao xác định lại hoặc thời gian trích khấu hao còn lại (được xác định là chênh lệch giữa thời gian trích khấu hao đã đăng ký trừ thời gian đã trích khấu hao) của tài sản

cố định

Mức trích khấu hao cho năm cuối cùng của thời gian trích khấu hao tài sản

cố định được xác định là hiệu số giữa nguyên giá tài sản cố định và số khấu hao luỹ kế đã thực hiện đến năm trước năm cuối cùng của tài sản cố định đó

b./Ví dụ tính và trích khấu hao TSCĐ:

Ví dụ: Công ty A mua một tài sản cố định (mới 100%) với giá ghi trên hoá đơn là 119 triệu đồng, chiết khấu mua hàng là 5 triệu đồng, chi phí vận chuyển là 3 triệu đồng, chi phí lắp đặt, chạy thử là 3 triệu đồng

a Biết rằng tài sản cố định có tuổi thọ kỹ thuật là 12 năm, thời gian trích khấu hao của tài sản cố định doanh nghiệp dự kiến là 10 năm (phù hợp với quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư số 45/2013/TT- BTC), tài sản được đưa vào sử dụng vào ngày 1/1/2013

Nguyên giá tài sản cố định = 119 triệu - 5 triệu + 3 triệu + 3 triệu = 120 triệu đồng Mức trích khấu hao trung bình hàng năm = 120 triệu : 10 năm =12 triệu đồng/năm

Trang 4

Mức trích khấu hao trung bình hàng tháng = 12 triệu đồng: 12 tháng = 1 triệu đồng/ tháng

Hàng năm, doanh nghiệp trích 12 triệu đồng chi phí trích khấu hao tài sản cố định

đó vào chi phí kinh doanh

b Sau 5 năm sử dụng, doanh nghiệp nâng cấp tài sản cố định với tổng chi phí là 30 triệu đồng, thời gian sử dụng được đánh giá lại là 6 năm (tăng 1 năm so với thời gian sử dụng đã đăng ký ban đầu), ngày hoàn thành đưa vào sử dụng là 1/1/2018 Nguyên giá tài sản cố định = 120 triệu đồng + 30 triệu đồng = 150 triệu đồng

Số khấu hao luỹ kế đã trích = 12 triệu đồng (x) 5 năm = 60 triệu đồng

Giá trị còn lại trên sổ kế toán = 150 triệu đồng - 60 triệu đồng = 90 triệu đồng Mức trích khấu hao trung bình hàng năm = 90 triệu đồng : 6 năm = 15 triệu đồng/ năm

Mức trích khấu hao trung bình hàng tháng = 15.000.000 đồng : 12 tháng

Trong đó:

T: Thời gian trích khấu hao còn lại của tài sản cố định

T1 : Thời gian trích khấu hao của tài sản cố định xác định theo quy định tại Phụ lục

1 ban hành kèm theo Thông tư số 45/2013/TT- BTC

T2 : Thời gian trích khấu hao của tài sản cố định xác định theo quy định tại Phụ lục

1 ban hành kèm theo Thông tư số 45/2013/TT- BTC

t1 : Thời gian thực tế đã trích khấu hao của tài sản cố định

- Xác định mức trích khấu hao hàng năm (cho những năm còn lại của tài sản cố định) như sau:

Mức trích khấu hao trung = Giá trị còn lại của tài sản cố định

Trang 5

bình hàng năm của TSCĐ Thời gian trích khấu hao còn lại của

TSCĐ

- Mức trích khấu hao trung bình hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm chia cho 12 tháng

d./Ví dụ tính và trích khấu hao tài sản cố định:

Ví dụ : Doanh nghiệp sử dụng một máy khai khoáng có nguyên giá 600 triệu đồng

từ ngày 01/01/2011 Thời gian sử dụng xác định theo quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư số 45/2013/TT- BTC là 10 năm Thời gian đã sử dụng của máy khai khoáng này tính đến hết ngày 31/12/2012 là 2 năm Số khấu hao luỹ kế là

120 triệu đồng

- Giá trị còn lại trên sổ kế toán của máy khai khoáng là 480 triệu đồng

- Doanh nghiệp xác định thời gian trích khấu hao của máy khai khoáng là 15 năm theo Phụ lục I Thông tư số 45/2013/TT- BTC

- Xác định thời gian trích khấu hao còn lại của máy khai khoáng như sau:

2.2 Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh;

Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh được áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực có công nghệ đòi hỏi phải thay đổi, phát triển nhanh

TSCĐ tham gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao theo phương pháp số dư giảm dần có điều chỉnh phải thoả mãn đồng thời các điều kiện sau:

- Là tài sản cố định đầu tư mới (chưa qua sử dụng);

- Là các loại máy móc, thiết bị; dụng cụ làm việc đo lường, thí nghiệm

Trang 6

a./Nội dung:

Mức trích khấu hao tài sản cố định theo phương pháp số dư giảm dần có điều chỉnh được xác định như:

- Xác định thời gian khấu hao của tài sản cố định:

Doanh nghiệp xác định thời gian khấu hao của tài sản cố định theo quy định tại Thông tư số 45/2013/TT- BTC của Bộ Tài chính

- Xác định mức trích khấu hao năm của tài sản cố định trong các năm đầu theo công thức dưới đây:

Mức trích khấu hao hàng

năm của tài sản cố định =

Giá trị còn lại của tài sản cố định X

Tỷ lệ khấu hao nhanh

Tỷ lệ khấu hao tài sản cố định theo phương pháp đường thẳng xác định như sau:

Tỷ lệ khấu hao tài sản

hao của tài sản cố định

Hệ số điều chỉnh xác định theo thời gian trích khấu hao của tài sản cố định quy định tại bảng dưới đây:

Thời gian trích khấu hao của tài sản cố định Hệ số điều chỉnh

(lần)

Trên 4 đến 6 năm (4 năm < t ≤ 6 năm) 2,0

Những năm cuối, khi mức khấu hao năm xác định theo phương pháp số dư giảm dần nói trên bằng (hoặc thấp hơn) mức khấu hao tính bình quân giữa giá trị còn lại và số năm sử dụng còn lại của tài sản cố định, thì kể từ năm đó mức khấu

Trang 7

hao được tính bằng giá trị còn lại của tài sản cố định chia cho số năm sử dụng còn lại của tài sản cố định

- Mức trích khấu hao hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm chia cho 12 tháng

b./Ví dụ tính và trích khấu hao tài sản cố định:

Ví dụ: Công ty A mua một thiết bị sản xuất các linh kiện điện tử mới với nguyên giá là 50 triệu đồng Thời gian trích khấu hao của tài sản cố định xác định theo quy định tại Phụ lục 1 (ban hành kèm theo Thông tư số 45/2013/TT- BTC) là 5 năm Xác định mức khấu hao hàng năm như sau:

- Tỷ lệ khấu hao hàng năm của tài sản cố định theo phương pháp khấu hao đường thẳng là 20%

- Tỷ lệ khấu hao nhanh theo phương pháp số dư giảm dần bằng 20% x 2 (hệ số điều chỉnh) = 40%

- Mức trích khấu hao hàng năm của tài sản cố định trên được xác định cụ thể theo bảng dưới đây:

Mức khấu hao hàng năm

Mức khấu hao hàng tháng

Khấu hao luỹ kế cuối năm

số dư giảm dần (10.800.000 x 40%= 4.320.000) thấp hơn mức khấu hao tính bình

Trang 8

quân giữa giá trị còn lại và số năm sử dụng còn lại của tài sản cố định (10.800.000 : 2 = 5.400.000)]

Ưu, nhược điểm: Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có ưu điểm

sau:

- Giúp cho doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh ở những năm đầu Doanh nghiệp vừa có thể tập trung vốn nhanh từ tiền khấu hao để đổi mới máy móc, thiết

bị và công nghệ kịp thời vừa giảm bớt được tổn thất do hao mòn vô hình

- Nhà nước có thể cho phép doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu hao nhanh để tính chi phí khấu hao trong việc xác định thuế thu nhập doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh Điều đó được coi như một biện pháp hoãn thuế" cho doanh nghiệp

Bên cạnh những ưu điểm trên, nếu doanh nghiệp thực hiện phương pháp này

có hạn chế: Giá thành sản phẩm ở những năm đầu của thời hạn khấu hao sẽ cao do phải chịu chi phí khấu hao lớn, điều đó gây bất lợi cho doanh nghiệp trong cạnh tranh, việc tính toán khá phức tạp

Ví dụ: Một doanh nghiệp mua một tài sản cố định có nguyên giá 200 triệu, thời gian sử dụng 5 năm Tính được mức khấu hao cho TSCĐ theo phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần:

+ Tính tỷ lệ khấu hao bình quân: Tk bq = 1/5 * 100 = 20%

2.3 Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm

Tài sản cố định tham gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao theo phương pháp này là các loại máy móc, thiết bị thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau:

- Trực tiếp liên quan đến việc sản xuất sản phẩm;

Trang 9

- Xác định được tổng số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết

kế của tài sản cố định;

- Công suất sử dụng thực tế bình quân tháng trong năm tài chính không thấp hơn 100% công suất thiết kế

a./Nội dung của phương pháp:

Tài sản cố định trong doanh nghiệp được trích khấu hao theo phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm như sau:

- Căn cứ vào hồ sơ kinh tế - kỹ thuật của tài sản cố định, doanh nghiệp xác định tổng số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế của tài sản cố định, gọi tắt là sản lượng theo công suất thiết kế

- Căn cứ tình hình thực tế sản xuất, doanh nghiệp xác định số lượng, khối lượng sản phẩm thực tế sản xuất hàng tháng, hàng năm của tài sản cố định

- Xác định mức trích khấu hao trong tháng của tài sản cố định theo công thức dưới đây:

X

Mức trích khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm

X

Mức trích khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm

Trang 10

Trường hợp công suất thiết kế hoặc nguyên giá của tài sản cố định thay đổi, doanh nghiệp phải xác định lại mức trích khấu hao của tài sản cố định

b./Ví dụ tính và trích khấu hao tài sản cố định:

Ví dụ: Công ty A mua máy ủi đất (mới 100%) với nguyên giá 450 triệu đồng Công suất thiết kế của máy ủi này là 30m3/giờ Sản lượng theo công suất thiết kế của máy ủi này là 2.400.000 m3 Khối lượng sản phẩm đạt được trong năm thứ nhất của máy ủi này là:

Trang 11

35.437.500

3 Phạm vi tính khấu hao

- Phương pháp khấu hao do doanh nghiệp xác định để áp dụng cho từng TSCĐ hữu hình phải được thực hiện nhất quán, trừ khi có sự thay đổi trong cách thức sử dụng tài sản đó

- Doanh nghiệp không được tiếp tục tính khấu hao đối với những TSCĐ hữu hình đã khấu hao hết giá trị nhưng vẫn còn sử dụng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh

- Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ hữu hình phải được xem xét lại theo định kỳ, thường là cuối năm tài chính Nếu có sự thay đổi đáng kể trong việc đánh giá thời gian sử dụng hữu ích của tài sản thì phải điều chỉnh mức khấu hao + Trong quá trình sử dụng TSCĐ, khi đã xác định chắc chắn là thời gian sử dụng hữu ích không còn phù hợp thì phải điều chỉnh thời gian sử dụng hữu ích và tỷ lệ khấu hao cho năm hiện hành và các năm tiếp theo và được thuyết minh trong báo cáo tài chính

Ví dụ: Thời gian sử dụng hữu ích có thể được kéo dài thêm do việc cải thiện trạng thái của tài sản vượt trên trạng thái tiêu chuẩn ban đầu của nó, hoặc các thay đổi về

kỹ thuật hay thay đổi nhu cầu về sản phẩm do một máy móc sản xuất ra có thể làm giảm thời gian sử dụng hữu ích của nó

- Chế độ sửa chữa và bảo dưỡng TSCĐ hữu hình có thể kéo dài thời gian sử dụng hữu ích thực tế hoặc làm tăng giá trị thanh lý ước tính của tài sản nhưng doanh nghiệp không được thay đổi mức khấu hao của tài sản

- Phương pháp khấu hao TSCĐ hữu hình phải được xem xét lại theo định

kỳ, thường là cuối năm tài chính, nếu có sự thay đổi đáng kể trong cách thức sử dụng tài sản để đem lại lợi ích cho doanh nghiệp thì được thay đổi phương pháp khấu hao và mức khấu hao tính cho năm hiện hành và các năm tiếp theo

4 Lập kế hoạch khấu hao tài sản cố định

Các bước lập kế hoạch khấu hao TSCĐ

Bước 1: Xác định Nguyên giá TSCĐ đầu kỳ kế hoạch

Trang 12

Nguyên giá TSCĐ đầu kỳ = NGthực tế 30/9 báo cáo + NGdựkiến tăng quý 4 -bc - NGdự kiến giảm quy 4-bc

Bước 2: Xác định Nguyên giá TSCĐ bình quân tăng trong kỳ kế hoạch

(NGti x tsdi)

tsdi :Thời gian sử dụng của TSCĐ tính theo tháng:

tsdi = ( 12 - Tháng bắt đầu mua về sử dụng )

Bước 3: Xác định Nguyên giá TSCĐ bình quân giảm trong kỳ kế hoạch

(NGgi x (12 − tsdi)

+ TSCĐ điều chuyển đi nơi khác

tsdi :Thời gian thôi sử dụng của TSCĐ tính theo tháng:

tsdi = ( 12 - Tháng bắt đầu thôi sử dụng )

Bước 4: Nguyên giá TSCĐ bình quân phải tính khấu hao trong kỳ kế hoạch

Trang 13

+ TSCĐ điều chuyển trong nội bộ doanh nghiệp (từ vị trí đang sử dụng chuyển sang cất giữ vào kho hoặc ngược lại): Nguyên Giá TSCĐ không ghi tăng hay giảm trong kỳ

+ TSCĐ đem cho thuê hoạt động không ghi giảm Nguyên Giá

+ TSCĐ thuê hoạt động không ghi tăng Nguyên Giá

Bước 6:Lập bảng kế hoạch khấu hao TSCĐ

1/ Tổng NGTSCĐ đầu năm kế hoạch

1.a - NG đầu năm kế hoạch cần khấu hao

2/ Tổng NGTSCĐ tăng

2a - NG tăng cần khấu hao ()

2b - NGBQ tăng cần khấu hao () 

3/ Tổng NGTSCĐ giảm

3a - NG giảm cần thôi khấu hao ()

3b -()  NGBQ giảm cần thôi khấu hao

- Đánh giá và đánh giá lại TSCĐ:

Đánh giá TSCĐ là việc xác định lại giá trị của nó tại một thời điểm nhất định Đánh giá đúng TSCĐ tạo điều kiện phản ánh chính xác tình hình biến động của vốn cố định, quy mô vốn phải bảo toàn Điều chỉnh kịp thời giá trị của TSCĐ,

để tạo điều kiện tính đúng, tính đủ chi phí khấu hao TSCĐ, không để mất vốn cố định

Thông thường có 3 phương pháp đánh giá chủ yếu:

Trang 14

+ Đánh giá theo nguyên giá: Là toàn bộ các chi phí thực tế mà doanh nghiệp

bỏ ra để có được TSCĐ cho đến khi đưa TSCĐ vào hoạt động bình thường như: giá mua thực tế của TSCĐ, các chi phí vận chuyển, bốc dỡ, lắp đặt, chạy thử…

Cách đánh giá này giúp doanh nghiệp thấy được số tiền vốn đầu tư mua sắm TSCĐ ở thời điểm ban đầu, là căn cứ để xác định số tiền khấu hao để tái sản xuất giản đơn TSCĐ

+ Đánh giá TSCĐ theo giá trị khôi phục(còn gọi là đánh giá lại): Là giá trị

để mua sắm TSCĐ ở tại thời điểm đánh giá Do ảnh hưởng của tiến bộ khoa học kỹ thuật, đánh giá lại thường thấp hơn giá trị nguyên thủy ban đầu Tuy nhiên trong trường hợp có sự biến động của giá cả, đánh giá lại có thể cao hơn giá trị ban đầu của nó Tuỳ theo trường hợp cụ thể mà doanh nghiệp có quyết định sử lý thích hợp như: điều chỉnh lại mức khấu hao, hiện đại hoá hoặc thanh lý, nhượng bán TSCĐ

+ Đánh giá TSCĐ theo giá trị còn lại: Là giá trị còn lại của TSCĐ chưa chuyển vào giá trị sản phẩm Giá trị còn lại có thể tính theo giá trị ban đầu(giá trị nguyên thuỷ còn lại) hoặc đánh giá lại(giá trị khôi phục lại) Cách đánh giá này cho phép thấy được mức độ thu hồi vốn đầu tư đến thời điểm đánh giá, từ đó lựa chọn chính sách khấu hao hợp lý để thu hồi vốn đầu tư còn lại để bảo toàn vốn

- Lựa chọn phương pháp khấu hao và mức khấu hao thích hợp:

Yêu cầu bảo toàn vốn cố định là lý do phát triển của các hình thức khấu hao Không phải trong mọi trường hợp khấu hao nhanh cũng là tốt Vấn đề là ở chỗ phải biết sử dụng các phương pháp khấu hao, mức tăng giảm khấu hao tuỳ thuộc vào từng loại hình sản xuất, từng thời điểm vận động của vốn, không để mất vốn và hạn chế tối đa ảnh hưởng bất lợi của hao mòn vô hình

Nguyên tắc chung là mức khấu hao phải phù hợp với hao mòn thực tế của TSCĐ Nếu khấu hao thấp hơn mức hao mòn thực tế sẽ không đảm bảo thu hồi đủ vốn khi hết thời gian sử dụng, nếu mức khấu hao quá cao sẽ làm tăng chi phí một cách giả tạo, làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Trong trường hợp TSCĐ có hao mòn vô hình lớn cần áp dụng phương pháp khấu hao nhanh để hạn chế ảnh hưởng của hao mòn vô hình

- Sửa chữa và xác định hiệu quả kinh tế của việc sửa chữa TSCĐ:

Vốn cố định sẽ không được bảo toàn nếu TSCĐ bị hư hỏng, phải sa thải trước thời hạn phục vụ của nó Vì thế chi phí cho việc sửa chữa nhằm duy trì năng lực hoạt động bình thường của TSCĐ trong cả thời kỳ hoạt động của nó cũng được coi là một biện pháp để bảo toàn vốn cố định

Trang 15

Căn cứ vào đặc điểm kinh tế và kỹ thuật, người ta thường phân loại sửa chữa thành 2 loại: sửa chữa thường xuyên và sửa chữa lớn TSCĐ

+ Gọi là sửa chữa thường xuyên vì phạm vi sửa chữa nhỏ, thời gian ngắn, chi phí ít và phải được duy trì bảo dưỡng khá thường xuyên theo quy phạm kỹ thuật

+ Còn sửa chữa lớn được tiến hành theo định kỳ, có thời gian sửa chữa lâu, chi phí sửa chữa lớn nhằm khôi phục lại năng lực của TSCĐ

Tính hiệu quả của việc sử dụng vốn sửa chữa lớn phải được đặt trên các yêu cầu sau:

+ Đảm bảo duy trì năng lực hoạt động bình thường của máy móc thiết bị trong đời hoạt động của nó

+ Phải cân nhắc giữa chi phí sửa chữa lớn bỏ ra với việc thu hồi hết giá trị còn lại của máy móc để quyết định cho tồn tại tiếp tục của máy hay chấm dứt đời hoạt động của nó

-Chú trọng đổi mới trang thiết bị, phương pháp công nghệ sản xuất, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ hiện có của doanh nghiệp, kịp thời thanh lý các TSCĐ không cần dùng hoặc đã hư hỏng, không dự trữ quá mức TSCĐ chưa cần dùng

- Doanh nghiệp phải chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi do trong kinh doanh để hạn chế tổn thất vốn cố định do các nguyên nhân khách quan như: mua bảo hiểm tài sản, lập quỹ dự phòng tài chính, trích trước các chi phí dự phòng…

Nếu việc tổn thất TSCĐ do các nguyên nhân chủ quan thì người gây ra phải chịu trách nhiệm bồi thường cho doanh nghiệp

5.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định

Các chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định trong doanh nghiệp

5.2.1.Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định

Khái niệm:

Là quan hệ tỷ lệ giữa doanh thu (hoặc doanh thu) thuần với số dư bình quân VCĐ vốn trong kỳ

Trang 16

NGđ – nguyên giá đầu kỳ cần khấu hao

NGc – nguyên giá cuối kỳ cần khấu hao

MKlkđ – mức khấu hao lũy kế đầu kỳ

MKtrích – mức khấu hao trích trong kỳ

MKg – mức khấu hao giảm trong kỳ

MKlkc – mức khấu hao lũy kế cuối kỳ

- Doanh thu thuần bằng doanh thu thực hiện trừ đi các khoản chiết khấu bán hàng, giảm giá hàng bán, trị giá hàng bán bị trả lại, thuế gián thu nếu có

TThuần Doanh thu hoặc doanh thu thuần

Nguyên giá BQTSCĐ trong kỳ

Bq

Thuan SVCD

VCD

T T

=

Bq

Thuan STSCD

NG

T T

=

Bq

NG

Trang 17

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSCĐ trong kỳ tạo ra được bao

nhiêu đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần

5.2.3.Chỉ tiêu hàm lượng VCĐ: (Mức đảm nhiệm VCĐ)

Khái niệm: Là quan hệ tỷ lệ giữa số dư bình quân VCĐ trong kỳ với doanh

thu thuần trong kỳ

TSVCĐ Tỷ suất lợi nhuận

Pròng Lợi nhuận trước thuế (hoặc sau thuế thu nhập)

VCĐbq Số vốn cố định bình quân trong kỳ

Chú ý: Chỉ tính toán lợi nhuận có sự tham gia trực tiếp của TSCĐ tạo ra vì

thế cần loại những khoản thu nhập khác như lãi về hoạt động tài chính, lãi do góp vốn liên doanh, lãi khác vì không có sự tham gia của VCĐ

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh trong kỳ cứ 100 đồng VCĐ bình quân tham

gia tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế( hoăc sau thuế thu nhập)

) ( Thuan

bq dVCD

T T

VCD

100

*)(

bq

Rong SVCD

VCD

P P

Trang 18

PHỤ LỤC I

KHUNG THỜI GIAN TRÍCH KHẤU HAO CÁC LOẠI TÀI SẢN CỐ ĐỊNH

(Ban hành kèm theo Thông t ư số 45/2013/TT-BTC ngày 25/ 04/2013 của Bộ Tài chính)

Danh mục các nhóm tài sản cố định Thời gian

trích khấu hao tối thiểu (năm)

Thời gian trích khấu hao tối đa (năm)

6 Thiết bị luyện kim, gia công bề mặt chống gỉ và ăn

mòn kim loại

7 Thiết bị chuyên dùng sản xuất các loại hoá chất 6 15

8 Máy móc, thiết bị chuyên dùng sản xuất vật liệu

9 Thiết bị chuyên dùng sản xuất các linh kiện và điện

10 Máy móc, thiết bị dùng trong các ngành sản xuất

da, in văn phòng phẩm và văn hoá phẩm

11 Máy móc, thiết bị dùng trong ngành dệt 10 15

12 Máy móc, thiết bị dùng trong ngành may mặc 5 10

13 Máy móc, thiết bị dùng trong ngành giấy 5 15

14 Máy móc, thiết bị sản xuất, chế biến lương thực, 7 15

Trang 19

thực phẩm

16 Máy móc, thiết bị viễn thông, thông tin, điện tử,

tin học và truyền hình

17 Máy móc, thiết bị sản xuất dược phẩm 6 10

19 Máy móc, thiết bị dùng trong ngành lọc hoá dầu 10 20

20 Máy móc, thiết bị dùng trong thăm dò khai thác

C - Dụng cụ làm việc đo lường, thí nghiệm

1 Thiết bị đo lường, thử nghiệm các đại lượng cơ

7 Các thiết bị đo lường, thí nghiệm khác 6 10

D - Thiết bị và phương tiện vận tải

7 Thiết bị và phương tiện vận tải khác 6 10

E - Dụng cụ quản lý

Trang 20

2 Máy móc, thiết bị thông tin, điện tử và phần mềm

tin học phục vụ quản lý

G - Nhà cửa, vật kiến trúc

2 Nhà nghỉ giữa ca, nhà ăn giữa ca, nhà vệ sinh, nhà

thay quần áo, nhà để xe

4 Kho chứa, bể chứa; cầu, đường, đường băng sân

I - Các loại tài sản cố định hữu hình khác chưa

Trang 21

BÀI 2: LẬP KẾ HOẠCH VỐN LƯU ĐỘNG

1 Vốn lưu động và các nhân tố ảnh hưởng kết cấu vốn lưu động trong doanh nghiệp

1.1 Vốn lưu động của doanh nghiệp

1.1.1.Khái niệm:

Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên các tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được thu hồi toàn bộ, hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết thúc một chu

kỳ kinh doanh

1.1.2.Đặc điểm của vốn lưu động

- Vốn lưu động trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện;

- Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn

bộ sau mỗi chu kỳ kinh doanh;

- Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh

1.1.3 Phân loại vốn lưu động

Để quản lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, thông thường vốn lưu động được phân loại theo các tiêu thức khác nhau:

Phân loại theo hình thái biểu hiện: Theo tiêu thức này, vốn lưu động được chia

thành:

- Vốn bằng tiền và vốn trong thanh toán

+ Vốn bằng tiền: gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, kể

cả kim loại quý (Vàng, bạc, đá quý …)

+ Vốn trong thanh toán: Các khoản nợ phải thu của khách hàng, các khoản tạm ứng, các khoản phải thu khác

- Vốn vật tư hàng hóa (hay còn gọi là hàng tồn kho) bao gồm nguyên, nhiên vật liệu, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ lao động, sản phẩm dở dang và thành phẩm

- Vốn về chi phí trả trước: Là những khoản chi phí lớn hơn thực tế đã phát sinh có liên quan đến nhiều chu kỳ kinh doanh nên được phân bổ vào giá thành sản phẩm của nhiều chu kỳ kinh doanh như: chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, chi phí thuê tài sản, chi phí nghiên cứu thí nghiệm, cải tiến kỹ thuật, chi phí xây dựng, lắp đặt các công trình tạm thời, chi phí về ván khuôn, giàn giáo, phải lắp dùng trong xây dựng cơ bản

Phân loại vốn theo vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất kinh

doanh Theo cách phân loại này vốn lưu động được chia thành 3 loại:

- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: Bao gồm giá trị các khoản nguyên, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu động lực, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ lao động nhỏ

Trang 22

- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: Bao gồm giá trị sản phẩm dở dang và vốn

về chi phí trả trước

- Vốn lưu động trong khâu lưu thông: Bao gồm giá trị thành phẩm, vốn bằng tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn (đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn

…) các khoản vốn trong thanh toán (các khoản phải thu, tạm ứng …)

1.2 Kết cấu vốn lưu động và các nhân tố ảnh hưởng

1.2.1 Kết cấu vốn lưu động theo hình thái biểu hiện

- Vốn bằng tiền và các khoản phải thu:

Vốn bằng tiền gồm: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi Ngân hàng và tiền đang chuyển Tiền là một loại tài sản có tính linh hoạt cao, doanh nghiệp có thể dễ dàng chuyển đồi thành các loại tài sản khác hoặc để trả nợ Do vậy, trong hoạt động kinh doanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần phải có một lượng tiền cần thiết nhất định

Các khoản phải thu: Chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng thể hiện ở

số tiền mà các khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng, cung ứng dịch vụ dưới hình thức bán trước trả sau Ngoài ra, với một số trường hợp mua sắm vật tư khan hiếm, doanh nghiệp còn có thể phải ứng trước tiền mua hàng cho người cung ứng, từ đó hình thành khoản tạm ứng

- Vốn về hàng tồn kho:

Trong doanh nghiệp sản xuất vốn vật tư hàng hoá gồm: Vốn vật tư dự trữ, vốn sản phẩm dở dang, vốn thành phẩm Các loại này được gọi chung là vốn về hàng tồn kho Xem xét chi tiết hơn cho thấy vốn về hàng tồn kho của doanh nghiệp gồm:

+ Vốn nguyên vật liệu chính: Là giá trị các loại nguyên vật liệu chính dự trữ

cho sản xuất, khi tham gia vào sản xuất, chúng hợp thành thực thể của sản phẩm

+ Vốn vật liệu phụ: Là giá trị các loại vật liệu phụ dự trữ cho sản xuất, giúp

cho việc hình thành sản phẩm, nhưng không hợp thành thực thể chính của sản phẩm, chỉ làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bề ngoài của sản phẩm hoặc tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh thực hiện thuận lợi

+Vốn nhiên liệu: Là giá trị các loại nhiên liệu dự trữ dùn trong hoạt động

sản xuất kinh doanh

+Vốn phụ tùng thay thế: Là giá trị các loại vật tư dùng để thay thế, sửa chữa

các tài sản cố định

+Vốn vật đóng gói: Là giá trị các loại vật liệu bao bì dùng để đóng gói sản

phẩm trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

+Vốn công cụ dụng cụ: Là giá trị các loại công cụ dụng cụ không đủ tiêu

chuẩn tài sản cố định dùng cho hoạt động kinh doanh

+Vốn sản phẩm đang chế: Là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất kinh

doanh đã bỏ ra cho các loại sản phẩm đang trong quá trình sản xuất (Giá trị sản phẩm dở dang, bán thành phẩm)

+Vồn về chi phí trả trước: Là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng

Trang 23

có tác dụng cho nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nên chưa thể tính hết vào giáthành sản phẩm trong kỳ này, mà được tính dần vào giá thành sản phẩm các kỳ tiếp theo như chi phí cải tiến kỹ thuật, chi phí nghiên cứu thí nghiệm

+Vốn thành phẩm: Là giá trị những sản phẩm đã được sản xuất xong, đạt

tiêu chuẩn kĩ thuật và đã được nhập kho

Trong doanh nghiệp thương mại, vốn về hàng tồn kho chủ yếu là giá trị các loại hàng hoá dự trữ

Việc phân loại vốn lưu động theo cách này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét đáng giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp Mặt khác, thông qua cách phân loại này có thẻ tìm các biện pháp phát huy chức năng các thành phần vốn và biết được kết câú vốn lưu dộng theo hình thái biểu hiện

để định hướng và điều chỉnh hợp lý có hiệu quả

1.2.2 Phân biệt vốn cố định và vốn lưu động

Vốn cố định của doanh nghiệp là

bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài

sản cố định

Vốn cố định trong quá trình chu

chuyển không thay đổi hình thái biểu

hiện

Vốn cố định dịch chuyển từng

phần vào giá trị sản phẩm mới được

sáng tạo ra trong kỳ và được thu hồi giá

trị từng phần sau mỗi chu kỳ kinh

doanh

Vốn cố định tham gia vào nhiều

chu kỳ kinh doanh mới hoàn thành một

vòng chu chuyển

Vốn lưu động của doanh nghiệp

là bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản lưu động

Vốn lưu động trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện

Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kỳ kinh doanh

Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh

2 Nhu cầu vốn lưu động và các phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

2.1 Sự cần thiết phải xác định nhu cầu vốn lưu động

Vốn là điều kiện tiên quyết không thể thiếu được đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào trong nên kinh tế thị trường hiện nay Do đó, việc chủ động xây dựng, huy động, sử dụng vốn lưu động là biện pháp cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả sử

dụng vốn lưu động ở doanh nghiệp

2.2 Các nguyên tắc xác định nhu cầu vốn lưu động

Xây dựng kế hoạch và sử dụng vốn của doanh nghiệp là hoạt động nhằm

Trang 24

hình thành nên các dự định về tổ chức các nguồn tài trợ nhu cầu vốn lưu động của công ty và sử dụng chúng sao cho có hiệu quả.Các nguyên tắc khi lập và thực hiện

kế hoạch tổ chức và sử dụng vốn lưu động :

2.2.1.Xác định chính xác nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

- Doanh nghiệp cần phải phân tích chính xác các chỉ tiêu tài chính của kỳ trước, những biến động chủ yếu trong vốn lưu động, mức chênh lệch giữa kế hoạch và thực hiện về nhu cầu vốn lưu động ở các kỳ trước

- Dựa trên nhu cầu vốn lưu động đã xác định, huy động kế hoạch huy động vốn: xác định khả năng tài chính hiện tại của Doanh nghiệp số vốn còn thiếu, so sánh chi phí huy động vốn từ các nguồn tài trợ để tài trợ để lựa chọn kênh huy động vốn phù hợp, kịp thời, tránh tình trạng thừa vốn, gây lãng phí hoặc thiếu vốn làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp, đồng thời hạn chế rủi ro có thể xảy

ra

- Khi lập kế hoạch vốn lưu động phải căn cứ vào kế hoạch vốn kinh doanh đảm bảo cho phù hợp với tình hình thực tế thông qua việc phân tích, tính toán các chỉ tiêu kinh tế, tài chính của kỳ trước cùng với những dự đoán về tình hình hoạt động kinh doanh, khả năng tăng trưởng trong năm tới và những dự kiến về sự biến động của thị trường

2.2.2 Chủ động khai thác và sử dụng nguồn vốn kinh doanh nói chung và vốn lưu động nói riêng một cách hợp lý và linh hoạt

Trong điều kiện doanh nghiệp hoạt động được chủ yếu bằng các nguồn vốn huy động từ bên ngoài thì để giảm thiểu chi phí sử dụng vốn, công ty nên linh hoạt tìm các nguồn tài trợ với lãi suất phù hợp Một số nguồn Doanh nghiệp có thể xem xét huy động như:

- Vay ngân hàng: Trong những năm gần đây, đứng trước nhu cầu đòi hỏi về

vốn thì đây là một nguồn cung cấp vốn quan trọng Nguồn vốn tín dụng ngân hàng thực chất là vốn bổ sung chứ không phải nguồn vốn thường xuyên tham gia và hình thành nên vốn lưu động của công ty Mặt khác, Doanh nghiệp cũng nên huy động nguồn vốn trung và dài hạn vì việc sử dụng vốn vay cả ngắn, trung và dài hạn phù hợp sẽ góp phần làm giảm khó khăn tạm thời về vốn, giảm một phần chi phí và tăng lợi nhuận Tuy nhiên, để huy động được các nguồn vốn từ ngân hàng thì Doanh nghiệp cũng cần phải xây dựng các phương án kinh doanh, các dự án đầu tư khả thi trình lên ngân hàng, đồng thời phải luôn luôn làm ăn có lãi, thanh toánh các khoản

nợ gốc và lãi đúng hạn, xây dựng lòng tin ở các ngân hàng

- Nguồn vốn liên doanh, liên kết: Đây là hình thức hợp tác mà qua đó các

doanh nghiệp không những tăng được vốn cho hoạt động kinh doanh mà còn học tập được kinh nghiệm quản lý, tiếp thu được tiến bộ khoa học kỹ thuật va chuyển giao công nghệ

- Vốn chiếm dụng: Thực chất đây là các khoản phải trả người bán, người mua

trả tiền trước, các khoản phải trả khác Đây không thể được coi là nguồn vốn huy

Trang 25

động chính nhưng khi sư dụng khoản vốn này công ty không phải trả chi phí sử dụng, nhưng không vì thế mà Doanh nghiệp lạm dụng nó vì đây là nguồn vốn mà doanh nghiệp chỉ có thể chiếm dụng tạm thời

2.2.3.Để có thể huy động đầy đủ, kịp thời và chủ động vốn trong kinh doanh, công ty cần phải thực hiện các biện pháp sau:

- Xây dựng chiến lược huy động vốn phù hợp với thực trạng thị trường và môi trường kinh doanh của từng thời kỳ

- Tạo niềm tin cho các nơi cung ứng vốn bằng cách nâng cao uy tin của Doanh nghiệp: ổn định và hợp lý hóa các chỉ tiêu tài chính, thanh toán các khoản

Nếu phát sinh nhu cầu bất thường, Doanh nghiệp cần có kế hoạch chủ động cung ứng kịp thời đảm bảo cho hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục, tránh tình trạng phải ngừng sản xuất do thiếu vốn kinh doanh

- Nếu thừa vốn, Doanh nghiệp phải có biện pháp xử lý kịp thời nhằm đảm bảo phát huy thế mạnh, khả năng sinh lời của vốn

Để có kế hoạch huy động và sử dụng vốn sát với thực tế, nhất thiết phải dựa vào thực trạng sử dụng vốn trong kỳ và đánh giá điều kiện cũng như xu hướng thay đổi cung cầu trên thị trường

2.2.4.Tăng cường công tác quản lý các khoản phải thu, hạn chế tối đa lượng

vốn bị chiếm dụng

- Với những khách hàng mua lẻ với khối lượng nhỏ, Doanh nghiệp tiếp tục thực hiện chính sách "mua đứt bán đoạn", không để nợ hoặc chỉ cung cấp chiết khấu

ở mức thấp với những khách hàng nhỏ nhưng thường xuyên

- Với những khách hàng lớn, trước khi ký hợp đồng, Doanh nghiệp cần phân loại khách hàng, tìm hiểu kỹ về khả năng thanh toán của họ Hợp đồng luôn phải quy định chặt chẽ về thời gian, phương thức thanh toán và hình thức phạt khi vi phạm hợp đồng

- Mở sổ theo dõi chi tiết các khoản nợ, tiến hành sắp xếp các khoản phải thu theo tuổi Như vậy Doanh nghiệp sẽ biết được một cách dễ dàng khoản nào sắp đến hạn để có thể có các biện pháp hối thúc khách hàng trả tiền Định kỳ Doanh nghiệp cần tổng kết công tác tiêu thụ, kiểm tra các khách hàng đang nợ về số lượng và thời gian thanh toán, tránh tình trạng để các khoản thu rơi vào tình trạng nợ khó đòi

- Doanh nghiệp nên áp dụng biện pháp tài chính thúc đẩy tiêu thu sản phẩm

và hạn chế vốn bị chiếm dụng như chiết khấu thanh toán và phạt vi phạm quá thời

Trang 26

hạn thanh toán

- Nếu khách hàng thanh toán chậm thì Doanh nghiệp cần xem xét cụ thể để đưa ra các chính sách phù hợp như thời gian hạn nợ, giảm nợ nhằm giữ gìn mối quan hệ sẵn có và chỉ nhờ có quan chức năng can thiệp nếu áp dụng các biện pháp trên không mạng lại kết quả

- Khi mua hàng hoặc thanh toán trước, thanh toán đủ phải yêu cầu người lập các hợp đồng bảo hiểm tài sản mua nhằm tránh thất thoát, hỏng hóc hàng hóa dựa trên nguyên tắc "giao đủ, trả đủ" hay các chế tài áp dụng trong ký kết hợp đồng

2.2.5 Có biện pháp sử dụng có hiệu quả vốn bằng tiền tạm thời nhàn rỗi

Thực hiện phân tích cho thấy, vốn bằng tiền của Doanh nghiệp chiếm tỷ trọng tương đối lớn (22,37% vốn lưu động) Chính vì vậy việc tổ chức quản lý và

sử dụng vốn bằng tiền có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng Trong năm 2008, lượng tiền của Doanh nghiệp tập trung chủ yếu tại ngân hàng 1.510 (trđ) chiếm tỷ trọng 92,6% Với số tiền gửi ngân hàng lớn như vậy, Doanh nghiệp đã đánh mất

cơ hội đầu tư cho các hoạt động khác hứa hẹn nhiều lợi nhuận như kinh doanh tài chính, bất động sản…

2.2.6.Quản lý hàng tồn kho, giảm thiểu chi phí lưu kho

Việc hàng tồn kho trong năm còn nhiều tỷ trọng tương đối cao trong tổng vốn lưu động cho thấy lượng hàng hóa mua cũng như gửi tại các đại lý còn nhiều Việc hàng tồn kho trong quá trình chưa đến tay người tiêu dùng có nhu cầu và chuyển giao quyền sở hữu thì việc mất mát, hỏng hóc, thất thoát vốn là không tránh khỏi

- Lập kế hoạch cho hoạt động kinh doanh trên cơ sở tình hình năm báo cáo, chi tiết số lượng theo từng tháng, quý Kiểm tra chất lượng số hàng hóa khi nhập về Nếu hàng kém phẩm chất thì phải đề nghị người bán đền bù tránh thiệt hại cho Doanh nghiệp

- Bảo quản tốt hàng tồn kho Hàng tháng, kế toán hàng hóa cần đối chiếu sổ sách, phát hiện số hàng tồn đọng để xử lý, tìm biện pháp để giải phóng số hàng hóa tồn đọng để nhanh chóng thu hồi vốn

- Thường xuyên theo dõi sự biến động của thị trường hàng hóa Từ đó dự đoán và quyết định điều chỉnh kịp thời việc nhập khẩu và lượng hàng hóa trong kho trước sự biến động của thị trường Đây là biện pháp rất quan trọng để bảo toàn vốn của công ty

2.2.7.Tổ chức tốt việc tiêu thụ nhằm đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động

- Xây dựng và mở rộng hệ thống dịch vụ ở những thị trường đang có nhu cầu Thông qua hệ thống tổ chức công tác nghiên cứu, tìm hiểu thị hiếu của khách hàng Đây chính là cầu nối giữa Doanh nghiệp với khách hàng Qua đó, Doanh nghiệp có thể thu nhập thêm những thông tin cần thiết và đưa ra các giải pháp thích hợp nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng, củng cố niềm tin của

Trang 27

khách hàng với Doanh nghiệp

- Thực hiện phương châm khách hàng là thượng đế, áp dụng chính sách ưu tiên về giá cả, điều kiện thanh toán và phương tiện vận chuyển với những đơn vị mua hàng nhiều, thường xuyên hay có khoảng cách vận chuyển xa

- Tăng cường quan hệ hợp tác, mở rộng thị trường tiêu thụ, đẩy mạnh công tác tiếp thị, nghiên cứu thị trường, nắm bắt thị hiếu của khách hàng đồng thời thiết lập

hệ thống cửa hàng, đại lý phân phối tiêu thụ trên diện rộng

Hiện nay, hàng hóa của Doanh nghiệp được thực hiện tiêu thụ chỉ qua các đại

lý là chính Để mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thúc đẩy tiêu thụ ngày càng phát triển, Doanh nghiệp phải từng bước xây dựng hệ thống nhiều cửa hàng phân phối của riêng mình để cùng với các đại lý hiện nay đẩy nhanh tốc độ bán hàng Làm được như vậy chắc chắn khả năng tiêu thụ của Doanh nghiệp sẽ tăng lên và tỷ suất lợi nhuận thu được sẽ cao hơn, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của mình

Tuy nhiên, việc mở rộng các đại lý cần chú ý đến vấn đề thanh toán của các đại lý này Thông thường ở các đại lý thường xảy ra tình trạng chậm thanh toán, cố tình dây dưa công nợ để chiếm dụng vốn của Doanh nghiệp, vì vậy Doanh nghiệp cần đặt ra kỷ luật thanh toán chặt chẽ, tốt nhất là phải có tài sản thế chấp, yêu cầu các đại lý thiết lập hệ thống sổ sách, chứng từ đầy đủ Định kỳ Doanh nghiệp sẽ tiến hành kiểm tra, nhằm phát hiện kịp thời các sai phạm Nếu làm tốt sẽ được hưởng bằng cách tăng tỷ lệ hoa hồng, cho hưởng chiết khấu, ngược lại sẽ bị phạt

- Doanh nghiệp nên tổ chức hẳn một phòng marketing phục vụ cho việc nghiên cứu thị trường Đây là nhu cầu cấp bách của Doanh nghiệp để xây dựng được chính sách giá cả, chính sách quảng bá chào hàng của doanh nghiệp trên thị trường Đây là cơ sở cho Doanh nghiệp đưa ra mức giá cạnh tranh, tăng số lượng sản phẩm tiêu thụ và thu được lợi nhuận cao hơn cũng như tăng khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp trong cơ chế kinh tế thị trường khốc liệt hiện nay

2.2.8.Có biện pháp phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra

Khi đã kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Doanh nghiệp luôn luôn phải nhận thức được rằng mình phải sẵn sàng đỗi phó với mọi sự thay đổi, biến động phức tạp có thể xảy ra bất kỳ lúc nào Những rủi ro bất thường trong kinh doanh như: nền kinh tế lạm phát, giá cả thị trường tăng lên,… mà nhiều khi nhà quản lý không lường hết được Vì vậy, để hạn chế phần nào những tổn thất có thể xảy ra, Doanh nghiệp cần phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa để khi vốn kinh doanh nói chung và vốn lưu động nói riêng bị hao hụt, Doanh nghiệp có thể có ngay nguồn bù đắp, đảm bảo cho quá trình hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục

Cụ thể, các biện pháp mà Doanh nghiệp có thể áp dụng là:

- Mua bảo hiểm hàng hóa đỗi với những hàng hóa đang đi đường cũng như hàng hóa nằm trong kho

- Trích lập quỹ dự phòng tài chính, quỹ nợ phải thu khó đòi, quỹ dự phòng

Trang 28

giảm giá hàng bán tồn kho

Việc Doanh nghiệp tham gia bảo hiểm tạo ra một chỗ dựa vững chắc, một tấm

lá chắn tin cậy về kinh tế, giúp Doanh nghiệp có điều kiện về tài chính để chống đỡ có hiệu quả mọi rủi ro, tổn thất bất ngờ xảy ra mà vẫn không ảnh hưởng nhiều đến vốn lưu động

- Cuối kỳ, Doanh nghiệp cần kiểm tra, rà soát, đánh giá lại vật tư hàng hóa,

vốn bằng tiền, đối chiếu sổ sách kế toán để xử lý chênh lệch

2.3 Các phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động và lập kế hoạch vốn lưu

động

2.3.1 Xác định các nguồn vốn lưu động

Có 2 phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động:

2.3.1.1 Phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động gián tiếp trong doanh nghiệp

Dựa vào tình hình thực tế sử dụng VLĐ ở thời kỳ trước của DN để xác định

nhu cầu VLĐ cho thời kỳ tiếp theo khi có sự thay đổi về quy mô SX

- Đặc điểm của phương pháp này là:

+ Dựa vào thống kê kinh nghiệm về VLĐ bình quân năm báo cáo,

+ Nhiệm vụ SXKD năm kế hoạch

+ Khả năng tăng hoặc giảm tốc độ luân chuyển VLĐ năm kế hoạch để xác định nhu cầu VLĐ của DN năm kế hoạch

V nc : Là nhu cầu VLĐ năm kế hoạch

V0 bq : Số dư VLĐ bình quân năm báo cáo

M 1 : Tổng mức luân chuyển VLĐ năm kế hoạch

M 0 : Tổng múc luân chuyển VLĐ năm báo cáo

t: Tỷ lệ giảm hoặc tăng số ngày luân VLĐ năm kế hoạch so với năm báo cáo

- Doanh thu thuần = Doanh thu - Các khoản giảm trừ doanh thu( Bao gồm: Hàng bị trả lại, giảm giá hàng bán và các khoản thuế gián thu ,loại trừ thuế VAT tính theo phương pháp khấu trừ mà DN phải nộp cho nhà nước)

- Tính VLĐ bình quân năm báo cáo theo công thức sau:

Trang 29

- V 0bq Là VLĐ bình quân trong kỳ

- V 0q1 ; V 0q2 ; V 0q3 ; V 0q4 Là VLĐ bình quân các quý 1,2,3 ,4 năm báo cáo

- Tỷ lệ tăng hoặc giảm kỳ luân chuyển VLĐ năm kế hoạch so với năm báo Cáo được xác định theo công thức sau:

K1: Kỳ luân chuyển VLĐ năm kế hoạch

K0: Kỳ luân chuyển VLĐ năm báo cáo

Trên thực tế để ước đoán nhanh nhu cầu vốn lưu động năm kế hoạch các DN

thường dựa vào tổng mức luân vốn và vòng quay VLĐ để dự tính

M1='

Trong đó:

M1: Tổng mức luân chuyển năm kế hoạch

L1: Số vòng quay vốn lưu động kỳ kế hoạch

- Việc dự tính tổng mức luân chuyển vốn năm kế hoạch có thể dựa vào tổng mức luân chuyển vốn kỳ báo cáo có xét đến khả năng mở rộng quy mô kinh doanh năm

kế hoạch

- Số vòng quay năm kế hoạch được xác định căn cứ vào số vòng quay VLĐ bình quân của các DN trong cùng một ngành hoặc vòng quay VLĐ của các DN cùng ngành hoăc số vòng quay VLĐ của DN năm báo cáo có xét tới khả năng tăng tốc độ luân chuyển VLĐ kỳ kế hoạch so với kỳ báo cáo

2.3.1.2 Phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động trực tiếp trong doanh nghiệp

Phương pháp trực tiếp:

- Định mức vốn trong khâu dự trữ

+ Định mức vốn lưu động đối với nguyên vật liệu chính (Vvlc)

Trang 30

Vvlc = Fn x NdtTrong đó:

Fn là phí tổn tiêu hao nguyên vật liệu chính, bình quân ngày đêm kỳ kế hoạch

Ndt là số ngày định mức dự trữ kỳ kế hoạch

Fn = ∑) Trong đó: F là tổng phí tốn tiêu hao nguyên vật liệu chính kỳ kế hoạch; n là

số ngày kỳ kế hoạch (30, 90, 360)

Số lượng Định mức tiêu Đơn giá vật liệu

∑F = sản xuất SP x hao cho mỗi x chính kỳ kế toán

Đơn giá vật liệu chính kỳ kế hoạch: có thể ước tính hoặc tính theo đơn giá bình quân của kỳ trước

Nếu nguyên vật liệu đến cùng lúc với việc trả tiền thì số ngày bằng 0

Nếu doanh nghiệp áp dụng thể thức thanh toán nhừo ngân hàng thu hộ thì ngày đi đường được xác định:

Ndt = Nvc – ( Nbđ + Nnh + Nnt)

Trong đó:

Nvc là số ngày vận chuyển

Trang 31

Nbđ là số ngày bưu điện chuyển chứng từ

Nnh là số ngày làm thủ tục thanh toán ở hai ngân hàng

Ntđ = ∑ (*-./0 đ + ,đ

∑-./0* đ.

Trong đó:

1 là số lượng nguyên vật liệu đi trên đường của mỗi nhà cung cấp

 là số ngày đi trên đường của mỗi nhà cung cấp

+ Số ngày kiểm nhận nhập kho (Nkn) là số ngày hàng đến đơn vị làm thủ tục kiểm nhận, nhập kho

+ Số ngày cung cấp cách nhau (Ncc)

 Là khoảng cách giữa hai lần nhập kho Số ngày cung cấp cách nhau càng ngắn thì số lần cung cấp càng nhiều, nguyên vật liệu chính được dự trữ luân chuyển hàng ngày ít nên doanh nghiệp giảm được vốn dự trữ tăng tốc độ luân chuyển vốn

 Cách xác định ngày cung cấp cách nhau:

Nếu hợp đồng quy định số lần cung cấp thì số ngày này được tính dựa trên hợp đồng

Trường hợp hợp đồng không quy định thì căn cứ vào số ngày cung cấp cách nhau kỳ báo cáo để tính ngày cung cấp cách nhau bình quân kỳ báo cáo Sau đó căn cứ tình hình thực hiện kế hoạch để điều chỉnh cho kỳ kế hoạch theo công thức sau:

Ncco = ∑ (*-./0 22 + ,22

∑-./0*22.

Trong đó:

1 là số lượng nguyên vật liệu cung cấp lần thứ i

 là số ngày cung cấp cách nhau lần thứ i

Ncci kỳ kế hoạch = Ncco x hệ số điều chỉnh số ngày cung cáp cách nhau kỳ

KH

Trang 32

 Nếu cùng một loại nguyên vật liệu nhưng do nhiều đơn vị khác nhau cung cấp và số ngày cung cấp cách nhau của mỗi đơn vị không giống nhau, thì trước hết xác định số ngày cung cấp cách nhau riêng cho mỗi đơn vị không giống nhau, thì trước hết xác định số ngày cung cấp cách nhau riêng cho mỗi đơn vị cung cấp Sau

đó tính số ngày cung cấp cách nhau bình quân bằng phương pháp bình quân gia quyền

 Do doanh nghiệp sử dụng nhiều loại nguyên vật liệu khác nhau nên phát sinh khả năng sử dụng vốn xen kễ giữa các vật liệu, khi tính số ngày cung cấp khác nhau thường được điều chỉnh bằng hệ số xen kẽ, hệ số này được xác định như sau:

Hxk =

Gố 5ố 9ự Iữ KL 6ấ

Vậy số ngày cung cấp cách nhau kỳ kế hoạch được tính:

Ncc = Ncco x Hxk + Số ngày chuẩn bị sử dụng (Ncb): là số ngày cần thiết để chỉnh lý chuẩn bị nguyên vật liệu theo yêu cầu về mặt kỹ thuật trước khi đưa vào sử dụng (cát sàng, sỏi rả trước khi đổ bê tông…)

+ Số ngày bảo hiểm (Nbh): là số ngày dự trữ để phòng bất trắc xảy ra khi thực hiện hợp đồng (cung cấp nguyên vật liệu không phù hợp với hợp đồng, cung cấp sai hẹn…)

Tổng hợp lại ta có số ngày định mức dự trữ nguyên vật liệu:

Fvf : là phí tổn tiên hao vật liệu bình quân mỗi ngày kỳ kế hoạch

Nvf : là số ngày định mức dự trữ vật liệu phụ kỳ kế hoạch

N0 : Số ngày dự trữ vật liệu phụ thực tế kỳ báo cáo

D0 : Số dư bình quân về vật liệu phụ năm báo cáo

Fn0 : Số vật liệu phụ tiêu hao bình quân mỗi ngày kỳ báo cáo

t % : tỷ lệ tăng tốc độ luân chuyển vốn kỳ kế hoạch so với kỳ báo cáo

+ Xác định nhu cầu vốn đối với phụ tùng thay thế (V ft)

Đối với nhóm phụ có giá cao, sử dụng nhiều và thường xuyên thì xác định nhu cầu về vốn cho từng loại như sau:

Vft = Q + R

S x G x Nft

Trang 33

Đối với nhóm phụ tùng có giá trị nhỏ, sử dụng ít và không thường xuyên thì

có thể xác định cho cả nhóm dựa vào số dư thực tế của kỳ trước kết hợp với tốc độ luân chuyển vốn kỳ kế hoạch

- Định mức vốn trong khâu sản xuất (V sx )

Trang 34

TPlk: Tổng phí tổn lũy kế phát sinh mỗi ngày trong chu kỳ sản xuất của sản phẩm đang chế tạo

TPn: Tổng phí tổn sản xuất bỏ vào mỗi ngày trong chu kỳ sản xuất

+ Định mức vốn chi phí trả trước (V tt)

Vtt = Vđ + Sps - Spb

Dđ: Số dư chi phí trả trước đầu kỳ kế hoạch

Sps: Chi phí trả trước phát sinh trong kỳ kế hoạch

Spb: Chi phí trả trước sẽ phân bổ trong kỳ kế hoạch

+ Định mức vốn thành phẩm trong khâu lưu thông (Vtp)

Ntp : số ngày dự trữ thành phẩm gồm ba loại ngày sau:

 Số ngày dự trữ thành phẩm trong kho (Ntk): là số ngày kể từ lúc sản phẩm nhập kho cho đên khi thành phẩm xuất khỏi kho của doanh nghiệp

Nếu hợp đồng quy định khoảng cách giữa hai lần giao hàng thì số ngày dự trữ thành phẩm tại kho là thời gian cách nhau đó (lấy khoảng cách lớn nhất)

Nếu hợp đồng quy định số lượng hàng xuất giao mỗi lần thì số ngày dự trữ thành phẩm tại kho được xác định bằng số ngày tích lũy thành lô

Số ngày tích lũy thành lô

Trang 35

Số ngày dự trữ thành phẩm trong kho luôn biến động từ thấp nhất đến cao nhất nên số ngày này cũng được điều chỉnh bằng hệ số xen kẽ vốn thành phần tương tự như vật liệu

 Số ngày xuất vận (Nxv): là số ngày cần thiết để đưa hàng từ kho đến địa điểm giao hàng Số ngày này căn cứ vào khoảng cách từ kho của doanh nghiệp đến địa điểm giao hàng và phương tiện vận chuyển hàng để xác định Nếu hợp đồng quy định địa điểm giao hàng tại kho thì số ngày này = 0

 Số ngày thanh toán (Ntt): là số ngày kể từ lúc nhận được chứng từ vận chuyển cho đến lúc thu được tiền hàng, số ngày này tùy thuộc vào thời gian làm thủ tục để thanh toán để xác định

Sau khi xác định được các ngày trên, ta xác định được số ngày luân chuyển vốn thành phẩm:

Ntp = (Ntk x Hnk ) + Nxv + Ntt

Phương pháp gián tiếp:

Phương pháp này căn cứ vào số dư bình quân vốn lưu động và doanh thu tiêu thụ kỳ báo cáo, đồng thời xem xét tình hình thay đổi quy mô sản xuất kinh doanh năm kế hoạch để xác định nhu cầu vốn lưu động cho từng khâu dự trữ sản

xuất – lưu thông năm kế hoạch

Vbp0 : Số dư bình quân của toàn bộ vốn lưu động năm báo cáo

M1, M0: là tổng mức luân chuyển vốn kỳ kế hoạch so với kỳ báo cáo năm báo cáo (DTT)

t%: là tỷ lệ tăng tốc độ luân chuyển vốn kỳ kế hoạch so với kỳ báo cáo

t% = P ¡ 0

 P x 100%

Sau đó căn cứ vào tỷ trọng của từng khoản vốn để xác định vốn lưu động trong mỗi khâu

3 Nguồn tài trợ ngắn hạn của doanh nghiệp

3.1 Các mô hình tài trợ vốn lưu động của doanh nghiệp

Để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh

Trang 36

doanh, tài sản và nguồn vốn hình thành tài sản đó là điều kiện không thể thiếu, nó phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh Trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp người ta chú ý đến việc quản lý việc huy động và luân chuyển của vốn

Các nguồn vốn của một doanh nghiệp:

+ Vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu của chủ doanh nghiệp là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp đang có Đối với doanh nghiệp Nhà nước, nguồn vốn tự có là vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước Đối với công ty cổ phần hoặc công ty tnhh, nguồn vốn ban đầu do các cổ đông hoặc thành viên đóng góp để hình thành công ty Đối với các Công ty

cổ phần,vốn kinh doanh có thể huy động thêm từ việc phát hành cổ phiếu Công ty TNHH không thể phát hành cổ phiếu mà chỉ có thể phát hành trái phiếu

để có được số nguyên vật liệu, điên, máy móc, để tiến hành sản xuất Như vậy, doanh nghiệp có thể sử dụng quỹ tiền mặt của mình cho mục đích khác Tuy nhiên,

sử dụng nguồn vốn này cần lưu ý: không nên chiếm dụng quá nhiều hoặc quá lâu một khoản nợ nào đó vì nó sẽ ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp với đối tác, với thị trường hoặc kiện tụng pháp luật, tốt nhất nên có sự thoả thuận về việc chiếm dụng vốn

Trang 37

nhiều nguyên nhân, luôn nảy sinh những khoản nợ phải trả có tính chất chu kỳ Những khoản nợ này còn gọi là nợ tích luỹ, chúng phát sinh thường xuyên trong hoạt động kinh doanh Khi các khoản nợ này chưa đến kỳ hạn thanh toán thì các doanh nghiệp có thể sử dụng tạm thời vào các hoạt động kinh doanh của mình

Những khoản này thường bao gồm:

- Tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động, nhưng chưa đến kỳ trả

Thông thường, tiền lương hoặc tiền công của người lao động trong các doanh nghiệp chi trả hàng tháng thành 2 kỳ: kỳ tạm ứng thường diễn ra vào giữa tháng, và

kỳ thanh toán vào đầu tháng sau Giữa 2 kỳ trả lương sẽ phát sinh những khoản nợ lương trong kỳ

- Các khoản thuế, BHXH phải nộp nhưng chưa đến kỳ nộp

Các khoản thuế phải nộp hàng tháng như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp năm trước nộp vào đầu năm sau, khi mà quyết toán được duyệt.v.v

- Ngoài những khoản nợ có tính chất thường xuyên trên đây, còn có những khoản phát sinh cũng mang tính chất như một nguồn tài trợ mà doanh nghiệp tận dụng trước nhưng không phải trả chi phí, là những khoản tiền tạm ứng trước của khách hàng, số tiền này nhiều hay ít tuỳ thuộc vào tính chất quan trọng của sản phẩm hàng hoá đó, tình hình cung cầu trên thị trường, khả năng mở rộng hay thu hẹp quy mô sản xuất, yêu cầu và điều kiện thanh toán của đôi bên

Ưu điểm nổi bật của nguồn vốn này là: Việc sử dụng nguồn vốn này khá dễ dàng (nguồn vốn tự động phát sinh), và không phải trả tiền lãi như sử dụng nợ vay Đặc biệt, nếu doanh nghiệp xác định chính xác được quy mô chiếm dùng thường xuyên (còn được gọi là nợ định mức) thì doanh nghiệp có thể giảm bớt được nhu cầu huy động các nguồn vốn dài hạn từ bên ngoài, tiết kiệm chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp Tuy nhiên, nguồn tài trợ này có hạn chế là thời gian sử dụng thường ngắn, quy mô nguồn vốn chiếm dụng thường không lớn

3.2.2.Tín dụng nhà cung cấp

Đây là một hình thức tài trợ quan trọng nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn của doanh nghiệp; nó được hình thành khi doanh nghiệp mua hàng hoá dịch vụ từ nhà cung cấp song chưa phải trả tiền ngay Vì vậy, doanh nghiệp có thể sử dụng các tài sản mua được từ nhà cung cấp như một nguồn vốn bổ sung để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn của doanh nghiệp

Đặc điểm của nguồn vốn tín dụng nhà cung cấp:

- Quy mô nguồn vốn tín dụng thương mại chỉ có giới hạn nhất định vì nó phụ thuộc vào số lượng hàng hoá, dịch vụ được mua chịu của nhà cung cấp

- Doanh nghiệp phải hoàn trả sau một thời hạn nhất định và thường là rất ngắn

- Nguồn tài trợ này không thể hiện rõ nét mức chi phí cho việc sử dụng vốn

Ưu điểm: Việc sử dụng tín dụng thương mại có ưu điểm là đơn giản, tiện

lợi trong kinh doanh Tài trợ một phần nhu cầu vốn của doanh nghiệp

Trang 38

Nhược điểm: Chi phí sử dụng tín dụng thương mại thường cao hơn so với

sử dụng tín dụng thông thường của ngân hàng thương mại, mặt khác nó cũng làm tăng hệ số nợ, tăng nguy cơ rủi ro về thanh toán đối với doanh nghiệp

Yêu cầu trong quản lý: Thường xuyên theo dõi chi tiết các khoản nợ nhà cung

cấp để chuẩn bị nguồn tiền đáp ứng nhu cầu thanh toán Tránh để mất uy tín do không trả nợ đúng hạn

3.2.3 Vay ngắn hạn ngân hàng

- Đây là nguồn tài trợ hết sức quan trọng đối với các DN hiện nay Đặc điểm của việc sử dụng vốn vay ngân hàng (tín dụng ngân hàng) là phải sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả, có vật tư bảo đảm, có thời hạn và phải trả lãi

- Các ngân hàng thương mại cho DN vay vốn ngắn hạn dưới các hình thức chủ yếu là:

+ Cho vay từng lần

+ Cho vay theo hạn mức tín dụng

+ Cho vay theo kế hoạch

- Đặc điểm:

+ Nguồn vốn vay này có giới hạn nhất định

+ Đây là nguồn vốn có thời gian đáo hạn

+ Doanh nghiệp phải trả lãi cho việc sử dụng nguồn vốn này

Ưu điểm: Việc sử dụng nguồn vốn tín dụng ngân hàng để tài trợ nhu cầu vốn

lưu động của doanh nghiệp, nó có tác dụng giúp doanh nghiệp khắc phục khó khăn

về vốn

Nhược điểm: Sử dụng nguồn vốn này làm tăng hệ số nợ của doanh nghiệp,

làm tăng rủi ro tài chính do bắt buộc phải trả lãi và hoàn trả nợ đúng hạn

3.2.4 Hối phiếu

- Khái niệm: Hối phiếu là giấy tờ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng

- Hối phiếu gồm 2 loại

+ Hối phiếu đòi nợ: Là giấy tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị

ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng

+ Hối phiếu nhận nợ: Là giấy tờ có giá do người phát hành lập, cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng

Hối phiếu là hình thức tài trợ rất quan trọng đối với doanh nghiệp Thể hiện khi doanh nghiệp có nhu cầu vốn trước thời gian đáo hạn hối phiếu, thì doanh nghiệp có thể thực hiện chuyển nhượng hoặc chiết khấu hối phiếu để nhận trước số tiền bán hàng đáp ứng nhu cầu vốn tạm thời của doanh nghiệp

3.2.5.Bán nợ

Trang 39

Trong quá trình tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn tới việc xuất hiện các khoản nợ phải thu khó đòi, nợ quá hạn của khách hàng v.v mà bản thân doanh nghiệp không hoặc khó có khả năng thu hồi được Trong điều kiện kinh tế thị trường, các doanh nghiệp có thể xử lý các khoản nợ phải thu khó đòi, hoặc nợ quá hạn đó bằng cách bán các khoản nợ đó cho các tổ chức mua, bán nợ chuyên nghiệp

Tuỳ theo quy định của luật pháp ở mỗi quốc gia, tổ chức mua,bán nợ có thể

là ngân hàng thương mại hay công ty mua bán nợ Tổ chức mua bán nợ và doanh nghiệp cần bán khoản nợ phải thu sẽ gặp gỡ thương lượng với nhau và đi đến thoả thuận giá mua, bán khoản nợ Sau khi hai bên thống nhất giá mua, bán sẽ ký kết hợp đồng mua bán nợ Doanh nghiệp bán nợ thông báo cho khách nợ biết việc chuyển đổi chủ nợ Khi việc mua bán nợ đã thực hiện hoàn tầt theo hợp đồng, thì đây

có thể coi là một hình thức tài trợ ngắn hạn cho doanh nghiệp Bên mua nợ sẽ có trách nhiệm thu hồi các khoản nợ và chịu rủi ro có thể xảy ra trong quá trình thu nợ

3.2.6 Các nguồn tài trợ ngắn hạn khác

Ngoài các nguồn vốn để tài trợ ngắn hạn trên, doanh nghiệp còn có thể sử dụng các nguồn khác để tài khoản tiền đặt cọc, tiền ứng trước của khách hàng, các nguồn tài trợ không có bảo đảm khác như tín dụng thư, các khoản cho vay theo từng hợp đồng cụ thể

- Những điểm lợi và bất lợi trong việc sử dụng nguồn tài trợ ngắn

 Chi phí sử dụng tín dụng ngắn hạn thường thấp hơn so với sử dụng tín dụng dài hạn

 Sử dụng tín dung ngắn hạn giúp cho doanh nghiệp có thể dễ dàng, linh hoạt điều chỉnh hơn cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp

Trang 40

hạn dễ dẫn đến tình trạng tài chính của doanh nghiệp luôn căng thẳng, nhất là đối với một số doanh nghiệp trong tình trạng sử dụng cả nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài

sản dài hạn

3.3 Tổ chức đảm bảo nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết

NCVLĐR = Hàng tồn kho + Nợ phải thu - Nợ ngắn hạn (không kể vay ngắn hạn)

- NCVLĐR < 0: Tức là hàng tồn kho và các khoản phải thu nhỏ hơn nợ ngắn hạn

Đây là một tình trạng rất tốt đối với doanh nghiệp, với ý nghĩa là doanh nghiệp được các chủ nợ ngắn hạn cung cấp vốn cần thiết cho chu kỳ sản xuất kinh doanh Vì vậy, đa số các doanh nghiệp đều muốn nhu cầu vốn lưu động ròng âm

- NCVLĐR > 0: Điều này cho thấy nợ ngắn hạn không kể vay ngắn hạn không đủ để tài trợ cho hàng tồn kho và khoản phải thu Vì vậy, doanh nghiệp cần phải huy động các nguồn vay khác từ bên ngoài như ngân hàng, tổ chức tín dụng

để tài trợ cho phần chênh lệch này Trường hợp này xảy ra đối với các doanh nghiệp làm việc theo thời vụ hay các ngành có chu kỳ sản xuất dài

Mục tiêu mà các nhà quản trị hướng tới là làm sao để giảm NCVLĐR đến mức tối thiểu Muốn như vậy cần phải đạt được đồng thời : Duy trì một mức tồn kho tối thiểu mà không gây gián đoạn quá trình sản xuất, thu ngắn tối đa chu kỳ sản xuất, chính sách thương mại, công tác thu hồi nợ khách hàng phải được phát huy tốt nhất Ngoài ra, doanh nghiệp cũng phải cố gắng tìm kiếm các nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài như nợ thuế nhà nước, nợ nhà cung cấp, yêu cầu khách hàng ứng tiền trước

Phân tích mối quan hệ giữa VLĐ ròng và nhu cầu VLĐ ròng:

Việc so sánh giữa vốn lưu động ròng và nhu cầu vốn lưu động ròng rất quan trọng cho việc đánh giá tình hình của doanh nghiệp Bởi nếu chỉ nhìn vào hai chỉ tiêu này một cách riêng lẻ, nhiều khi ta không đánh giá hết được tình hình Ngân quỹ ròng (NQR) thể hiện mối quan hệ giữa vốn lưu động ròng và nhu cầu vốn lưu động ròng

NQR = VLĐR - NCVLĐR

- NQR > 0: (VLĐR > NCVLĐR) thể hiện một cân bằng tài chính rất an toàn

vì doanh nghiệp không phải vay để bù đắp sự thiếu hụt về nhu cầu vốn lưu động ròng Ở một góc độ khác, doanh nghiệp không gặp tình trạng khó khăn về thanh toán trong ngắn hạn và số tiền nhàn rỗi có thể đầu tư vào các chứng khoán có tính thanh khoản cao để sinh lời

- NQR = 0: (VLĐR = NCVLĐR) toàn bộ các khoản vốn bằng tiền, đầu tư ngắn

hạn được hình thành từ các khoản vay ngắn hạn, đây là dấu hiệu về tình trạng mất cân bằng tài chính

- NQR < 0: (VLĐR < NCVLĐR) điều này có nghĩa VLĐR không đủ để tài

trợ NCVLĐR và doanh nghiệp phải huy động các khoản vay ngắn hạn để bù đắp sự

... class="page_container" data-page="26">

hạn toán

- Nếu khách hàng tốn chậm Doanh nghiệp cần xem xét cụ thể để đưa sách phù hợp thời gian hạn nợ, giảm nợ nhằm giữ gìn mối quan hệ sẵn có nhờ có quan. .. class="text_page_counter">Trang 39

Trong trình tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp, nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn tới việc xuất khoản nợ phải... vốn cố định nguyên nhân khách quan như: mua bảo hiểm tài sản, lập quỹ dự phịng tài chính, trích trước chi phí dự phịng…

Nếu việc tổn thất TSCĐ nguyên nhân chủ quan người gây phải chịu trách

Ngày đăng: 22/03/2021, 09:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w