Nghiên cứu thực trạng sức khỏe bệnh tật một số yếu tố liên quan ở người mông hai huyện vùng cao mù cang chải trạm tấu tỉnh yên bái và một số giải pháp Nghiên cứu thực trạng sức khỏe bệnh tật một số yếu tố liên quan ở người mông hai huyện vùng cao mù cang chải trạm tấu tỉnh yên bái và một số giải pháp luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y – DƯỢC THÁI NGUYÊN
LƯỜNG VĂN HOM
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SỨC KHỎE, BỆNH TẬT, MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI MÔNG HAI HUYỆN VÙNG CAO MÙ CANG CHẢI VÀ TRẠM TẤU
TỈNH YẾN BÁI VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
LUẬN ÁN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II
Thái Nguyên - 2012
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y – DƯỢC THÁI NGUYÊN
LƯỜNG VĂN HOM
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SỨC KHỎE, BỆNH TẬT, MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI MÔNG
HAI HUYỆN VÙNG CAO MÙ CANG CHẢI VÀ TRẠM TẤU,
TỈNH YẾN BÁI VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
LUẬN ÁN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án
do tôi thu thập là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận án đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 02/01/2012
Lường Văn Hom
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến thầy, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đàm Khải Hoàn, Phó Trưởng khoa Y tế cộng cộng, Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên - Người đã tận tình hướng dẫn tôi để hoàn thành luận án tốt nghiệp này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Khoa y tế công cộng, Khoa Sau đại học cùng tập thể các Thầy, Cô giáo Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên, đã tạo điều kiện giúp đỡ, giảng dạy, chỉ bảo, hướng dẫn
và đóng góp những ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn các anh, các chị em, bạn bè đồng nghiệp và gia đình luôn động viên khuyến khích, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành công trình nghiên cứu này
Yên Bái, ngày 02 tháng 01 năm 2012
Tác giả
Lường Văn Hom
Trang 5DS-KHHGĐ - Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
Miền núi phía Bắc - MNPB
NVYTTB - Nhân viên Y tế thôn bản
Trang 6PKĐKKV - Phòng khám đa khoa khu vực
TT- GDSK - Truyền thông giáo dục sức khỏe
TTYTDP - Trung tâm y tế dự phòng tỉnh
TT PCBXH - Trung tâm Phòng chống bệnh xã hội
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
LỜI CAM ĐOAN ……… ………ii
LỜI CẢM ƠN iiii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Error! Bookmark not defined DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ixi ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 4
1.1 Thực trạng sức khỏe và bệnh tật của người Mông 4
1.2 Các nguy cơ thách thức đối với sức khỏe người dân tộc thiểu số nói chung và người Mông phía Bắc 18
1.3 Các giải pháp của Đảng và Nhà nước để CSSK người DTTS nói chung và người Mông nói chung ở khu vực miền núi phía Bắc 26
1.4 Vài nét khái quát về huyện Mù Cang Chải, Trạm Tấu 29
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 31
2.3 Phương pháp nghiên cứu 31
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
3.1 Thực trạng sức khoẻ, bệnh tật của người Mông ở hai huyện Mù Cang Chải, Trạm Tấu tỉnh Yên Bái 42
Trang 83.2 Tình hình nhân lực y tế, cơ sở vật chất trạm y tế và kết quả thực hiện 10
chuẩn quốc gia về y tế xã ở các xã và huyện nghiên cứu Error! Bookmark not defined
3.3 Các yếu tố liên quan đến sức khỏe, bệnh tật của người Mông 54 3.4 Các giải pháp CSSK cho người Mông ở 2 huyện Mù Cang Chải, Trạm Tấu tỉnh Yên Bái 71
Chương 4 BÀN LUẬN 80
4.1 Thực trạng sức khoẻ, bệnh tật của người Mông tại hai huyện Mù Cang Chải, Trạm Tấu tỉnh Yên Bái năm 2010 80 4.2 Các yếu tố liên quan đến sức khỏe, bệnh tật của người Mông 92 4.3 Các giải pháp CSSK cho người Mông ở 2 huyện Mù Cang Chải, Trạm Tấu tỉnh Yên Bái 96
KẾT LUẬN 100 KIẾN NGHỊ 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO a PHỤ LỤC h
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
3.1 Chiều cao, cân nặng và BMI của học sinh THPT người Mông 32 3.2 Kết quả BMI học sinh trung học phổ thông 33 3.3 Mối liên quan giữa các yếu tố với BMI thấp của HS THPT 35 3.4 Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ < 5 tuổi 36 3.5 Mối liên quan giữa các yếu tố với tình trạng SDD thể nhẹ cân
3.6 Một số chỉ tiêu kinh tế văn hóa của các hộ gia đình người Mông
3.8 Tình hình chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ và trẻ em 41 3.9 Tình hình thực hiện chương trình DS-KHHGĐ 43 3.10 Tình hình bệnh tật trong 2 tuần qua ở các hộ gia đình 45
3.12 Mối liên quan giữa KT, VH, XH với bệnh tật của người dân 48 3.13 Mối liên quan giữa yếu tố VSMT với bệnh tật của người dân 49 3.14 Tình hình nhân lực tại các xã nghiên cứu 51 3.15 Tình hình nhân lực tại các đơn vị y tế của hai huyện Trạm Tấu,
3.16 Tình hình cơ sở vật chất, trang thiết bị tại các xã nghiên cứu 53 3.17 Kết quả chấm điểm theo 10 Chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn 56
Trang 102001-2010, tháng 12 năm 2010
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
3.1 Tỷ lệ BMI học sinh THPT tại hai huyện nghiên cứu 34
3.2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng tại hai huyện điều tra 37
3.3 Tình hình sử dụng nhà tiêu tại các hộ được điều tra 41
3.4 Tỷ lệ phụ nữ đẻ tại nhà và tại cơ sở y tế tại các hộ được điều tra 43
3.5 Tình hình lựa chọn nơi và phương pháp chữa bệnh của các hộ có
3.6 Mối liên quan giữa yếu tố VSMT với bệnh tật của người dân 50
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Miền núi vùng cao, vùng người dân tộc thiểu số sinh sống luôn được
Đảng và Nhà nước dành nhiều sự quan tâm đặc biệt [3] Nhưng các chỉ số sức khỏe của người dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc thường thấp hơn các khu vực khác ở nước ta Theo báo cáo của Bộ Y tế, năm 2009 tỷ suất sinh thô vùng Đồng bằng Sông Hồng là 17,6%o, của vùng núi phía Bắc là 19,6%o Tỷ suất chết thô vùng Đồng bằng Sông Hồng là 7,2%o, của vùng núi phía Bắc là 6,6%o Tỷ suất chết trẻ em < 1 tuổi vùng Đồng bằng Sông Hồng là 12,4%o, của vùng núi phía Bắc là 24,5%o Tuổi thọ trung bình người dân tộc thiểu số thấp: Tuổi thọ trung bình năm 2009 toàn quốc là 72,8 còn ở miền núi phía bắc mới đạt 70 tuổi [18] Trong các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc thì
người Mông là một trong số ít dân tộc có chỉ số sức khỏe kém nhất [35], [39]
Người Mông ở miền núi phía Bắc phân bố rải rác ở vùng biên giới Việt Trung, Việt Lào Theo Tổng điều tra dân số năm 2009, người Mông ở nước ta
có khoảng 1 triệu người sống tập trung ở miền núi phía Bắc [55]
Thông qua các chính sách đầu tư phát triển cho các huyện miền núi, vùng cao và vùng dân tộc ít người về cơ sở hạ tầng, đường giao thông, trường học, trạm xá cũng như chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội khác, thu nhập và đời sống của người dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc từng bước được cải thiện và nâng lên rõ rệt Nhưng tất cả các cố gắng đó chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đối với miền núi, vùng sâu, vùng xa như Yên Bái và các tỉnh miền núi khác Nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước chưa được thực hiện kịp thời, hiệu quả chưa cao, từ đó nguy cơ vùng miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ngày càng tụt hậu so với các vùng khác trong cùng một khu vực, một tỉnh [11], [21], [22]
Trang 12Ngành Y tế Yên Bái, với chức năng nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho nhân dân các dân tộc trong tỉnh Trong những năm qua nhờ sự đầu tư của nhà nước về CSVC, trang thiết bị y tế, nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn đã đạt được những thành tựu đáng kể như khống chế bệnh sốt rét, bệnh phong, các bệnh do thiếu hụt Iốt và nhiều bệnh tật khác Tuy nhiên, Mù Cang Chải và Trạm Tấu là 2 huyện vùng cao của tỉnh Yên Bái có dân số chủ yếu là người Mông và là hai trong tổng số 62 huyện nghèo nhất cả nước [52] Vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người Mông tại đây vẫn còn nhiều hạn chế so với các vùng khác; nhiều bệnh tật vẫn có nguy cơ phát thành dịch, việc khám chữa bệnh cũng gặp khó khăn, môi trường sống bị
ô nhiễm nghiêm trọng, trình độ dân trí thấp, nhiều phong tục, tập quán lạc hậu như: Tảo hôn, đẻ nhiều, cúng ma khi ốm, đau đã ảnh hưởng lớn đến công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn [35], [37], [54]
Để có những bằng chứng giúp cho các nhà hoạch định chính sách của tỉnh Yên Bái có một cách nhìn tổng thể về tình hình sức khỏe, bệnh tật và các yếu tố ảnh hưởng của người Mông nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng sức khỏe cho người Mông tại hai huyện Trạm Tấu và Mù Cang Chải Để ngày càng nâng cao chất lượng cuộc sống đối với đồng bào dân tộc Mông cũng như đồng bào các dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa của tỉnh Tỉnh Yên Bái cần phải phát triển toàn diện, đồng bộ kinh tế, giáo dục, văn hóa, y tế đưa cuộc sống của người dân ngày càng được nâng cao, có như vậy mới tạo tiền đề vững chắc cải thiện bộ mặt của đời sống trong đó có sức khỏe của nhân dân Câu hỏi nghiên cứu của chúng tôi là: Thực trạng sức khoẻ, bệnh tật của người Mông tại hai huyện Mù Cang Chải, Trạm Tấu tỉnh Yên Bái hiện nay ra sao ? yếu tố nào là nguy cơ đến sức khỏe, bệnh tật người Mông và giải pháp nào để nâng cao chất lượng các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người Mông tại hai huyện Mù Cang Chải, Trạm Tấu tỉnh Yên Bái?
Trang 13Với những lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
thực trạng sức khỏe, bệnh tật, một số yếu tố liên quan, ở người Mông hai huyện vùng cao Mù Cang Chải, Trạm Tấu tỉnh Yên Bái và một số giải pháp”
Mục tiêu nghiên cứu nhƣ sau:
1 Đánh giá thực trạng sức khoẻ, bệnh tật của người Mông tại hai huyện vùng cao Mù Cang Chải, Trạm Tấu tỉnh Yên Bái năm 2010
2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến sức khỏe người Mông ở hai huyện vùng cao Mù Cang Chải, Trạm Tấu tỉnh Yên Bái
3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người Mông tại hai huyện vùng cao Mù Cang Chải, Trạm Tấu tỉnh Yên Bái
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Thực trạng sức khỏe và bệnh tật của người Mông
1.1.1 Một số đặc điểm chung về kinh tế, văn hóa, xã hội, sức khoẻ và hệ thống y tế ở miền núi phía Bắc
1.1.1.1 Kinh tế văn hóa xã hội
Miền núi phía Bắc (MNPB) là khu vực kinh tế văn xã hội còn hết sức khó khăn Vùng sâu, vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh của miền núi phía Bắc là nơi sinh sống chủ yếu của các dân tộc thiểu số, là nơi kinh tế khó khăn, đường
xá đi lại hiểm trở Đa số người dân với kinh tế tự cấp tự túc, sống dựa vào thiên nhiên, nương bãi Trong những năm gần đây, được hỗ trợ của Nhà nước
về xây dựng cơ sở hạ tầng như làm đường, xây dựng trường học, trạm y tế, cung cấp điện, hỗ trợ sản xuất , đời sống người dân đã khá lên về mọi mặt, sức khỏe đã được cải thiện, khống chế được một số bệnh lưu hành ở địa phương như sốt rét, bướu cổ, suy dinh dưỡng, các bệnh truyền nhiễm ở trẻ em
và tai biến sản khoa Tuy nhiên, tình hình phát triển kinh tế - xã hội và sức khỏe của người dân ở vùng miền núi phía Bắc còn thấp so với các vùng đồng bằng Vùng Tây Bắc và Đông Bắc có chỉ số phát triển con người (HDI) thấp hơn so với cả nước Đói nghèo mang tính chất theo vùng rõ rệt, tập trung chủ yếu ở các vùng núi, vùng sâu vùng xa, vùng các đồng bào dân tộc thiểu số Tỷ
lệ người dân sống dưới ngưỡng nghèo, cao nhất là ở vùng Tây Bắc trong khi
đó ở Đồng Bằng Sông Hồng thấp nhất Người dân miền núi phía Bắc còn sinh sống trong vùng thiếu điều kiện phát triển về hạ tầng cơ sở và dịch vụ xã hội
cơ bản đặc biệt là người dân tộc thiểu số Người dân tộc thiểu số (DTTS) chỉ
có 14% dân số nhưng chiếm gần 30% số người nghèo ở Việt Nam Khoảng
Trang 1531% người Kinh nghèo theo ngưỡng quốc tế, còn DTTS có tới 75% Khoảng cách về mức sống giữa người DTTS và người Kinh đang mở rộng ra, trong đó dân tộc Mông tụt hậu khá nhiều trong quá trình tăng trưởng - trên 90% tỷ lệ
hộ nghèo [10], [29]
Các nguyên nhân cơ bản dẫn đến đói nghèo như:
- Nguồn lực còn hạn chế và nghèo nàn
- Trình độ học vấn thấp, việc làm thu nhập thấp
- Dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai, rủi ro khác
- Không có đủ điều kiện tiếp cận với các dịch vụ kinh tế xã hội nhất là các dịch vụ y tế, dân số
Người DTTS ở miền núi phía Bắc có đủ các nguyên nhân trên, bởi vậy đói nghèo tăng cao ở vùng núi, vùng có người DTTS là lẽ đương nhiên Do vậy các chính sách nhằm xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống cho người dân thì phải tìm được nguyên nhân và có các biện pháp hữu hiệu để loại trừ
Về trình độ học vấn, các nghiên cứu về miền núi phía bắc cho thấy tỷ lệ học vấn của người dân rất thấp, tỷ lệ mù chữ khá cao, đa số (>70%) là chỉ đang học tiểu học rồi bỏ học, chưa đọc thông viết thạo Tỷ lệ biết chữ của người DTTS ở MNPB là 73% trong khi trung bình cho cả nước là 90% Mù chữ vẫn đặc biệt dai dẳng trong số phụ nữ thuộc các cộng đồng vùng cao, những người không nói được tiếng Kinh Tỷ lệ mù chữ cao ở phụ nữ độ tuổi trên 35, Hà Giang có nơi trên 50% Trình độ học vấn thấp nhất là phụ nữ người Mông, người Dao Tỷ lệ học sinh người DTTS học từ cấp học Trung học trở lên đều thấp hơn so với người Kinh Mặc dù Nhà nước đã có chính sách ưu tiên trong thi tuyển, chế độ cử tuyển theo yêu cầu của địa phương, cấp học bổng, miễn giảm học phí nhưng tỷ lệ học sinh DTTS đi học vẫn thấp, thậm chí ở Tây Bắc có dân tộc chỉ có một học sinh đi học theo chế độ cử tuyển như dân tộc Si La, Phù Lá, Củ Chu Chất lượng đào tạo giáo dục ở
Trang 16vùng núi còn kém (khoảng 50% thầy giáo không được đào tạo đầy đủ Tỷ lệ người dân biết đọc biết viết ở vùng Tây Bắc và Đông Bắc thấp hơn so với miền xuôi: 73,3%; 89,3% so với 94,5% (ở Hà Giang 68,1%, Lao Cai 69,3%) [10], [42] Nguyên nhân cơ bản là do nghèo đói, không đủ tiền cho chi phí ăn học, trẻ em không thạo tiếng Kinh, cô giáo không thạo tiếng dân tộc, đường
xá đi lại khó khăn
1.1.1.2 Phong tục tập quán
Người dân ở vùng núi cao có tập quán du canh du cư, không có nơi ở
ổn định, do đó nguồn nước sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt không đảm bảo
vệ sinh Việc sử dụng nguồn nước chung cho các đối tượng khoẻ mạnh làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh Người DTTS ở các nơi vùng cao, vùng núi xa có tập quán không sử dụng nhà tiêu, họ thải phân tươi ra bìa rừng xung quanh nhà, hoặc họ đào nhà tiêu thùng, không che chắn cẩn thận, rất mất vệ sinh Đa
số người DTTS sử dụng nhà sàn để sinh hoạt cho cả gia đình: nơi tiếp khách,
ăn nghỉ, đun nấu Nhà sàn bao giờ cũng gắn liền với tập quán đun bếp ở trong nhà để tiện sinh hoạt Chuồng gia cầm, gia súc dưới gầm sàn là thói quen trước đây đã có một thời được vận động đưa ra khỏi nhà nhưng gần đây
do tình hình an ninh không tốt, nó lại trở lại tập quán xưa với việc người nằm trên sàn dưới là đống phân gia cầm, gia súc Khói bếp, phân trâu bò, lợn gà thải ra nguồn nước gây ô nhiễm môi trường sống nặng nề Một tập quán không tốt, mất vệ sinh thường gặp ở người DTTS như để người chết lâu trong nhà để cúng ma sau đó mới chôn cất như dân tộc Mông, dân tộc Tày (Cao Bằng), có thể để người chết trong nhà 3 - 5 ngày Cúng bái là tập quán của người dân miền núi phía Bắc, nhiều DTTS có tập quán cúng bái khi ốm đau, chỉ bao giờ cúng không khỏi mới đi đến cơ sở y tế Tình trạng cúng trừ tà ma khi ốm đau rải rác còn ở nhiều dân tộc ở các vùng cao miền núi như Lao Cai, Lai Châu, Hà Giang, Yên Bái Lạm dụng rượu cũng là một tập quán ở khu
Trang 17vực miền núi, vùng cao và ở mọi dân tộc thiểu số, kể cả những người Kinh di
cư lên sống lâu đời ở khu vực này Thường bất cứ một bữa tiệc nào ở các tỉnh miền núi phía Bắc như cưới xin, vào nhà mới, mừng sinh nhật, đầy tháng, ma chay đều uống rượu tập thể Từ thói quen và do cuộc sống văn hoá nghèo nàn, ít có dịp gặp nhau nên họ mời nhau uống đến say Tỷ lệ uống rượu gặp nhiều nhất ở miền núi Đông Bắc 31,9%, Tây Bắc 32,5%, trong khi đó ở Đồng bằng là 22,2% Đã có nhiều công trình nghiên cứu chỉ rõ ảnh hưởng của rượu tới bệnh xơ gan, ung thư gan, tim mạch, bạo lực xã hội và tai nạn thương tích [35], [37], [44]
Việc thực hiện truyền thông dân số kế hoạch hoá gia đình nhiều năm nay được làm tốt ở Việt Nam, trong đó có khu vực miền núi phía Bắc Tuy vậy trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở đây vẫn còn quan niệm nặng nề về sinh con trai, do vậy nếu chỉ có con gái họ vẫn tiếp tục sinh con nên tỷ lệ sinh
đẻ ở khu vực này cao hơn vùng đồng bằng và thành thị Sinh con tại nhà, thậm chí làm lều để đẻ và chỉ có chồng là người không thông thạo kỹ năng đỡ
đẻ, đây là một tập quán vẫn còn rất phổ biến của dân tộc Mông Nhiều dân tộc thiểu số vẫn có thói quen khi đẻ không đến cơ sở y tế, chủ yếu do người nhà đỡ Tất cả các phong tục tập quán lạc hậu trên đều ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ của người dân đặc biệt là người DTTS [37], [40]
1.1.2 Một số nét đặc trung của người Mông
1.1.2.1 Người dân tộc Mông trên thế giới
Dân tộc Mông cư trú trên một địa bàn rộng ở châu Á, trên lãnh thổ 5 nước: Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Thái Lan và Myanma Ở Trung Quốc, người Mông có dân số đông nhất, khoảng 7.398.000 người, chủ yếu ở tỉnh Quý Châu, gồm 4 nhóm: Mông trắng, Mông xanh, Mông đen, Mông hoa Ở Lào, người Mông có 315.000 người, chủ yếu từ Trung Quốc và Việt Nam di
cư sang, gồm người Mông trắng, Mông xanh Ở Thái Lan, có 152.000 người,
Trang 18gồm Mông trắng, Mông xanh, chủ yếu di cư từ Trung Quốc, Lào sang Tại Myanma có khoảng 25.000 người, di cư từ Trung Quốc và Lào tới Ngoài ra, hiện nay ở các nước phương Tây như Mỹ, Pháp, Úc cũng có cộng đồng người Mông sinh sống, song chủ yếu là ở Mỹ (250.000 đến 300.000 người),
di cư từ Lào sang sau năm 1975 Ở Pháp có khoảng 11.400 người, ở Úc có khoảng 2.000 người, Canađa có 600 người
Về lịch sử, theo các nhà nghiên cứu, dân tộc Mông là dân tộc thiểu số sống ở Trung Quốc (người Trung Quốc gọi là Miêu) Trong lịch sử, từ thế kỷ thứ IV, ở Trung Quốc đã hình thành Vương quốc Mông Trong nhiều thế kỷ,
họ phải liên tục đấu tranh chống lại sức ép của người Hán Đến thế kỷ X, Vương quốc Mông tan rã Tuy nhiên, người Mông không chịu sự đồng hóa của người Hán Do sự chèn ép của người Hán, người Mông di cư xuống phía Nam Như vậy, người Mông sống ở các nước trên thế giới hiện nay đều có nguồn gốc từ Trung Quốc [47] [54]
1.1.2.2 Người dân tộc Mông ở Việt Nam
Ở Việt Nam, người Mông là dân tộc thiểu số có số dân đông, sinh sống chủ yếu ở vùng núi phía Bắc Theo điều tra dân số năm 2009, ở nước ta có khoảng 1 triệu người Mông, chiếm hơn 1% dân số cả nước [55] Trong những năm gần đây, có sự di chuyển của người Mông vào các tỉnh phía Nam, chủ yếu vào các tỉnh Tây Nguyên, bên cạnh xu hướng từ Đông sang Tây (Lào) vẫn tiếp tục Trước năm 1960, dù có một số tài liệu được công bố về dân tộc Mông, vẫn chưa có một công trình nào xác định được chính xác dân tộc Mông
ở Việt Nam có bao nhiêu người Chỉ đến ngày 01 - 3 - 1960, với cuộc Tổng điều tra dân số toàn miền Bắc, người ta mới biết được người Mông có 105.521 người Đến cuộc Tổng điều tra dân số toàn miền Bắc lần thứ hai ngày
01 - 4 - 1974, người Mông có 348.722 người Như vậy, sau 14 năm dân số người Mông tăng thêm 243.201 người Tại cuộc Tổng điều tra dân số toàn
Trang 19quốc lần thứ nhất (01 - 4 - 1979), dân số Mông là 411.074 người Ở cuộc Tổng điều tra dân số toàn quốc lần thứ hai (01 - 4 - 1989), dân số Mông là 558.053 người, vậy là sau khoảng 10 năm, dân số Mông tăng thêm 146.979 người, bình quân hàng năm trong giai đoạn này tăng 3.2% Đến cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam lần thứ ba (01 - 4 - 1999), dân số Mông là 787.604 người, sau 10 năm tăng thêm 229.551 người, bình quân tăng hằng năm là 3.4% So với các dân tộc ở Việt Nam, tốc độ tăng dân số bình quân của người Mông thuộc loại cao Đến cuộc tổng điều tra 2009, người Mông có
số dân khoảng 1 triệu người [55]
Người Mông không những có tỉ lệ phát triển dân số cao mà còn có tốc
độ di chuyển dân cư cũng khá lớn Nếu như năm 1960 họ chỉ có mặt ở 398 xã, năm 1979 có mặt ở 677 xã, thì năm 1989 họ đã có mặt ở 802 xã và năm 1999
có mặt ở trên 1.000 xã Chỉ tính ở cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm
1999, họ đã có mặt ở tất cả các vùng trong cả nước, đông nhất là khu vực Đông Bắc 445.782 người (56.60%), tiếp đến là Tây Bắc 289.000 người (36.69%), Bắc Trung Bộ 39.373 người (4.99%), Tây Nguyên 12.392 người (1.57%), đồng bằng Sông Hồng 533 người, Đông Nam Bộ 431 người và đồng bằng Sông Cửu Long 53 người [63]
Ở nước ta, người Mông nằm trong nhóm các dân tộc nói ngôn ngữ Mông - Dao (gồm ba dân tộc: Mông, Dao và Pà Thẻn) Trước năm 1979, họ được gọi là người Mèo Ở Trung Quốc, người Mông được gọi là người Miêu,
ở Lào gọi là người Mẹo Hiện nay, ngoài Trung Quốc, còn ở hầu hết các nước trên thế giới, họ đều được gọi là người Mông
Hiện nay ở nước ta có các nhóm Mông như sau:
- Mông Đơ hoặc Mông Đâu (Mông trắng)
- Mông Đu (Mông Đen)
- Mông Si (Mông Đỏ)
Trang 20- Mông Dua (Mông Xanh)
- Mông Lềnh (Mông Hoa)
- Mông Xúa (Mông Lai)
- Ná Mẻo (Mông Nước)
Riêng nhóm Ná Mẻo, cho đến nay cũng có các ý kiến khác nhau, vì sống tách biệt với cộng đồng người Mông nói chung và sống kề cận với các dân tộc nói ngôn ngữ Tày - Thái, Việt - Mường nên hiện có những đặc điểm riêng, có thể là một nhóm dân tộc Mông hoặc là một nhóm của dân tộc khác, cần được nghiên cứu tiếp [46], [48]
Hiện nay, tuyệt đại đa số người Mông ở Việt Nam cư trú ở vùng núi cao phía Bắc Người Mông có mặt ở 2.384 bản, thuộc 538 xã, tập trung đông nhất ở Hà Giang, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Yên Bái, Cao Bằng, Nghệ
An, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Bắc Thái, Hòa Bình, Lạng Sơn và một số tỉnh khác Trong lịch sử, người Mông có xu hướng di cư không thích nghi được với hoàn cảnh Hướng di cư truyền thống của người Mông ở Việt Nam là từ Đông sang Tây, bám theo rừng Từ năm 1990 đến nay thêm hướng di cư mới,
từ miền núi phía Bắc vào Tây Nguyên và một số tỉnh phía Nam (hướng Bắc - Nam) Người Mông ở Việt Nam, cũng như người Mông ở Lào, Thái Lan, Myanma đều có nguồn gốc từ Trung Quốc di cư sang Theo các học giả Việt Nam: Người Mông đến Việt Nam bằng các con đường khác nhau và chia thành nhiều đợt, trong đó có 3 đợt chính Một học giả Trung Quốc cho rằng, lịch sử di cư của người Mông (Miêu) vào Việt Nam có 4 đợt, từ giữa thế kỷ XVII đến sau chiến tranh Nha phiến ở Trung Quốc Một trong những thuộc tính của người Mông là dịch chuyển, khi họ không đủ sức ứng phó với hoàn cảnh Quá trình dịch chuyển của người Mông rất phức tạp, sự di cư tự do của người Mông vào các tỉnh Tây Nguyên (có cả các dân tộc khác, như người Nùng, người Thái, người Dao ) diễn ra do nhiều nguyên nhân Do có sự
Trang 21chuyển đổi cơ chế kinh tế (giao đất đến các hộ gia đình, có sự đòi đất tổ tiên, thiếu đất canh tác ), đất canh tác xấu, rừng bị tàn phá nhiều Chiến tranh biên giới 1979 cũng có tác động nhất định Bên cạnh đó, vấn đề tôn giáo kết hợp với sự lôi kéo của các thế lực thù địch cũng dẫn đến di chuyển cư Tuy nhiên, sự di cư của người Mông còn có những yếu tố lịch sử và truyền thống khác Người Mông cư trú trên địa bàn rộng, nên ngay trong cộng đồng của họ
đã có những cách ứng xử rất đa dạng, thể hiện sự thích nghi của người Mông, đặc biệt là thông qua hệ thống canh tác Đối với những vùng cao như Mèo Vạc, Đồng Văn (Hà Giang), cách thích nghi của họ chủ yếu là trồng ngô trong các hốc đá và món ưa thích là mèn mén (ngô xay) Nhưng ở Lào Cai, Yên Bái
họ lại có những cánh đồng lúa nước khá rộng và những thửa ruộng bậc thang rất đẹp [46], [48], [61]
1.1.3 Tình hình sức khỏe bệnh tật của DTTS nói chung và của người Mông nói riêng ở MNPB
1.1.3.1 Tình trạng sức khoẻ kém
Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi (IMR), 1 - 4 tuổi (CMR), tỷ lệ suy
dưỡng, tỷ suất chết mẹ (MMR) và tuổi thọ trung bình là những chỉ số sức khỏe đều còn rất thấp ở miền núi phía Bắc Việc thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước và sau khi sinh cũng như các can thiệp y tế, nhất
là chương trình tiêm chủng mởr ộng, đã tác động trực tiếp làm giảm tỷ suất
tử vong trẻ em dưới 1 tuổi Năm 2001, tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi là 30‰, từ năm 2005 đến năm 2009, tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi chỉ dao động ở mức 15‰-16‰ Như vậy, đã đạt trước mục tiêu trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2006-2010 là giảm tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi xuống còn 16‰ Mặc dù tỷ lệ này giảm ở hầu hết các vùng khó khăn ở MNPB (Đông Bắc, Tây Bắc), nhưng vẫn còn sự chênh lệch lớn so với
Trang 22các vùng có điều kiện kinh tế xã hội phát triển hơn (Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Hồng) (Bảng 1.1)
Bảng 1.1 Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi ở các vùng (trên 1000 trẻ đẻ
Nguồn: Tổng điều tra dân số và nhà ở, 2009 [54]
Mặc dù được Đảng, Nhà nước và ngành Y tế quan tâm nhưng do xuất phát điểm thấp nên khu vực này vấn đề sức khoẻ cộng đồng khu vực MNPB luôn luôn thấp hơn các khu vực khác Tuổi thọ trung bình người dân nơi đây cũng còn thấp: Tuổi thọ trung bình của nữ vùng Tây Bắc mới có 64 tuổi trong khi đó ở vùng Đông Nam Bộ là 74,4 tuổi, cả nước trung bình là 71,5 tuổi (2005) Về tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi và tuổi thọ của các DTTS đều không được cải thiện bằng các chỉ số này của dân tộc Kinh, chẳng hạn IMR của dân tộc Mông là 56%o cao hơn gấp 3 lần IMR của dân tộc Kinh (21%o trẻ đẻ ra sống) và về tuổi thọ kém khoảng 10 năm
Về tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi: Mức chênh lệch giữa các
vùng miền cũng được thể hiện ở tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suydinh dưỡng Mặc
dù có sự cải thiện rõ rệt trong giai đoạn 2005 - 2009 nhưng MNPB vẫn là vùng có tỷ lệ suy dưỡng dưỡng trẻ em cao (Bảng 1.2)
Trang 23Bảng 1.2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo vùng (%), 2005 - 2009
Nguồn: Tổng điều tra dân số và nhà ở, 2009 [54]
Phân tích nguyên nhân của sự khác biệt về tỷ lệ suy dinh dưỡng ở các vùng miền, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng: yếu tố kinh tê xã hội của mỗi vùng
là nguyên nhân chính của sự khác biệt trên Mặt khác, trẻ bị suy dinh dưỡng thường mắc các bệnh nhiễm trùng, chỉ trong những nạn đói thì suy dinh
dưỡng mới là nguyên nhân trực tiếp gây tử vong Một nguyên nhân khác cũng cần được đề cập đến là tỷ lệ SDD liên quan đến kiến thức nuôi con của các bà
mẹ, làm thế nào chuyển tải được các thông tin về phòng chống suy dinh
dưỡng đến với đồng bào DTTS đang là vấn đề nan giải, cần được xem xét nghiêm túc để tìm giải pháp phù hợp như truyền thông trực tiếp nhóm nhỏ, câu lạc bộ, truyền hình, truyền thanh phát tiếng dân tộc, dùng chữ dân tộc
Về tỷ suất tử vong mẹ: Thể hiện sự khác biệt lớn về tình trạng sức khỏe
giữa các vùng, miền, dân tộc.Theo kết quả của chương trình “Giảm tử vong
mẹ và tử vong sơ sinh” được triển khai năm 2009 tại 14 tỉnh miền núi, trong
đó tại 10 tỉnh vùng núi phía Bắc và 4 tỉnh Tây Nguyên cho thấy: vấn đề sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh đã được cải thiện Tính chung tại 14 điểm điều tra,
Trang 24nguy cơ tử vong mẹ là 1/521 thấp hơn so với điều tra của Bộ Y tế năm 2000 –
2001 (1/334) Điều này có nghĩa cứ 521 phụ nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ 49) thì sẽ có 1 trường hợp tử vong mẹ Tuy nhiên, nếu phân tích theo từng địa phương sẽ có sự khác biệt, nguy cơ tử vong mẹ cao nhất ở Điện Biên, cứ 148 phụ nữ vào tuổi 15 - 49 thì có 1 tử vong mẹ; sau đó đến Lai Châu 218; Gia Lai là 271, các tỉnh Sơn La, Cao Bằng, Lào Cai dao động ở mức trên 300 và thấp nhất là Lạng Sơn, chỉ có 1 trên 3.567 phụ nữ trong độ tuổi 15 - 49 Tỷ lệ chênh lệnh này cũng phản ánh sự thiếu hiểu biết về chăm sóc sức khỏe sinh sản có liên quan đến việc tăng tử vong mẹ Số trường hợp tử vong cao nhất thường gặp ở những bà mẹ mù chữ, không có nghề nghiệp và sống trong tình trạng nghèo đói, thu nhập thấp đặc biệt những phụ nữ là người dân tộc có nguy cơ tử vong cao hơn hẳn so với phụ nữ là người dân tộc Kinh Người Kinh luôn nhận thức được nguy hiểm có thể xảy ra khi mang thai nhưng hầu hết người dân tộc thiểu số cho rằng việc chửa đẻ là những sự kiện tự nhiên và một số nơi, khi phụ nữ sinh con, họ sinh tại nhà và không cần có sự can thiệp của nhân viên y tế Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra các nguy cơ làm tăng tử vong mẹ như: phụ nữ lớn tuổi (trên 44 tuổi), đẻ nhiều lần (trên 3 lần) sẽ có tỷ
(15-lệ tử vong mẹ cao gấp 4 lần nhóm sinh 1 - 2 con, các bà mẹ càng nhiều con thì những lần đẻ sau càng có nguy cơ phải can thiệp bằng phẫu thuật so với những lần trước Tập quán sinh con tại nhà hay khoảng cách quá xa và mất nhiều thời gian vận chuyển sản phụ đi cấp cứu trước khi tử vong cũng là những nguy cơ dẫn đến tử vong mẹ 100% phụ nữ Mông ở Sìn Hồ - Lai Châu
đẻ tại nhà và không đi khám thai Sự thiếu chăm sóc của y tế là mối đe dọa tính mạng lớn nhất đối với phụ nữ trong khi sinh Vì trong thời gian này, những tai biến bất thường có thể xuất hiện đe dọa tính mạng người phụ nữ Điều đáng quan tâm là các nguyên nhân chính gây tử vong mẹ như xuất huyết, nhiễm khuẩn, sản giật, phá thai không an toàn là hoàn toàn có thể
Trang 25phòng tránh được Do vậy, việc tăng cường cơ hội cho người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc ít người ở các vùng sâu vùng xa kịp thời tiếp cận được với các dịch vụ y tế chất lượng cao chắc chắn sẽ góp phần làm giảm đáng kể tỷ lệ
tử vong mẹ
1.1.3.2 Một số đặc thù về bệnh tật của người dân ở MNPB
1) Bệnh sốt rét: Trước đây là bệnh lưu hành chủ yếu ở MNPB, Tây Nguyên đến nay bệnh đã được khống chế và đang giảm dần Tỷ suất mắc và chết sốt rét/100.000 dân như sau: Đồng bằng sông Hồng: 32,83 và 0; Miền núi phía bắc: 162,74 và 0; Tây Nguyên cao nhất là 213,14 và 0,14
2) Bệnh lao Theo thống kê của WHO năm 2005 tỷ lệ phát hiện lao dương tính của toàn quốc là 80/100.000 dân, tỷ suất mới mắc và chết vì lao cũng có sự khác nhau giữa các tỉnh có đông DTTS và các tỉnh có ít DTTS Năm 2000 và 2001, tỷ suất mới mắc lao ở 10 tỉnh có tỷ lệ DTTS cao nhất là 29/100.000 ca AFB +/năm và 30/100.000 ca AFB +/; trong khi ở 10 tỉnh có tỷ
lệ DTTS thấp, tỷ suất trên là 66 và 65 Tuy nhiên, không có nghĩa là DTTS ít mắc và chết vì lao, mà vì phát hiện lao chủ yếu được thực hiện ở tuyến huyện,
do đó vùng sâu, vùng xa không tiếp cận để phát hiện được Về chẩn đoán chết
do lao cũng trong trình trạng tương tự Nguyên nhân điều trị bệnh lao chậm là
do người bệnh ở xa cơ sở khám chữa bệnh, họ sợ bị xã hội cô lập, thiếu tiền đi lại và tiếp cận với dịch vụ y tế, chất lượng dịch vụ y tế còn kém ở những vùng núi xa xôi hẻo lánh
3) Tai nạn thương tích hiện đang là một vấn đề đáng lo ngại trên toàn cầu, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ và tính mạng của con người thuộc mọi lứa tuổi, mọi nghề nghiệp và mọi thành phần xã hội Trong thời gian gần đây, nước ta có tỷ lệ chết do tai nạn thương tích ở nông thôn là 10,6%, thành thị là 11,2% Đáng lưu ý tỷ lệ này lại có sự khác biệt giữa các vùng khác nhau, miền núi cao hơn thành thị: Đồng bằng Sông Hồng chiếm 6,4%, miền núi
Trang 26trung du Đông Bắc 10%, miền núi Tây Bắc 12,8% Nguyên nhân cơ bản liên quan đến tai nạn thương tích tăng cao là do trình độ dân trí thấp và thiếu các phương tiện bảo hộ
4) HIV/AIDS: Năm 2009 nước ta có 160.019 người nhiễm HIV, đã có ở 63/63 tỉnh/thành chủ yếu là ở thành thị Tuy nhiên, các tỉnh miền núi có nhiều DTTS, có vùng biên giới giao lưu thì tỷ lệ nhiễm HIV có chiều hướng tăng, ví
dụ năm 2000 và 2001, tỷ lệ này ở 10 tỉnh có đông DTTS nhất là 53/100.000 người và 68,7/100.000 người cao hơn các tỉnh có ít DTTS Nhiễm HIV không chỉ khu trú trong các khu vực đô thị mà đã lan rộng ra cả các khu vực ít giao lưu, vùng nông thôn, vùng sâu, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Các tỉnh
có nhiều DTTS cư trú, giáp biên giới Trung Quốc, tỷ lệ nhiễm HIV trong những người tiêm chích ma túy đang tăng nhanh Cao Bằng và Lạng Sơn, nơi đông DTTS Tày, Nùng, được xếp vào hàng thứ 7 và 9 về nhiễm HIV cao trong toàn quốc Năm 2009 tỷ lệ nhiễm HIV/100.000 dân như sau: Đồng bằng sông Hồng là 210,8, Miền núi phía Bắc là 254,6 và Tây Nguyên là: 48,2 5) Các bệnh truyền nhiễm: Trước đây là một bệnh chủ yếu của khu vực này, nay đã giảm đi nhiều do tác động của chương trình tiêm chủng mở rộng Trẻ em ở những vùng xa xôi hẻo lánh nơi có người DTTS sinh sống được hệ thống y tế sở tại cố gắng thực hiện nên tỷ lệ tiêm chủng phòng bệnh đạt khá cao (93,4% và 99,6%) Tỷ lệ tử vong do các bệnh truyền nhiễm ở khu vực Tây Bắc cao hơn Đông Bắc và cao hơn so với cả nước Sự khác biệt này rất rõ đối với họ nghèo và không nghèo
1.1.3 Một vài nét về sức khỏe và bệnh tật của bà mẹ và trẻ em người DTTS
Nhìn chung sức khoẻ của phụ nữ miền núi, người DTTS còn thấp kém Theo số liệu nghiên cứu của Trung tâm môi trường và sức khoẻ miền núi về sức khoẻ 04 dân tộc Tày, Giáy, Thái và Nùng ở miền núi phía Bắc cho thấy tỷ
Trang 27lệ đạt tiêu chuẩn sức khoẻ loại I ở cả 04 dân tộc đều dưới 10% (Tày: 6,12%, Giáy: 4,84%; Thái 8,1% và Nùng: 3,54%) Số còn lại lớn gấp nhiều lần là tỷ
lệ sức khoẻ từ loại II đến loại IV Nguyên nhân dẫn đến sức khoẻ yếu của phụ
nữ dân tộc thiểu số là do chế độ dinh dưỡng kém, nhưng phần quan trọng là
do chế độ làm việc nặng nhọc và tuổi trường sống bị ô nhiễm nặng gây ra tỷ
lệ bệnh tật cao
Đặc biệt đối với sản phụ, tỷ lệ chết do tai biến sản khoa từ năm 1993 -
1995 so với tỷ lệ mắc bệnh của người Mường - Hòa Bình là 6,6%, người Thái
- Sơn La là 7.85% và Giáy Lai Châu là 19,29% đều cao hơn tỷ lệ chung của các tỉnh miền núi phía Bắc (5,86%) Trong 5 tai biến sản khoa thì sản phụ ở Hoà Bình chết do uốn ván nhiều nhất (100%), ở Lai Châu chết do nhiễm trùng cao nhất (100%) và ở Sơn La tỷ lệ chết do vỡ tử cung lớn nhất (27,27%) Các tỷ lệ nêu trên ở các tỉnh Tây Bắc đều cao hơn so với mức chung của các tỉnh miền núi phía Bắc
Lai Châu là tỉnh có tỷ suất chết mẹ do tai biến sản khoa so với tỷ lệ mắc bệnh khác cao nhất trong các tỉnh miền núi phía Bắc Nguyên nhân của các trường hợp chết nêu trên rõ ràng liên quan đến việc phụ nữ không đi khám thai, đẻ tại nhà và khi đẻ không có sự trợ giúp của cán bộ y tế
Các số liệu điều tra ở miền núi phía Bắc về nơi đẻ của một số dân tộc thiểu số cho biết hầu hết các dân tộc thiểu số ở vùng sâu được điều tra đều đẻ
ở nhà rất nhiều Tỷ lệ đó của người Mông là 99,9%; người Tày là 97,3%; người Giấy là 92,2%; người Sán Dìu là 81,6% Tuy nhiên hiện nay tỷ lệ đẻ tại nhà đã giảm đáng kể và nếu các sản phụ đẻ tại nhà vẫn có sự trợ giúp của cán
bộ y tế Tỷ lệ đó chung cho các dân tộc khoảng 75%: có dân tộc như Tày (Bắc Sơn: Lạng Sơn đạt tỷ lệ cao tới 93% Những người Mông (Cán Tỷ - Hà Giang) chỉ đạt 11% Trong khoảng 25% trường hợp đẻ tại nhà thì 2/3 là do người nhà đỡ còn lại là do bà mụ vườn đỡ Hầu hết các trường hợp này đứa
Trang 28trẻ sơ sinh được cắt rốn bằng dao tre, nứa không được tiệt trùng Nếu may mắn sống sót được, ít khi có thịt cá Người mẹ khi đi làm nương rẫy thường địu con trên lưng vài giờ liền, dù mưa hay nắng cũng chỉ có tàu lá cây rừng che trở Đến khi nghỉ ngơi mẹ thả con xuống đất, đứa trẻ bị bất động lâu không thể bò hoặc bước đi được Do ít vận động cơ bắp đứa trẻ bị teo nhẽo, chậm biết đi và mất đi tính hiếu động vốn có ở trẻ [13], [26] , [44]
1.2 Các nguy cơ thách thức đối với sức khỏe người dân tộc thiểu số nói chung và người Mông phía Bắc
1.2.1 Tỷ lệ người nghèo còn cao ở khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên
Mặc dù tỷ lệ tăng trưởng khá (bình quân từ năm 1991 đến 2000 là 7,5% /năm), từ mức 156 USD (1992) lên 480 USD (2004) và khoảng 1000 USD (2010) Mức thu nhập thực tế bình quân đầu người trong giai đoạn 1992 -
2004 tăng lên 3 lần Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là một nước nghèo, nằm trong nhóm các nước có thu nhập thấp trên thế giới Người nghèo ở Việt Nam phần lớn sống ở nông thôn, đặc biệt là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi có những điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, sản xuất và đi lại khó khăn, nhất là những
xã được xếp loại đặc biệt khó khăn ở các tỉnh miền núi phía BắcvàTây Nguyên Tỷ lệ nghèo ở các dân tộc ít người chiếm tới 75,3% Tình trạng nghèo của người DTTS ở miền núi phía Bắc đã thay đổi không đáng kể từ năm 1998, cơ hội thoát nghèo của họ rất khó, không dễ dàng như người Kinh Trong số các dân tộc thiểu số thì khả năng thoát nghèo của người Tày, người Thái đạt kết quả khá, trong khi đó người Mông và người Dao kém rất xa so với bình quân của cả nước Các chính sách và chiến lược của Chính phủ đã và đang nhằm vào các đối tượng trên Tuy nhiên, vẫn còn có những đối tượng cần được hỗ trợ nhưng nhiều chính sách chưa vươn tới
Trang 291.2.2 Mô hình bệnh tật thay đổi
Trước đây ở miền núi có mô hình bệnh tật mang đặc trưng của khu vực nghèo với các bệnh truyền nhiễm, nhiễm trùng và suy dinh dưỡng là chủ yếu, tuy vậy các bệnh không nhiễm trùng như bệnh tim mạch, ung thư, tâm thần, tiểu đường, tai nạn thương tích, ngộ độc ngày càng phát triển do điều kiện kinh tế xã hội phát triển thay đổi, mức sống và lối sống thay đổi Tại các vùng nông thôn nghèo ở miền núi và tầng lớp nghèo ở thành phố, thị xã đang bùng phát nguy cơ một số bệnh dịch như sốt xuất huyết, viêm não Nhật Bản, đại dịch HIV/AIDS, viêm phổi do H5N1, H1N1, dịch SARS
Mô hình bệnh tật thay đổi đã đặt ra cho các nhà hoạchđịnh chính sách, chiến lược một vấn đề cần phải cân nhắc lựa chọn: trong điều kiện nguồn lực còn hạn hẹp, hoặc tập trung đầu tư giải quyết các bệnh nhiễm trùng, truyền nhiễm vẫn còn nhiều ở các vùng nghèo, người nghèo hoặc tập trung giải quyết các bệnh không nhiễm trùng mà tương lai còn phát triển nhiều hoặc giải quyết cả hai
Chiến lược hiện đại hóa ngành y tế nhằm giải quyết một cách thích đáng
và có hiệu quả mô hình bệnh tật mới cần được nghiên cứu một cách toàn diện,
và chú trọng đến người nghèo, vùng nghèo
1.2.3 Môi trường tự nhiên và xã hội ngày càng phức tạp
Ô nhiễm môi trường do ô nhiễm vi sinh vật và hóa chất dùng trong phát triển nông nghiệp vẫn còn nặng nề ở các vùng nông thôn nghèo, miền núi Việc xử lý chất thải sinh hoạt, chất thải của khu công nghiệp kinh tế mới, chất thải bệnh viện còn nhiều hạn chế Tình trạng kém vệ sinh, ngộ độc thực phẩm gia tăng và có nguy cơ khó kiểm soát Tỷ lệ người dân sử dụng nước sạch, hố
xí hợp vệ sinh còn thấp, đặc biệt là, người nghèo là dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên
Trang 30Lối sống trong xã hội, nhất là ở thanh niên và vị thành niên đang thay đổi, có nhiều xu hướng tiến bộ nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều tệ nạn xã hội
đã và đang phát triển thành những vấn đề nhức nhối của xã hội Tình trạng nghiện ma túy, thuốc lá, rượu phát triển nhanh trong cộng đồng những người nghèo Các bệnh lây qua đường tình dục, trong đó có HIV/AIDS có xu hướng gia tăng không những ở khu vực thành phố, thị trấn mà còn luồn lách cả vào những vùng nông thôn, miền núi nghèo như Lai Châu, Lạng Sơn
Tai nạn, thương tích và bạo lực đang phát triển Thiên tai, bão lụt thường xuyên xảy ra ở Việt Nam hàng năm mà người nghèo và vùng nghèo thường bị thiệt hại nhiều nhất Đặc biệt do rừng đầu nguồn bị chặt phá, hiện tượng lũ quét, lũ ống, sạt lởđất đã và đang trở thành thảm hoạ cho cộng đồng các dân tộc thiểu số ở miền núi
Nhà nước đã có một số chính sách, chiến lược quốc gia để phòng chống các yếu tố tác hại đến sức khỏe cộng đồng nói trên, nhưng hiệu quả chưa cao
1.2.4 Các thay đổi trong hệ thống y tế
Trước đây, hệ thống CSSK ở Việt Nam nói chung, miền núi phía Bắc nói riêng là hệ thống do Nhà nước trực tiếp quản lý, đầu tư và trực tiếp cung cấp dịch vụ cho toàn dân về mọi mặt: phòng bệnh, chữa bệnh, cung cấp thuốc men Y tế tư nhân phát triển yếu ớt Người dân được cung cấp dịch vụ không phải trả tiền, mọi người đều bình đẳng hưởng thụ chăm sóc sức khoẻ Tuy nhiên, những năm trước đây, thời bao cấp việc CSSK gặp nhiều khó khăn như thiếu thuốc, trang thiết bị, cơ sở xuống cấp, đời sống cán bộ y tế quá thấp, mạng lưới y tế cơ sở tan rã Các cơ sở khám chữa bệnh không đáp ứng nhu cầu của nhân dân
Để giải quyết khó khăn về tài chính, huy động thêm sự đóng góp của nhân dân, nhiều chính sách mới đã được ban hành như chính sách khuyến khích xã hội hóa trong lĩnh vực y tế,cho phép hành nghề y dược tư nhân, thực
Trang 31hiện thu một phần viện phí, phát triển BHYT, xóa bỏ độc quyền xuất nhập khẩu và phân phối thuốc của các cơ sở quốc doanh Nhờ đó các công ty liên doanh về thuốc, các hãng sản xuất và cung cấp trang thiết bị và dụng cụ y tế, các bệnh viện liên doanh với nước ngoài ra đời Các chính sách nói trên, ngoài mặt tích cực là tăng thêm nguồn lực cho CSSK, nhưng cũng đem lại nhiều thách thức cho việc thực hiện công bằng và hiệu quả trong CSSK nhân dân Chính sách thu viện phí ở cơ sở y tế công đã đem lại những khó khăn cho người nghèo trong tiếp cận và sử dụng dịch vụ KCB, vì người nghèo không
có khả năng chi trả khi đi khám, chữa bệnh Nhà nước quy định người nghèo được miễn, giảm phí, nhưng do hướng dẫn không cụ thể, rõ ràng nên ở các địa phương khó thực hiện, hoặc không thực hiện Nguồn tài chính để đảm bảo chính sách chỉ dựa vào ngân sách địa phương nhưng hầu hết các tỉnh đều thiếu thốn, không có khả năng cung cấp
Chính sách phát triển BHYT là một hướng đúng, lâu dài bởi vì nó có tính công bằng: đóng góp theo thu nhập, hưởng thụ theo nhu cầu, người khỏe thì
hỗ trợ người hay ốm đau, mà người nghèo, người già hay ốm đau thì được hưởng thụ nhiều hơn, mặc dầu đóng góp ít hơn do thu nhập thấp hơn Chính phủ đã bỏ tiền ra mua bảo hiểm cho người nghèo, người cô đơn, tàn tật với mệnh giá thấp Nhưng phát triển BHYT trong nông dân gần 80% dân số hiện đang gặp khó khăn lớn về tổ chức cũng như nguồn lực
Mạng lưới y tế cơ sở ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên còn chưa đồng đều, còn yếu ở các vùng khó khăn Từ khi thực hiện nghị định 58/CP/1995 về
y tế cơ sở, việc trả lương và phụ cấp cho cán bộ y tế xã và cán bộ y tế thôn bản bằng ngân sách Nhà nước, tiếp theo đó là thực hiện 100% xã có trạm y tế, đưa bác sỹ về xã, các xã đều có nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi, tăng cường trang thiết bị, mạng lưới y tế cơ sở đã dần dần phát triển đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân Cùng với việc thành lập các Trung tâm y tế
Trang 32huyện, mạng lưới y tế xã, thôn bản được củng cố, công tác CSSK ban đầu được bảo đảm, có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong CSSKND Các chương trình y tế như tiêm chủng mở rộng, chống dịch, phòng chống sốt rét, lao chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em, kế hoạch hoá gia đình, khám chữa bệnh thông thường ở miền núi, vùng nghèo được cải thiện, 80% dịch vụ y tế được thực hiện ở tuyến y tế cơ sở, chủ yếu là ở xã
Tuy nhiên trong tình hình hiện nay, chất lượng dịch vụ của TYT, đặc biệt là ở miền núi, vùng sâu vùng xa còn thấp, chưa đáp ứng nhu cầu hiện nay Năm 2004, mới có 39,99 % số xã có bác sỹ, còn 91,91% số xã có nữ hộ sinh, y sỹ sản nhi, các tỉnh có tỷ lệ bác sỹ xã thấp đó là Lai Châu (16,1%), Lào Cai (20,8%) Nhìn chung nhân lực y tế ở miền núi còn thiếu, thiếu bác
sỹ, thiếu điều dưỡng viên, hoạt động y học cổ truyền tại TYT còn thấp, tỷ lệ sản phụ đẻ tại các cơ sở y tế cũng còn thấp Tuy nhiên tình hình này đã được cải thiện nhiều trong những năm gần đây
Chủ trương đưa việc KCB của người có BHYT về trạm y tế xã là một giải pháp tích cực để thuận tiện cho người nghèo có thẻ Người nghèo có điều kiện tiếp cận với dịch vụ y tế nhiều hơn Tuy nhiên, để chủ trương này thực
sự có hiệu quả và bền vững, cần phải tăng nguồn lực, tăng đầu tư, cán bộ y tế
có thể tăng thu nhập ít ỏi qua tỷ lệ trích thưởng của BHYT Nhưng nếu không
tổ chức quản lý tốt, chất lượng dịch vụ kém, coi như không có hiệu quả Cần đào tạo bổ sung thêm kỹ năng điều trị cho cán bộ y tế ở vùng khó khăn, vùng núi phù hợp với mô hình bệnh tật ở địa phương Một trong những điểm yếu trong hoạt động của y tế xã hiện nay là hoạt động tuyên truyền giáo dục, tư vấn sức khỏe theo mô hình bệnh tật ở địa phương là do nhận thức và kỹ năng của cán bộ y tế chưa tốt, nhất là ở vùng núi, vùng DTTS Đã đến lúc phải đưa việc CSSK đến tận hộ gia đình để tăng thêm hiệu quả
Trang 331.2.5 Hưởng thụ chính sách CSSK của người dân tộc thiểu số
Một số nghiên cứu cho thấy: người DTTS có nhu cầu KCB nội trú và ngoại trú nhiều hơn vì tần suất ốm và ốm nặng nhiều hơn, nhưng thực tế họ sử dụng dịch vụ ít hơn, chỉ bằng một nửa nhóm giàu Người nghèo và đồng bào DTTS sử dụng dịch vụ ở TYT và bệnh viện huyện nhiều nhất KCB ở bệnh viện tỉnh và tuyến Trung ương ít, tần suất định chi chỉ bằng nửa nhóm giàu
Tỷ lệ khám thai và sử dụng các dịch vụ phòng bệnh cũng thấp hơn Nguyên nhân có nhiều, chủ yếu là thiếu tiền cho chi phí đi lại, ăn, ở, không có khả năng chi trả cho dịch vụ
Hiện nay các cơ sở y tế và nhân lực y tế ở vùng nghèo, miền núi, biên giới đã được cải thiện nhiều, nhưng còn kém về số lượng và chất lượng, đặc biệt là chất lượng Những dịch vụ y tế chất lượng cao và thuốc đắt tiền hơn, cần cho bệnh chuyên khoa lại không nằm trong quytrả của BHYT và ngoài khả năng chi trả của người nghèo Như vậy, thực ra chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người nghèo chỉ ở mức độ thiết yếu Ở tuyến dưới, người nghèo ít có khả năng tiếp cận với các dịch vụ cao, các chuyên khoa sâu, kỹ thuật điều trị chất lượng tốt Đó cũng là thiệt thòi của người nghèo vì nếu lên tuyến trên, họ không có tiền đi lại ăn ở, mặc dầu được miễn viện phí theo chế
độ ưu đãi của Nhà nước
Về tinh thần, thái độ của cán bộ y tế khi chăm sóc người nghèo, qua nhiều cuộc điều tra cho thấy không có sự phân biệt đối xử nhiều so với những
người khá giả Nói chung, người nghèo hầu như không phải trả "phí ngầm" có
lẽ do họ thực sự không có tiền và nhân viên y tế cũng biết điều đó, trừ những trường hợp cá biệt Đối với đồng bào các DTTS thường ít sử dụng các cơ sở y
tế công để khám chữa bệnh, chỉ những trường hợp nặng họ mới đến bệnh viện Thông thường họ tự dùng thuốc và đến các thầy lang tại chỗ Phụ nữ vẫn
Trang 34còn ít đi khám thai và thích đẻ ở nhà do chồng hay người nhà, bà mụ vườn đỡ,
do đó tỷ lệ chết mẹ và chết chu sinh còn cao
Về đầu tư cho y tế ở vùng nhiều DTTS, hiện nay xã nào cũng có TYT,
có nhân viên y tế thôn bản, số bệnh viện tỉnh, huyện và số giường bệnh của 6 tỉnh đặc biệt khó khăn ở miền núi phía Bắc đều bằng hoặc cao hơn mức trung bình của cả nước Tỷ lệ bác sỹ/10.000 dân ở Tây Bắc là 8,1%, thấp hơn mức trung bình của cả nước (46,4%); tỷ lệ Y sỹ sản nhi/nữ hộ sinh trung học ở Tây Bắc còn thấp 48%, thấp hơn một nửa sovới toàn quốc (80-90%) Trong một đánh giá khác về thực hiện CSSKBĐ thì một cán bộ y tế của Lào Cai phải đảm nhận nhóm dân cư trong địa bàn có diện tích đến hơn 22,3km2
là quá lớn
so với vùng đồng bằng và đô thị
Ngoài vấn đề miễn giảm viện phí, người DTTS ở xã thuộc chương trình
135 và vùng đặc biệt khó khăn của các tỉnh miền núi được cấp thêm 20.000đ tiền thuốc thông thường dùng ở xã cho mỗi người/1 năm Sự khác biệt về ngôn ngữ khoảng cách xa về địa lý, và thiếu tiền cho các chi phí ngoài KCB trực tiếp cũng là những nguyên nhân chính để các DTTS ít tiếp cận được với các cơ sở y tế công khi ốm đau Để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế ở các vùng DTTS, trước hết là tăng cường số lượng và chất lượng cán bộ y tế ở xã, thôn bản và huyện (trong đó có phòng khám đa khoa khu vực) bằng chính sách đãi ngộ thích đáng, trong đó có việc đào tạo và lương phụ cấp Ngoài cơ
sở và trang thiết bị, còn cần bổ sung kinh phí thường xuyên vì nguồn thu khác
ít hoặc không có [27], [31], [40]
Ngoài ra được sự quan tâm của Đảng, sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, cùng với việc tổ chức thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số của các bộ, ngành nên việc thực hiện chính sách xã hội trong đó có y tế ở miền núi, vùng đồng
Trang 35bào dân tộc thiểu số trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu rất đáng khích lệ góp phân CSSK cho người DTTS ở MNPB ngay càng tốt hơn
Về thành tựu xóa đói, giảm nghèo: Năm 1997, tỷ lệ hộ đói nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số là 60%, sau 7 năm thực hiện Chương trình 135 (1999 - 2005), tỷ lệ này còn trên 47% Hơn 22 ngàn công trình kết cấu hạ tầng được xây dựng và đưa vào sử dụng, bao gồm các công trình giao thông, thủy lợi, trường học, công trình cấp nước sinh hoạt, công trình điện, trạm y tế…
Có thêm 562 xã có đường ô-tô đến trung tâm xã, số xã có trạm y tế bảo đảm phục vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân tăng lên; 84% số xã có điện; 58% số xã có công trình phục vụ nước sinh hoạt; 60% số xã có trạm bưu điện văn hóa xã; 84% số xã có trạm truyền thanh
Việc thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II (2006 - 2009) với 4 nhiệm
vụ triển khai trên địa bàn 1.946 xã đặc biệt khó khăn và 3.149 thôn bản đặc biệt khó khăn của các xã khu vực II thuộc 337 huyện ở 47 tỉnh tiếp tục đạt hiệu quả tích cực Dự án đã triển khai đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ cơ sở và cộng đồng, các bộ, ngành và tập huấn cho 231.000 lượt người dân
Riêng Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg, sau 4 năm thực hiện (2004 - 2008) cũng đạt những kết quả thiết thực như cải thiện nhà ở, đất ở canh tác và các công trình vệ sinh như nước sinh hoạt Trên địa bàn 53 tỉnh đã hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 198.702 hộ (đạt 71% so với mục tiêu đề án) Về các công trình nước tập trung, các địa phương đã xây dựng được 4.663 công trình, đạt 77% so với mục tiêu đề án
Cùng với xóa đói, giảm nghèo, chính sách chăm sóc sức khỏe và giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống các loại dịch bệnh nguy hiểm và Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg về cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người
Trang 36nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số, miễn phí một số dịch vụ khám chữa bệnh, đặc biệt là chương trình quân dân y kết hợp của Bộ Quốc phòng được thực hiện với các hoạt động nhằm hướng tới việc phòng, chống bướu cổ, sốt rét,
tiêm chủng mở rộng, xóa xã "trắng" về y tế, bảo đảm kịp thời việc khám chữa
bệnh cho đồng bào Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho đồng bào đã có nhiều cố gắng và được cải thiện rõ rệt Hệ thống y tế cơ sở được xây dựng đến tận tuyến xã (96% số xã có trạm y tế), một số nơi đã có mạng lưới y tế thôn, bản Xét về mặt bằng chung các chỉ số y tế, dinh dưỡng năm sau đều cao hơn năm trước Tại các vùng trọng điểm về sốt rét, tỷ lệ mắc bệnh đã giảm đáng
kể Tỷ lệ tiêm chủng các loại vắc-xin cho trẻ em đạt trên 90% Về cơ bản,
chúng ta đã xóa vùng "trắng" về y tế cơ sở, kiểm soát được 90% các loại dịch
bệnh nguy hiểm như bệnh phong, sốt rét, bướu cổ Thành tựu đó là sự kết tinh công sức, trí tuệ và sức lao động bền bỉ của các cấp, các ngành, các địa phương dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước ta trong những năm gần đây Kết quả cụ thể và thiết thực ấy đã củng cố và tăng thêm niềm tin yêu của đồng bào các dân tộc, nhất là đồng bào ở vùng sâu, vùng xa đối với Đảng và Nhà nước ta [11], [12], [22]
1.3 Các giải pháp của Đảng và Nhà nước để CSSK người DTTS nói chung và người Mông nói chung ở khu vực miền núi phía Bắc
Để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và y tế cho khu vực miền núi phía Bắc, Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều chính sách, giải pháp Kết qủa đã làm thay đổi lớn đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội và y
tế ở khu vực này Các chính sách, giải pháp được chia thành 3 nhóm chính:
- Những chính sách, biện pháp nhằm ưu tiên giải quyết các vấn đề sức khỏe nổi cộm của người nghèo, người DTTS và vùng nghèo
- Những chính sách, biện pháp nhằm tăng cường khả năng tiếp cận của người dân nghèo, đặc biệt người DTTS đến với các dịch vụ y tế
Trang 37- Những chính sách, biện pháp cơ bản để hỗ trợ người nghèo, vùng nghèo trong khám chữa bệnh
Các chính sách, biện pháp nhằm giải quyết các vấn đề sức khỏe ưu tiên
của người nghèo, người DTTS, vùng nghèo đó là : Đối với người nghèo, vùng
nghèo ở nước ta nói chung và ở miền núi phía Bắc nói riêng, các bệnh phổ biến nhất là thuộc nhóm nhiễm trùng, kí sinh trùng và suy dinh dưỡng Trong nhiều thập kỷ qua, Nhà nước đã triển khai rộng khắp và có hiệu quả 6 chương trình y tế quốc gia (trước kia) và 10 chương trình mục tiêu (hiện nay) tập trung chủ yếu vào giải quyết các bệnh dịch như sốt xuất huyết, thương hàn, viêm não Nhật bản B, các bệnh do súc vật truyền sang người, HIV/AIDS, các bệnh truyền nhiễm ở trẻ em và những bệnh nhiều người mắc như lao, phong, sốt rét, bướu cổ, tâm thần, tai nạn thương tích, ngộ độc thực phẩm , đã và đang thu được những thành công to lớn Một số bệnh trước kia là vấn đề sức khỏe ưu tiên ở miền núi phía Bắc nay đã bị đẩy lùi như sốt rét, bướu cổ, viêm
não Nhật bản B [4], [8]
Nhờ có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đến nay ở miền núi phía Bắc đã có một hệ thống y tế bao phủ rộng khắp từ tỉnh xuống đến tận thôn bản, kể cả những vùng miền núi, khó khăn, vùng sâu, vùng xa Hệ thống đó
đã triển khai các chương trình y tế, cung cấp rất nhiều dịch vụ y tế cơ bản cho người dân Nhờ đó, trình trạng sức khỏe của nhân dân các dân tộc miền núi đã được cải thiện rõ rệt Nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tuyến cơ sở, phục vụ nhu cầu CSSK ngày càng cao của nhân dân, ngành y tế đã chủ trương đưa bác sĩ về xã, đồng thời đảm bảo tất cả các xã có nữ hộ sinh và điều dưỡng viên trung cấp Theo chiến lược CSSK nhân dân đến 2010 của Đảng và Nhà nước ta: Phấn đấu 100% các xã trên toàn quốc đã có TYT, 100% thôn bản có nhân viên y tế cộng đồng, 100% xã có nữ hộ sinh trung cấp hoặc y sĩ sản nhi
và 70% xã có bác sỹ [5] Ngay từ năm 1996, Bộ Y tế đã xây dựng một chiến
Trang 38lược riêng cho MNPB, đó là Chiến lược Chăm sóc và Bảo vệ sức khoẻ nhân dân vùng núi phía Bắc trong thời gian 1997 - 2000 và 2010, trong đó nêu rõ:
"Nhà nước đảm bảo những điều kiện tối thiểu để tất cả các xã đều có trạm y
tế hoạt động" [3] Tuy nhiên đây là thách thức rất lớn đối với miền núi phía
Bắc
Theo Quyết định số 243/2005/QĐ-TTg, ngày 05/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, phần nói về người nghèo, vùng nghèo như sau:
"Tiếp tục củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở cả về cơ sở vật
chất, trang thiết bị và cán bộ y tế để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tuyến
cơ sở, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cơ bản của toàn dân, đặc biệt là của người nghèo"
"Tăng nhanh tỷ trọng các nguồn tài chính công cho y tế (bao gồm ngân
sách nhà nước, bảo hiểm y tế), giảm dần hình thức thanh toán viện phí trực tiếp từ người bệnh Bảo đảm tốc độ tăng chi từ ngân sách nhà nước cho ngành y tế cao hơn tốc độ tăng chi ngân sách nhà nước hàng năm; trong đó
ưu tiên đầu tư cho y tế cơ sở, cho các vùng nghèo, vùng núi, vùng sâu, vùng
xa, y tế dự phòng và chú trọng phát triển y tế kỹ thuật cao"
"Đảm bảo ngân sách và tổ chức tốt việc khám, chữa bệnh cho người nghèo, cho trẻ em dưới 6 tuổi và các đối tượng chính sách xã hội; xây dựng chính sách trợ giúp đối với những người có thu nhập thấp (cận nghèo), đảm bảo công bằng trong chăm sóc sức khỏe" .[1], [22]
Trang 391.4 Vài nét khái quát về huyện Mù Cang Chải, Trạm Tấu
1.4.1 Huyện Mù Cang Chải
Mù Cang Chải là huyện vùng cao, là 01 trong 62 huyện nghèo nhất nước, nằm ở phía Tây tỉnh Yên Bái, cách trung tâm tỉnh 180 km, nằm dọc theo quốc lộ 32, phía Bắc giáp huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai; phía Nam giáp huyện Mường La tỉnh Sơn La; Phía Đông giáp huyện Văn Chấn; Phía Tây giáp huyện Than Uyên tỉnh Lai châu Huyện có 13 xã và 01 thị trấn Diện tích 1.201,96km2 Dân số 47.590 người gồm 12 dân tộc cùng sinh sống, trong đó người dân tộc Mông chiếm 90%, còn lại các dân tộc khác
Mù Cang Chải có 04 đơn vị y tế tuyến huyện gồm: Bệnh viện Đa khoa huyện với 40 giường bệnh và 02 Phòng khám đa khoa khu vực với 15 giường bệnh thực hiện công tác khám chữa bệnh và điều trị cho nhân dân trên địa bàn; Trung tâm Y tế huyện thực hiện công tác phòng bệnh và quản lý hệ thống y tế xã; Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện là đơn vị trực thuộc Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh thực hiện công tác quản lý nhà nước về Dân số trên địa bàn; Phòng Y tế trực thuộc UBND huyện có chức năng tham mưu cho UBND huyện thực hiện quản lý nhà nước về y tế trên địa bàn; 14/14 xã/thị trấn có trạm y tế xã Các trạm y tế xã thực hiện công tác CSSKBĐ, vệ sinh phòng bệnh và khám điều trị các bệnh thông thường cho nhân dân Tổng
số cán bộ y tế của huyện là 128 Trong đó bác sỹ 18, dược sỹ đại học 01, dược
sỹ trung học 04, y sỹ 46, điều dưỡng 23, nữ hộ sinh 23, Kỹ thuật viên Y: 05, cán bộ khác 8 [52]
1.4.2 Huyện Trạm Tấu
Trạm Tấu là huyện vùng cao 1 trong 62 huyện nghèo nhất nước, nằm ở phía Tây tỉnh Yên Bái, cách trung tâm tỉnh 120 km, phía Bắc giáp huyện Mù Cang Chải; Phía Đông giáp huyện Văn Chấn; Phía Tây, Tây Nam giáp huyện Mường La tỉnh Sơn La Đơn vị hành chính có 11 xã và 01 thị trấn Diện tích
Trang 40rộng 746,96km2 Dân số 24.764 người gồm 07 dân tộc cùng sinh sống, trong
đó người dân tộc Mông chiếm 70%, còn lại các dân tộc khác
Trạm Tấu có 04 đơn vị y tế tuyến huyện gồm: Bệnh viện Đa khoa huyện với 40 giường bệnh và 01 Phòng khám đa khoa khu vực với 05 giường bệnh thực hiện công tác khám chữa bệnh và điều trị cho nhân dân trên địa bàn; Trung tâm Y tế huyện thực hiện công tác phòng bệnh và quản lý hệ thống y tế xã; Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện là đơn vị trực thuộc Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh thực hiện công tác quản lý nhà nước về Dân số trên địa bàn; Phòng Y tế trực thuộc UBND huyện có chức năng tham mưu cho UBND huyện thực hiện quản lý nhà nước về y tế trên địa bàn; 12/12 xã/thị trấn có trạm y tế xã Các trạm y tế xã thực hiện công tác CSSKBĐ, vệ sinh phòng bệnh và khám điều trị các bệnh thông thường cho nhân dân
Tổng số cán bộ y tế của huyện là 115 Trong đó bác sỹ 12, dược sỹ trung học 06, y sỹ 41, điều dưỡng 21, nữ hộ sinh 23, Kỹ thuật viên Y: 03, cán
bộ khác 9 [52]