Một cuộc điều tra ngang ở các hộ gia đình và trẻ em < 5 tuổi người Mông ở 4 xã toàn người Mông thuộc huyện Mù Kang Chải và Trạm Tấu Yên Bái, đề tài đã thu được một số kết quả sau: Về thực trạng bệnh tật: Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em
Trang 1THỰC TRẠNG BỆNH TẬT CỦA NGƯỜI MÔNG Ở HAI HUYỆN
MÙ CANG CHẢI, TRẠM TẤU TỈNH YÊN BÁI VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
Lường Văn Hom 1 , Đàm Khải Hoàn 2 và CS
TÓM TẮT
Một cuộc điều tra ngang ở các hộ gia đình và trẻ em < 5 tuổi người Mông ở 4 xã toàn người Mông thuộc huyện Mù Kang Chải và Trạm Tấu Yên Bái, đề tài đã thu được một số kết quả sau: Về thực trạng bệnh tật: Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em <5 tuổi khá cao: thể còm (nhẹ cân) (35,67%), thể còi (36,95%), thể còi cọc (34,27%) ; Tỷ lệ bệnh tật trong 2 tuần qua ở các hộ gia đình người Mông khá cao (28,8%), Về mô hình bệnh tật hàng đầu là các bệnh hô hấp (sốt ho) (63,5%), tiếp theo là các bệnh tiêu hoá (tiêu chảy và đau bụng), đau lưng khớp Các yếu tố liên quan đến bệnh tật của người Mông: Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em < 5 tuổi người Mông liên quan chặt chẽ với nghèo đói, qui mô gia đình, chế độ ăn sam, với bệnh tiêu chảy, bệnh NKHHCT và liên quan chặt chẽ với việc thực hiện chương trình TCMR; Bệnh tật liên quan chặt chẽ với thu nhập của các gia đình, tình trạng đói nghèo, nhà ở và các phương tiện truyền thông của các gia đình Yếu tố quản lý phân người, chuồng gia súc của các gia đình cũng ảnh hưởng đến bệnh tật Về sử dụng các dịch
vụ y tế: Hàng đầu người ốm đến khám và điều trị tại trạm y tế xã (73%), tiếp là đến cơ sở y tế khác (7,8%), sau đó là điều trị bằng thuốc nam (7,%) và tự mua thuốc về điều trị (6,1%) Tỷ lệ người
ốm cúng bái cũng đáng kể (3,5%) Tỷ lệ người ốm hài lòng với trạm y tế xã khá cao (95,2%) Lý
do không đưa người ốm đến TYT xã hàng đầu là bệnh nhẹ (41,9%), đến cơ sở y tế khác (29%), quá xa (22,6%), mất thời gian chờ đợi (16,1% Các tác giả kiến nghị cần thực hiện tốt các chương trình CSSK BM,TE&KHHGĐ, phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em < 5 tuổi bằng cách mở thêm các lớp tập huấn nâng cao năng lực tổ chức quản lý CSSK và cải thiện kỹ năng truyền thông-GDSK cán
bộ y tế huyện, xã có người Mông ở Yên Bái Tích cực TT-GDSK cho người Mông để cải thiện môi trường sống, cải tạo các phong tục tập quán lạc hậu ảnh hưởng đến sức khoẻ, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người dân
Từ khóa : Người Mông, Bệnh tật, SDD
Người Mông ở nước ta có khoảng 1 triệu
người, sống chủ yếu ở miền núi cao, vùng xa
xôi hẻo lánh phía Bắc Mù Kang Chải và
Trạm Tấu tỉnh Yên Bái là hai trong tổng số 61
huyện nghèo nhất cả nước, nơi chủ yếu người
Mông sinh sống Vấn đề chăm sóc sức khỏe
cho người dân ở đây vẫn còn nhiều hạn chế so
với các vùng khác, nhiều bệnh vẫn có nguy cơ
phát thành dịch, việc khám chữa bệnh cũng
gặp khó khăn, môi trường sống bị ô nhiễm
nghiêm trọng, trình độ dân trí thấp, nhiều
phong tục, tập quán lạc hậu như tảo hôn, đẻ
nhiều, cúng ma khi ốm, đau [6], [7], [8]
Những yếu tố trên đã ảnh hưởng lớn đến công
tác chăm sóc sức khỏe cho người dân trên địa
*
bàn Câu hỏi của chúng tôi là thực trạng sức khoẻ, bệnh tật của người dân tộc Mông tại hai huyện Mù Kang Chải, Trạm Tấu tỉnh Yên Bái hiện nay ra sao? yếu tố nào liên quan đến sức khỏe và bệnh tật của người Mông ở hai huyện
Mù Kang Chải, Trạm Tấu tỉnh Yên Bái Chính vì thế mà chúng tôi tiến hành nghiên
cứu nhằm các mục tiêu sau:
1) Đánh giá thực trạng bệnh tật của người Mông ở hai huyện Mù Kang Chải, Trạm Tấu tỉnh Yên Bái năm 2010
2) Mô tả một số yếu tố liên quan đến sức khỏe và bệnh tật của người Mông ở hai huyện
Mù Kang Chải, Trạm Tấu tỉnh Yên Bái
NGHIÊN CỨU
Đối tượng Trẻ <5 tuổi người Mông; Người
Mông và gia đình của họ
Trang 2Địa điểm: Huyện Mù Kang Chải và huyện
Trạm Tấu tỉnh Yên Bái
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Phương pháp chọn mẫu
- Cỡ mẫu điều tra hộ gia đình người Mông, n
được tính theo công thức mô tả Chọn p = 0,5
(Tỷ lệ hộ gia đình người Mông có nước sạch
[2], d = 0,05 Thay vào công thức tính được n
= 384 hộ, làm tròn là 400 hộ Chọn mẫu điều
tra: Chọn chủ đích 2 huyện Mù Kang Chải,
Trạm Tấu tỉnh Yên Bái là 2 huyện có tỷ lệ
dân số người Mông cao sinh sống, đời sống,
kinh tế, văn hóa xã hội còn thấp Mỗi huyện
chọn 2 2 xã: 1 xã gần trung tâm, 1 xã xa xôi
Mỗi xã chọn ngẫu nhiên 100 hộ gia đình
người Mông
- Chọn mẫu đánh giá suy dinh dưỡng: Mỗi xã
điều tra tiến hành cân toàn bộ số trẻ dưới 5 tuổi
người Mông để đánh giá tình trạng dinh dưỡng,
thực tế khám được 1.640 trẻ em người Mông ở
4 xã điều tra
Chỉ số nghiên cứu
* Nhóm chỉ số bệnh tật của người Mông
- Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ < 5 tuổi : Thể
nhẹ cân (cân/tuổi), thấp (chiều cao/tuổi), thể
thấp còm (cân/chiều cao)
- Tỷ lệ người ốm hai tuần qua và tỷ lệ người sốt ho, tiêu chảy, xương khớp, bệnh da, bệnh mắt, bệnh khác
*Sử dụng các dịch vụ y tế Tỷ lệ người ốm
không xử trí gì, tự mua thuốc về điều trị, điều trị bằng thuốc nam, đến khám và điều trị tại trạm y tế, đến khám các sở y tế khác, cúng bái khi ốm, không đưa người ốm đến trạm
*Nhóm chỉ số các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường và công tác chăm sóc sức khỏe cho người Mông
Phương pháp thu thập thông tin
- Điều tra hộ gia đình để mô tả thực trạng bệnh tật của người Mông trong các làng bản vùng sâu, vùng xa xôi hẻo lánh
- Cân đo để mô tả thực trạng dinh dưỡng của trẻ em < 5 tuổi người Mông
Phương pháp xử lý số liệu Xử lý số liệu bằng
phương pháp thống kê y học trên phần mềm
SPSS 10.0
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Thực trạng bệnh tật của người Mông ở
2 huyện Mù Kang Chải, Trạm Tấu - Yên Bái
Thực trạng tình hình dinh dưỡng của trẻ em <
5 tuổi người Mông ở 2 huyện
Bảng 1 Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ <5 tuổi người Mông
Số trẻ SDD thể nhẹ cân 585 (35,67) 295 (35,33) 290 ( 36,02) P > 0,05
Số trẻ SDD thể thấp còi 606 (36,95) 291 (34,85) 315 (39,13) χ2=3,2; P > 0,05
Số trẻ SDD thể gầy còi 562 (34,27) 291 (34,85) 315 (39,13) χ2=3,2; P > 0,05
Số trẻ bình thường 827 (50,04) 449 (53,77) 378 (46,95) χ2=7,62; P < 0,05
Bảng 1 cho thấy tỷ lệ SDD của trẻ em < 5
tuổi thể nhẹ cân tương đối cao (35,67%), rất
cao so với chỉ số chung của cả nước vào năm
2010 là 20% [3] Tỷ lệ SDD của trẻ em < 5
tuổi người Mông thể thấp còi cũng tương đối
cao (36,95%) Tỷ lệ SDD của trẻ em < 5 tuổi
người Mông thể còi cọc cũng cao tương tự
như 2 thể suy dinh dưỡng trên (34,27%) Tỷ
lệ suy dinh dưỡng các loại ở trẻ em 2 huyện là
cao tương đương nhau (p>0,05)
Bảng 2 cho chúng tôi thấy tình hình bệnh tật trong 2 tuần qua ở các hộ gia đình người Mông: Tỷ lệ mắc bệnh chung cho cả 2 huyện khá cao là 28,8%, tỷ lệ này ở MKC cao hơn Trạm Tấu (33,3% và 24,1%) với p<0,05 Về
mô hình bệnh tật chúng tôi thấy hàng đầu là các bệnh hô hấp (sốt ho) (63,5%), tiếp theo là các bệnh tiêu hóa (tiêu chảy và đau bụng),
đau lưng khớp Mô hình này cũng thể hiện
tương tự ở 2 huyện MKC và TT
Trang 3Tỉ lệ bệnh tật trong hai tuần điều tra là một
chỉ số không những phản ánh tình hình bệnh
tật thông thường ở một cộng đồng mà còn
phản ánh kết quả của tình trạng kinh tế, văn
hoá, xã hội và công tác chăm sóc Y tế
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học khác đã nghiên cứu về bệnh tật người Mông ở miền núi phía Bắc [1], [4], [8]
Bảng 2 Tình hình bệnh tật trong 2 tuần qua ở các hộ gia đình
(n:400)
Mù Kang Chải (n:201)
Trạm Tấu (N:199)
x2, p
Số hộ có người ốm 2 tuần qua 115 28,8 67/201 33,3 48/199 24,1 p < 0,05 Trong đó: Số bị sốt ho 73 63,5 44 65,7 29/48 60,4 p > 0,05
Bảng 3.Mối liên quan giữa các yếu tố với SDD thể nhẹ cân của trẻ <5 tuổi
Kết quả
Yếu tố
Kinh tế: Hộ nghèo 564 42.5 762 57.5 P < 0,001
Hộ không nghèo 21 6.7 293 93.3
Số con Con đông (>2 con) 505 68.4 233 31.6
P < 0,001 Con không đông (≤ 2) 79 8.8 823 91.2
Ăn bổ sung Ăn sam không đúng 415 42.6 560 57.4 P < 0,001
Đúng 170 25.6 495 74.4
Tiêu chảy Trẻ bị Tiêu chảy 170 94.4 10 5.6 P < 0,001
Không 415 99.7 1.045 0.3
NKHHC Trẻ bị NKHH 195 89.4 23 10.6 P < 0,001
Không 390 27.4 1032 72.6
TCMR Trẻ không tiêm hoặc tiêm
chủng không đầy đủ, đúng lịch
492 34.4 937 65.6 P < 0,001
Đầy đủ, đúng lịch 93 24.0 294 76.0
Bảng 3 cho thấy có mối liên quan giữa các
yếu tố với tình trạng SDD thể nhẹ cân của trẻ
<5 tuổi người Mông:
- Liên quan chặt chẽ với nghèo đói: Trẻ em
người Mông ở hộ nghèo có nguy cơ suy dinh
dưỡng cao hơn trẻ em người Mông ở hộ đủ ăn
(p<0,05)
- Liên quan chặt chẽ với qui mô gia đình: Trẻ
em người Mông ở hộ đông con có nguy cơ
suy dinh dưỡng cao hơn trẻ em người Mông ở
hộ ít con (p<0,05)
- Liên quan chặt chẽ với chế độ ăn sam: Trẻ
em người Mông có chế độ ăn sam không
đúng có nguy cơ suy dinh dưỡng cao hơn trẻ
em người Mông có chế độ ăn sam đúng (p<0,05)
- Liên quan chặt chẽ với bệnh tiêu chảy: Trẻ
em người Mông đã bị tiêu chảy có nguy cơ suy dinh dưỡng cao hơn trẻ em người Mông chưa bị bệnh tiêu chảy (p<0,05)
- Liên quan chặt chẽ với bệnh NKHHCT: Trẻ
em người Mông đã bị NKHHCT có nguy cơ suy dinh dưỡng cao hơn trẻ em người Mông chưa bị bệnh NKHHCT (p<0,05)
Trang 4- Liên quan chặt chẽ với việc thực hiện
chương trình TCMR: Trẻ em người Mông
không hoặc TC không đầy đủ, đúng lịch có
nguy cơ suy dinh dưỡng cao hơn trẻ em người
Mông đã TC đầy đủ, đúng lịch (p<0,05) Kết
quả nghiên cứu này của chúng tôi phù hợp
với kết quả nghiên cứu của Đàm Khải Hoàn
và CS năm 1998 [4]
Bảng 4 cho chúng tôi thấy có mối liên quan
giữa các yếu tố kinh tế văn hóa xã hội của các
gia đình người Mông với bệnh tật của họ:
- Yếu tố thu nhập của các gia đình: Thu nhập
của các gia đình người Mông liên quan chặt
chẽ với bệnh tật thông thường Người Mông
trong các gia đình có thu nhập thấp thì nguy
mắc bệnh cao hơn rất nhiều so với người
Mông trong các gia đình có thu nhập cao
(p<0,05)
- Yếu tố đói nghèo của các gia đình: Tình
trạng đói nghèo của các gia đình người Mông
liên quan chặt chẽ với bệnh tật thông thường
Người Mông trong các hộ gia đình nghèo thì
nguy mắc bệnh cao hơn rất nhiều so với người Mông trong các gia đình đủ ăn (p<0,05)
Kết quả nghiên cứu này của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của một số tác giả như Trần Thị Trung Chiến, Nguyễn Thành Trung, Đàm Khải Hoàn, Hoàng Khải Lập ở người Mông ở MNPB [1], [5], [8]
- Yếu tố nhà ở của các gia đình: Nhà ở của các gia đình người Mông liên quan chặt chẽ với bệnh tật thông thường Người Mông sống trong các căn nhà tạm bợ có nguy mắc bệnh cao hơn rất nhiều so với người Mông trong các căn nhà bán kiên cố (p<0,05)
- Yếu tố phương tiện truyền thông của các gia
đình: Phương tiện truyền thông của các gia đình người Mông liên quan chặt chẽ với bệnh
tật thông thường Người Mông trong các gia
đình không có phương tiện truyền thông thì
nguy mắc bệnh cao hơn rất nhiều so với người Mông trong các gia đình không có phương tiện truyền thông (p<0,05)
Bảng 4 Mối liên quan giữa KT, VH, XH với bệnh tật của người dân
DV.KCB Chỉ số
χχχχ2, p
Thu nhập: Số hộ có thu nhập
<200.000đ/tháng 100/296 33,78 1966/296 66,22
Số hộ có thu nhập vừa
200.000-500.000đ/tháng 15 15,46 82 84,54 p1<0,05
Số hộ có thu nhập cao
> 500.000đ/tháng 0 100, 7 0 p2<0,05
p<0,05
p<0,05
Bảng 5 Mối liên quan giữa các yếu tố VSMT với bệnh tật của người dân
DV.KCB Chỉ số
χχχχ2, p
Hố xí: Số hộ có hố xí chưa VS&
không có hố xí 109 29,95 255 70,05 p<0,05
Số hộ có hố xí hợp VS 6 16,67 30 83,33
Chuồng gia súc:Số hộ có chuồng gia súc
ở gần nhà 103 32,39 215 67,61 p<0,05
Số hộ có chuồng gia súc xa nhà 12 14,63 70 85,37
Trang 5Bảng 6 Tình hình sử dụng các dịch vụ y tế
Số hộ có người ốm 2 tuần qua 115 28,8 67/201 33,3 48/199 24,1
Trong đó: Không xử trí gì 21 18,3 16/67 23,8 5/48 10,4 p>0,05
Số khám và điều trị tại TYT xã 84 73,0 51 76,1 33 68,7 p>0,05
Số người hài lòng với TYT xã 80 95,2 50 74,6 30 62,5 p>0,05
Lý do không đưa người ốm đến
trạm :
Bảng 5 cho chúng tôi thấy có mối liên quan
giữa các yếu tố vệ sinh môi trường của các
gia đình người Mông với bệnh tật của họ:
- Yếu tố quản lý phân người của các gia đình:
Quản lý phân người của các gia đình người
Mông liên quan chặt chẽ với bệnh tật thông
thường Người Mông trong các gia đình
không có hố xí hay có hố xí nhưng chưa hợp
vệ sinh thì nguy mắc bệnh cao hơn rất nhiều
so với người Mông trong các gia đình có hố
xí hợp vệ sinh (p<0,05)
- Yếu tố chuồng gia súc của các gia đình:
Chuồng gia súc của các gia đình người Mông
liên quan chặt chẽ với bệnh tật thông thường
Người Mông trong các gia đình có chuồng gia
súc gần nhà hay nuôi gia súc thả rông thì
nguy mắc bệnh cao hơn rất nhiều so với
người Mông trong các gia đình có chồng gia
súc xa nhà ở (p<0,05) Kết quả nghiên cứu
này của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên
cứu của Đàm Khải Hoàn và CS .ở người
Mông một số nơi MNPB [6], [7]
Bảng 6 cho chúng tôi thấy tình hình sử dụng
các dịch vụ y tế để giải quyết bệnh tật trong 2
tuần qua ở các hộ gia đình người Mông
Hàng đầu người ốm đến khám và điều trị tại trạm y tế xã (73%), tiếp theo là đến cơ sở y tế khác (7,8%), tiếp theo là điều trị bằng thuốc nam (7,%) và tự mua thuốc về điều trị (6,1%)
Tỷ lệ người ốm cúng bái cũng đáng kể (3,5%) Tỷ lệ người ốm hài lòng với trạm y tế
xã khá cao (95,2%) Lý do không đưa người
ốm đến TYT xã hàng đầu là bệnh nhẹ
(41,9%), Đến cơ sở y tế khác (29%), quá xa (22,6%), Mất thời gian chờ đợi (16,1%)… Kết quả này cũng tương tự ở người ốm 2 huyện và không có sự khác biệt (p>0,05)
Về việc sử dụng các dịch vụ Y tế của người Mông ở các xã nghiên cứu, hàng đầu là đến khám và điều trị tại trạm Y tế xã Việc này cũng phụ thuộc vào hai yếu tố: do hoạt động của các Trạm Y tế xã đã tương đối tốt, cán bộ Trạm có uy tín về chữa bệnh với người dân, người dân tin tưởng cho nên đến khám và chữa bệnh tại Trạm nhiều Mặt khác còn do Trạm y tế xã là nơi khám chữa bệnh bảo hiểm
y tế cho dân, cho nên người dân đến Trạm khám cao Đứng hàng thứ hai trong việc sử dụng các dịch vụ Y tế là sử dụng thuốc nam
có lẽ là do miền núi, có nhiều cây, con làm
Trang 6thuốc, hoạt động của người Mông gắn bó chặt
chẽ với núi rừng như làm nương rẫy, săn bắn
thú Trong lao động sản xuất khi xảy ra ốm
đau thì nguồn thuốc duy nhất là các cây, con
ở trên rừng Tự mua thuốc về nhà điều trị,
tương đối đáng kể ở các xã điều tra Việc mua
thuốc về tự điều trị phụ thuộc vào sự hiểu biết
về bệnh tật của người dân, mà muốn hiểu biết
tốt cần được truyền thông giáo dục sức khỏe
Tiếp theo là dịch vụ cung ứng thuốc phải phát
triển ở cộng đồng kể cả nhà nước lẫn tư nhân
Dịch vụ này cũng đã phát triển ở các xã người
Mông trong mấy năm gần đây Việc sử dụng
loại hình dịch vụ tự mua thuốc, nhiều khi
chưa hẳn là tốt vì dễ lạm dụng thuốc, đặc biệt
là thuốc kháng sinh do không dùng theo sự
chỉ dẫn của thầy thuốc dẫn đến kháng thuốc
Vì thế theo chúng tôi, việc sử dụng loại dịch
vụ này cần hạn chế và phải có sự hướng dẫn
của thầy thuốc, để đảm bảo cho người bệnh
dùng thuốc là phải đúng bệnh, đủ liều, đảm
bảo chất lượng Tại các xã điều tra, tỉ lệ người
Mông cúng bái khi ốm đau còn đáng kể
Trước kia cúng bái rất phát triển ở vùng
người Mông, đây cũng là một tập quán lạc
hậu của người Mông Ngày nay nhờ có các
biện pháp tuyên truyền và nhắc nhở của chính
quyền nên việc cúng bái chữa bệnh đã hạn
chế Các nghiên cứu về dịch vụ Y tế của chúng
tôi phù hợp với các nghiên cứu của Bộ Y tế, của
Đàm Khải Hoàn, Dương Minh Thu [2]
KẾT LUẬN
1) Thực trạng bệnh tật người Mông Yên Bái
như sau :
- Tỷ lệ SDD của trẻ em <5 tuổi khá cao: thể
còm (nhẹ cân) (35,67%), thể còi (36,95%),
thể còi cọc (34,27%)
- Tỷ lệ bệnh tật trong 2 tuần qua ở các hộ gia
đình người Mông khá cao (28,8%), Về mô
hình bệnh tật hàng đầu là các bệnh hô hấp (sốt
ho) (63,5%), tiếp theo là các bệnh tiêu hoá
(tiêu chảy và đau bụng), đau lưng khớp
2) Các yếu tố liên quan đến bệnh tật của
người Mông:
- Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em < 5 tuổi
người Mông liên quan chặt chẽ với nghèo đói,
qui mô gia đình, chế độ ăn sam, với bệnh tiêu
chảy, bệnh NKHHCT và liên quan chặt chẽ với việc thực hiện chương trình TCMR
- Bệnh tật liên quan chặt chẽ với thu nhập của các gia đình, tình trạng đói nghèo, nhà ở và các phương tiện truyền thông Yếu tố quản lý phân người, chuồng gia súc của các gia đình cũng ảnh hưởng đến bệnh tật
- Về sử dụng các dịch vụ y tế: Hàng đầu người ốm đến khám và điều trị tại trạm y tế
xã (73%), tiếp là đến cơ sở y tế khác (7,8%), sau đó là điều trị bằng thuốc nam (7,%) và tự mua thuốc về điều trị (6,1%) Tỷ lệ người ốm cúng bái cũng đáng kể (3,5%) Tỷ lệ người
ốm hài lòng với trạm y tế xã khá cao (95,2%)
Lý do không đưa người ốm đến TYT xã hàng
đầu là bệnh nhẹ (41,9%), đến cơ sở y tế khác
(29%), quá xa (22,6%), mất thời gian chờ đợi (16,1%)…
KIẾN NGHỊ
- Để CSSK tốt cho người Mông cần thực hiện tốt các chương trình CSSK BM,TE&KHHGĐ, phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em < 5 tuổi Muốn làm được vấn đề này ngành y tế cần
mở thêm các lớp tập huấn nâng cao năng lực tổ chức quản lý CSSK và cải thiện kỹ năng truyền thông-GDSK cán bộ y tế huyện, xã của hai huyện Mù Kang Chải, Trạm Tấu tỉnh Yên Bái
để làm tốt công tác CSSK cho người Mông
- Tích cực TT-GDSK cho người Mông để cải thiện môi trường sống, cải tạo các phong tục tập quán lạc hậu ảnh hưởng đến sức khoẻ, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người dân
TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Trần Thị Trung Chiến, Nguyễn Thành Trung,
Ngô Khang Cường và CS (2003), Mô hình nhà y
tế bản cho vùng cao miền núi, vùng dân tộc thiểu
số, vùng đặc biệt khó khăn ở Việt Nam, Nxb Y
học, Hà Nội, Tr 54-79
[2] Đàm Khải Hoàn, Dương Minh Thu Tìm hiểu một số phong tục tập quán liên quan đến sức khỏe
ở 2 cộng đồng dân tộc Nùng Mông thuộc xã Quang Sơn huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên Tài
liệu hội thảo khoa học CSSK phụ nữ dân tộc thiểu
số 1997
[3] Đàm Khải Hoàn Nghiên cứu xây dựng mô hình cộng đồng tham gia vào các hoạt động chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân một số vùng
Trang 7núi phía Bắc, Luận án Tiến sỹ Y học, Học viện
Quân y 1998
[4] Đàm Khải Hoàn và CS Thực trạng chăm sóc
sức khoẻ cho người Mông ở tỉnh Hà Giang Tạp
chí khoa học công nghệ Đại học Thái Nguyên
Thái Nguyên 2000
[5] Đàm Khải Hoàn và CS Nghiên cứu một số
phong tục tập quán có ảnh hưởng đến sức khoẻ ở
2 cộng đồng dân tộc Thái và Mông thuộc miền
núi tỉnh Nghệ An Tạp chí khoa học công nghệ
Đại học Thái Nguyên Thái Nguyên 2001
[6] Đàm Khải Hoàn và CS Thực trạng chăm sóc
sức khoẻ ban đầu cho người dân tộc Nùng và
Mông ở xã Quang Sơn huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái
Nguyên Nội san khoa học công nghệ Y Dược
miền núi của trường đại học y khoa Thái Nguyên Thái Nguyên 2001
[7] Đàm Khải Hoàn và CS Thực trạng KAP về sức khoẻ sinh sản của người phụ nữ Mông ở các bản vùng cao huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
Nội san khoa học công nghệ Y Dược miền núi của trường đại học y khoa Thái Nguyên Thái Nguyên
2003 [8] Hoàng Khải Lập, Nguyễn Thành Trung, Nông
Thanh Sơn và các cộng sự (1999), Nghiên cứu chính sách CSSKBĐ thích hợp cho đồng bào thiểu số Mông và Giấy ở miền Bắc Việt Nam, Báo cáo tổng
kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ Thái Nguyên, 1999, Tr 1;
SUMMARY
THE AUTHORS CONDUCTED AN CROSS INVESTIGATION AT THE HOUSEHOLD AND CHILDREN <5 YEARS OLD IN FOUR MONG COMMUNES IN MU CANG CHAI AND TRAM TAU DISTRICTS YEN BAI PROVINCE AND SOME RESULTS OBTAINED AS FOLLOW:
Luong Van Hom *1 , Dam Khai Hoan 2
1
The current status of disease: rate of malnutrion of children <5 years is quite high: the underweight type (35.67%), undersized type (36.95%), physical stunting (34.27%); rate of disease in the household Mong in 2 weeks is high (28.8%), the highest is respiratory diseases (fever and cough) (63.5%), followed by gastrointestinal diseases (diarrhea and abdominal pain), joint pain
The factors related to diseases of Mong: Rate of malnutrition of Mong children <5 years old closely related to poverty, member of family, diet, with diarrheal and respiratory diseases and closely related to the implementation of expanded vaccination programs ; Disease closely related
to the family income, poverty, house, and the media of the family Management feces of people and cattle of the families also influence disease About using health services: the first place which the sick people come is health stations (73%), followed by the other health facilities (7.8%), using traditional drug (7%) and treatment by themselves (6.1%) The rate of sick people worshiping also significant (3.5%) The rate of sick satisfied with health stations is quite high (95.2%) Reasons not taking to ill people to the health stations is mild disease (41.9%), to other health facilities (29%), too far (22.6%), waiting time (16.1%) The authors recommend to implement well all health care programs for mom, children and family planning, prevention of malnutrition for children <5 years
by opening more training to improve management capacity health care and improve communication skills of district’s health centre workers, Mong communes in Yen Bai Increasing communication for Mongolia to improve the living environment, change bad old customs and habits affecting the health, improve quality health care for people
Keywords: Mong, disease, malnutrition
*