1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kinh tế lao động: sự về hưu

25 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều kiện KTXH tốt hơn ở các nước phát triển thì tỉ lệ tham gia lực lượng lao động ngày càng giảm. Vd: Ở Mỹ: Giữa 19601992, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động trong độ tuổi từ 5564 giảm từ 82,2 xuống còn 66,9%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người lớn tuổi trong độ tuổi từ 5564 giảm 22% giữa thời kỳ 1970 và 1990 ở ÚC,19% ở Canađa,13% ở Italia

Trang 1

Nhóm 04_KTLDD3_2

www.themegallery.com

Trang 2

Sự về hưu

• Điều kiện KT-XH tốt hơn ở các nước phát triển thì tỉ lệ tham gia lực lượng lao động ngày càng giảm

Trang 3

Sự về hưu

• Còn ở nước ta: Nếu năm 1989 tỷ lệ tham gia của nhóm tuổi từ 55-59 là 63,6% nhóm trên 60 tuổi là 28.5% thì năm 1999 tỷ lệ là 59.6% và 25.9%

Vậy nhân tố nào quyết định tuổi

về hưu?

Trang 4

Sự về hưu

• Giả sử: lao động nam về hưu ở tuổi 60 và họ sống thêm 20 năm nữa Trợ cấp quỹ bảo hiểm XH bắt

đầu khi 60 tuổi

• Giá trị hiện tại ròng của thu nhập cả đời đối với một lao động về hưu lúc 60 tuổi bằng:

• Nếu người lao động, chọn làm việc tới 80 tuổi thì giá trị hiện tại của dòng thu nhập bằng:

Trang 5

Sự về hưu

Trang 6

Sự về hưu

lao động.

Trang 7

H’

  H

Lao động3

Lao động2

 

Sự tác động của kiểm soát thu nhập

BHXH lên giờ làm việc

P 3

Trang 8

www.themegallery.com

Trang 13

Các ý kiến

 Theo Man Tuýt là thu nhập luôn đẩy lùi tới mức sinh tồn, nên có mối quan hệ thuận giữa thu nhập và quyết định sinh con Thu nhập tăng dẫn tới sinh nhiều con hơn

và ngược lại

Tuy nhiên số liệu điều tra mẫu thực tế ở Việt Nam cho thấy số con trong mỗi gia đình chịu ảnh hưởng chi phí học hành của con cái, khi chi phí giáo dục càng cao thì

số con giảm với hệ số co dãn bằng -0.1524, nghĩa là khi chi phí giáo dục tăng thêm 10 ngàn đồng tháng thì số

con giảm đi 0.152 trong hộ gia đình

Trang 14

Sự sinh con

Hình 3-9 Quyết định sinh con của hộ gia đình

Trang 15

Sự sinh con

 Nếu giả định rằng, gia đình cần cả hai số lượng con cái

trong gia đình và hàng hóa để tiêu dùng Hàm số lợi ích của gia đình được viết như:

U = U(N,X) (3-14)

 Ở đây, N là số con trong một gia đình, X biểu thị hàng hóa khác Cả hai N và X đều là “hàng hóa” trong hàm lợi ích Nói cách khác, mỗi gia đình đều thích có nhiều con và

nhiều hàng hóa, vì thế đường đẳng ích giữa N và X có hình dáng thông thường và được biểu thị trên (hình 3-9)

Trang 16

Sự sinh con

 Con cái là “hàng hóa vô cùng đắt đỏ” Giá cả này bao gồm những chi phí thiết tối thiểu của cuộc sống như

ăn, mặc, ở, đi lại và học

 Giá cả của con cái ngoài chi phí trực tiếp này còn

bao gồm những thu nhập mất đi khi một người trẻ rút khỏi lực lượng lao động để chăm sóc nuôi dạy con

trẻ Nó được ước tính rằng đó là chi phí hơn 100 ngàn USD (ở các nước phát triển) để nuôi một đứa trẻ đến

18 tuổi, mà bao gồm cả hai chi phí trực tiếp và chi phí mất đi

Trang 17

Sự ảnh hưởng của thu nhập và giá cả tới việc sinh con của hộ gia đình

• Hình 3.10:

Trang 18

Sự ảnh hưởng của thu nhập và giá cả tới

việc sinh con của hộ gia đình

 Tác động của thu nhập chỉ là một nửa của sự ảnh

hưởng, khi con cái giá rẻ, điều đó sẽ là nhiều con

hơn Số lượng con cái thực tế của gia đình phụ thuộc vào giới hạn của sự hiểu biết

 Gia đình nông dân ở nông thôn có nhiều con hơn ở các gia đình thành thị

Trang 19

Các gia đình xem xét biến số kinh tế ra sao

khi xác định sinh con

 Nội dung của mô hình đơn về sinh con được kiển định đơn giản bởi ước lượng hồi quy của công thức :

N=β 1 p N + β 2 I + biến số khác

 Trong đó :

• β 1 đo lường sự thay đổi số con cái liên quan tới

1000VND tăng thêm trong giá cả con cái;

• β 2 đo lường sự thay đổi số con cái liên quan tới

1000VND tăng thêm trong thu nhập gia đình.

Trang 20

Các gia đình xem xét biến số kinh tế ra sao

khi xác định sinh con

• Con cái là đắt đỏ không chỉ trong phạm vi chi phí trực tiếp mà còn thu nhập mất đi, trong trường hợp cha mẹ

giảm giờ làm việc hay rút khỏi thị trường lao động khi con cái còn rất nhỏ

• Đa số nghiên cứu trong kinh tế đều ước tính mô hình hồi quy bằng sử dụng tiền lương của cha mẹ để tính toán giá

cả của con cái Số liệu cho thấy rõ, mối quan hệ không nghịch biến giữa giá cả của con cái và số con cái mà cha

mẹ muốn có

• Mức sống cao liên quan tới kết quả phát triển kinh tế dẫn tới từ sự tăng tiền lương thực tế của người lao động Sự phát triển kinh tế cũng đã tăng giá của con cái

Trang 21

ngày càng phát triển còn liên quan tới tới sự đầu tư

của cha mẹ vào vốn con người của con cái, như giáo dục, học hành và y tế

Trang 22

TÌNH HUỐNG:

NếuThu nhập 10 triệu một tháng Mua một căn nhà với

1 tỷ Hỏi sau bao nhiêu năm sẽ trả hết nợ?

hệ sô chiết khấu: 10%

Trang 23

PV

0 1 2 3

FV=PV*((1+i)n -1)/i với n: số năm tính lãi

i: Lãi suất/kì tính lãi

Trang 24

• Giả sử bỏ qua mọi chi phí với mức thu nhập ta mang đi đầu từ với lãi suất 10% thì giá trị hiện tại của tiền lương là:

PV0= 10 triệu

• Bao lâu thì ta có được 1 tỷ để trả nợ ?

Giá trị tương lai là :

PVn =1 tỷ

Ta có công thức : FV=PV*((1+i) n -1)/i

Suy ra: 1 tỷ = (10 triệu * (1+0.1/12) n -1)/(0.1/12)

=> n=73 kỳ

=> t=6.08năm

Vậy sau 6.08 năm với mức lương 10 triệu/tháng thì ta có thể trả được hết nợ

Trang 25

www.themegallery.com

Thank You!

Ngày đăng: 20/03/2021, 14:19

w