NỘI DUNG CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 1.1. Tác giả Nguyễn Du 1.1.1. Thời đại Thế kỉ XVIII – XIX là thời kì khủng hoảng sâu sắc nhất của chế độ phong kiến, là thời kì diễn ra những sự kiện lịch sử trọng đại: Sự sụp đổ không gì cưỡng nổi của chế độ phong kiến. Những cuộc nổi dậy đòi quyền sống của các phong trào nông dân. Nền kinh tế hàng hóa phát triển cho thấy sức mạnh của đồng tiền, cũng như tư tưởng phóng khoáng của tầng lớp thị dân v.v… Nói chung, đó là “những cuộc bể dâu”, những “phen thay đổi sơn hà” dữ dội. Nguyễn Du đã sống qua ba triều đại: Lê – Trịnh, Tây Sơn, Nguyễn, đã trải qua những cuộc binh biến tàn khốc của các tập đoàn phong kiến và các cuộc khởi nghĩa đòi quyền sống của tầng lớp nông dân. Ông đã chứng kiến tận mắt cảnh bãi bể hóa nương dâu, cảnh sống xa hoa, đồi trụy cũng như sự thống trị dã man, tàn ác của giai cấp phong kiến, cảnh đau khổ vì nghèo đói, cảnh đày đọa vì những áp bức bất công của đại đa số quần chúng nhân dân v.v. Cùng lúc, những yếu tố dân chủ xuất phát từ tầng lớp thị dân, những tư tưởng lớn của các cuộc khởi nghĩa nông dân, nhất là cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn, v,v… đó là những luồng tư tưởng tiến bộ mà chắc chắn rằng một tâm hồn đa sầu, đa cảm như Nguyễn Du không thể cảm thấy, không thể không nhận biết. 1.1.2. Gia đình Nguyễn Du xuất thân từ một gia đình đại quí tộc, nổi tiếng về đường khoa hoạn, nhiều đời, nhiều người đỗ đạt cao và làm quan to. Ở vùng Hồng Lĩnh (quê Nguyễn Du) dân gian thường truyền tụng câu ca dao: “Bao giờ Ngàn Hống hết cây Sông Rum hết nước họ này hết quan”. Gia đình Nguyễn Du có bề dày về lịch sử, về truyền thống văn học nghệ thuật. Ông nội là Nguyễn Quỳnh, một nhà triết học chuyên nghiên cứu Kinh dịch. Cha là Nguyễn Nghiễm, một sử gia, một nhà thơ đồng thời là quan tể tướng của triều Lê. Mẹ là Trần Thị Tần (vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm) là con gái của một vị quan làm chức câu kê (kế toán). Bà là người xã Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc (Từ Sơn, Hà Bắc), sinh năm 1740 (năm Canh Thân) trẻ hơn chồng 32 tuổi. Quê bà là một vùng hát quan họ nổi tiếng. Người ta đoán rằng có lẽ bà là người có nhan sắc, giỏi nghề hát xướng nên mới lọt được vào mắt xanh của quan tể tướng Nguyễn Nghiễm. Và nếu như vậy, Nguyễn Du ngay từ những ngày còn thơ bé, đã được đắm mình trong chiếc nôi của những làn điệu dân ca phía Bắc. Anh là Nguyễn Khản (cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du) cũng là quan lớn của phủ chúa Trịnh, một người giỏi thơ Nôm thường xướng họa cùng với chúa Trịnh Sâm. Thời gian sống với anh, Nguyễn Du chắc đã chứng kiến những cảnh ấy và có thể do đó mà hình ảnh người kĩ nữ luôn được phác họa đậm nét trong tác phẩm của ông sau này. Những người cháu của Nguyễn Du là Nguyễn Hành (1771 – 1824), Nguyễn Thiện (1763 – 1818) đều là những nhà thơ, nhà văn nổi tiếng. Những người này tuy là cháu nhưng cùng thời với Nguyễn Du, chơi rất thân với Nguyễn Du. Trên văn đàn lúc bấy giờ có năm người được ca ngợi là “An Nam ngũ tuyệt” thì Nguyễn Du, Nguyễn Hành là hai trong số đó. 1.1.3.Bản thân Nguyễn Du (1766 – 1820), tên chữ Tố Như, hiệu Thanh Hiên, quê ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Tuy đỗ thấp (thi Hương ở Sơn Nam, đỗ Tam trường), nhưng ông là người học rộng, thông minh, thông hiểu cả Nho, Phật, Đạo. Từ lúc sinh ra đến mười tuổi, ông sống sung túc cùng với gia đình, đến mười tuổi cha mất, tiếp đó hai năm sau mẹ mất, ông đến nương tựa tại nhà anh là Nguyễn Khản. Chiến tranh loạn lạc xảy ra, bản thân Nguyễn Du cũng trôi giạt. Năm 1786, Nguyễn Khản mất ở Thăng Long. Nguyễn Quýnh (anh cùng cha với Nguyễn Du) nổi lên chống Tây Sơn bị bắt và bị giết, quân Tây Sơn đốt sạch dinh cơ họ Nguyễn ở Tiên Điền, còn lại mấy anh em cũng chia tay nhau mỗi người mỗi hướng. Nguyễn Du về sống nhờ nhà người anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn ở Thái Bình. Bản thân ông cũng từng muốn chống lại Tây Sơn, việc không thành ông bị bắt giam ba tháng rồi được tha nhờ có anh ruột là Nguyễn Nễ và anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn lúc bấy giờ đang làm quan cho Tây Sơn. “Mười năm gió bụi” đã ghi lại trong ông bai nỗi niềm dằn xe khôn nguôi. Nguyễn Huệ, ông vua Tây Sơn uy vũ ngất trời, niềm tự hào của dân tộc thời bấy giờ, tuổi thọ lại quá ngắn ngủi. Ông qua đời là một tổn thất lớn lao, kéo theo sự suy yếu của Tây Sơn để rồi sau đó bị Gia Long tiêu diệt. Sự kiện này chắc chắn tác động đến Nguyễn Du. Ông chưa kịp nhìn thấy cũng như kiểm nghiệm những việc làm tốt đẹp dưới triều Tây Sơn thì Tây Sơn đã sụp đổ. Tuy vậy, tiếng vang của triều Tây Sơn cũng ngân lên trong lòng ông ít nhiều ngưỡng mộ. Dưới triều Nguyễn, ông làm quan được thăng tiến rất nhanh (Tri huyện Phù Dung, Tri phủ Thường Tín, Đông các học sĩ ở Kinh Đô, giám khảo trường thi Hương ở Hải Dương, Cai bạ ở Quảng Bình, Cần Chánh điện học sĩ, làm chánh sứ sang Trung Quốc, Hữu Tham Tri bộ Lễ). Giỏi việc quan nhưng Nguyễn Du rất ít nói, trong lòng ông “mối lo nghìn năm” vẫn canh cánh và không biết đến bao giờ “khối u sầu một đời” kia mới được gỡ ra. Giỏi việc quan mà vẫn cứ là một kẻ bất đắc chí, ông cứ day dứt, trăn trở trước cuộc đời, cứ đau lòng vì những điều trông thấy. Những lần về Tiên Điền, thú vui sông Lam núi Hồng làm ông khuây khỏa. Làng Trường Lưu (có họ Nguyễn Huy thông gia với họ Nguyễn, nhà Nguyễn Du) là nơi Nguyễn Du thường lui tới tham dự các buổi hát phường vải ở đó. Những bài “Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu” và “Thác lời trai phường nón” ra đời ở giai đoạn này. Thời gian Nguyễn Du sống với Nguyễn Khản, tương truyền có câu chuyện tình rất cảm động giữa ông và cô lái đò qua mấy câu thơ Nôm lục bát. Đây cũng là bước thử nghiệm về sáng tác thơ Nôm của ông. Ở Nguyễn Du, do tư tưởng trung quân phong kiến ràng buộc và ảnh hưởng của gia đình thượng lưu, ông theo quan điểm phò Lê, lúc đầu ông chưa có cảm tình với cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nhưng về sau ông thấu đáo tận tường những việc làm tốt đẹp của Tây Sơn và nhất là khi Tây Sơn sụp đổ, dường như ông đã ngậm ngùi nuối tiếc (Long Thành Cầm giả ca). Là người tâm huyết với cuộc đời, nhạy bén với thời cuộc, làm sao ông không nhận thấy những việc làm ích nước lợi dân của Tây Sơn, có điều do thành phần xuất thân nên ông còn e dè, xem xét, nghi ngại. Tóm lại, Nguyễn Du là một con người có tâm hồn lớn. Trước sự đổi thay của thời cuộc, tuy Nguyễn Du có chán chường, có lúc gần như tuyệt vọng, song ông vẫn nhìn thẳng vào thực tế không quay lưng lại với cuộc đời. Nguyễn Du cũng đã từng trải qua những năm tháng sống cuộc đời bảy nổi ba chìm, ốm không thuốc, đói không có cơm ăn, rét không có áo mặt, sự nghiệp tiêu tan, nhà cửa không còn, anh em mỗi người mỗi ngả, bản tân trôi giạt,… Thế nhưng ông đã sống có ích cho cuộc đời. Là người từng sống trong gia đình đại quí tộc, từng sống trong đói nghèo, lại được đi đó đi đây nhiều, nhìn thấy và thấu hiểu tâm tư nguyện vọng của đại đa số quần chúng nhân dân, nên hơn ai hết ông có cái nhìn toàn diện về cuộc đời và quá trình tự rèn luyện tu dưỡng của ông đã góp phần trong việc hình thành nên một thiên tài của dân tộc.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TPHCM
KHOA NGỮ VĂN
Môn: NGUYỄN DU – TRUYỆN KIỀU
HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT HOẠN THƯ – THÚC SINH
Giáo viên hướng dẫn: Cô LÊ THU YẾN
Nhóm thực hiện: NHÓM 6
TPHCM, tháng 10 – 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TPHCM
KHOA NGỮ VĂN
Môn: NGUYỄN DU – TRUYỆN KIỀU
HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT HOẠN THƯ – THÚC SINH
Giáo viên hướng dẫn: Cô LÊ THU YẾN Nhóm thực hiện: NHÓM 6 – sáng thứ 5
TPHCM, tháng 10 – 2017
Trang 3DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 6
Trang 4MỤC LỤC
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 3
1.1 Tác giả Nguyễn Du 3
1.1.1 Thời đại 3
1.1.2 Gia đình 4
1.1.3.Bản thân 5
1.2 Tác phẩm Truyện Kiều 1.2.1 Hoàn cảnh ra đời 7
1.2.2 Tóm tắt tác phẩm 7
1.2.3 Tầm ảnh hưởng 8
1.2.4 Giá trị tác phẩm 10
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM VỀ NHÂN VẬT HOẠN THƯ – THÚC SINH 2.1 2.1 Nhân vật Hoạn Thư 13
2.1.1 Ngoại hình 13
2.1.2 Tính cách 15
Phản ứng trước tin chồng có vợ lẽ 18
Đòn ghen vừa độc vừa thâm dành cho Thuý Kiều 23
2.2 Nhân vật Thúc Sinh 35
2.2.1 Ngoại hình 35
2.2.2 Tính cách 37
Chương 3: MỐI QUAN HỆ GIỮA HOẠN THƯ – THÚC SINH – THÚY KIỀU 41
Chương 4: NGHỆ THUẬT 52
4.1 Xây dựng nhân vật 52
4.1.1 Thúc Sinh 52
4.1.2 Hoạn Thư 52
4.2 Ngôn ngữ nhân vật 53
4.2.1 Thúc Sinh 53
4.2.2 Hoạn Thư 55
Trang 5- Sự sụp đổ không gì cưỡng nổi của chế độ phong kiến.
- Những cuộc nổi dậy đòi quyền sống của các phong trào nông dân
- Nền kinh tế hàng hóa phát triển cho thấy sức mạnh của đồng tiền, cũng như tưtưởng phóng khoáng của tầng lớp thị dân v.v…
Nói chung, đó là “những cuộc bể dâu”, những “phen thay đổi sơn hà” dữ dội.Nguyễn Du đã sống qua ba triều đại: Lê – Trịnh, Tây Sơn, Nguyễn, đã trải quanhững cuộc binh biến tàn khốc của các tập đoàn phong kiến và các cuộc khởi nghĩa đòiquyền sống của tầng lớp nông dân Ông đã chứng kiến tận mắt cảnh bãi bể hóa nươngdâu, cảnh sống xa hoa, đồi trụy cũng như sự thống trị dã man, tàn ác của giai cấp phongkiến, cảnh đau khổ vì nghèo đói, cảnh đày đọa vì những áp bức bất công của đại đa sốquần chúng nhân dân v.v
Cùng lúc, những yếu tố dân chủ xuất phát từ tầng lớp thị dân, những tư tưởng lớncủa các cuộc khởi nghĩa nông dân, nhất là cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn, v,v… đó lànhững luồng tư tưởng tiến bộ mà chắc chắn rằng một tâm hồn đa sầu, đa cảm nhưNguyễn Du không thể cảm thấy, không thể không nhận biết
Trang 61.1.2 Gia đình
Nguyễn Du xuất thân từ một gia đình đại quí tộc, nổi tiếng về đường khoa hoạn,nhiều đời, nhiều người đỗ đạt cao và làm quan to Ở vùng Hồng Lĩnh (quê Nguyễn Du)dân gian thường truyền tụng câu ca dao:
“Bao giờ Ngàn Hống hết cây Sông Rum hết nước họ này hết quan”.
Gia đình Nguyễn Du có bề dày về lịch sử, về truyền thống văn học nghệ thuật.Ông nội là Nguyễn Quỳnh, một nhà triết học chuyên nghiên cứu Kinh dịch Cha làNguyễn Nghiễm, một sử gia, một nhà thơ đồng thời là quan tể tướng của triều Lê Mẹ làTrần Thị Tần (vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm) là con gái của một vị quan làm chức câu
kê (kế toán) Bà là người xã Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc (Từ Sơn, HàBắc), sinh năm 1740 (năm Canh Thân) trẻ hơn chồng 32 tuổi Quê bà là một vùng hátquan họ nổi tiếng Người ta đoán rằng có lẽ bà là người có nhan sắc, giỏi nghề hát xướngnên mới lọt được vào mắt xanh của quan tể tướng Nguyễn Nghiễm Và nếu như vậy,Nguyễn Du ngay từ những ngày còn thơ bé, đã được đắm mình trong chiếc nôi của nhữnglàn điệu dân ca phía Bắc
Anh là Nguyễn Khản (cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du) cũng là quan lớn củaphủ chúa Trịnh, một người giỏi thơ Nôm thường xướng họa cùng với chúa Trịnh Sâm.Thời gian sống với anh, Nguyễn Du chắc đã chứng kiến những cảnh ấy và có thể do đó
mà hình ảnh người kĩ nữ luôn được phác họa đậm nét trong tác phẩm của ông sau này.Những người cháu của Nguyễn Du là Nguyễn Hành (1771 – 1824), Nguyễn Thiện (1763– 1818) đều là những nhà thơ, nhà văn nổi tiếng Những người này tuy là cháu nhưngcùng thời với Nguyễn Du, chơi rất thân với Nguyễn Du Trên văn đàn lúc bấy giờ có nămngười được ca ngợi là “An Nam ngũ tuyệt” thì Nguyễn Du, Nguyễn Hành là hai trong sốđó
Trang 71.1.3.Bản thân
Nguyễn Du (1766 – 1820), tên chữ Tố Như, hiệu Thanh Hiên, quê ở Tiên Điền,Nghi Xuân, Hà Tĩnh Tuy đỗ thấp (thi Hương ở Sơn Nam, đỗ Tam trường), nhưng ông làngười học rộng, thông minh, thông hiểu cả Nho, Phật, Đạo Từ lúc sinh ra đến mười tuổi,ông sống sung túc cùng với gia đình, đến mười tuổi cha mất, tiếp đó hai năm sau mẹ mất,ông đến nương tựa tại nhà anh là Nguyễn Khản
Chiến tranh loạn lạc xảy ra, bản thân Nguyễn Du cũng trôi giạt Năm 1786,Nguyễn Khản mất ở Thăng Long Nguyễn Quýnh (anh cùng cha với Nguyễn Du) nổi lênchống Tây Sơn bị bắt và bị giết, quân Tây Sơn đốt sạch dinh cơ họ Nguyễn ở Tiên Điền,còn lại mấy anh em cũng chia tay nhau mỗi người mỗi hướng Nguyễn Du về sống nhờnhà người anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn ở Thái Bình Bản thân ông cũng từng muốnchống lại Tây Sơn, việc không thành ông bị bắt giam ba tháng rồi được tha nhờ có anhruột là Nguyễn Nễ và anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn lúc bấy giờ đang làm quan cho TâySơn “Mười năm gió bụi” đã ghi lại trong ông bai nỗi niềm dằn xe khôn nguôi
Nguyễn Huệ, ông vua Tây Sơn uy vũ ngất trời, niềm tự hào của dân tộc thời bấygiờ, tuổi thọ lại quá ngắn ngủi Ông qua đời là một tổn thất lớn lao, kéo theo sự suy yếucủa Tây Sơn để rồi sau đó bị Gia Long tiêu diệt Sự kiện này chắc chắn tác động đếnNguyễn Du Ông chưa kịp nhìn thấy cũng như kiểm nghiệm những việc làm tốt đẹp dướitriều Tây Sơn thì Tây Sơn đã sụp đổ Tuy vậy, tiếng vang của triều Tây Sơn cũng ngânlên trong lòng ông ít nhiều ngưỡng mộ
Dưới triều Nguyễn, ông làm quan được thăng tiến rất nhanh (Tri huyện Phù Dung,Tri phủ Thường Tín, Đông các học sĩ ở Kinh Đô, giám khảo trường thi Hương ở HảiDương, Cai bạ ở Quảng Bình, Cần Chánh điện học sĩ, làm chánh sứ sang Trung Quốc,Hữu Tham Tri bộ Lễ) Giỏi việc quan nhưng Nguyễn Du rất ít nói, trong lòng ông “mối
lo nghìn năm” vẫn canh cánh và không biết đến bao giờ “khối u sầu một đời” kia mớiđược gỡ ra Giỏi việc quan mà vẫn cứ là một kẻ bất đắc chí, ông cứ day dứt, trăn trở trướccuộc đời, cứ đau lòng vì những điều trông thấy
Trang 8Những lần về Tiên Điền, thú vui sông Lam núi Hồng làm ông khuây khỏa LàngTrường Lưu (có họ Nguyễn Huy thông gia với họ Nguyễn, nhà Nguyễn Du) là nơiNguyễn Du thường lui tới tham dự các buổi hát phường vải ở đó Những bài “Văn tếsống hai cô gái Trường Lưu” và “Thác lời trai phường nón” ra đời ở giai đoạn này Thờigian Nguyễn Du sống với Nguyễn Khản, tương truyền có câu chuyện tình rất cảm độnggiữa ông và cô lái đò qua mấy câu thơ Nôm lục bát Đây cũng là bước thử nghiệm vềsáng tác thơ Nôm của ông.
Ở Nguyễn Du, do tư tưởng trung quân phong kiến ràng buộc và ảnh hưởng của giađình thượng lưu, ông theo quan điểm phò Lê, lúc đầu ông chưa có cảm tình với cuộc khởinghĩa Tây Sơn nhưng về sau ông thấu đáo tận tường những việc làm tốt đẹp của Tây Sơn
và nhất là khi Tây Sơn sụp đổ, dường như ông đã ngậm ngùi nuối tiếc (Long Thành Cầmgiả ca) Là người tâm huyết với cuộc đời, nhạy bén với thời cuộc, làm sao ông khôngnhận thấy những việc làm ích nước lợi dân của Tây Sơn, có điều do thành phần xuất thânnên ông còn e dè, xem xét, nghi ngại
Tóm lại, Nguyễn Du là một con người có tâm hồn lớn Trước sự đổi thay của thờicuộc, tuy Nguyễn Du có chán chường, có lúc gần như tuyệt vọng, song ông vẫn nhìnthẳng vào thực tế không quay lưng lại với cuộc đời Nguyễn Du cũng đã từng trải quanhững năm tháng sống cuộc đời bảy nổi ba chìm, ốm không thuốc, đói không có cơm ăn,rét không có áo mặt, sự nghiệp tiêu tan, nhà cửa không còn, anh em mỗi người mỗi ngả,bản tân trôi giạt,… Thế nhưng ông đã sống có ích cho cuộc đời Là người từng sống tronggia đình đại quí tộc, từng sống trong đói nghèo, lại được đi đó đi đây nhiều, nhìn thấy vàthấu hiểu tâm tư nguyện vọng của đại đa số quần chúng nhân dân, nên hơn ai hết ông cócái nhìn toàn diện về cuộc đời và quá trình tự rèn luyện tu dưỡng của ông đã góp phầntrong việc hình thành nên một thiên tài của dân tộc
Trang 91.2 Tác phẩm Truyện Kiều
1.2.1 Hoàn cảnh ra đời
Truyện Kiều tên gốc là Đoạn trường tân thanh, là truyện thơ kinh điển trong NềnVăn học Việt Nam, được viết bằng chữ Nôm theo thể lục bát của Nguyễn Du, gồm 3254câu, dựa theo tiểu thuyết " Kim Vân Kiều truyện" của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc.Tuy lấy cốt truyện từ tiểu thuyết Trung Quốc phần sáng tạo của Nguyễn Du hết sức lớn,mang ý nghĩa quyết định thành công của tác phẩm Sự sáng tao thể hiện từ nghệ thuật kểchuyện bằng thơ đến nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật, tả người, tả cảnh,… Tất cảđều đạt tới trình độ điêu luyện mà đương thời và cả về sau hiếm người vượt qua Cóthuyết nói Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi đi sứ Trung Quốc (18141820), lại cóthuyết nói ông viết trước khi đi sứ, có thể vào khoảng cuối Lê đầu Tây Sơn Ngay sau khi
ra đời, Truyện Kiều được nhiều nơi khắc in và lưu hành rộng rãi Hai bản in xưa nhấthiện còn là bản của Liễu Văn Đường (1871) và bản của Duy Minh Thị (1872), đều ở thờivua Tự Đức
1.2.2 Tóm tắt tác phẩm
Phần thứ nhất: Gặp gỡ và đính ước.
Thúy Kiều là thiếu nữ tài sắc, con gái đầu lòng một gia đình trung lưu lương thiện,song trong cảnh êm đềm trướng rủ màn che bên cạnh cha mẹ và hai em là Thúy Vân,Vương Quan Trong dịp du xuân tiết Thanh Minh, Thúy Kiều gặp Kim Trọng Tình yêugiữa hai người chớm nở Nhân việc trả chiếc thoa rơi, Kim Trọng đã gặp gỡ Thúy Kiều.Sau đó hai người bày tỏ tâm tình và tự nguyện đính ước với nhau
Phần thứ hai: Gia biến và lưu lạc
Trong khi Kim Trọng về quê ở tận Liêu Dương để chịu tang người chú, gia đìnhThúy Kiều bị tên bán tơ vu oan dẫn đến cảnh tội tù, tan nát Thúy Kiều nhờ Thúy Vân trảmón nợ tình cho Kim Trọng, còn nàng thì quyết định bán mình để lấy tiền chuộc cha
Trang 10Thúy Kiều bị bọn buôn người Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh lừa gạt đẩy vàolầu xanh Mến mộ tài sắc của nàng, Thúc Sinh đã chuộc nàng rá, cưới làm vợ lẽ Nhưngrồi Kiều bị vợ cả của Thúc Sinh là Hoạn Thư ghen tuông, đày đọa, làm cho khốn khổ.Nàng phải trôn đến nương nhờ cửa Phật Giác Duyên vô tình gửi nàng cho Bạc Bà – một
kẻ buôn người như Tú Bà nên lần thứ hai, Kiều lại rơi vào lầu xanh, ơ đây, Thúy Kiềugặp người anh hùng Từ Hải Từ Hải cưới Kiều làm vợ và giúp nàng báo ân báo oán Domắc lừa tên quan tổng đốc Hồ Tôn Hiến nên Từ Hải bị giết chết Thúy Kiều phải hầu đàn,hầu rượu cho Hồ Tôn Hiến rồi bị ép gả cho viên thổ quan Đau đớn, tủi nhục, Kiều trẫmmình xuống sông Tiền Đường Nàng được Giác Duyên cứu và lần thứ hai, nàng lại nươngnhờ cửa Phật
Phần thứ ba: Đoàn tụ
Sau nửa năm về quê chịu tang, Kim Trọng trở lại vườn Thuý để tìm Thuý Kiều Hay tingia đình nàng gặp cơn hoạn nạn và Kiều phải bán mình chuộc cha, chàng đau đớn vôcùng Tuy kết duyên với Thuý Vân theo nguyện vọng của Thuý Kiều nhưng Kim Trọngchẳng thể nào nguôi được mối tinh đầu say đắm Chàng quyết cất công đi tìm Thuý Kiều.Tình cờ gặp dược Giác Duyên mà Kim, Kiều gặp nhau, gia đình đoàn tụ Chiều ý mọingười, Thuý Kiều nối lại duyên với Kim Trọng nhưng cả hai cùng nguyện ước “Duyênđôi lứa cũng là duyên bạn bầy”
1.2.3 Tầm ảnh hưởng
Trong nền văn học cổ điển nước nhà, xưa nay không có tác phẩm nào giàu sức lantỏa bằng truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du Chưa có tác phẩm nào sánh kịp truyệnKiều về tầm ảnh hưởng quốc tế Truyện Kiều đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia ViệtNam, đến với nhiều dân tộc trên thế giới, dịch ra trên 30 thứ tiếng và được nhân loại yêuthích , mến mộ vì giá trị nhân văn cao cả của tác phẩm Từ khi ra đời đến nay TruyệnKiều là món ăn tinh thần gần gủi với người dân Việt Nam, trở thành nơi để con người gửigắm niềm tin về vân mệnh của mình, của dân tộc mình Truyện Kiều trở thành một hìnhtượng dân gian mang đậm tính chất tâm linh Truyện Kiều và Nguyễn Du là niềm tự hàocủa nhân dân Việt Nam
Trang 11Đứng về mặt nghệ thuật, cho đến nay ''Truyện Kiều'' vẫn là hòn ngọc sáng nhất và
là đỉnh cao chói lọi nhất của tiếng nói Việt Nam, của văn học dân tộc Thiên tuyệt bút nàycủa Nguyễn Du là sự kết tinh tinh hoa của cả quá trình mấy trăm năm hình thành và phát
triển nền văn học cổ điển viết bằng ngôn ngữ dân tộc ''Truyện Kiều'' cũng được xem là
hòn đá tảng, đặt nền móng cho sự phát triển của nghệ thuật văn học dân tộc sau này
Văn học Việt Nam, thậm chí văn học thế giới, ít có tác phẩm nào chinh phục được
tình cảm của đông đảo người đọc đến như vậy Trong suốt hai thế kỷ qua, ''Truyện
Kiều'' đã trở thành cuốn sách "gối đầu giường," thậm chí được xem là cuốn "thánh kinh"
của người Việt Ngôn từ trong ''Truyện Kiều'' được dùng rộng rãi trong các sinh hoạt văn
hóa của mọi tầng lớp nhân dân như ngâm Kiều, vịnh Kiều, bình Kiều, lẩy Kiều, trò Kiều,chèo Kiều, cải lương Kiều, tranh Kiều, bói Kiều… và cả trong những làn điệu ví giặmđặc sắc của người dân địa phương vùng Nghệ Tĩnh vừa được UNESCO công nhận là Disản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Hàng loạt nhân vật của ''Truyện Kiều'' như Kiều, Từ Hải, Hoạn Thư, Tú Bà… đã
bước ra khỏi các trang sách, trở thành biểu trưng cho vẻ đẹp thể chất và tâm hồn, mộthạng người hay một nét tính cách trong xã hội Nhiều câu Kiều mang ý nghĩa khái quátnhững triết lý nhân sinh sâu sắc về các mối quan hệ xã hội, về cuộc đời, về số phận conngười và về những cảnh huống của đời người "Ma lực" của các con chữ mạnh tới mứcngười đọc cảm thấy "ứng vận," thấy mình đâu đó trong các cảnh ngộ, thân phận, hạnh
phúc khổ đau của các nhân vật ''Truyện Kiều.''
1.2.4 Giá trị tác phẩm
*Giá trị nội dung : Gồm giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo
Giá trị nhân đạo
Mở đầu Truyện Kiều, Nguyễn Du tâm sự:
“Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.
Trang 12Chính “những điều trông thấy" khiến tác phẩm của Nguyễn Du có khuynh hướnghiện thực sâu sắc Còn nỗi “đau đớn lòng” đã khiến Nguyễn Du trở thành một nhà thơnhân đạo lỗi lạc.
Sáng tác của Nguyễn Du bao trùm tư tưởng nhân đạo, trước hết và trên hết là niềmquan tâm sâu sắc tới thân phận con người Truyện Kiều không chỉ là bản cáo trạng màcòn là khúc ca tình yêu tự do trong sáng, là giấc mơ tự do công lí “tháo cũi sổ lồng”.Nhưng toàn bộ Truyện Kiều chủ yếu là tiếng khóc xé ruột cho thân phận và nhân phẩmcon người bị chà đạp, đặc biệt là người phụ nữ
“Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”.
Truyện Kiều còn là bài ca về tình yêu tự do, trong sáng, chung thủy Bước chân
“Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” của Kiều đến với Kim Trọng đã phá vỡnhững quy tắc thánh hiền về sự cách biệt nam nữ
Truyện Kiều là giấc mơ tự do và công lí Qua hình tượng Từ Hải, Nguyễn Du gửigắm ước mơ anh hùng “đội trời đạp đất” làm chủ cuộc đời, trả ân báo oán, thực hiện cônglí
Không chỉ xót thương, Nguyễn Du còn trân trọng, ca ngợi vẻ đẹp, cùng những khátvọng sống, khát vọng tình yêu hạnh phúc Tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du đã vượt
qua một số ràng buộc của ý thức hệ phong kiến và tôn giáo để vươn tới khẳng định giá trị
tự thân của con người Đó là tư tưởng sâu sắc nhất mà ông đem lại cho văn học Việt Namtrong thời đại ông
Giá trị hiện thực:
Tác phẩm đã phản ánh sâu sắc hiện thực xả hội đương thời với bộ mặt tàn bạo củatầng lớp thông trị và số phận đau khổ của những con người bị áp bức, chà đạp quyềnsống của con người,đặc biệt là bi kịch của người phụ nữ
Trang 13Trước hết, tác giả tố cáo tội ác của giai cấp phong kiến thống trị, trong xã hội ngườibóc lột người Thường thường, chúng vẫn dùng chiêu bài đạo lí, nhân nghĩa đế che lấp tội
ác Với Truyện Kiều, Nguyền Du đã bóc trần bản chất xấu xa của chúng trước dư luậnngàn đời.Bao nhiêu đau đớn, bất hạnh của con người được Nguyễn Du tập trung thể hiệntrong nhân vật tiêu biếu là Thuý Kiều Bằng tài năng nghệ thuật kiệt xuất, ông đã làm chonhân vật ây sống mãi với thời gian
Truyện Kiều còn cho thấy sức mạnh ma quái của đồng tiền đã làm tha hóa nhân cáchcon người Đồng tiền làm đảo điên (Dẫu lòng đổi trắng thay đen khó gì?), đồng tiền giẫmlên lương tâm con người và xóa mờ công lí (Có ba trăm lạng việc này mới xuôi)
Cuộc đời trầm luân của Thuý Kiều xưa nay đã được bao người nhắc đến Truyện Kiều
ra đời cách đây đã mấy thế kỉ, vậy mà những lời thơ tâm huyết kia đến nay vẫn như cònnóng hổi, làm cho gan ruột người đọc quặn đau Sức sông của tác phẩm và nhân vật vẫnnguyên vẹn như thuở ban đầu
Truyện Kiều là kết tinh thành tựu nghệ thuật của văn học dân tộc trên mọi phươngdiện, trong đó nổi bật là ngôn ngừ Với Truyện Kiều, ngôn ngữ thơ ca và thể thơ lụcbát ,đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ và nghệ thuật tự sự đã phát triển vượt bậc, từ nghệ thuậtdẫn chuyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, con người
Khi miêu tả nhân vật Thuý Kiều, Thuý Vân, tác giả sử dụng bút pháp nghệ thuậtước lệ mà vẫn gợi tả được vẻ đẹp ngoại hình, vẫn khắc hoạ được những nét riêng về tínhcách, sô" phận của hai nhân vật Người đọc thấy rất rõ cảm hứng nhân văn của Nguyễn
Trang 14Du trong Truyện Kiều Đó là sự trân trọng, ca ngợi sắc đẹp, tài năng, phẩm cách conngười.
Nguyễn Du đóng góp rất lớn, rất quan trọng cho sự phát triển giàu đẹp của ngônngữ văn học Tiếng Việt: tỉ lệ từ Hán - Việt giảm hẳn, câu thơ tiếng Việt vừa thông tục,vừa trang nhã, diễm lệ nhờ vần luật chỉnh tề, ngắt nhịp đa dạng, tiểu đối phong phú, biếnhóa Thơ Nguyễn Du xứng đáng là đỉnh cao của tiếng Việt văn học Trung Đại Đặc biệtTruyện Kiều cùa Nguyễn Du là “tập đại thành” về ngôn ngữ văn học dân tộc
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM VỀ NHÂN VẬT HOẠN THƯ – THÚC SINH
2.1 Nhân vật Hoạn Thư
2.1.1 Ngoại hình
Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều) có sức thu hút đặc biệt đối với giới nghiên
cứu, phê bình văn học trong và ngoài nước Bởi trong kiệt tác này, Nguyễn Du đã tái hiệnđược cả một thế giới với những nhân vật thật hơn cả người thật Hoạn Thư là một trong
số đó Sự phức tạp và tính đa diện của nhân vật này có phải là mâu thuẫn trong thế giới quan, nhân sinh quan của tác giả?
Hiện tại có rất nhiều tranh cãi về nhân vật Hoạn Thư, nhưng nhìn chung có haihướng sau:
Thứ nhất, Hoạn Thư là nhân vật phản diện Cũng như những nhân vật phản diệnkhác, Hoạn Thư khiến cho Thuý Kiều phải chịu đựng bao đắng cay, thử thách, khiến cuộcđời nàng Kiều trầm luân, đau khổ Ở hướng này, nhiều nhà nghiên cứu đồng tình rằngHoạn Thư là một nhân vật lắm mưu nhiều kế, thâm độc và tàn nhẫn, luôn sẵn sàng mọithủ đoạn để hại người
Khác với cái nhìn trên, có một số nhà nghiên cứu lại cho rằng Hoạn Thư là mộtnhân vật bi kịch, và hơn thế nữa Hoạn Thư có thể coi như là một nạn nhân trong tácphẩm Điều này được xem như sự cách tân đầy sáng tạo của đại thi hào Nguyễn Du so
với bản gốc Kim Vân Kiều truyện.
Trang 15Tuy nhiên dù là cách nhìn nhận nào thì chúng ta không thể phủ định tầm quantrọng của nhân vật Hoạn Thư Bên cạnh Thuý Kiều, Hoạn Thư là một trong những nhânvật có tầm ảnh hưởng lớn đến cốt truyện và tính hấp dẫn của câu chuyện Nhà nghiên cứu
Đông Hồ từng nhận xét, nếu không có Hoạn Thư thì Đoạn trường tân thanh sẽ “sụt đi hết
nửa phần giá trị” Ông khẳng định Hoạn Thư là “một nhân vật lạ lùng kì tuyệt phithường” và “ví phỏng không có vai trò của Hoạn Thư thì quyển Truyện Kiều là một câuchuyện nhạt quá”
So với Kim Vân Kiều truyện, Hoạn Thư ở Đoạn trường tân thanh có sự thay đổi
đáng kể Nhân vật Hoạn Thư trong nguyên tác của Thanh Tâm Tài Nhân được đặt dướicái nhìn khá phiến diện, một người đàn bà độc ác và mưu chước Tuy nhiên, ở phiên bảnlục bát của Nguyễn Du, Hoạn Thư trở nên bản lĩnh, thông minh và đặc biệt là vô cùng sắcsảo, “thiệp thế biết điều” hơn rất nhiều Hoạn Thư của Nguyễn Du ngoài cái ác ra, còntồn tại cả cái thâm và cái tình Chính điểm này đã làm nổi bật được tính chất nhân đạo
“đặc sản” trong văn thơ Nguyễn Du Đây chính là điểm khác nhau cơ bản giữa HoạnThư trong Đoạn trường tân thanh và Hoạn Thư trong Kim Vân Kiều truyện
Nói về nhân vật Hoạn Thư, trong tác phẩm hầu như nàng không được miêu tảnhiều về ngoại hình mà chủ yếu là hành động và lời nói Về gia thế của Hoạn Thư cũngnhư cái nhìn tổng quan về nhân vật, Nguyễn Du có 4 câu sau:
“Vốn dòng họ Hoạn danh gia Con quan Lại bộ tên là Hoạn Thư.”
“Ở ăn thì nết cũng hay Nói điều ràng buộc thì tay cũng già.”
Cha Hoạn Thư lúc sinh thời là Thiên Quan Trủng Tể, thuộc hàng lương đống củatriều đình Đường tình duyên của nàng khá thuận lợi:
“Duyên Đằng thuận nẻo gió đưa, Cùng chàng kết tóc xe tơ những ngày.”
Trang 16Có thể thấy, về gia thế, Hoạn Thư xuất thân từ một gia đình danh gia vọng tộc, cóchức có quyền, phải gọi là thiên kim tiểu thư chứ không phải hạng “thường thường bậctrung” Về tố chất con người, Nguyễn Du cho ta thấy Hoạn Thư rất đặc biệt qua hai từ
“hay” và “già” Không phải những mỹ từ ca ngợi chị em Vân Kiều, chẳng phải những từmang sắc thái nghĩa tiêu cực để nói về Tú Bà hay Mã Giám Sinh mà là hai từ rất có nhiềucách hiểu Hai từ “hay” và “khéo” cho ta hình dung về một con người rất tinh tế, khéo léo
và cực kì thông minh Đã là tiểu thư con nhà khuê các lại là một người vừa “hay” vừa
“khéo” thì so với Thúc Sinh, phải nói đây là một cuộc hôn nhân không cân xứng
Xét trong mối quan hệ vợ chồng giữa Thúc Sinh và Hoạn Thư ta thấy nó không hềbình thường bởi trước hết đây là mối quan hệ mang tính đẳng cấp Đối với Hoạn Thư thìThúc Sinh chưa bao giờ là một người chồng theo đúng nghĩa mà trong tay Hoạn Thư,trước sau chàng giống như là một con rối Quyền lực, tài sản, địa vị và cả trí tuệ, HoạnThư đều hơn hẳn Thúc Sinh Phải chăng chính vì điều này mà xảy ra sự việc đánh ghentáo bạo về sau?
Dựa vào một nguyên mẫu trong nguyên tác, với một ý đồ sáng tạo mới, Nguyễn
Du đã làm thay đổi bản chất của nhân vật Hoạn Thư – đặc biệt ở phương diện tính cách
và số phận nhân vật Từ một điểm nhìn trần thuật mới, ông đã thực hiện một cuộc “lộtxác” cho Hoạn Thư Đúng như Trần Đình Sử nhận xét: “Nhân vật vay mượn có thể đượcmiêu tả theo những trọng tâm, điểm nhấn khác và trở thành nhân vật khác” Hoạn Thư từmột con người đạo lí, một nhân vật hành động đã trở thành nhân vật tâm trạng với đờisống nội tâm phong phú, đa dạng Trong Đoạn trường tân thanh, ta bắt gặp một Hoạn Thưtỉnh táo, lí trí hơn song luôn giằng xé tâm can với những trăn trở, đau đớn Ở Hoạn Thưluôn luôn thường trực sự đấu tranh của con người giai cấp và con người cá nhân nơinàng
2.1.2 Tính cách
Ai cũng phải thừa nhận, Hoạn Thư là một người phụ nữ cực kì thông minh và cóbản lĩnh Ngay trong phần giới thiệu nhân vật, sau khi trình bày gia cảnh quyền uy của
Trang 17Hoạn Thư (Vốn dòng họ Hoạn danh gia / Con quan Lại bộ tên là Hoạn Thư), Nguyễn Du viết “Ở ăn thì nết cũng hay / Nói điều ràng buộc thì tay cũng già” Có thể nói, chỉ với hai
câu thơ này đủ nói lên ở họ Hoạn một con người có khả năng làm được nhiều việc hơnngười Điều này sẽ được thể hiện rõ trong những lần hành sự của Hoạn Thư sau này.Khác với các nhân vật phản diện kiểu như Mã Giám Sinh, Tú Bà,… nhà thơ bộc lộ thái
độ coi thường, khinh bỉ ngay ở lời giới thiệu (Mã thì Quá niên trạc ngoại tứ tuần / Mày
râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao, Tú thì Thoắt trông nhờn nhợt màu da / Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao), Hoạn Thư được Nguyễn Du giới thiệu bằng một thái độ có phần dè dặt
hơn Chính thái độ này nói lên ở nhà thơ, ở một phương diện nào đó, là sự đánh giá caonhân vật này
Trong Truyện Kiều, có hai người phụ nữ thuộc vào dạng “Thông minh vốn sẵn
tính trời” là nàng Kiều và Hoạn Thư Trong truyện, chính Kiều là nạn nhân bị Hoạn đày
đọa “cho đau đớn, ê chề” cũng phải hai lần thừa nhận Hoạn Thư “cao tay” hơn mình một
bậc Lần thứ nhất là ở Quan Âm các, khi được hoa tỳ cho biết Hoạn Thư :
Chán tai rồi mới bước lên trên lầu”
Thúy Kiều đã “kinh xiết”, “sởn gai rụng rời” và thừa nhận “Ấy mới gan, ấy mới
tài… Người đâu sâu sắc nước đời / Mà chàng Thúc phải ra người bó tay” Lần thứ hai,
trong màn báo ân báo oán, Kiều lại khẳng định một lần nữa : “Khen cho : ‘thật đã nên
Trang 18rằng / Khôn ngoan tới mực nói năng phải lời’” Trong hai hoàn cảnh khác nhau (bị lệ
thuộc và làm chủ), với đối tượng đã có sự thay đổi vị thế với mình (chủ nhân rồi phạmnhân, kẻ thù gây ra đau khổ và kẻ bị mình xử án), Kiều đều phải thừa nhận Hoạn Thưthông minh hơn người Những lời này xuất phát từ sự tâm phục khẩu phục của Kiều vốnthông minh, sâu sắc, đủ cho thấy Hoạn Thư tài giỏi, bản lĩnh đến bực nào
Thật vậy, trái với người chồng là Thúc Sinh bản tính nhu nhược, nửa vời, trong mỗi việclàm của mình, Hoạn Thư đều tỏ ra chín chắn, quyết đoán và nắm chắc phần thắng Bằngcách riêng của mình, Hoạn Thư biết cách
“Làm cho trông thấy nhãn tiền
Cho người thăm ván bán thuyền biết tay”
Nhất là với “tình địch”, họ Hoạn biết cách:
“Làm cho đày đọa cất đầu chẳng lên…
Làm cho cho mệt cho mê Làm cho đau đớn, ê chề cho coi”.
Bằng sự thông minh và bản lĩnh của người phụ nữ “sâu sắc nước đời”, Hoạn Thư
đứng ra một tay đạo diễn vở kịch trả thù tình yêu tay ba vô cùng hoàn hảo đến nỗi Kiều
vì quá kinh hãi mà bỏ trốn, còn Thúc Sinh chỉ biết ngậm ngùi than thở “Thấp cơ thua trí
đàn bà” mà không thể làm gì được vợ Trong màn Kiều đền ân trả oán, lúc được giải đến,
vừa nghe lời “chào thưa” của Kiều, quả Hoạn Thư có phần sợ hãi (Hoạn Thư hồn lạc
phách xiêu) Nhưng rồi bằng những lời lẽ có tình, có lí của một người đủ bản lĩnh, Thư đã
“lội ngược dòng” một cách ngoạn mục, được Kiều “Truyền quân lệnh xuống trướng tiền
tha ngay” cùng với lời khen không thể khác “Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời”.
Rõ ràng, khác với một Hoạn Thư trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài
Nhân chỉ biết trả thù mù quáng để rồi nhận kết cục thảm hại trong màn Kiều báo oán,
Hoạn Thư trong Truyện Kiều ở một tầm cao hơn nhiều Nàng không hề bị sự ghen tuông
làm cho mất lí trí như trong suy nghĩ của không ít người Trái lại, trong những tình huống
Trang 19quan trọng, Hoạn Thư biết làm chủ được cảm xúc, giải quyết sự việc hết sức bình tĩnh,thấu tình đạt lí và đặc biệt rất hiệu quả Nếu trong kế hoạch trả thù Thúc Sinh, Hoạn Thưchiếm phần chủ động thì trong màn báo ân báo oán, dù ở thế bị động, Thư vẫn có thể lậtngược tình huống, làm chủ tình thế, tự cứu nguy cho mình mà không cần đến ngườichồng vừa được đền ơn rất hậu đang ở cạnh bên mình Một người phụ nữ khôn ngoan,sắc sảo, bản lĩnh như vậy đâu dễ gặp, nhất là trong xã hội phong kiến, người nữ luôn ởtrong thế thụ động, bị coi thường Đây là một trong những phẩm chất đáng quý nơi HoạnThư, dù rằng hành động trả thù của nhân vật này có phần nặng tay.
Phản ứng trước tin chồng có vợ lẽ
Vợ Thúc Sinh là Hoạn Thư, vốn con nhà quan, phong cách lịch sự, khôn ngoan:
“Ở ăn thì nết cũng hay, Nói điều ràng buộc thì tay cũng già.”
Nàng ứng xử khéo léo, đúng khuôn phép, nhưng khi cần ra tay đối phó, nàng cũngthừa đủ mưu chước, thủ đoạn để làm cho ra lẽ mới thôi
Một năm trời, nàng và Thúc Sinh sống với nhau có vẻ êm ấm, thuận hòa, đó chỉ làmột cảnh "đồng sàng dị mộng", gần gũi xác thân mà không hảo hợp tâm hồn, ngàn lầnsầu thảm, tha thiết, tủi thân! Và khi nghe tin chồng mình đã có vợ bé, thì bản tính ẩn sâutrong người Hoạn Thư mới thật sự bộc lộ:
“Từ nghe vườn mới thêm hoa, Miệng người đã lắm, tin nhà thì không.
Lửa tâm càng dập càng nồng, Giận người đen bạc ra lòng trăng hoa.”
Thúc Sinh vắng nhà đã một năm Trong thời gian ấy, nghe được tin chồng lấyKiều, miệng người đã lắm, tin nhà thì không, Hoạn Thư vẫn nhẫn nhịn, nhưng càng nhẫnnhịn, càng thấy căm tức, đau khổ Việc chồng mình có tình ý với người khác, liệu có
Trang 20người phụ nữ nào chịu được Cơn ghen Hoạn Thư (với tâm lí của một người phụ nữ)càng nén chịu thì càng bùng cháy dữ dội Nhưng trong trường hợp này Hoạn Thư đã khônkhéo dặn lòng không được tỏ cảm xúc ra ngoài
“Ví bằng thú thật cùng ta, Cũng dong kẻ dưới mới là lượng trên.
Dại chi chẳng giữ lấy nền, Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình.”
Gặp nhau sau bao ngày xa cách, mong mỏi, còn gì tủi cực hơn khi người vợ phảinồng thắm với chồng chỉ bằng cái vẻ bề ngoài, bên trong thì một mình gặm nhấm cái “nỗichàng ở bạc nỗi mình chịu đen” Đưa ra giải pháp hợp lí đã khó nhưng vẫn còn dễ hơnviệc thực hiện trong cuộc Làm sao giữ được bình tĩnh khi nhìn thấy mặt con người đenbạc ra lòng trăng hoa Người nhạy cảm như Hoạn Thư, thật chẳng dễ chịu gì khi phải cốgắng, đêm ngày lòng những dặn lòng, hết mức kìm nén trạng thái thần kinh căng thẳng.Rồi có lúc, nàng ta cũng không nén được, cũng phải giở những lời đâu đâu để gạn hỏichuyện Lâm Tri mà dư luận đang bàn tán Cái mà Hoạn Thư mong chờ cũng đâu phải làquá đáng: chỉ cần được chồng báo tin, được thú thật, để rồi được bao dung tha thứ mộtcách đàng hoàng Nhưng Thúc Sinh lại nhu nhược, sợ hãi mà giấu nhẹm đi khiến cho cơntức tối Hoạn Thư dâng cao Không vì thế mà Hoạn Thư đánh mất đi trí phán đoán, suyxét, Hoạn Thư biết rằng không nên dại dột làm ầm ĩ vừa mang tiếng ghen tuông lại vừalàm tổn thương danh giá chồng
Hoạn Thư không muốn "rước lấy tiếng ghen" vì lễ giáo của nhà Nho không phảnđối việc người đàn ông có thể tới "năm thê, bảy thiếp" miễn phải thông báo cho HoạnThư biết Bởi lẽ Hoạn Thư là "vợ cái con cột" nắm quyền "nội tướng" trong gia đình Mặtkhác, cha Thúc Sinh và quan trên đã chính thức cho phép Thúc Sinh cưới Kiều May màThúc Sinh hèn nhát, quen thói sợ vợ, nên chưa dám nghĩ đến việc cùng cha đưa Kiều vềnhà Hoạn Thư Nếu ở trường hợp ấy, Hoạn Thư cũng khó mà từ chối Ngoài ra, HoạnThư không dám ghen vì nàng còn có một nhược điểm quan trọng là chưa có con để nối
Trang 21dõi tông đường Bấy nhiêu điều thôi cũng khiến cho Hoạn Thư lâm vào thế khó, cho nên,Hoạn Thư phải làm cách nào tránh không để cho ai có thể buộc mình vào các tội bất hiếu,ghen tuông thất lợi cho nàng Điều đó cũng không khó khăn gì cho lắm, vì nàng vốn làcon nhà nề nếp, có ghen cũng không dại gì ra mặt đánh ghen một cách lỗ mãng vũ phu,
đã trái với gia phong, mà còn rước tiếng ghen vào người, cho thiên hạ cười chê Qua đócho thấy được Hoạn Thư đã khôn khéo, tinh tế tránh làm lớn chuyện, vừa đạt được mưu
kế của mình sau này, vừa tránh được tiếng xấu cho bản thân
Bên cạnh đó, Hoạn Thư biết lẽ, khôn khéo không đối mặt với dư luận, như mộtcách ghen mà như không ghen, ghen mà không để người khác thấy:
“Nỗi lòng kín chẳng ai hay, Ngoài tai để mặc gió bay mé ngoài
… Buồng đào khuya sớm thảnh thơi
Ra vào một mực nói cười như không”
Hoạn Thư quá rõ sự chính xác của dư luận Và chuyện thực nhà mình đang cầnche giấu, càng chống chế càng lộ chuyện Cái sự thâm thúy, nghĩ trước được mọi việc củanàng ta bộc lộ qua việc bình tĩnh xử lí mọi chuyện và vờ như mọi chuyện chưa xảy ra,mặc dù trong tâm can đang sôi sục dữ dội
Đối với những người mách tin ý cũng liệu bài tâng công, thì một mặt mắng át đểbảo vệ chồng:
“Tiểu thư nổi giận đùng đùng Gớm tay thêu dệt ra lòng trêu ngươi!
Chồng tao nào phải như ai, Điều này hẳn miệng những người thị phi.”
Trang 22Một mặt trấn áp mạnh tay: “đứa thì vả miệng đứa thì bẻ răng”, để chuyện kia
khỏi lộ ra ngoài, một phần cũng dễ dàng thực hiện mưu chước của nàng ta về sau
Và kết quả bước đầu đã đạt được: “Trong ngoài kín mít như bưng / nào ai còn dám nói
năng một lời.”.
Khi Thúc Sinh về đến nhà, Hoạn Thư sai bày rượu tiếp đón vui vẻ như không có gìxảy ra Hoạn Thư đã biết, song không gây gổ, giận dữ, hay tra hỏi gì, mà vẫn một mựcvui vẻ, chiều chuộng, âu yếm, tỏ ra tin yêu, quí trọng chồng Nàng còn cho Thúc Sinhbiết ở nhà thiên hạ xấu miệng gièm pha chàng có vợ bé, mà nàng đâu có tin những lờixuyên tạc vu vơ ấy Nàng không để cho bị lung lạc, làm tổn thương đến tình nghĩa vợchồng, để phải mang tiếng xấu chung Hoạn Thư đã tinh ranh đi trước một bước, buông
ra những lời đầy ẩn ý nhằm “chặn đường” rút lui của Thúc Sinh, làm cho chàng ta phảingậm tăm nỗi lòng
“Rằng:'Trong ngọc đá vàng thau, Mười phần ta đã tin nhau cả mười.
Khen cho những miệng dông dài, Bướm ong lại đạt những lời nọ kia.
Thiếp dù vụng, chẳng hay suy,
Đã dơ bụng nghĩ lại bia miệng cười.”
Nói đến đây thì Thúc Sinh trong lòng đâm ra sợ hãi, lúng túng nhưng cũng một mực phântrần, cố gắng giấu nhẹm chuyện đi Hoạn Thư biết rõ Thúc Sinh đang giấu mình nhưngvẫn để yên, vì “người giấu mình thì mình cũng giấu người” Điều khó, là Hoạn Thư phảilàm sao cho Thúc Sinh phải tiếp tục giấu Làm cho Thúc Sinh tiếp tục giấu, tức là chàngkhông mở miệng xin lấy Kiều, Hoạn Thư sẽ có thời gian dùng tình cảm lôi kéo chồng,làm cho chồng quên Kiều mà trở lại với nàng Quan hệ vợ chồng giữa Thúc Sinh và HoạnThư không hề bình thường bởi trước hết đây là mối quan hệ mang tính đẳng cấp Thúc
Trang 23Sinh chưa bao giờ là một người chồng theo đúng nghĩa của nó mà trong tay Hoạn Thư,trước sau anh ta cũng chỉ là một con rối, một thằng hề mà thôi.
Nhưng càng níu kéo thì Thúc Sinh lại càng tơ tưởng đến Thúy Kiều, đến lúc nàythì Hoạn Thư đã “buộc phải ra tay”
Thế rồi chàng ở nhà cả ngày trời mà không nói được gì Khi chàng nhấp nhỏmmuốn ra đi, nhưng lại nhút nhát không dám ngỏ lời Hoạn Thư biết ý, đã tỏ ra khôn lanhlên tiếng trước:
“Tình riêng chưa dám rỉ răng, Tiểu thư trước đã liệu chừng nhủ qua:
Cách năm, mây bạc xa xa, Lâm Tri cũng phải tính mà thần hôn.”
Được lời như cởi tấm lòng, Thúc vội vàng lên ngựa ra đi Chỉ chờ có vậy HoạnThư cũng vội lên xe về Tích Giang thăm cha mẹ đẻ, và một cuộc đánh ghen bắt đầu
Những điều dễ đoán đó làm ta thật bất ngờ và nhận ra Hoạn Thư không phải làhạng người đơn giản, tầm thường mà hơn cả là một người phụ nữ đầy mưu mô, chướcmẹo và có phần thâm độc
Cuối cùng, cho chúng ta được tất cả những việc mà Hoạn Thư làm như một vởkịch được dàn dựng sẵn một cách hoàn hảo Một mưu kế được tính toán hết sức chi li,tinh quái trong từng hành động và cư xử Vừa bảo vệ danh dự cho mình; tránh bị ngườingoài lợi dụng, kích động, tránh đối mặt trực tiếp với dư luận, tránh bị sốc, cả giận mấtkhôn “Cái ghen của Hoạn Thư không phải là cái ghen thường tình mà là cái ghen củaquý tộc.” Tóm lại, Hoạn thư đã đạt được ý định: giữ cho gia đình ngoài kín trong êm, vàtạo điều kiện cho bước quyết liệt tiếp theo
Đòn ghen vừa độc vừa thâm dành cho Thuý Kiều
Trang 24Kể từ sau sự ra đời của Đoạn trường tân thanh, từ đó đến nay đã có rất nhiều ý
kiến trái chiều xoáy sâu vào các nhân vật mà Nguyễn Du xây dựng đi ngược lại với luân
lý Nho học Có người còn thẳng thắn chỉ trích rằng: “Đàn bà chớ kể Thuý Vân Thuý
Kiều.” Tuy nhiên, công bằng mà nói, nếu không xét đến tất cả những yếu tố thuộc về lễ
giáo phong kiến hay bất cứ rào cản đạo đức nào đó nói chung, thì qua Đoạn trường tân
thanh, hậu thế có thể khẳng định rằng tài xây dựng nhân vật lên đến mức điển hình hoá
như Nguyễn Du là trác tuyệt hơn cả Hàng loạt những thành ngữ gắn liền với các nhânvật được ra đời trong đó, chỉ nói riêng về nhân vật Hoạn Thư, nổi bật nhất đó chính là
thành ngữ: “Thói Hoạn Thư” Nếu như hỏi thành ngữ “thói Hoạn Thư” để chỉ điều gì thì
chắn hẳn hầu hết mọi người sẽ trả lời đó là thói ghen lồng lộn, hiểm độc và có phần sỗ
sàng Tuy nhiên, nếu đọc kĩ Đoạn trường tân thanh, hay còn gọi Truyện Kiều, phần nói
về đòn ghen của Hoạn Thư dành cho Thuý Kiều, thì có thể nói rằng, hầu hết mọi ngườiđều hiểu sai về nhân vật Hoạn Thư bởi Hoạn Thư khi giở đòn ghen đúng là rất độc nhưngbên cạnh đó lại thâm vô cùng, không ầm ĩ hay sỗ sàng như ta vẫn nghĩ Những mặt đốilập tồn tại song song trong nhân vật này là lí do vì sao sức sống của nhân vật lại trở nênmạnh mẽ đến như vậy
Sự mưu mô của người phụ nữ này đã được khắc hoạ vô cùng rõ nét ngay khi bướcvào phân đoạn đầu tiên mà cô có mặt Hoạn Thư khi biết chuyện chồng mình dan díu
cùng Thuý Kiều tỏ thái độ hoàn toàn bình thản, “Ra vào một mực nói cười như không” làm cho “trong ngoài kín mít như bưng/ nào ai còn dám nói năng một lời.” Người ngoài
chẳng dám hó hé, Thúc Sinh chẳng mảy may nghi ngờ, như vậy, có thể xem bước đầutiên trong kế hoạch đánh ghen trả thù của Hoạn Thư đã thành công tốt đẹp, lót đường êmthấm cho một màn đánh ghen đi vào lịch sử văn học Việt Nam ở phần về sau
Bước tiếp theo của màn đánh ghen này, Hoạn Thư cho Thúc Sinh trở lại với LâmTri trong khi bản thân thì đã lập sẵn kế hoạch, cho hai tên tay sai là Ưng và Khuyển đi
đường tắt đến trước để hành hạ Kiều, cho nàng một phen “thịt nát gan kinh”, rồi chuốc
thuốc mê, bắt cóc Kiều về, xong xuôi mọi việc thì tạo hiện trường giả để khi Thúc Sinhtrở lại, tưởng rằng Thuý Kiều đã chết sẽ quay trở lại với mình
Trang 25Qua việc sai tay chân của mình đánh đập Thuý Kiều, Hoạn Thư cho ta thấy dùnàng có là người cao tay hay sắc sảo đến cỡ nào thì cũng không thoát khỏi cái tục trầncủa con người bình thường khi bị cái ác ngự trị Khi cái ghen chiếm lĩnh ý thức của mình,
dù là làm gì đi chăng nữa thì Hoạn Thư trước hết cũng muốn cho Thuý Kiều “một phen
mưa gió tan tành” thì mới hả dạ Tuy nhiên, nếu như chỉ hành hạ Thuý Kiều và dừng ở
đó, Hoạn Thư có thể chỉ cần thủ tiêu Thuý Kiều là xong chuyện Vậy tại sao Hoạn Thưkhông chọn cách giết Kiều? Câu trả lời cho câu hỏi này sẽ lí giải được lí do vì sao HoạnThư không chỉ ác mà còn thâm
Lại nói về tình tiết Hoạn Thư chẳng những không giết Thuý Kiều mà còn choThúc Sinh trở lại Lâm Tri tìm nàng, có lẽ, việc Nguyễn Du cho nhân vật của mình làmvậy vì ông biết, Hoạn Thư mà ông sáng tạo ra là một người đàn bà thông minh và thâmthuý, chắc chắn sẽ không có chuyện níu kéo sỗ sàng như những người đàn bà khác vàcũng không có chuyện hạ thủ đơn giản bằng cách giết người tàn độc Người như HoạnThư, chắc chắn hiểu rằng, chuyện cố giữ một người đàn ông muốn ra đi là điều vô nghĩa,nếu xử lý không khéo thì phần thiệt thòi chỉ nằm ở bản thân mình, như vậy vừa mấtchồng vừa mất thể diện
Ngoài ra, nếu giết Thuý Kiều, đôi khi còn ảnh hưởng nặng nề đến danh tiếng củabản thân mà cũng chưa chắc giữ được chồng vì nếu Kiều chết càng làm Thúc Sinh đêmngày thương nhớ
Hơn nữa, nếu Thuý Kiều chết thì quá đơn giản, đối với Hoạn Thư, Thuý Kiều
xứng đáng bị hành hạ nhưng người đáng bị hành hạ hơn đó là kẻ “thăm ván bán thuyền”.
Thế nên, phải làm cách nào để cả hai kẻ gian phu dâm phụ tự bỏ cuộc, ấy mới làđiều khó Làm được như vậy, vừa đảm bảo giữ được chồng, không làm cho bản thân bị êchề, nhục nhã khi phải hạ mình nài nĩ mà còn giữ vững đạo Nho, làm tròn bổn phần củamột người vợ
Trong thời đại phong kiến, lẽ ra với vị thế của một người phụ nữ, Hoạn Thư phảichấp nhận chuyện chồng mình có vợ lẽ Tuy nhiên, có thể vì xuất thân từ một gia đình
Trang 26vương giả với vị thế cao hơn gia đình chồng, Hoạn Thư không thể chấp nhận được
chuyện “vườn mới thêm hoa” Cuộc hôn nhân không tình yêu mang tính giai cấp nặng nề
Thúc – Hoạn có lẽ là mấu chốt dẫn đến cơn ghen lồng lộn của nàng
Trở lại với số phận nàng Kiều, sau khi đã bị hai tên tay sai của họ Hoạn bắt vềđiện, Kiều ngay lập tức bị Hoạn Thư đánh đập và tra hỏi, họ Hoạn không ngại buông lờinặng nề hạ nhục Kiều trước mặt rất nhiều người:
“Con này chẳng phải thiện nhân, Chẳng màu trốn chúa, thì quân lộn chồng.
Ra tuồng mèo mả, gà đồng,
Ra tuồng lúng túng, chẳng xong bề nào.
Đã đem mình bán cửa tao, Lại còn khủng khỉnh làm cao thế này!
Nào là gia pháp nọ bay!
Hãy cho ba chục, biết tay một lần!”
Rồi chuyện gì tới cũng tới, Thuý Kiều bị đánh đập dã man không thương tiếc:
“Trúc côn, ra sức đập vào, Thịt nào chẳng nát, gan nào chẳng kinh.”
Trước mặt những người xung quanh, Hoạn Thư quyệt liệt phủ nhận việc “vườnthêm hoa” làm cho không kẻ nào dám hó hé Trước mặt chồng mình, Hoạn Thư cũng chỉdám gợi chuyện để chồng mình tự thú Khi Thúc Sinh không dám khai thật, Hoạn Thưcũng không hề buông một lời chói tái Tuy nhiên, giờ đây khi đã giáp mặt với kẻ thứ ba
đe doạ hạnh phúc gia đình mình, Hoạn Thư không ngại phơi bày cơn ghen lồng lộn
Về phần đức lang quân của Hoạn Thư, đúng như dự tính của mình, khi Thúc Sinhtrở lại Lâm Tri, chàng đau buồn vô cùng khi biết rằng Thuý Kiều chỉ còn là “một đống
Trang 27tro than” Để ép Thúc Sinh “tự nguyện” trở về “chịu tội”, biện pháp đốt nhà, tạo hiệntrường giả tỏ ra quá sức hiệu quả và thuyết phục Khi người tình không còn nữa, nỗi đau
đớn, nhớ thương có phần nguôi ngoai là lúc chàng Thúc “Chạnh lòng nhớ cảnh gia
hương,/ Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê.” Chuyện gì tới cũng đã tới, thời điểm
đón tiếp đức lang quân của mình đã được Hoạn Thư dàn xếp tất cả Bấy giờ, cả ThúcSinh và Thuý Kiều bàng hoàng nhận ra mình từ lâu đã biến thành con rối trong màn kịch
do Hoạn Thư dựng nên Và thế là:
“Cùng trong một tiếng tơ đồng Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Rõ ràng thật lứa đôi ta, Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.”
Người đánh ghen tha hồ hỏi tra, thét, bắt “kẻ thứ ba” phải khoan, nhặt, quỳ tật mặt,mời tận tay, phải đánh đàn, phải mời rượu Còn kẻ trăng hoa phải phách lạc hồn xiêu /như dại như ngây / gan héo ruột đầy/ càng nghĩ càng cay đắng lòng; giả say giạm lời lảng
ra cũng không xong; mắt lả chã mà cũng không dám khóc, miệng muốn than mà phảigượng nói gượng cười Nàng Kiều ngỡ ngàng nhận ra mình đã mắc mưu rơi vào địangục, họ Thúc thì giọt ngắn giọt dài, chỉ biết khóc mà không nói nỗi nên lời, tệ hơn nữa,
khi bị Hoạn Thư hỏi, chàng chỉ còn biết nói rằng “Hiếu phục vừa xong.” Hoạn Thư với
kế hoạch “giết người không dao” hoàn hảo của mình đã cho cả hai một phen kinh hồn
hoảng vía, nói không thành lời Như vậy, đối với Thuý Kiều, Hoạn Thư không chỉ hành
hạ thể xác mà còn hành hạ tinh thần Bởi thế mới nói, con người như Hoạn Thư không
chỉ độc mà còn thâm, dù “nhẹ như bấc” nhưng có chịu đựng mới biết đòn ghen này
“nặng như chì”.
Sau màn đại vạch mặt với cảnh tượng “con ở chúa nhà đôi nơi”, có lẽ tiểu thư họ Hoạn đã có phần nguôi ngoai cơn giận của mình: “Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam
tâm, / Lòng riêng tấp tễnh mừng thầm: Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay” Bấy giờ, ác
tính trong Hoạn Thư ít nhiều đã vơi đi Sau khi nghe Thuý Kiều trình bày rõ về hoàn cảnh
Trang 28ngặt nghèo và số phận của mình, Hoạn Thư bên cạnh cái ghét còn có cái thương Vả lại,
từ đầu vì đã biết tài hoa của Kiều, Hoạn Thư cũng có chút biệt nhỡn: “Tiểu thư xem cũng
thương tài / Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân” Hoạn Thư lúc này thể hiện mình là
một người yêu ghét rạch ròi Trong mối liên hệ giữa Kiều và Hoạn Thư, tồn tại ba conngười: kẻ tình địch, người mắc nạn, bậc tài hoa Kẻ tình địch thì ghét, người mắc nạn thìthương còn bậc tài hoa thì vừa thương vừa trọng Quả thật là vậy vì trước mặt chồngmình, người đã từng dan díu cùng Thuý Kiều, Hoạn Thư không ngại khen Thuý Kiều:
“Ví chăng có số giàu sang,/Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên.” Ở điểm này, có thể
thấy được tính nhân văn của tác gia Nguyễn Du khi khơi dậy một điểm sáng ở nhân vật
Hoạn Thư so với một Hoạn Thư độc ác ở bản gốc “Kim Vân Kiều truyện”.
Tuy nhiên, nếu như nói việc cho Thuý Kiều quy y, ra Quan Âm các ngày ngàychép kinh là một hành động xuất phát từ lòng thương, lòng trọng của Hoạn Thư dành choThuý Kiều thì có lẽ không hoàn toàn đúng, đó chỉ là một phần rất nhỏ Đối với HoạnThư, Thuý Kiều trước hết vẫn là một tình địch cần phải loại bỏ Vậy làm cách nào để loại
bỏ mà không cần trực tiếp đánh đuổi? Điều này từ đầu có lẽ Hoạn Thư đã suy tính, bởinếu không nghĩ ra, có lẽ sau khi đánh cho Thuý Kiều bầm dập, chắc chắn Hoạn Thư đãtống cổ nàng ra khỏi nhà chứ đừng nói là chờ Thúc Sinh trở về rồi dựng một màn kịchquá sức tưởng tượng như vậy
Việc Hoạn Thư cho Thuý Kiều ra Quan Âm các vườn nhà, có thể nhận định, đây là
đòn chiếu tướng, bước cuối cùng của kế hoạch đánh ghen hoàn hảo này Chuyện “vấn an
về nhà” chỉ là phép thử cuối cùng cho lòng dạ của Thúc – Kiều “Vấn an” kiểu gì trong
khi ngay đoạn sau đã thấy tiểu thư “khép nép”, nhón chân đứng đợi “nửa giờ” Mãi cho
đến khi nghe Kiều hở ra ý trốn chạy: “Liệu mà mở của cho ra, / Ấy là tình nặng ấy là ơn
sâu”; rồi Thúc sinh quyết dứt tình: “Liệu mà cao chạy xa bay,/ Ái ân ta có ngần này mà thôi”, Hoạn thư mới xuất hiện Trước hết, Hoạn buông lời giã lã “Chàng mới ở chốn nào lại chơi?” làm cho Thúc Sinh hoảng hốt mà chối đây đẩy Sau đó, Hoạn Thư không quên
gửi cho Thuý Kiều lời khen ngợi “Bút pháp đã tinh”, tuyệt nhiên không một lời nói nào
động chạm đến tình hình Lúc bấy giờ, Hoạn Thư biết rằng mình đã nắm chắc phần thắng
Trang 29trong tay Việc cần làm bây giờ là tạo một chút sơ hở cho Kiều trốn khuất mắt, thế là đãtrót lọt mọi đằng Thúc Sinh tự dứt bỏ tình riêng, Thuý Kiều sợ hãi bỏ đi chắc chắn không
có ngày trở lại, có thể nói, kể hoạch đánh ghen của Hoạn Thư thành công tốt đẹp, hoànhảo đến từng chi tiết
Kết thúc màn đánh ghen này, cả Thúc Sinh, Thuý Kiều, gia nhân trong nhà và cảbạn đọc đều không thể phủ nhận được sự thâm thuý của người đàn bà họ Hoạn này Kếhoạch đánh ghen của Hoạn Thư có thể tóm tắt bằng ba bước như sau: đầu tiên, Hoạn Thưtém dẹp điều tiếng bên ngoài, khoả lấp làm chồng mình mất cảnh giác Tiếp theo, họHoạn bí mật dựng nên một màn vạch mặt thật hoành tráng, ai cũng biết điều gì đang xảy
ra nhưng chẳng ai dám nói gì Cuối cùng, Hoạn Thư tạo sơ hở để cho mọi việc tự giảiquyết, không tôn công, chẳng tốn sức, lại hiệu quả vô cùng Không những hiểm mà cònđộc, Hoạn Thư khiến cho không chỉ Thuý Kiều mà cả Thúc Sinh cũng phách lạc hồnxiêu Chính Thúy Kiều, khi nghĩ lại, hết sức kinh hãi, nhưng cũng phải thốt lên rằng:
“Thực tang, bắt được dường này, Máu ghen ai cũng chau mày nghiến răng.
Thế mà im chẳng đãi đằng, Chào mời vui vẻ, nói năng dịu dàng.”
Thế nhưng, trái đất thì tròn, có lẽ Hoạn Thư cũng không ngờ rằng có ngày sẽ gặplại Kiều ở một vị thế vô cùng khác
Sau khi trả ơn cho Thúc Sinh “Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân”, Thúy Kiều đã đả
động đến vợ của chàng – Hoạn Thư với giọng điệu mỉa mai, chì chiết:
“Vợ chàng quỷ quái tinh ma Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau Kiến bò miệng chén chưa lâu Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa”
Trang 30Kiều rất trân trọng ân nghĩa của Thúc Sinh, cách trò chuyện và trả ơn đã cho tathấy điều đó Còn khi nhắc đến Hoạn Thư, nàng nói với giọng mỉa mai, dùng ngôn ngữ
bình dân với các thành ngữ “Kiến bò miệng chén”, “Kẻ cắp bà già gặp nhau” Cuối cùng, nàng nhấn mạnh “Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa” dự báo điều không hay
trong việc báo ân báo oán này
Khi vừa nhìn thấy bóng dáng Hoạn Thư, kẻ đã gây ra đau khổ cho mình, ThúyKiều, nay đã ở vị thế mệnh phụ phu nhân, báo ân báo oán đã “chào thưa”
“Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây Đàn bà dễ có mấy tay Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan
Dễ dàng là thói hồng nhan Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều”
Đứng trước vị thế của Kiều cùng những lời lẽ chì chết đay nghiến như “mấy tay,
mấy mặt, mấy gan” cùng lời cảnh cáo “Dễ dàng là thói hồng nhan/ Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều”, Hoạn Thư hoảng sợ “hồn lạc phách xiêu” vội vàng cúi đầu:
“Khấu đầu dưới trướng liệu điều kêu ca Rằng “Tôi chút phận đàn bà Ghen tuông thì cũng người ta thường tình
Nghĩ cho khi gác viết kinh Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo Lòng riêng riêng những kính yêu Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”