1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích nhân vật Thúy Vân, Kim Trọng và Vương Quan

33 244 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 55,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. GIỚI THIỆU VỀ NGUYỄN DU VÀ TRUYỆN KIỀU 1.1 Giới thiệu về Nguyễn Du 1.1.1 Cuộc đời – thời đại Nguyễn Du (1765 – 1820) tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học. Cha là Nguyễn Nghiễm, đỗ tiến sĩ, từng giữ chức Tể tướng. Mẹ đẻ của Nguyễn Du là Trần Thị Tần vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm. Bà là con gái thứ ba của một vị quan nhỏ coi việc sổ sách kế toán (chức Câu Kê) dưới trướng Nguyễn Nghiễm, người xã Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc xã Hương Mặc, huyện Từ Sơn). Bà Trần Thị Tần sinh năm Canh Thân (1740) và mất ngày mùng 6 tháng 7 năm Mậu Tuất (1778) thọ 39 tuổi. Năm đó Nguyễn Du mới 13 tuổi. Bà Trần Thị Tần thuộc dòng dõi Trần Phi Chiêu (1549 – 1623), ông đậu tiến sỹ năm Kỷ Sửu (1589) làm quan đến chức thượng thư bộ Hộ, kiêm Đô Ngự Sử, tước Diên Quận công. Bà là một phụ nữ nết na, thông minh, và xinh đẹp, lại sinh ra tại xứ Kinh Bắc vùng quê quan họ. Điều đó ảnh hưởng tốt đến hồn thơ Nguyễn Du từ những ngày còn bé. Năm Tân Mão (1771), Nguyễn Nghiễm thôi chức Tể tướng, về trí sĩ ở quê nhà, Nguyễn Du theo cha về quê. Tại bến Giang Đình, ông được chứng kiến cảnh vinh hoa của gia đình mình (sau này ông có nhắc lại trong bài thơ Giang Đình hữu cảm). Năm Bính Thân (1776) Nguyễn Nghiễm mất, lúc đó Nguyễn Du mới lên 11 tuổi. Trong hơn 10 năm ấy, Nguyễn Du sống bên cạnh cha không nhiều. Năm 1778, bà Trần Thị Tần lâm bệnh rồi mất. Nguyễn Du mồ côi cha mẹ. Cha mẹ mất, Nguyễn Du về sống với gia đình quan tể tướng tại Tiên Điền. Thủa ấy, dinh cư nhà Nguyễn Nghiễm rất nguy nga, đồ sộ. Người dân Nghi Xuân hồi đó làm thơ tả cảnh nhà ông như sau: Trèo lên Hồng Lĩnh mà trông Nhìn về đã thấy dinh ông rõ ràng Lâu đài dãy dọc tòa ngang Ông ngồi đọc sách nghiêm trang một mình Thời gian này Nguyễn Du bước vào tuổi trưởng thành, việc ăn học đòi hỏi ngày một nhiều. Sau khi Nguyễn Nghiễm mất, gia cảnh không còn phong lưu như trước. Đời sống cùng việc học hành của Nguyễn Du không được như khi còn cha mẹ. Tuy vậy với địa vị và danh tiếng của gia tộc, Nguyễn Du vẫn là cậu Chiêu bảy được mọi người ngưỡng mộ. Quãng thời gian này, ngoài việc học hành, những khi rỗi rãi, lễ tết, Nguyễn Du thường cùng với bạn trai phường hát Tiên Điền vượt truông Hống đò Cài vào Trường Lưu hát ví và xướng họa thơ phú. Qua những lần đi hát, Nguyễn Du thực sự có cảm tình với o Uy, o Sạ. Đã có lần do mối thâm tình này mà gây ra bất hòa với trai Trường Lưu. Những năm sau này (sau 1786), khi từ Thái Bình về sống tại quê nhà, trở lại Trường Lưu gặp lại người xưa, gặp lại cảm xúc thời trai trẻ, Nguyễn Du đã viết bài Văn tế Trường Lưu Nhị Nữ nổi tiếng. Cuộc đời Nguyễn Du gắn bó sâu sắc với những biến cố lịch sử của giai đoạn cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX. Đây là giai đoạn lịch sử đầy biến động, với hai đặc điểm nổi bật là chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng, bão táp phong trào nông dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi, đỉnh cao là khởi nghĩa Tây Sơn đánh đổ các tập đoàn phong kiến Lê, Trịnh, Nguyễn, quét sạch hai mươi vạn quân Thanh xâm lược. Trong hoàn cảnh ấy, Nguyễn Du đã sống phiêu bạt nhiều năm trời trên đất Bắc (1786 – 1796) rồi về ở ẩn tại quê nội Hà Tĩnh (1796 – 1802). Sau khi đánh bại Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi (1802). Sau đó, Nguyễn Du ra làm quan bất đắc dĩ với triều Nguyễn. Năm 1813 – 1814, ông được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc. Năm 1820, dưới triều Minh Mạng, Nguyễn Du lại được lệnh làm chánh sứ sang Trung Quốc lần thứ hai, nhưng chưa kịp đi thì bị bệnh và mất tại Huế. Tiểu kết: Nguyễn Du là người có kiến thức sâu rộng, am hiểu văn hóa dân tộc và văn chương Trung Quốc. Cuộc đời từng trải, đi nhiều, tiếp xúc nhiều đã tạo cho Nguyễn Du một vốn sống phong phú và niềm thông cảm sâu sắc với những đau khổ của nhân dân. Nguyễn Du là một thiên tài văn học, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn. 1.1.2 Sự nghiệp sáng tác Sự nghiệp sáng tác văn học của Nguyễn Du gồm những tác phẩm có giá trị lớn bằng chữ Hán và chữ Nôm. Thơ chữ Hán có ba tập, gồm 243 bài. Sáng tác chữ Nôm xuất sắc nhất là Đoạn trường tân thanh, thường được gọi là Truyện Kiều. 1.2 Giới thiệu về Truyện Kiều Truyện Kiều là tác phẩm tiêu biểu nhất của thể loại truyện Nôm trong văn học trung đại Việt Nam. Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du có dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Tuy nhiên, phần sáng tạo của Nguyễn Du là hết sức lớn. Chính điều này mới làm nên giá trị của kiệt tác Truyện Kiều. 1.2.1 Tóm tắt tác phẩm Phần thứ nhất: Gặp gỡ và đính ước Thúy Kiều là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, con gái đầu lòng một gia đình trung lưu lương thiện, sống trong cảnh “êm đềm trướng rủ màn che” bên cạnh cha mẹ và hai em là Thúy Vân, Vương Quan. Trong buổi du xuân nhân tiết Thanh minh, Thúy Kiều gặp chàng Kim Trọng “phong tư tài mạo tót vời”. Giữa hai người chớm nở một mối tình đẹp. Kim Trọng đến ở trọ cạnh nhà Thúy Kiều. Nhân trả chiếc thoa rơi, Kim Trọng đã gặp Kiều bày tỏ tâm tình. Hai người chủ động, tự do đính ước với nhau. Phần thứ hai: Gia biến và lưu lạc Trong khi Kim Trọng về quê chịu tang chú, gia đình Kiều bị mắc oan, Kiều nhờ Vân trả nghĩa cho Kim Trọng, còn nàng thì bán mình chuộc cha. Thúy Kiều bị bọn buôn người là Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh lừa gạt, đẩy vào lầu xanh. Sau đó nàng được Thúc Sinh, một khách làng chơi hào phóng, cứu vớt khỏi cuộc đời kĩ nữ. Nhưng rồi Kiều bị vợ cả của Thúc Sinh là Hoạn Thư ghen tuông, đày đọa. Thúy Kiều phải trốn đến nương nhờ nơi cửa Phật. Sư Giác Duyên vô tình gửi nàng cho Bạc Bà – kẻ buôn người như Tú Bà, nên Kiều lần thứ hai rơi vào lầu xanh. Ở đây, Thúy Kiều gặp Từ Hải, một anh hùng “đội trời đạp đất”. Từ Hải lấy Kiều, giúp nàng báo ân báo oán. Do mắc lừa quan Tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến, Từ Hải bị giết, Thúy Kiều phải hầu đàn, hầu rượu Hồ Tôn Hiến rồi bị ép gả cho viên thổ quan. Đau đớn, tủi nhục, Kiều trẫm mình ở sông Tiền Đường. Nhưng nàng được sư Giác Duyên cứu và lần thứ hai Kiều nương nhờ nơi cửa Phật. Phần thứ ba: Đoàn tụ Sau nửa năm về Liêu Dương chịu tang chú, Kim Trọng trở lại tìm Kiều. Hay tin gia đình Kiều bị tai biến và nàng phải bán mình chuộc cha, chàng đau đớn vô cùng. Tuy kết duyên với Thúy Vân nhưng Kim Trọng chẳng thể nào nguôi được mối tình đầu say đắm. Chàng quyết cất công lặn lội đi tìm Thúy Kiều. Nhờ gặp được sư Giác Duyên mà Kim, Kiều tìm được nhau, gia đình đoàn tụ. Chiều ý mọi người, Thúy Kiều nối lại duyên với Kim Trọng nhưng cả hai cùng nguyện ước “duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy”. 1.2.2 Giá trị nội dung Truyện Kiều có hai giá trị lớn là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. Truyện Kiều là bức tranh hiện thực về một xã hội bất công, tàn bạo, là tiếng nói thương cảm trước số phận bi kịch của con người, tiếng nói lên án, tố cáo những thế lực xấu xa, tiếng nói khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm và những khát vọng chân chính của con người như khát vọng về quyền sống, khát vọng tự do, công lý, khát vọng tình yêu, hạnh phúc… 1.2.3 Giá trị nghệ thuật Tác phẩm là sự kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các phương diện ngôn ngữ, thể loại. Với Truyện Kiều, ngôn ngữ văn học dân tộc và thể thơ lực bát đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ. Với Truyện Kiều, nghệ thuật tự sự đã có bước phát triển vượt bậc, từ nghệ thuật dẫn chuyện đến nghệ thuật miêu tả thiên, khắc họa tính cách và miêu tả tâm lí con người. Tiểu kết: Truyện Kiều hàng trăm năm nay đã được lưu truyền rộng rãi và có sức chinh phục lớn đối với mọi tầng lớp độc giả. Tác phẩm đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được giới thiệu ở nhiều nước trên thế giới.  

Trang 1

MỤC LỤC

1 GIỚI THIỆU VỀ NGUYỄN DU VÀ TRUYỆN KIỀU 2

1.1Giới thiệu về Nguyễn Du 2

1.2 Giới thiệu về Truyện Kiều 3

2 PHÂN TÍCH NHÂN VẬT THÚY VÂN, KIM TRỌNG VÀ VƯƠNG QUAN 6

2.1 Phân tích nhân vật Thúy Vân 6

2.2 Phân tích nhân vật Kim Trọng 15

2.3 Phân tích nhân vật Vương Quan 21

3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT THÚY VÂN, KIM TRỌNG VÀ VƯƠNG QUAN 26

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật Thúy Vân 26

3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật Kim Trọng 28

3.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật Vương Quan 30

TÀI LIỆU THAM KHẢO 33

Trang 2

1 GIỚI THIỆU VỀ NGUYỄN DU VÀ TRUYỆN KIỀU

1.1 Giới thiệu về Nguyễn Du

1.1.1 Cuộc đời – thời đại

Nguyễn Du (1765 – 1820) tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; quê ởlàng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Ông sinh trưởng trong một giađình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học Cha làNguyễn Nghiễm, đỗ tiến sĩ, từng giữ chức Tể tướng Mẹ đẻ của Nguyễn Du làTrần Thị Tần vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm Bà là con gái thứ ba của một vịquan nhỏ coi việc sổ sách kế toán (chức Câu Kê) dưới trướng Nguyễn Nghiễm,người xã Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc xã HươngMặc, huyện Từ Sơn) Bà Trần Thị Tần sinh năm Canh Thân (1740) và mất ngàymùng 6 tháng 7 năm Mậu Tuất (1778) thọ 39 tuổi Năm đó Nguyễn Du mới 13tuổi Bà Trần Thị Tần thuộc dòng dõi Trần Phi Chiêu (1549 – 1623), ông đậutiến sỹ năm Kỷ Sửu (1589) làm quan đến chức thượng thư bộ Hộ, kiêm Đô Ngự

Sử, tước Diên Quận công Bà là một phụ nữ nết na, thông minh, và xinh đẹp, lạisinh ra tại xứ Kinh Bắc vùng quê quan họ Điều đó ảnh hưởng tốt đến hồn thơNguyễn Du từ những ngày còn bé

Năm Tân Mão (1771), Nguyễn Nghiễm thôi chức Tể tướng, về trí sĩ ở quênhà, Nguyễn Du theo cha về quê Tại bến Giang Đình, ông được chứng kiếncảnh vinh hoa của gia đình mình (sau này ông có nhắc lại trong bài thơ GiangĐình hữu cảm) Năm Bính Thân (1776) Nguyễn Nghiễm mất, lúc đó Nguyễn

Du mới lên 11 tuổi Trong hơn 10 năm ấy, Nguyễn Du sống bên cạnh cha khôngnhiều Năm 1778, bà Trần Thị Tần lâm bệnh rồi mất Nguyễn Du mồ côi cha

mẹ Cha mẹ mất, Nguyễn Du về sống với gia đình quan tể tướng tại Tiên Điền.Thủa ấy, dinh cư nhà Nguyễn Nghiễm rất nguy nga, đồ sộ Người dân NghiXuân hồi đó làm thơ tả cảnh nhà ông như sau:

Trèo lên Hồng Lĩnh mà trông Nhìn về đã thấy dinh ông rõ ràng Lâu đài dãy dọc tòa ngang Ông ngồi đọc sách nghiêm trang một mình

Thời gian này Nguyễn Du bước vào tuổi trưởng thành, việc ăn học đòi hỏingày một nhiều Sau khi Nguyễn Nghiễm mất, gia cảnh không còn phong lưunhư trước Đời sống cùng việc học hành của Nguyễn Du không được như khicòn cha mẹ Tuy vậy với địa vị và danh tiếng của gia tộc, Nguyễn Du vẫn là cậu

Trang 3

Chiêu bảy được mọi người ngưỡng mộ Quãng thời gian này, ngoài việc họchành, những khi rỗi rãi, lễ tết, Nguyễn Du thường cùng với bạn trai phường hátTiên Điền vượt truông Hống đò Cài vào Trường Lưu hát ví và xướng họa thơphú Qua những lần đi hát, Nguyễn Du thực sự có cảm tình với o Uy, o Sạ Đã

có lần do mối thâm tình này mà gây ra bất hòa với trai Trường Lưu Những nămsau này (sau 1786), khi từ Thái Bình về sống tại quê nhà, trở lại Trường Lưu gặplại người xưa, gặp lại cảm xúc thời trai trẻ, Nguyễn Du đã viết bài Văn tế

Trường Lưu Nhị Nữ nổi tiếng.

Cuộc đời Nguyễn Du gắn bó sâu sắc với những biến cố lịch sử của giaiđoạn cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX Đây là giai đoạn lịch sử đầy biến động,với hai đặc điểm nổi bật là chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầmtrọng, bão táp phong trào nông dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi, đỉnh cao là khởinghĩa Tây Sơn đánh đổ các tập đoàn phong kiến Lê, Trịnh, Nguyễn, quét sạchhai mươi vạn quân Thanh xâm lược

Trong hoàn cảnh ấy, Nguyễn Du đã sống phiêu bạt nhiều năm trời trên đấtBắc (1786 – 1796) rồi về ở ẩn tại quê nội Hà Tĩnh (1796 – 1802) Sau khi đánhbại Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi (1802) Sau đó, Nguyễn Du ra làm quan bấtđắc dĩ với triều Nguyễn Năm 1813 – 1814, ông được cử làm chánh sứ sangTrung Quốc Năm 1820, dưới triều Minh Mạng, Nguyễn Du lại được lệnh làmchánh sứ sang Trung Quốc lần thứ hai, nhưng chưa kịp đi thì bị bệnh và mất tạiHuế

Tiểu kết: Nguyễn Du là người có kiến thức sâu rộng, am hiểu văn hóa

dân tộc và văn chương Trung Quốc Cuộc đời từng trải, đi nhiều, tiếp xúc nhiều

đã tạo cho Nguyễn Du một vốn sống phong phú và niềm thông cảm sâu sắc vớinhững đau khổ của nhân dân Nguyễn Du là một thiên tài văn học, một nhà nhânđạo chủ nghĩa lớn

1.2 Giới thiệu về Truyện Kiều

Truyện Kiều là tác phẩm tiêu biểu nhất của thể loại truyện Nôm trong văn học trung đại Việt Nam Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du có dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) Tuy nhiên, phần

Trang 4

sáng tạo của Nguyễn Du là hết sức lớn Chính điều này mới làm nên giá trị của

kiệt tác Truyện Kiều.

1.2.1 Tóm tắt tác phẩm

Phần thứ nhất: Gặp gỡ và đính ước

Thúy Kiều là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, con gái đầu lòng một gia đìnhtrung lưu lương thiện, sống trong cảnh “êm đềm trướng rủ màn che” bên cạnhcha mẹ và hai em là Thúy Vân, Vương Quan Trong buổi du xuân nhân tiếtThanh minh, Thúy Kiều gặp chàng Kim Trọng “phong tư tài mạo tót vời” Giữahai người chớm nở một mối tình đẹp Kim Trọng đến ở trọ cạnh nhà Thúy Kiều.Nhân trả chiếc thoa rơi, Kim Trọng đã gặp Kiều bày tỏ tâm tình Hai người chủđộng, tự do đính ước với nhau

Phần thứ hai: Gia biến và lưu lạc

Trong khi Kim Trọng về quê chịu tang chú, gia đình Kiều bị mắc oan,Kiều nhờ Vân trả nghĩa cho Kim Trọng, còn nàng thì bán mình chuộc cha ThúyKiều bị bọn buôn người là Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh lừa gạt, đẩy vào lầuxanh Sau đó nàng được Thúc Sinh, một khách làng chơi hào phóng, cứu vớtkhỏi cuộc đời kĩ nữ Nhưng rồi Kiều bị vợ cả của Thúc Sinh là Hoạn Thư ghentuông, đày đọa Thúy Kiều phải trốn đến nương nhờ nơi cửa Phật Sư GiácDuyên vô tình gửi nàng cho Bạc Bà – kẻ buôn người như Tú Bà, nên Kiều lầnthứ hai rơi vào lầu xanh Ở đây, Thúy Kiều gặp Từ Hải, một anh hùng “đội trờiđạp đất” Từ Hải lấy Kiều, giúp nàng báo ân báo oán Do mắc lừa quan Tổngđốc trọng thần Hồ Tôn Hiến, Từ Hải bị giết, Thúy Kiều phải hầu đàn, hầu rượu

Hồ Tôn Hiến rồi bị ép gả cho viên thổ quan Đau đớn, tủi nhục, Kiều trẫm mình

ở sông Tiền Đường Nhưng nàng được sư Giác Duyên cứu và lần thứ hai Kiềunương nhờ nơi cửa Phật

Phần thứ ba: Đoàn tụ

Sau nửa năm về Liêu Dương chịu tang chú, Kim Trọng trở lại tìm Kiều.Hay tin gia đình Kiều bị tai biến và nàng phải bán mình chuộc cha, chàng đauđớn vô cùng Tuy kết duyên với Thúy Vân nhưng Kim Trọng chẳng thể nàonguôi được mối tình đầu say đắm Chàng quyết cất công lặn lội đi tìm ThúyKiều Nhờ gặp được sư Giác Duyên mà Kim, Kiều tìm được nhau, gia đình đoàn

tụ Chiều ý mọi người, Thúy Kiều nối lại duyên với Kim Trọng nhưng cả haicùng nguyện ước “duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy”

1.2.2 Giá trị nội dung

Trang 5

Truyện Kiều có hai giá trị lớn là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo Truyện Kiều là bức tranh hiện thực về một xã hội bất công, tàn bạo, là tiếng nói

thương cảm trước số phận bi kịch của con người, tiếng nói lên án, tố cáo nhữngthế lực xấu xa, tiếng nói khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm và những khátvọng chân chính của con người như khát vọng về quyền sống, khát vọng tự do,công lý, khát vọng tình yêu, hạnh phúc…

1.2.3 Giá trị nghệ thuật

Tác phẩm là sự kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các

phương diện ngôn ngữ, thể loại Với Truyện Kiều, ngôn ngữ văn học dân tộc và thể thơ lực bát đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ Với Truyện Kiều, nghệ thuật tự sự đã

có bước phát triển vượt bậc, từ nghệ thuật dẫn chuyện đến nghệ thuật miêu tảthiên, khắc họa tính cách và miêu tả tâm lí con người

Tiểu kết: Truyện Kiều hàng trăm năm nay đã được lưu truyền rộng rãi và có sức

chinh phục lớn đối với mọi tầng lớp độc giả Tác phẩm đã được dịch ra nhiềuthứ tiếng và được giới thiệu ở nhiều nước trên thế giới

Trang 6

2 PHÂN TÍCH NHÂN VẬT THÚY VÂN, KIM TRỌNG VÀ VƯƠNG QUAN

2.1 Phân tích nhân vật Thúy Vân

2.1.1 Người phụ nữ theo chuẩn mực phong kiến

Trong bối cảnh xã hội phong kiến, cùng khuôn thước gia đình thì “công,dung, ngôn, hạnh” là thước đo chuẩn mực cho người phụ nữ thời bấy giờ vàThuý Kiều, Thuý Vân là những người con gái của chuẩn mực Nếu Kiều là nhânvật đa sầu đa cảm với tư tưởng cấp tiến,chủ động mang hơi hướng một ngườicon gái rất “lạ” (lạ so với chuẩn mực thời phong kiến ) thì Vân là mẫu người hàihoà, quân bình, chủ tỉnh theo đúng chuẩn mực lễ giáo

Thuý Vân so phần nhan sắc không được chú ý bằng chị mình, nhưng đólại là một vẻ đẹp ưa nhìn, tạo cho người ngắm cảm giác thoải mái:

“Vân xem trang trọng khác vời,Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang

Hoa cười ngọc thốt đoan trang,Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”

Bỏ qua chuyện mà bấy lâu nay chúng ta vẫn nói, tức miêu tả Vân để làmbàn đạp cho Kiều, chúng ta hãy thực lòng thừa nhận cái đẹp của Vân hài hoà vàhiền hoà Nếu Kiều là đoá hoa hồng kiêu sa, khó chăm sóc và mong manh dễ vỡthì Vân sẽ là đoá mẫu đơn, loài hoa được mệnh danh là “hoa hồng không gai”,lại còn tượng trưng cho phú quý, giàu sang và cuộc hôn nhân hạnh phúc nhiềucon cháu Vẻ đẹp của Vân mang chiều phúc hậu, khuôn mặt tròn “đầy đặn”,chân mày “nở nang”, thể hiện vẻ đẹp sang trọng, quý phái, toát lên nhân tướngphúc hậu khác với vẻ đẹp thanh tú, mày liễu của Kiều Từ miêu tả dung mạo đếntính cách, Thuý Vân luôn mang nét đẹp cổ điển

Vẻ đẹp của Vân không chỉ toát ra từ ngoại hình mà còn cả tính cách Mộtngười con gái ôn hoà, nhã nhặn “Hoa cười, ngọc thốt đoan trang” vừa ca ngợi vẻđẹp của đôi môi, của hàm răng ngọc ngà, vừa là yếu tố “ngôn” để đánh giá, khilời nói của nàng cũng là khuôn thước như chính tướng mạo Và một người congái bình thường như thế, tạo hoá sá chi mà ghen, mà hờn? Thế nên có “thua”, có

“nhường” một chút cũng chẳng sao!

Rồi đến “hạnh”, Cùng là chị em gái, cùng là con một nhà nhưng bẩm thụhai người khác nhau, mỗi người một vẻ, hình dạng khác nhau, tính khí khác

Trang 7

nhau,nên cách nhìn nhận vấn đề cũng hoàn toàn khác nhau Tuy hai chị em đềucùng tuổi cập kê, cùng ở chốn khuê phòng:

“Êm đềm trướng rủ màn che,Tường đông ong bướm đi về mặc ai”

Rồi cũng như bao nhiêu người con gái khác, nàng cũng có thể kết hôn màkhông cần tình yêu, như định kiến “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” Đành rằng làmột hành động vì thương chị, giúp chị trả nghĩa người thương, nhưng ta cũngngạc nhiên thấy một sự chấp nhận bình thường đến mức tự mặc định của nàngVân với chính mình Nàng không cầu tình yêu hay bất cứ gì cho riêng mình màluôn tuân theo sự sắp đặt

“Vội vàng sắm sửa chọn ngày,Duyên Vân sớm đã se dây cho chàng

Người yểu điệu kẻ văn chương,Trai tài gái sắc xuân đương vừa thì,Tuy rằng vui chữ vu quy,Vui nào đã cất sầu kia được nào!”

Cái sầu vu quy ở đây vốn chẳng phải là dành cho cuộc hôn nhân sắp đặt,

mà là sầu vì người vắng mặt, bởi chữ “sầu”được chỉ rõ “sầu kia” chứ không ápvào điểm “vu quy” Cho nên cuộc đời của Vân, trước sau vẫn là để mặc chongười sắp đặt

2.1.2 Thúy Vân – Một con người thấu tình đạt lý.

Một minh chứng rất rõ ràng nữa để có thể kết luận rằng Thúy Vân là mộtngười con gái tinh tế và chừng mực, đó là trong đêm Thúy Kiều quyết định bánmình chuộc cha, nàng thao thức cả đêm với nỗi niềm đau đớn vì đã phụ tìnhchàng Kim, bèn nghĩ ra phương cách nhờ em chắp mối tơ thừa Thúy Vân khi ấyđang mơ màng, mới chợt tỉnh giấc “Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han”: chịmình Nàng rằng:

“Cơ trời dâu bể đa đoan,Một nhà để chị riêng oan một mình

Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh,Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây?”

Trang 8

Người đời sau trách nàng, cớ sao nhà có tai biến như thế mà có thể an tâmyên giấc được, nhưng nếu xét câu chữ của Nguyễn Du thì nàng không vô tâmnhư thế Nhà gặp nạn, Thúy Kiều đã quyết bán thân để chuộc cha và em, nàng

hy sinh hạnh phúc lứa đôi của mình, Thúy Kiều đau đớn, nhưng nỗi niềm ấy chỉriêng Kiều biết Để rồi khi Kiều đã đặt em vào tình thế đã rồi, vì thương chị phải

hy sinh vì cả gia đình, vì thương chị đã phải gánh lấy trọng trách lớn lao, Vâncũng bằng lòng nhận “mối tơ thừa” ấy Nàng chấp nhận thay chị trả nghĩa chochàng Kim, cũng là để chị có thể yên tâm mà làm tròn chữ hiếu với cha mẹ

Mười lăm năm Kiều lưu lạc là mười lăm năm nàng cáng đáng chăm locho cho cả gia đình, cho chồng, cho em, là làm trọn chữ hiếu, làm vẹn chữ nghĩavới chị Khi Kiều trở về, cũng chính nàng đã tự mình gán nghĩa lại cho chị, sẵnsàng san sẻ người chồng đã mười lăm năm chung sống, tuy tình có ít nhưngnghĩa cũng trọn Có người cho rằng, thật đau xót cho Thúy Vân khi trong ngần

ấy năm lúc nào Kim Trọng cũng nhớ về Thúy Kiều, Thúy Vân là vợ nhưng:

“Vui là vui gượng kẻo là

Ai tri âm đó mặn mà với ai”

Đâu ai thấu rằng, Thúy Vân làm như thế mới thực sự là người thấu tìnhđạt lí, hạnh phúc xẻ đôi nhưng xẻ đôi với chị của mình, với người chị đã hy sinhtuổi thanh xuân để cứu cả gia đình, với người chung máu mủ chứ đâu phải ai xa

lạ mà xót mà đau Làm như thế Thúy Vân cũng đã đền bù cho chị những nămlưu lạc để không còn phải áy náy, vì khi xưa để chị một mình chịu tủi cực Hơnnữa đối với một người phụ nữ phong kiến như Vân thì còn hạnh phúc nào hơnkhi lúc này đây gia đình đoàn tụ êm ấm, con cháu đầy nhà “Một cây cù mộc,một sân quế hòe”, đã là hạnh phúc với nàng Tình yêu của nàng là tình yêu biểnlớn cuộc đời nó vượt qua khỏi khuôn sáo tình yêu và hạnh phúc lứa đôi Nàngquả la người con gái thấu tình đạt lý, biết nghĩ cho cha mẹ, cho chị như thế thậtđáng khâm phục và tinh tế hết mực

2.1.3 Một số quan điểm trái chiều của người đời sau về Thúy Vân

 Cho rằng Thúy Vân đáng trách và cay nghiệt với nàng

Việc đánh giá một con người ngoài xã hội thực nói chung hay cụ thể làmột nhân vật trong văn học nói riêng, khó lòng có thể thống nhất giữa tất cả mọingười

Trong văn học từ xưa đến này, đã có không ít nhân vật mà sự tranh luận

về chuyện đáng thương hay đáng trách vẫn không ngả ngũ Dân gian có câu

Trang 9

“chín người mười ý” là lẽ đó Hơn nữa, điều này rất đúng với lí luận văn họchiện đại, bởi người đọc hoàn toàn có thể tiếp nhận tác phẩm theo cách mìnhmuốn Trong Truyện Kiều, bên cạnh nhân vật Hoạn Thư gây nhiều tranh cãi, thìThuý Vân, cô em gái cũng không kém phần xinh đẹp của Kiều cũng làm ngườiđời sau phải suy ngẫm xem nàng đáng thương hay đáng trách Và dù có ngườicho rằng Thúy Vân trong truyện Kiều chỉ là một bức tranh nền nhưng vẫn khôngthể vì vậy mà phủ nhận được vai trò của nhân vật này trong tác phẩm.

Trong truyện Kiều, Thúy Vân xuất hiện ít nhưng lại gây ra khá nhiềutranh cãi, bên cạnh sự đồng tình, thương cảm,có những tác giả đã đưa ra một sốnhận định mà gộp chung là nghiêng phần đáng trách về Thúy Vân Đó là các tácgiả cùng tác phẩm của mình như:

Nguyễn Hữu Khanh với bài “Thúy Vân”

Dương Mạnh Huy với bài “Vịnh Thúy Vân”

Vương Trọng với bài “Môtip Thúy Vân”

Vũ Hạnh đã rất tinh tế khi phát hiện "Nhìn vào Thúy Vân ta không thấymắt, chỉ thấy lông mày và cái khuôn mặt no đầy tròn trịa" rồi ông viết tiếpnhững dòng lý thú: "Thúy Vân có mắt, điều ấy thực hiển nhiên rồi Mắt nàngchắc hẳn là đôi mắt đẹp, đôi mắt bồ câu, là đôi mắt phượng, hay bình dân hơn làđôi mắt lá răm Mắt nàng chắc sáng, chắc đen, long lanh, tình tứ Nhưng đôi mắtnàng chỉ là đôi mắt nằm trên khuôn mặt để làm đầy đủ lệ bộ của một khung diện

mà thôi Nàng có nhìn thực, có thấy thực, nhưng nàng chỉ nhìn, chỉ nhìn thấybằng con mắt khác của người Nấm mộ bên đường hoang lạnh, nàng cũng nhìnthấy như cậu Vương Quan, như nhiều kẻ khác hững hờ Kim Trọng phong nhã,hào hoa nàng cung nhìn thấy như bao cô gái thùy mị, hiền lành trong khung cửa.Cho đến gia biến của nàng tơi bời tan tác, nàng cũng nhìn thấy như nhiều kẻ vô

tư êm đềm, say môt giấc xuân Nàng thấy hay nàng không thấy, điều đó vẫnkhông có gì đổi khác Nàng thấy hay người khác thấy vẫn không đổi khác gìđâu

Chính vì thấy như không thấy, mà nàng nực cười khi nhìn Thúy Kiều

“Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa”

Thấy như nhà người khác mà nàng lấy chồng do người chị chọn nên Cónhiên đó là cách nói để tránh miếng tĩnh từ đơn giản gán định quá dễ dàng chonàng Nhưng một cô gái, sau cơn gia biến, ngủ vùi một giấc, rồi choàng tỉnh dậythấy chị ngồi khóc bên đèn lụn bắc một bình, buột miệng nàng hỏi rằng:

Trang 10

“Cớ sao ngồi nhẫn tàng canh”?

Thì thực giản dị vô tình nhiều quá Ngày sau khi lấy chàng Kim, sốngmười lăm năm duyên nợ, mà buổi tái ngộ với Kiều, nàng đã nói về tấm lòng yêuKiều của kẻ chung chăn gối với mình trong bấy nhiêu lâu:

“Những là rày ước mai ao

Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình ’’

Thì thật hết sức thản hiên, lạnh lẽo tưởng như không còn giữ cho riêngmình chút tự ái, một chút nhiệt tình

Cái nhìn Thúy Vân hiền lành, có một vẻ gì cam chịu đáng thương nhưngkhông tránh được một sự dễ dàng đáng ghét Đôi con mắt ấy phóng ra tia nhìn là

để rập theo tình ý kẻ khác, miễn tình ý ấy thuộc về lẽ phải hiển nhiên, thuộc vềtrật tự đã được cuộc đời chấp nhận Sự rập theo ấy hoàn toàn thụ động như đúctheo khuôn, khiến ta lầm tưởng tâm hồn nàng là thứ bột nếp đã được rây lọc mịnmàng Như thế phỏng nàng có mắt hay không?

Theo như Trần Huyền Nhung nhận xét, thứ nhất bà không hoàn toàn đồngtình với nhân vật Thúy Vân về cuộc “trao duyên” Đó là sự thỏa thuận bàn giaocủa Thúy Kiều “trao duyên” em gái là Thúy Vân cho Kim Trọng

“Một lời chị cậy trao duyên

Chẳng yêu – em phải trọn nguyền chàng Kim

Gối chăn xô lệch bao đêm

Nỗi đau hạnh phúc im lìm Kiều ơi!”

(Giọt lệ nàng Vân)

Khi phải dứt lòng “trao duyên” cho em gái, Kiều cũng đau khổ lắm chứvậy mà Thúy Vân vẫn vô tư đón nhận “duyên” của chị mình Nếu Vân là mộtcon người đa cảm và sâu sắc thì chắc chắn một điều: nàng sẽ chối từ “duyênthừa” của chị Vì dẫu sao Kim Trọng cũng là một người mà Thúy Kiều đã từngtình cảm mặn nồng Vân thừa hiểu điều đó cớ gì mà phải “lấy người yêu chị sớmtrưa bẽ bàng” Một điều dễ hiểu rằng: tính Vân vô tư nên nàng cho đó là sự anphận

“Chị dù luân lạc xa xôi

Trang 11

Vẫn làm đau đáu mắt người tình xưa

Còn em là vợ - như thừa

Lấy người yêu chị sớm trưa bẽ bàng!”

Dương Mạnh Huy gần như châm biếm khi nhìn thấy số phận luôn mỉmcười với cô em tốt số này:

“Cái số dì Vân tốt lạ lùng

Sẵn nong sẵn né sẵn con bồng

Thoa vàng nguyền ước nhờ duyên chị

Thềm ngọc vinh hoa hưởng phúc chồng”

(Vịnh Thúy Vân)

Nguyễn Hữu Khanh có lẽ thương cô chị nhiều gian truân lưu lạc nên nhìn

cô em với con mắt nghiêm khắc và cũng hơi “ác khẩu”:

“Tình chị thôi em đã hiểu rồi

“Giả vờ” mà thử hỏi nhau chơi

Tơ duyên nếu chấp người hôm nọ

Không lạy thì em cũng chịu lời

Mây thua nước tóc tuyết nhường da

Cười nói đoan trang thế mới là

Tài sắc mặn mà đành kém chị

Nhân duyên phúc lộc chị nhường ta”

(Thúy Vân)

Vương Trọng người đã yêu Nguyễn Du đến đứt ruột “Cúi đầu tưởng nhớ

vĩ nhân/ Phong trần còn để phong trần như ai” (Bên mộ cụ Nguyễn Du) nhưnglại khá khe khắt đối với Thúy Vân :

“Người đầy đặn má bầu bầu bánh đúc

Nàng thích đàn chẳng để ý gì thơ

Đặt mình xuống chẳng biết chi trời đất

Trang 12

Ngáy thường nhiều hơn những giấc mơ

Nhà có chuyện coi như người ngoài cuộc

Vẫn ăn no ngủ kỹ như khôngCần chi hẹn hò cần chi thề thốtChẳng yêu đương cũng lấy được chồng…”

(Mô típ Thúy Vân)Nghiệt ngã hơn Vương Trọng xếp Thúy Vân vào loại người có tầmhiểu biết thường thường thiếu vắng những xúc động thẩm mỹ

“Ta lạc lõng giữa cuộc đời trần tụcThi ca ơi người phù phiếm vô ngầnQuanh ngày tháng phố phường ta gặpVắng Thúy Kiều và chen chúc Thúy Vân”

(Mô típ Thúy Vân)

Cứ ngỡ rằng hai chị em đã hiểu nhau từ cái đêm trao duyên ấy Kiều đãphải hạ mình xuống để “Cậy em em có chịu lời/ Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽthưa”.Tưởng rằng, Vân hiểu chị nên mới nhận lời lấy chàng Kim làm chồng đóchứ Hóa ra có thể vì quyền lợi cá nhân: mang tiếng làm vợ chàng Kim nhưngVân không được “mặn nồng” như chị Cũng vì lòng ích kỷ không có tấm lòngcao thượng vị tha như nàng Kiều nên Vân oán trách chị là thế đó Có thể rấtnhiều người đồng tình nhỏ lệ khóc thương cho số phận của nàng Vân đấy vàphần đông người ta lắng nghe được “Giọt lệ nàng Vân” nhiều.Về phần cá nhânTrần Huyền Nhung cho rằng cứ thấy ngượng và sượng làm sao đấy khi ThuýVân vờ đóng kịch là đau khổ khi nhận “duyên thừa” của chị Thường “đồ thừa”

là đồ bỏ đi ai lại đi hốt làm gì thế mà Vân nhận rồi lại than thở Cũng như “ruộtthừa” người ta cũng cắt đi cho khỏi đau… Âu cũng là số phận nếu như Vân hiểuđược điều đó thì tâm hồn sẽ nhẹ nhàng biết bao

Phải chăng, Vân điềm nhiên vui hưởng hạnh phúc bên chàng Kim “phong

tư tài mạo tót vời” mà không cần biết tới ai đã phải trả giá cho hạnh phúc củanàng? Thế nhưng, cũng chính nàng Vân, trong cảnh gia đình đoàn tụ, lại có mộtứng xử khá bất ngờ:

“Bây giờ gương vỡ lại lành

Trang 13

Khuôn thiêng lừa lọc đã dành có nơi.

Còn duyên may lại còn người,Còn vừng trăng bạc, còn lời nguyền xưa

Quả mai ba bảy đương vừa,Đào non sớm liệu xe tơ kịp thì”

Có thể nói, đáng chê hay đáng trách Thúy Vân còn tùy cách đánh giá vàcảm nhận của mỗi người, nhưng có lẽ bài viết sẽ dành phần nhiều thương cảmcho nhân vật Thúy Vân hơn Thúy Vân lại đồng ý thay Kiều trả nghĩa KimTrọng Có ý kiến cho rằng, Thúy Vân hời hợt, vô cảm khi dễ dàng chấp nhận lờitrao duyên của Kiều Nhưng, thử hỏi rằng, Thúy Vân có thể từ chối sao? Trongkhi nàng đã hiểu được tấm lòng, sự hi sinh cao cả của Thúy Kiều khi quyết định

vì chữ “hiếu” mà bỏ chữ “tình”? Sự đồng ý ở đây thể hiện một lòng cảm thôngsâu sắc của Thúy Vân đối với chị, nàng chấp nhận một sự hi sinh - hi sinh tuổixuân và hạnh phúc của mình Ai có thể nói rằng: đây là sự công bằng, ưu ái củatạo hóa đối với Thúy Vân trong khi đã “tước đoạt” đi quyền hưởng thụ tuổi xuân

và tự do tìm kiếm tình yêu, hạnh phúc đích thực của nàng nếu không muốn nói

là Thúy Vân buộc phải chấp nhận sự hi sinh ấy

Hơn nữa, quãng thời gian mà Thúy Vân chung sống với Kim Trọng - mộtngười chồng mà chưa bao giờ tỏ ra là chung thủy, 15 năm chàng Kim luôntưởng nhớ đến người xưa và cũng là 15 năm mà nàng Vân phải sống trong sựthờ ơ, hững hờ:

“Vui là vui gượng kẻo là

Ai tri âm đó mặn mà với ai”

Rõ ràng, đây không phải là quãng thời gian hạnh phúc mà nhiều ngườivẫn cho rằng Thúy Vân được hưởng Nếu như 15 năm lưu lạc của Kiều là 15năm đầy sóng gió, vất vả, truân chuyên xen lẫn khổ đau và nước mắt thì 15 nămsống với Kim Trọng của Thúy Vân chẳng khác gì “một cực hình dành cho tâmhồn” một người con gái vẫn còn đang tràn đầy sức sống và lòng yêu đời Mộtngười con gái đẹp như Thúy Vân đáng phải được hưởng hạnh phúc, tình yêuđích thực chứ không phải là một thứ tình yêu “thừa”, tình yêu “chắp nối”:

“Gặp cơn bình địa ba đàoNên đem duyên chị buộc vào duyên em.”

Trang 14

Bi kịch thứ hai trong cuộc đời Thúy Vân là bi kịch của một con người cótrái tim nhân hậu Bởi sau 15 năm lưu lạc, Thúy Kiều được đoàn tụ với gia đình,đây thực sự là niềm vui khôn tả đối với tất cả mọi người Nhưng còn Thúy Vân?Nàng vui, nhưng có lẽ niềm vui chưa kịp cất cánh bay lên thì đã bị nỗi buồn, nỗiđau xót ghì chặt xuống và giày xé tâm can Bởi Thúy Kiều trở về cũng có nghĩa

là người mà Kim Trọng luôn tưởng nhớ suốt 15 năm qua đã trở về Những tưởngrằng, Thúy Vân sẽ lại im lặng như trong đêm Kiều trao duyên Nhưng không,nàng đã chủ động đứng lên đặt vấn đề “Thúy Kiều nên thành hôn với KimTrọng” Bởi nàng hiểu rằng, suốt 15 năm qua, tuy sống với nhau như vợ chồngnhưng cả lí trí và trái tim của Kim Trọng đều dành hết cho Thúy Kiều:

“Những là rày ước mai aoMười lăm năm ấy, biết bao là tình!”

Và như một người cầm cán cân công lý, để trả lại sự công bằng cho ThúyKiều trước những gì mà nàng đã phải trải qua trong suốt 15 năm lưu lạc ThúyVân đã dũng cảm nói lên suy nghĩ của mình - suy nghĩ thật thấu đáo nhưng cũngthật xót xa cho số phận mình:

“Bây giờ gương vỡ lại lànhKhuôn thiêng lừa lọc đã dành có nơi

Còn duyên, may lại còn người,Còn vầng trăng bạc, còn lời nguyền xưa

Quả mai ba bảy đương vừaĐào non sớm liệu xe tơ kịp thì!”

Ta nhận ra ở Thúy Vân có một trái tim nhân hậu biết nhường nào, nàngthật tinh tế và cao thượng khi trả lại chàng Kim - trả lại người chồng đã 15 nămchung sống cho chị mình Nhưng nàng cũng thật đau đớn biết bao khi phải xácnhận một sự thật, sự thật về duyên phận của mình - cái duyên “chắp nối” sẽchẳng bao giờ tồn tại mãi mãi

Nỗi đau, bi kịch của cuộc đời Thúy Vân càng nhân lên gấp bội khi mà cáihạnh phúc dù là mong manh, dù là hờ hững nhưng là duy nhất của nàng, cáihạnh phúc mà nàng đã phải hi sinh cả tuổi xuân và quyền tự do mưu cầu tìnhyêu đích thực của mình để có được bây giờ lại phải chính tay mình trao lại chongười khác Với Thúy Vân, có lẽ giờ đây với nàng hạnh phúc gia đình là tất cả.Bởi thử hỏi rằng, cuộc đời nàng còn gì ngoài hai chữ “gia đình” khi mà tuổi trẻ,

Trang 15

cái tuổi khao khát yêu đương và tìm kiếm tình yêu, hạnh phúc đích thực đã điqua Thế nhưng, cái hạnh phúc gia đình đó những tưởng sẽ là của riêng nàng bâygiờ lại phải chia sẻ cùng với chị.

Đau xót hơn nữa cho nàng Vân khi phải ngày ngày chứng kiến chồngmình gần gũi, yêu thương người khác Vẫn biết rằng, xã hội phong kiến côngnhận sự tồn tại của quan niệm “trai năm thê bảy thiếp” Nhưng thử hỏi, liệu cóngười phụ nữ nào, trong bất kì xã hội nào mà không biết buồn, biết đau, biếtghen khi chồng mình yêu thương một người phụ nữ khác? Ai đó có thể nói rằng,giữa Thúy Vân và Kim Trọng không có tình cảm với nhau, họ chỉ là vợ chồngtrên danh nghĩa như vậy Thúy Vân sẽ không biết buồn, biết đau Cứ cho là, 15năm trước Thúy Vân đến với Kim Trọng không phải do tình yêu nhưng “lửa gầnrơm lâu ngày cũng bén”, 15 năm là vợ chồng chung sống với nhau chẳng lẽ giữa

họ lại không nảy sinh chút tình cảm nào? Có thể, tình cảm đó không phải là tìnhyêu nhưng 15 năm để xây dựng nên tình nghĩa vợ chồng là điều hoàn toàn cóthể

2.2 Phân tích nhân vật Kim Trọng

2.2.1 Ngoại hình – gia thế - tài năng của nhân vật Kim Trọng

Nhân vật Kim Trọng được đại thi hào Nguyễn Du miêu tả hình dáng từ lúc đang cưỡi ngựa đằng xa cho đến khi lại gần:

Trông chừng thấy một văn nhân, Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng.

Đề huề lưng túi gió trăng, Sau lưng theo một vài thằng con con.

Tuyết in sắc ngựa câu giòn,

Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời

Ông đã dùng ngòi bút tài tình của mình để vẽ nên khung cảnh lần đầu tiên gặp nhau giữa Kim Trọng và Thúy Kiều, để từ đó tạo nên mối tình đầu tuyệt đẹp giữa hai người Hình ảnh chàng Kim thong dong cầm dây cương để ngựa ung dung bước từng bước một, làn gió mơn mởn lùa vào tay và sống áo của chàng khiến chàng giống như đang cõng theo gió và trăng bên mình; đằng sau là những thư đồng lóc cóc đi theo Phong thái của chàng trang nhã, đậm chất quý tộc của một thiếu gia công tử xuất thân

từ gia đình trâm anh Cảnh tượng chàng xuất hiện đẹp đến nỗi mọi người xung quanh

cứ ngỡ vó ngựa của chàng đang dẫm lên một vùng tuyết trắng không thực, còn cả bầu trời thì bị nhuộm xanh bởi màu áo của chàng, trở thành cảnh nền của chàng Mọi cử chỉ, hành động của chàng đều rất mực nho nhã, hào hoa:

Trang 16

Nẻo xa mới tỏ mặt người, Khách xa xuống ngựa tới nơi tự tình

Khi sắp đến gần chị em Thúy Kiều, chàng xuống ngựa rồi mới tiến đến Mỗi bước đi của chàng khiến cảnh vật xung quanh bừng sáng như có gió xuân lướt qua:

Hài văn lần bước dặm xanh, Một vùng như thể cây quỳnh cành dao.

Đối với thi sĩ, cây quỳnh cành dao là biểu tượng cho vẻ đẹp hòa hoa, là loài hoa đẹp nhất thời xưa Nguyễn Du dùng lối so sánh như vậy muốn cho độc giả nhìn thấy được vẻ thư sinh, bậc hào hoa công tử trong nhân vật chính của mình Không những vậy, đại thi hào Nguyễn Du luôn gắn hình ảnh của Kim Trọng với màu xanh của cây

lá, của sắc trời đầy thanh tân và tràn đầy sức sống, tựa như tình cảm mới chớm nở giữa đôi trai tài gái sắc Đó dường như là một ẩn dụ đầy độc đáo của cụ Nguyễn Du khi dùng màu sắc để miêu tả nội tâm nhân vật.

Không chỉ có vẻ ngoài hào hoa, phong nhã, Kim Trọng còn có một xuất thân cao quý và tài năng xuất chúng:

Nguyên người quanh quất đâu xa

Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh Nền phú hậu, bậc tài danh Văn chương nết đất, thông minh tính trời

Kim Trọng chính là nhân vật đã hưởng trọn sự ưu ái của tạo hóa: vừa có vẻ ngoài tuấn tú, vừa có tài năng tuyệt đỉnh, vừa có gia thế tốt Chúng ta không thể tìm được một khuyết điểm nào về con người chàng Thế nhưng sự hoàn mĩ của chàng không khiến tự nhiên ganh ghét như Thúy Kiều, ngược lại thiên nhiên chấp nhận trở thành khung nền mỗi khi chàng xuất hiện, báo hiệu cho một tương lai suôn sẻ, bình an của chàng

Nguyễn Du đã sử dụng một hệ thông từ ngữ Hán Việt để nói về Kim Trọng với tất cả sự quý mến, trân trọng, đồng thời thể hiện tính cách nhân vật trên bình diện xã

hội: trâm anh, phú hậu, tài danh, thông minh, phong tư, tài mạo, phong nhã, hào hoa Đó là tất cả những lời khen của Nguyễn Du dành tặng cho nhân vật này.

2.2.2 Phẩm chất của nhân vật Kim Trọng

2.2.2.1 Tình yêu sâu sắc đối với Thúy Kiều

Tác phẩm Truyện Kiều có 3.254 câu thơ lục bát, nhưng theo nhà thơ Xuân

Diệu, tác giả Nguyễn Du đã dành đến một phần tám tác phẩm này mà xây dựng nên

Ngày đăng: 20/03/2021, 13:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w