1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình vận động xã hội

106 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 366,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với đầu tư triệt để của nhà nước, chúng ta đã gặt hái được những giá trị văn hóa, vănnghệ không nhỏ đó là các phong trào khắp nơi ca hát, phong trào “tiếng hát át tiếng bom”trong kháng c

Trang 1

MỤC LỤC

BÀI 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG

1. Khái quát về phát triển văn hóa cộng đồng

1.1. Khái niệm văn hóa

Từ "văn hóa" có rất nhiều nghĩa Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩathông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩachuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn) Trong khitheo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tínngưỡng, phong tục, lối sống, lao động Chính với cách hiểu rộng này, văn hoá mới là đốitượng đích thực của văn hóa học

Tuy nhiên, ngay cả với cách hiểu rộng này trên thế giới cũng có hàng trăm địnhnghĩa khác nhau Để định nghĩa một khái niệm, trước hết cần xác định được những đặctrưng cơ bản của nó Đó là những nét riêng biệt và tiêu biểu, cần và đủ để phân biệt khái

Trang 2

niệm (sự vật) ấy với khái niệm (sự vật) khác Phân tích các cách tiếp cận văn hóa phổ biếnhiện nay (coi văn hóa như tập hợp, như hệ thống, như giá trị, như hoạt động, như kí hiệu,như thuộc tính nhân cách, như thuộc tính xã hội ), có thể xác định được 4 đặc trưng cơbản mà tổng hợp lại, ta có thể nêu ra một định nghĩa văn hoá như sau:

VĂN HOÁ là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.

Dưới đây, chúng ta đi vào xem xét từng đặc trưng của văn hóa được nói đến trongđịnh nghĩa cùng các chức năng của nó

1.2 Các đặc trưng và chức năng của văn hóa

1.2.1 Đặc trưng của văn hóa

Văn hóa trước hết phải có tính hệ thống.

Đặc trưng này cần để phân biệt hệ thống với tập hợp; nó giúp phát hiện những mốiliên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa; phát hiện các đặctrưng, những quy luật hình thành và phát triển của nó

Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một thực thể bao trùm mọi hoạtđộng của xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội Chính văn hóa thường xuyênlàm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để ứng phóvới môi trường tự nhiên và xã hội của mình Nó là nền tảng của xã hội - có lẽ chính vì vậy

mà người Việt Nam ta dùng từ chỉ loại “nền” để xác định khái niệm văn hoá (nền văn hóa)

Đặc trưng quan trọng thứ hai của văn hóa là tính giá trị.

Văn hóa theo nghĩa đen nghĩa là "trở thành đẹp, thành có giá trị" Tính giá trị cần đểphân biệt giá trị với phi giá trị (vd: thiên tai, mafia) Nó là thước đo mức độ

Các giá trị văn hóa, theo mục đích có thể chia thành giá trị vật chất (phục vụ cho nhucầu vật chất) và giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần); theo ý nghĩa có thể chiathành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mĩ; theo thời gian có thể phân biệt cácgiá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời Sự phân biệt các giá trị theo thời gian cho phép ta cóđược cái nhìn biện chứng và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiệntượng; tránh được những xu hướng cực đoan - phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời

Vì vậy mà, về mặt đồng đại, cùng một hiện tượng có thể có giá trị nhiều hay ít tùytheo góc nhìn, theo bình diện được xem xét Muốn kết luận một hiện tượng có thuộc phạmtrù văn hóa hay không phải xem xét mối tương quan giữa các mức độ "giá trị" và “phi giátrị" của nó Về mặt lịch đại, cùng một hiện tượng sẽ có thể có giá trị hay không tùy thuộcvào chuẩn mực văn hóa của từng giai đoạn lịch sử Áp dụng vào Việt Nam, việc đánh giáchế độ phong kiến, vai trò của Nho giáo, các triều đại nhà Hồ, nhà Nguyễn đều đòi hỏimột tư duy biện chứng như thế

Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng quantrọng thứ hai là chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân

Trang 3

bằng động, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường,giúp định hướng các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển của xã hội.

Đặc trưng thứ ba của văn hóa là tính nhân sinh.

Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hoá như một hiện tượng xã hội (do conngười sáng tạo, nhân tạo) với các giá trị tự nhiên (thiên tạo) Văn hóa là cái tự nhiên đượcbiến đổi bởi con người Sự tác động của con người vào tự nhiên có thể mang tính vật chất(như việc luyện quặng, đẽo gỗ ) hoặc tinh thần (như việc đặt tên, truyền thuyết cho cáccảnh quan thiên nhiên )

Như vậy, văn hóa học không đồng nhất với đất nước học Nhiệm vụ của đất nướchọc là giới thiệu thiên nhiên - đất nước - con người Đối tượng của nó bao gồm cả các giátrị tự nhiên, và không nhất thiết chỉ bao gồm các giá trị Về mặt này thì nó rộng hơn vănhoá học Mặt khác, đất nước học chủ yếu quan tâm đến các vấn đề đương đại, về mặt nàythì nó hẹp hơn văn hóa học

Do mang tính nhân sinh, văn hóa trở thành sợi dây nối liền con người với con người,

nó thực hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết họ lại với nhau Nếu ngôn ngữ làhình thức của giao tiếp thì văn hóa là nội dung của nó

Văn hóa còn có tính lịch sử.

Nó cho phép phân biệt văn hóa như sản phẩm của một quá trình và được tích luỹ quanhiều thế hệ với văn minh như sản phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của từng giaiđoạn Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu; nó buộc văn hóa thườngxuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các

giá trị Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hóa Truyền thống văn hóa là nhữnggiá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) được tích lũy và tái tạo trong cộngđồng người qua không gian và thời gian, được đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và

cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán nghi lễ, luật pháp, dư luận

Truyền thống văn hóa tồn tại nhờ giáo dục Chức năng giáo dục là chức năng quantrọng thứ tư của văn hóa Nhưng văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằngnhững giá trị đã ổn định (truyền thống), mà còn bằng cả những giá trị đang hình thành Hailoại giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới Nhờ nó mà vănhóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách (trồng người) Từ chức nănggiáo dục, văn hóa có chức năng phái sinh là đảm bảo tính kế tục của tịch sử: Nó là một thứ

"gen" xã hội di truyền phẩm chất con người lại cho các thế hệ mai sau

1.2.2 Chức năng của văn hóa

Hiện nay, xác định văn hoá có những chức năng gì giới nghiên cứu còn có nhiều ýkiến khác nhau Ðứng từ góc độ bản chất của văn hoá xem văn hoá là một tổng thể của rấtnhiều hoạt động phong phú và đa dạng sản xuất, sáng tạo ra các sản phẩm văn hoá hữu thể

và vô thể nhằm tác động tới con người và xã hội với mục đích cao cả nhất là vì sự pháttriển và hoàn thiện con người và xã hội thì, văn hoá có 5 chức năng là: Chức năng giáo dục;chức năng nhận thức; chức năng dự báo; chức năng thẩm mỹ và chức năng giải trí

Nội dung cơ bản của các chức năng đó như sau:

Trang 4

- Chức năng giáo đục: là chức năng mà văn hoá thông qua các hoạt động, các sản phẩm của

mình nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của conngười, làm cho con người dần dần có những phẩm chất và năng lực theo những chuẩn mực

xã hội đề ra Văn hoá thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổnđịnh là truyền thống văn hoá mà còn bằng cả những giá trị đang hình thành Các giá trị nàytạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới Nhờ vậy, văn hoá đóng vai tròquyết định trong việc hình thành nhân cách ở con người, trong việc "trồng người " Vớichức năng giáo dục, văn hoá tạo nên sự phát triển liên tục của lịch sử mỗi dân tộc cũng nhưlịch sử nhân loại Văn hoá duy trì và phát triển bản sắc dân tộc và là cầu nối hữu nghị gắn

bó các dân tộc, gắn kết các thế hệ trong mục tiêu hướng đến cái Chân- Thiện- Mỹ Văn hoá

là "gien" xã hội di truyền phẩm chất cộng đồng người lại cho các thế hệ sau

- Chức năng nhận thức: Là chức năng đầu tiên, tồn tại trong mọi hoạt động văn hoá Bởi,

con người không có nhận thức thì không thể có bất cứ một hành động văn hoá nào Nhưngquá trình nhận thức này của con người trong các hoạt động văn hóa lại được thông qua đặctrưng, đặc thù của văn hóa Nâng cao trình độ nhận thức của con người chính là phát huynhững tiềm năng ở con người

- Chức năng thẩm mỹ: Cùng với nhu cầu hiểu biết, con người còn có nhu cầu hưởng thụ,

hướng tới cái đẹp Con người nhào nặn hiện thực theo quy luật của cái đẹp cho nên văn hóaphải có chức năng này Nói cách khác, văn hoá là sự sáng tạo của con người theo quy luậtcủa cái đẹp, trong đó, văn học nghệ thuật là biểu hiện tập trung nhất sự sáng tạo ấy Với tưcách là khách thể của văn hóa, con người tiếp nhận chức năng này của văn hóa và tự thanhlọc mình theo hướng vươn tới cái đẹp và khắc phục cái xấu trong mỗi người

- Chức năng giải trí: Trong cuộc sống, ngoài hoạt động lao động và sáng tạo, con người

còn có nhu cầu giải trí Các hoạt động văn hoá, câu lạc bộ, bảo tàng, lễ hội, ca nhạc,

sẽ đáp ứng được các nhu cầu ấy Như vậy, sự giải trí bằng các hoạt động văn hoá là bổích, cần thiết, góp phần giúp cho con người lao động sáng tạo có hiệu quả hơn và giúpcon người phát triển toàn điện

Với các chức năng trên, chứng tỏ văn hoá có một đời sống riêng, quy luật hoạt độngriêng nhưng lại không nằm ngoài kinh tế và chính trị

Vì sự phát triển và hoàn thiện con người và xã hội là mục tiêu cao cả của văn

Vấn đề mà chúng ta cần phải quan tâm là vấn đề nguồn gốc của tiếng Việt Đây làvấn đề khoa học khá phức tạp mà cho đến nay giới nghiên cứu khoa học xã hội chưa có sựthống nhất Ý kiến của GS.TS Phạm Đức Dương là ý kiến đáng lưu ý

Trang 5

-Tiếng Việt - Mường được hình thành bởi nhiều yếu tố thuộc dòng ngôn ngữ

ở Đông Nam Á, kể cả dòng Mã Lai, Tạng Miến, Trong đó có 2 yếu tố chính: Môn Khơ-me và Tày - Thái

Quan hệ giữa 2 yếu tố chủ đạo đó là Môn Khơ me đóng vai trò cơ tầng, Tày Thái đóng vai trò cơ chế

Quá trình chuyển hóa đó là một quá trình hội tụ văn hóa và tộc người đã diễn ra ởchâu thổ sông Hồng Một cộng đồng mới bao gồm nhiều bộ tộc trong đó tộc ngườinói tiếng Môn - Khơ me chiếm số đông đã dần biến đổi tiếng nói của mình và tạonên một ngôn ngữ mới vận hành theo cơ chế Tày - Thái: ngôn ngữ Việt - Mườngchung

Thời điểm hình thành tiếng Việt, cũng GS TS Phạm Đức Dương khẳng định: “Vàokhoảng thiên niên kỉ thứ 2 trước công nguyên, do sự “dồn tọa” từ phương Bắc xuống, dosức ép của sự phát triển dân số vùng núi và chân núi trên bậc thềm cổ quá hẹp của các dòngsông và nhất là do sự kích thích của năng suất lúa nước và cuộc sống tương đối ổn định của

xã hội nông nghiệp lúa nước đã được thể nghiệm

ở vùng thung lũng hẹp chân núi, hàng loạt các cộng đồng người đã ào ạt xuống vùngtrũng quanh vịnh Hà Nội, cộng cư với những người khác tại đây Họ đã áp dụng môhình kinh tế - xã hội lúa nước của người Tày - Thái trong quá trình khai phá đồngbằng sông Hồng và hình thành nên một cộng đồng mới: cư dân Việt - Mường, chủnhân của ngôn ngữ Việt - Mường chung.”

Trong tiến trình phát triển, tiếng Việt còn có sự tiếp xúc với các ngôn ngữ TrungQuốc Không kể sự tiếp xúc giữa người Lạc Việt và các bộ tộc Bách Việt ở phía nam sôngDương Tử trở xuống, thời tiền sử, sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán đã diễn ra trước

và trong thời Bắc thuộc Sự tiếp xúc này đã đem lại sự thay đổi cho tiếng Việt Nhiều từngữ Hán được người Việt vay mượn, nhưng xu hướng Việt hóa là xu hướng mạnh nhất.Người Việt đã vay mượn cách phát âm mà sau này các nhà nghiên cứu gọi là cách phát âmHán - Việt để đọc toàn bộ các chữ Hán Sau đó, trong cách sử dụng và ý nghĩa của các từ

ấy lài được Việt hóa Nhiều yếu tố của tiếng Hán đi vào tiếng Việt theo kiểu mở rộng haythu hẹp nghĩa, hoặc được cấu tạo lại theo kiểu rút ngắn, đổi vị trí Tuy vậy, sự tiếp nhậncác yếu tố của tiếng Hán không làm mất đi bản sắc của tiếng Việt, trái lại, làm cho tiếngViệt giàu có hơn

Cuộc tiếp xúc lớn thứ hai là cuộc tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Pháp Thực dânPháp cưỡng bức, đặt tiếng Pháp vào vị thế có ưu thế hơn cho tiếng Pháp Người Việt lạivay mượn những từ của tiếng Pháp, sao phỏng ngữ pháp của tiếng Pháp Tiếng Việt giaiđoạn này vừa giữ được bản sắc của mình, vừa biến đổi nhanh chóng, chuẩn bị cho sự pháttriển của giai đoạn sau

Từ năm 1954 đến nay, tiếng Việt được sử dụng trong mọi mặt của đời sống xã hội

Nó có một vị thế xứng đáng, được Đảng và Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện phát triểncùng với ngôn ngữ của các dân tộc ít người

Đặc điểm của tiếng Việt là:

Trang 6

- Ở tiếng Việt, dòng lời nói luôn được phân cắt thành các âm tiết, được tách bạch rõràng Do đó, tiếng Việt là tiếng phân tiết tính

-Các phương thức ngữ pháp của tiếng Việt là: trật tự từ, hư từ, ngữ điệu

Về mặt chữ viết, cho đến nay, tiếng Việt đã trải qua một số hình thức chữ viết: ChữHán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ Riêng thời sơ sử, chữ viết ở thời kỳ này chưa nhất quán

Trước hết là chữ Hán Đây là một thứ chữ ngoại sinh, nhưng một thời được giai cấpthống trị sử dụng như một phương tiện chính thống

Hình thức chữ viết thứ hai là chữ Nôm Đây là chữ viết dduwwocj tạo ra từ ý thứcdân tộc Tuy nhiên thời điểm sáng tạo ra và ai là người sáng tạo đến nay vẫn chưa có sựthống nhất Dừ sao, đây cũng là sự sáng tạo của người Việt Chữ Nôm đã dựa vào chữHán, từ là ghi âm bằng chữ Hán, mượn những tiếng Hán có âm và đồng âm, đồng nghĩa

âm na ná Chữ Nôm đã tồn tại và có nhiều đóng góp vào ngôn ngữ nói riêng và văn hóaViệt nói chung

Hình thức chữ viết thú ba đó là chữ Quốc ngữ Ban đầu, chữ Quốc ngữ được xâydựng dựa vào bộ chữ cái Latinh Người Pháp xâm lược và cai trị Việt Nam đã đưa chữQuốc ngữ ra đời sống xã hội Một số nhà nho ban đầu rất có ác cảm với thứ chữ mà họ coi

là ta đạo, nhưng lại chính các nhà nho yêu nước lại nhận ra ưu thế của chữ Quốc ngữ nên

đã cổ vũ cho việc sử dụng loại chữ này Cách mạng tháng Tam thành công, chữ Quốc ngữ

đã có địa vị chính thức trong đời sống mọi mặt của đất nước

1.3.2 Tôn giáo

Nho giáo

Nho giáo (儒儒), còn gọi là đạo Nho hay đạo Khổng là một hệ thống đạo đức, triết lý

và học thuyết chính trị do Đức Khổng Tử đề xướng và được các môn đồ của ông phát triển

để xây dựng một xã hội thịnh trị Nho giáo rất có ảnh hưởng tại ở các nước châu Á là TrungQuốc, Đài Loan, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc và Việt Nam Những người thực hànhtheo các tín điều của Nho giáo được gọi là các nhà Nho hay Nho sĩ hay nho sinh

1.4 Khái niệm gần văn hóa: Văn minh, văn hiến, văn vật

1.4.1 Văn minh

Lâu nay, không ít người vẫn sử dụng văn minh (civilization) như một từ đồng nghĩa

với văn hóa Song thật ra, đây là hai khái niệm rất khác nhau Trong các từ điển, từ "vănminh" có thể được định nghĩa theo nhiều cách, song chúng thường có một nét nghĩa chung

là “trình độ phát triển": trong khi văn hóa luôn có bề dày của quá khứ (tính lịch sử) thì vănminh là một lát cắt đồng đại, nó cho biết trình độ phát triển của văn hóa ở từng giai đoạn.Nói đến văn minh, người ta còn nghĩ đến các tiện nghi

Văn minh là sự kết hợp đầy đủ các yếu tố tiên tiến tại thời điểm xét đến để tạo nên,duy trì, vận hành và tiến hoá xã hội loài người Các yếu tố của văn minh có thể hiểu gọn lại

là di sản tích lũy tri thức, tinh thần và vật chất của con người kể từ khi loài người hình

thành cho đến thời điểm xét đến Đối nghịch với văn minh là hoang dã, man rợ, lạc hậu.

Từ văn minh trong tiếng Việt là từ gốc Nhật

Trang 7

Như vậy, văn hóa và văn minh còn khác nhau ở tính giá trị: trong khi văn hóa chứa

cả các giá trị vật chất lẫn tinh thần, thì văn minh chủ yếu thiên về các giá trị vật chất màthôi

Sự khác biệt của văn hóa và văn minh về giá trị tinh thần và tính lịch sự dẫn đến sựkhác biệt về phạm vi: Văn hoá mang tính dân tộc; còn văn minh thì có tính quốc tế, nó đặctrưng cho một khu vực rộng lớn hoặc cả nhân loại, bởi lẽ cái vật chất thì dễ phổ biến, lâylan

Và sự khác biệt thứ tư, về nguồn gốc: Văn hoá gắn bó nhiều hơn với phương Đôngnông nghiệp, còn văn minh gắn bó nhiều hơn với phương Tây đô thị Trong quá trình pháttriển của lịch sử nhân loại, tại cựu lục địa Âu-Á (Eurasia) đã hình thành hai vùng văn hóalớn là “phương Tây” và “phương Đông”: phương Tây là khu vực tây-bắc gồm toàn bộChâu Âu (đến dãy Uran); phương Đông là khu vực đông-nam gồm châu Á và châu Phi.Các nền văn hóa cổ đại lớn mà nhân loại từng

biết đến đều xuất phát từ phương Đông: Trung Hoa, Ấn Độ, Lưỡng Hà, Ai Cập Nền vănhóa phương Tây sớm nhất là Hi-La (Hi Lạp và La Mã) cũng có nguồn gốc từ phươngĐông, nó được hình thành trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của các nền văn hóa Ai Cập

và Lưỡng Hà Các nền văn hóa phương Đông đều hình thành ở lưu vực các con sông lớn lànhững nơi có địa hình và khí hậu rất thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp Ở các ngôn ngữphương Tây, từ “văn hóa” bắt nguồn từ chữ cultus tiếng Latinh có nghĩa là “trồng trọt”, còn

từ “văn minh” thì bắt nguồn từ chữ civitas có nghĩa là “thành phố”

1.4.2 Văn hiến

Việt Nam còn có các khái niệm văn hiến và văn vật Từ điển thường định nghĩa văn hiến là

“truyền thống văn hóa lâu đời”, còn văn vật là “truyền thống văn hóa biểu hiện ở nhiềunhân tài và di tích lịch sử” Các định nghĩa này cho thấy văn hiến và văn vật chỉ là nhữngkhái niệm bộ phận của "văn hóa", chúng khác văn hóa

ởđộ bao quát các giá trị: Văn hiến là văn hoá thiên về “truyền thống lâu đời", mà truyềnthống lâu đời còn lưu giữ được chính là các giá trị tinh thần; còn văn vật là văn hóa thiên vềcác giá trị vật chất (nhân tài, di tích, hiện vật) Chính vì vậy mà ông cha ta thường nói đấtnước 4000 năm văn hiến, nhưng lại nói Hà Nội - Thăng Long ngàn năm văn vật PhươngTây không có các khái niệm văn hiến, văn vật, cho nên hai từ này không thể dịch ra cácngôn ngữ phương Tây được

1.5 Khái niệm cộng đồng

1.5.1 Các dấu hiệu nhận biết

Cộng đồng phải là tập hợp của một số đông người

Mỗi cộng đồng phải có một bản sắc riêng

Các thành viên của cộng đồng phải tự cảm thấy có sự gắn kết với cộng đồng và vớicác thành viên khác của cộng đồng

Có thể có nhiều yếu tố tạo nên bản sắc và sức bền gắn kết cộng đồng, nhưng quantrọng nhất chính là sự thống nhất về ý chí và chia sẻ về tình cảm, tạo nên ý thức cộng đồng

Trang 8

Mỗi cộng đồng đều có những tiêu chí bên ngoài để nhận biết về cộng đồng và cónhững quy tắc chế định hoạt động và ứng xử chung của cộng đồng.

1.5.2 Khái niệm cộng đồng

Cộng đồng là một tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân con người sống chung ởmột địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội hoặc sinh học nào đó và cùng chia sẻvới nhau một lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào đấy

“Cộng đồng là tập thể người sống trong cùng một khu vực, một tình hoặc một quốcgia và được xem như một khối thống nhất”; “Cộng đồng là một nhóm người có cùng tínngưỡng, chủng tộc, cùng loại hình nghề nghiệp, hoặc cùng mối quan tâm”; “Cộng đồng làmột tập thể cùng chia sẻ, hoặc có tài nguyên chung, hoặc có tình trạng tương tự nhau vềmột số khía cạnh nào đó” (Tự điển Đại học Oxford)

Có thể phân ra 2 loại cộng đồng: Cộng đồng địa lý bao gồm những người dân cư trútrong cùng một địa bàn có thể có chung các đặc điểm văn hoá xã hội và có thể có mối quan

hệ ràng buộc với nhau Họ cùng được áp dụng chính sách chung Cộng đồng chức nănggồm những người có thể cư trú gần nhau hoặc không gần nhau nhưng có lợi ích chung Họliên kết với nhau trên cơ sở nghề nghiệp, sở thích, hợp tác hay hiệp hội có tổ chức (NGOTraining Project) 18 Như vậy, cộng đồng có thể ở quy mô các cấp khác nhau từ lớn đếnnhỏ, từ chung chung đến cụ thể Thí dụ:

-Cộng đồng địa lý: Cộng đồng người Hoa, người Chăm, cộng đồng dân cư tại xóm X Cộng đồng chức năng: Hội đồng hương của tỉnh Quảng Ngãi; Cộng đồng học sinh, sinhviên Việt Nam đang du học tại các nước;

-Cộng đồng những công nhân nhập cư tại khu phố A; Một cộng đồng là một nhóm

xã hội của các cơ thể sống chung trong cùng một môi trường thường là có cùng các mốiquan tâm chung

Trong cộng đồng người đó là kế hoạch, niềm tin, các mối ưu tiên, nhu cầu, nguy cơ

và một số điều kiện khác có thể có và cùng ảnh hưởng đến đặc trưng và sự thống nhất củacác thành viên trong cộng đồng Theo Fichter cộng đồng bao gồm 4 yếu tố sau: (1) tươngquan cá nhân mật thiết với nhau, mặt đối mặt, thẳng thắn chân tình, trên cơ sở các nhómnhỏ kiểm soát các mối quan hệ cá nhân; (2) có sự liên hệ chặt chẽ với nhau về tình cảm,cảm xúc khi cá nhân thực hiện được các công việc hoặc nhiệm vụ cụ thể; (3) có sự hiếndâng về mặt tinh thần hoặc dấn thân thực hiện các giá trị xã hội được cả xã hội ngưỡng mộ;(4) có ý thức đoàn kết tập thể Cộng đồng được hình thành trên cơ sở các mối liên hệ giữa

cá nhân và tập thể dựa trên cơ sở tình cảm là chủ yếu; ngoài ra còn có các mối liên hệ tìnhcảm khác Cộng đồng có sự liên kết cố kết nội tại không phải do các quy tắc rõ ràng thànhvăn, mà do các quan hệ sâu hơn, được coi như là một hằng số văn hóa

1.6 Khái niệm văn hóa cộng đồng

Một cộng đồng người bất cứ ở đâu đều phải có những quy định để mọi thành viên thực hiệnmới duy trì được sự ổn định để tồn tại Ở quốc gia, đó là luật pháp Trong phạm vi nhỏ hơn lànhững quy chế, nội quy Sự tuân thủ là bắt buộc Biểu hiện sự tự giác, nghiêm túc thực hiệnnhững quy định chung này chính là văn hóa cộng đồng Ở đâu, mức độ tự giác, chấp hành cao

Trang 9

xuất phát từ nhận thức của con người, ở đó văn hóa cộng đồng cao Còn ngược lại, dĩ nhiên làthấp Như vậy, khái niệm văn hóa cộng đồng gắn liền với trình độ dân trí

“Văn hóa cộng đồng là văn hóa ứng xử của cộng đồng, tức là phương thức và nguyên tắc ứng xử của một cộng đồng trong những môi trường, không gian và thời gian lịch sử xác định”.

Nâng cao ý thức về văn hóa cộng đồng là nỗ lực của mọi thành viên trong xã hội, của mọingành, mọi giới Nhưng trước hết, sứ mạng này thuộc về các ngành giáo dục, văn hóa và anninh Đi kèm việc thường xuyên đẩy mạnh giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật phải là

sự trừng phạt nghiêm khắc kẻ vi phạm Sự vô trách nhiệm với văn hóa cộng đồng sẽ dẫn tớinhững hệ lụy khôn lường mà mọi cố gắng, nỗ lực trong các lĩnh vực khác cũng sẽ trở nên kémhiệu quả trong công cuộc xây dựng xã hội văn minh, hiện đại mà chúng ta đang ra sức thúcđẩy, xúc tiến

1.7 Khái niệm vận động xã hội

Vận động xã hội là vận động các tầng lớp người dân trong xã hội hướng đến việcxây dựng một xã hội dân sự trưởng thành

Vận động xã hội khác vận động chính trị về đối tượng vận động: đối tượng của vậnđộng xã hội là các tầng lớp công dân và các định chế xã hội; đối tượng của vận động chínhtrị là chính quyền, chính khách, và các định chế quyền lực Vận động xã hội chú trọng đến

sự thăng tiến của đời sống công dân; vận động chính trị chú trọng đến sự thăng tiến của cácđịnh chế chính trị, bao gồm các đảng chính trị và chính khách

Xã hội dân sự là gì?

Xã hội dân sự là tập hợp tất cả những cá nhân và tổ chức dân sự đứng ngoài các địnhchế quyền lực, các định chế kinh tế, các đảng phái chính trị, các tổ chức phục vụ cho cácđảng chính trị và hoạt động kinh tế Nói cách khác, xã hội dân sự là phần còn lại của đờisống quốc gia bên ngoài xã hội chính trị và xã hội kinh tế Mục đích của vận động xã hội làthúc đẩy sự lớn mạnh của xã hội dân sự để nó tự giải phóng nó ra khỏi sự thao túng của xãhội chính trị và xã hội kinh tế

Xã hội dân sự có quan hệ thế nào với tiến trình phát triển quốc gia?

Không phải là sự phát triển của xã hội kinh tế (kinh tế thị trường, v.v ) hay sự pháttriển của xã hội chính trị (dân chủ hóa, v.v ) mà sự phát triển của xã hội dân sự mới chính

là sự phát triển quốc gia Trong dài hạn, sự phát triển của xã hội dân sự còn thúc đẩy sự tiến

bộ của xã hội chính trị và xã hội kinh tế theo hướng lấy con người làm trung tâm

Có thể nói ngắn gọn, từ kinh nghiệm phát triển của thế giới, một quốc gia không thểphát triển, ngay cả khi quốc gia đó có nền kinh tế thị trường và có thể chế chính trị dân chủ,cho đến khi xã hội dân sự phát triển

2. Phương pháp vận động phát triển văn hoá cộng đồng

2.1 Thứ nhất, hình thức tuyên truyền

* Tuyên truyền miệng

Tuyên truyền miệng là một hình thức đặc biệt của tuyên truyền mà phương thức chủ yếu đượctiến hành thông qua sự giao tiếp bằng lời nói trực tiếp giữa người nói với người nghe màkhông có sự ngăn cách nào, nhằm nâng cao nhận thức, củng cố và xây dựng niềm tin, cổ vũ

Trang 10

mọi người suy nghĩ và hành động theo những yêu cầu cụ thể của nhiệm vụ tuyên truyền đặtra.

Như vậy, thực chất của tuyên truyền miệng là hình thức tuyên truyền trực tiếp bằng lời nói đểthuyết phục người nghe nhằm nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin và tổ chức họ hành độngtheo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chủtrương công tác Hội, hình thức này thường được sử dụng trong các bài giảng, báo cáo, bàithuyết trình, trong các buổi kể chuyện, nói chuyện thời sự, qua các buổi trao đổi, tọa đàm,tranh luận, hỏi đáp Khi sử dụng hình thức này, cán bộ hội, báo cáo viên, tuyên truyền viên sẽtrực tiếp nói với hội viên, nông dân trong các lớp học hội nghị; trực tiếp tiếp xúc, trao đổi,thảo luận với các hội viên, nông dân trong sinh hoạt chi hội, tổ hội hoặc đến nói chuyện traodối với từng gia đình từng người, qua đó, cán bộ hội trực tiếp nghe hội viên, nông dân trao đổilại Vì thế, hình thức tuyên truyền này có tính chất dân chủ nhất, dễ thực hiện nhất và cũng làhình thức tuyên truyền rẻ nhất, hiệu quả nhất

* Tuyên truyền thông qua sinh hoạt chi hội, tổ hội, qua các câu lạc bộ

Hình thức tuyên truyền này được tiến hành theo sinh hoạt định kỳ hoặc theo sinh hoạt chuyên

đề, đột xuất Thông qua hình thức tuyên truyền này đồng thời kết hợp với hình thức tuyêntruyền miệng, công tác tuyên truyền của Hội đã đến trực tiếp được cán bộ, hội viên, nông dân,qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội nói chung, của công tác tuyên truyềnnói riêng

* Tuyên truyền thông qua sử dụng hệ thống thông tin đại chúng

Hình thức tuyên truyền này được thực hiện qua hệ thống truyền thông của Đảng, Nhà nướcnhư báo, đài phát thanh, truyền hình của Trung ương và của địa phương; qua báo, tạp chí,thông tin công tác hội của Hội, qua hệ thống loa đài truyền thanh công cộng Đây là mộttrong những hình thức tuyên truyền có tính định hướng rất cao, nhất là qua các bài báo, phóng

sự, chuyên đề có chất lượng về các gương điển hình, về các cơ sở địa phương hoạt độngtốt nên nó có ảnh hưởng sâu rộng dễ tác động đến cán bộ, hội viên, nông dân, có tác dụngkhích lệ họ học tập, làm theo

* Tuyên truyền thông qua hoạt động thư viện, sách báo, tranh ảnh, nhà văn hóa, câu lạc bộ ;các hình thức trực quan như khẩu hiệu, panô, áp phích, tờ rơi, v.v

Trang 11

Khi sử dụng hình thức tuyên truyền này, các cán bộ tuyên truyền cần chú ý lựa chọn các biểutượng, hình tượng, hình ảnh, biểu trưng, v.v có tính cụ thể, dễ hiểu, gần gũi với đời sống củacán bộ, hội viên, nông dân Khi đó công tác tuyên truyền sẽ lôi cuốn được đông đảo quầnchúng và sẽ đạt hiệu quả cao.

* Tuyên truyền thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, tổ chức lễ hội truyềnthống

Đây là một hình thức tuyên truyền có bề rộng, dễ áp dụng nên cán bộ cơ sở Hội cần triệt đểvận dụng hình thức tuyên truyền này, vì nếu được chuẩn bị kỹ, tiến hành thận trọng, khoa họcthì hình thức này rất dễ tạo không khí hồ hởi, phấn khởi trong quần chúng tham gia, qua đócông tác tuyên truyền sẽ đạt hiệu quả cao

* Tuyên truyền thông qua các hoạt động tham quan thực tế, báo cáo điển hình, học tập gươngngười tốt, việc tốt

Hình thức tuyên truyền này sử dụng triệt để phương pháp nêu gương như: Tổ chức cho cán

bộ, hội viên, nông dân đi tham quan, học tập những điển hình, mô hình tốt để họ học tập, làmtheo Qua đó hướng dẫn, khuyến khích động viên cán bộ, hội viên, nông dân học tập, làm theogương điển hình, mô hình tiên tiến, đồng thời, hình thức tuyên truyền này còn góp phần thúcđẩy phong trào thi đua hội phát triển Do vậy, trong quá trình công tác, cơ sở hội và Hội cấptrên cần sớm phát hiện, nhân rộng mô hình, điển hình tiên tiến, những nhân tố mới để tuyêntruyền, giáo dục hội viên, nông dân

2.2 Thứ hai là hình thức truyền thông

Khái niệm của truyền thông trong vận động xã hội

Truyền thông là một quá trình giao tiếp để chia xẻ những hiểu biết, kinh nghiệm, tình

cảm

Một quá trình truyền thông đầy đủ gồm các yếu tố: người gởi, người nhận, thông điệp,

kênh truyền thông và sự phản hồi

Trong truyền thông có sự trao đổi thông tin hai chiều, có sự chuyển đổi vai trò: người gởiđồng thời cũng là người nhận Sự phản hồi trong truyền thông giúp thông tin trao đổiđược chính xác hơn

Về mặt hình thức có hai kiểu truyền thông:

1. Truyền thông trực tiếp: được thực hiện giữa người với người, mặt đối mặt

2. Truyền thông gián tiếp: được thực hiện thông qua các phương tiện truyền thôngnhư sách báo, loa, radio, TV…

Trang 12

2. Truyền thông cho cá nhân

3. Truyền thông cho nhóm

4. Truyền thông đại chúng

3. Mục đích, vai trò của truyền thông trong phát triển văn hoá và vận động các nhóm

và cộng đồng

3.1. Vai trò của văn hóa đối với phát triển kinh tế

Thứ nhất: Văn hóa và kinh tế có mối quan hệ biện chứng với nhau.

Kinh tế là kết quả của văn hóa và văn hóa cũng là kết quả của kinh tế Thực tiễn ngày càng cho thấy văn hóa không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị Văn hóa không chỉ là mục tiêu, động lực mà nằm ngay trong quá trình phát triển kinh tế Mỗi nấc thang của tăng trưởng kinh tế, tạo ra bước phát triển mới về văn hóa; văn hóa phát triển lại thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Thứ hai: Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, là động lực, mục tiêu phát triển

kinh tế

Văn hóa là mục tiêu của kinh tế, vì phát triển kinh tế để phát triển con người Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, con người được hạnh phúc và phát triển toàn diện Vì vậy, văn hóa đóng vai trò là mục tiêu trước mắt và lâu dài của sự phát triển kinh tế.

Văn hóa ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế trước hết vì nó là nền tảng tinh thần, động lực và thông qua mục tiêu cứu cánh mà nó đặt ra cho tất cả chiến lược,

kế hoạch phát triển kinh tế: Mọi kế hoạch phát triển kinh tế đều phải hướng đến mục tiêu cao nhất là đảm bảo yêu cầu cơ bản nhất là bảo vệ con người, phục vụ con người, nâng cao chất lượng cuộc sống con người Bất cứ chính sách, biện pháp kinh

tế nào về sản xuất, luu thông hay phân phối, về giá, lương, sản phẩm hàng hóa đều phải thực hiện mục tiêu cao nhất đó yêu cầu cơ bản đó, tức là vì chính lợi ích của con người.

Để kinh tế bền vững phải có một mô hình tăng trưởng xuất phát từ văn hóa và bằng tố chất văn hóa, đó là nguồn nhân lực chất lượng cao Bằng nguồn tài nguyên quý nhất, vốn quý nhất là con người, chúng ta có thể làm chủ được khoa học và công nghệ, tạo ra sức mạnh tác động vào hoạt động kinh tế theo chiều sức mạnh thúc đẩy.

Thứ ba: Văn hóa thúc đẩy kinh tế tăng trưởng ổn định

Văn hóa phát triển tương xứng là cơ sở cho phát triển kinh tế một cách toàn diện Văn hóa và tăng trưởng kinh tế là mối quan hệ đa chiều Mỗi chiều cạnh của

Trang 13

quan hệ này có thể phát huy khả năng của mình, nhưng các chiều cạnh đó lại có mối quan hệ mật thiết với nhau, cùng lúc phát huy nhiều năng lực khác nhau Với luận điểm này, văn hóa thể hiện trước hết thông qua chức năng xây dựng con người, bồi dưỡng nguồn lực con người về trí tuệ và tâm hồn, năng lực, sự thành thạo, tài năng, đạo đức, nhân cách, lối sống của cá nhân và cộng đồng chính vì thế mà văn hóa sẽ là điều kiện không thể thiếu để thúc đẩy kinh tế phát triển ổn định Thiếu một nền tảng tinh thần tiến bộ, lành mạnh sẽ không có sự phát triển kinh tế bền vững.

3.2 Vai trò của văn hóa đối với phát triển xã hội

Thứ nhất: Hệ giá trị văn hóa điều tiết, cải biến sự phát triển của xã hội

Điều tiết xã hội: Với hệ giá trị tốt đẹp chân thiện mỹ của mình, văn hóa luôn làm tròn trách nhiệm của mình đối với việc điều tiết sự vận hành của xã hội.

Cải biến xã hội: ứng với nó là văn hóa chính trị, văn hóa pháp quyền, văn hóa quản lý xã hội, văn hóa dân chủ, văn hóa công dân, văn hóa giao tiếp, văn hóa ứng xử, văn hóa đối thoại, văn hóa lối sống và nếp sống, văn hóa giáo dục, văn hóa môi trường…

Văn hóa góp phần giữ ổn định xã hội trong giai đoạn phát triển bền vững hiện nay.

Điều quan trọng nhất khi nói văn hóa là nền tảng tinh thần bởi văn hóa có chức năng định hình các giá trị, chuẩn mực trong đời sống xã hội, chi phối các hành

• của mỗi người và toàn xã hội Với tính lịch sử, các giá trị, chuẩn mực đó được truyền bá, lưu giữ, chắt lọc và phát triển trong tiến trình lịch sử của dân tộc, trở thành

hệ thống các giá trị đặc trưng cho một dân tộc, bao gồm chính trị, đạo đức, luật pháp, khoa học, văn học, nghệ thuật, các thể chế, thiết chế văn hóa, tập quán, lối sống, tạo nên cái cốt, cái hồn, bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc Chẳng hạn, khi nói bản sắc văn hóa của con người Việt Nam, chúng ta đặt lên hàng đầu lòng yêu nước với những khía cạnh như yêu quê hương, xứ sở; lấy dân làm gốc; trân trọng lịch sử, văn hóa dân tộc; bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ; chiến đấu vì độc lập, tự do Những giá trị

đó là truyền thống văn hóa tốt đẹp được truyền bá, kế thừa và phát triển từ thế hệ này sang thế hệ khác trong tiến trình lịch sử của dân tộc.

Thứ hai: Văn hóa là nguồn lực mạnh mẽ cho sự phát triển xã hội

Chìa khóa của sự phát triển, cũng như phát triển bền vững bao gồm những nhân tố như: Nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, nguồn khoa học công nghệ, nguồn lực con người, trong đó nguồn lực con người đóng vai trò chủ chốt Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam đã nêu lên 8 nguyên tắc chính cần thực hiện trong quá trình phát triển, thì quy nguyên tắc đầu tiên được nêu

ra đầu tiên là con người, nguồn lực con người có vai trò quyết định, đây là chìa khoá của mọi chìa khoá Con người là trung tâm của phát triển bền vững Đáp ứng ngày

Trang 14

càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh là nguyên tắc quán triệt nhất quán trong mọi giai đoạn phát triển.

Vì vậy có thể nhận thấy việc xây dựng con người mới, có đủ phẩm chất, năng lực đạo đức, vừa hồng vừa chuyên là rất cần thiết trong quá trình phát triển bền vững.

Thứ ba: Hệ Giá trị văn hóa tốt đẹp của văn hóa tác động mạnh đến quá trình phát triển xã hội trong giai đoạn phát triển bền vững.

Sức mạnh đại đoàn kết dân tộc để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Tinh thần nhân văn nhân đạo xây dựng một xã hội toàn diện hơn.

3.3 Vai trò của văn hóa đối với bảo bệ môi trường

Thứ nhất: Văn hóa xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên

là vấn đề chính cần quan tâm để đảm bảo tốt nhất môi trường sống của con

Văn hóa Việt Nam gắn với văn minh nông nghiệp, từ trước đến nay, người Việt Nam đã có mối liên hệ đặc biệt , phụ thuộc vào tự nhiên Vì vậy, con người có mối quan hệ gắn bó vô cùng mật thiết với tự nhiên Tự nhiên chính là môi trường sống của con người Môi trường sống không chỉ cung cấp những điều kiện cơ bản cho con người sinh hoạt như: ăn, mặc, ở… Như vậy, có thể nhìn nhận thấy tầm quan trọng của môi trường tự nhiên đối với con người Trong quá trình phát triển bền vững, vô tình sự phát triển kinh tế xã hội đã làm tổn hại đến môi trường tự nhiên Điều này sẽ đe dọa đến sự sống của con người Con người luôn nhận thức rõ mối quan hệ hài hòa của mình với tự nhiên Cần phải giữ gìn và bảo vệ tài nguyên là vấn

đề cấp bách để có thể phát triển bền vững.

Thứ hai: Xây dựng con người tự ý thức, tự giác đối với việc bảo vệ môi trường

là vai trò quan trọng của văn hóa.

◦ Việt Nam, vấn đề môi trường và ảnh hưởng của nó đến phát triển con người đang trở thành thách thức Ô nhiễm trên quy mô rộng, suy thoái cục bộ, có dấu hiệu khủng hoảng môi trường do quá trình phát triển ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế, coi nhẹ bảo

vệ môi trường đang trở thành những rào cản lớn đối với sự phát triển của chính con người Việt Nam – được hiểu như quá trình không ngừng mở rộng cơ hội và nâng cao năng lực lựa chọn cho con người Thứ nhất, sức khỏe, tính mạng người dân bị đe dọa trực tiếp do tình trạng nhiễm khuẩn không khí, đất, nước, thực phẩm, bùng phát dịch bệnh Thứ hai, suy thoái môi trường làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên tái sinh nuôi sống con người như biển, sông, hồ, đất màu, rừng, v.v Thứ ba, bất bình đẳng xã hội gia tăng do những doanh nghiệp gây ô nhiễm tạo ra chi phí kéo theo về bệnh tật, giảm thu nhập lên những người khác, đặc biệt là nhóm yếu thế như người nghèo, dân

Trang 15

cư các vùng sâu, vùng xa, người dân tộc thiểu số… Thứ tư, khủng hoảng môi trường, thiên tai bùng phát, biến đổi khí hậu đe dọa an ninh, tính mạng và tài sản của con người Chính vì vậy xây dựng ý thức tự giác của con người đối với việc bảo vệ môi trường chiếm vị trí quan trọng hàng đầu đến sự sống còn của con người Văn hóa xây dựng ý thức tự giác của con người, trước hết bởi chức năng nhận thức của nó Con người là trung tâm của văn hóa, tất cả hành vi, hoạt động của con người đều liên quan đến văn hóa Văn hóa tạo dựng cho con cách ứng xử thân thiện với môi trường trên cơ sở đổi mới tư duy, cách làm, hành vi ứng xử, ý thức trách nhiệm với thiên nhiên, môi trường trong xã hội và của mỗi người dân Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao hiểu biết, xây dựng các chuẩn mực, hình thành ý thức, lối nghĩ, cách làm, hành vi ứng xử thân thiện với thiên nhiên, môi trường.

• Thay đổi văn hóa và phát triển văn hóa

Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thụ tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình Văn hoá Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc

Trong thời đại Hồ Chí Minh, với đường lối đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta, văn hoá Việt Nam tiếp tục được phát huy, đã góp phần quyết định vào những thắng lợi to lớn của nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”, là sự nghiệp xây dựng và sáng tạo to lớn của nhân dân ta, đồng thời là một quá trình cải biến xã hội sâu sắc, đòi hỏi phát huy khả năng và trí tuệ ở mỗi con người Việt Nam Sự thay đổi cơ cấu kinh tế, kết cấu xã hội, nhu cầu tăng nhanh về văn hoá, v.v là những yếu tố làm thay đổi nhiều mặt đời sống văn hoá dân tộc.

Những thành tựu của cách mạng khoa học - công nghệ thế giới cùng với việc

mở rộng giao lưu quốc tế là cơ hội để chúng ta tiếp thụ những thành quả trí tuệ của loài người, đồng thời cũng đặt ra những thách thức mới trong việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.

Tình hình đó đòi hỏi Đảng ta có phương hướng chiến lược cùng các nhiệm vụ

và giải pháp để lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền văn hoá nước ta theo đúng cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng

Trang 16

4 Quản lý Nhà nước về truyền thông và phát triển văn hóa cộng đồng

4.1 Nhận thức chung về vai trò, vị trí của công tác quản lý văn hóa cộng đồng.

4.1.1.Tình hình chung

Hiến pháp năm 1992 nhấn mạnh trách nhiệm của Nhà nước trong việc “thống nhất quản

lý sự nghiệp văn hóa” Cùng với việc kế thừa bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, Nhà nước chophép phát triển đa dạng văn hóa nghệ thuật dưới các hình thức Nhà nước, tập thể, tư nhântrong đó khuyến khích hoạt động văn hóa nghệ thuật quần chúng, nhằm góp phần tạo ra mộtđời sống văn hóa tinh thần trong sáng lành mạnh, phong phú và đa dạng, có nội dung nhânđạo, dân chủ, tiến bộ

Từ sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhất là từ sau Đại hội Đảng Toàn quốc lầnthứ VI, hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng đã trở thành một phong trào rộng rãi vàmạnh mẽ Hoạt động này tập trung chủ yếu vào một số mảng như sau: Xây dựng nếp sốngvăn hóa, đọc và làm theo sách, xây dựng nhà truyền thống, nhà văn hóa giáo dục cộng đồng,văn nghệ không chuyên, câu lạc bộ sở thích, lễ hội, vui chơi, du lịch, thể thao quần chúng…Nhà nước bao cấp 100% các hoạt động văn hóa, nghệ thuật nói chung, văn hóa văn nghệquần chúng nói riêng Từ việc cấp phát kinh phí để xây dựng phong trào, xây dựng các thiếtchế văn hóa như cung văn hóa, nhà văn hóa, sân khấu ngoài trời, rạp bãi chiếu phim đến cáctrang bị kỹ thuật từ nhỏ đến lớn, từ thô sơ, truyền thống đến điện tử, hiện đại…Một kinh phíkhông nhỏ nữa cho đào tạo, bồi dưỡng, hội thi, hội diễn, hoạt động kỳ, cuộc trong tháng,trong quý và nuôi bộ máy cán bộ, nhân viên, khen thưởng, thù lao

Với đầu tư triệt để của nhà nước, chúng ta đã gặt hái được những giá trị văn hóa, vănnghệ không nhỏ đó là các phong trào khắp nơi ca hát, phong trào “tiếng hát át tiếng bom”trong kháng chiến chống thực dân đế quốc, phong trào nếp sống văn minh, gia đình văn hóa,phong trào người tốt, việc tốt, “nói lời hay làm việc tốt”…cùng với đó còn là việc ra đờinhững thiết chế, công trình văn hóa với những trang thiết bị hiện đại dưới sự điều hành củamột đội ngũ cán bộ văn hóa các cấp, thực hiện thường xuyên và liên tục các nghiệp vụ chiếnlược về văn hóa-thông tin, tuyên truyền, vận động của Đảng và Nhà nước

Tuy nhiên, trong cơ chế kinh tế cũ ấy, hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng đã làmột gánh nặng trên đôi vai Nhà nước Nhất là vào giai đoạn cả đất nước vừa bước ra khỏicuộc chiến tranh dài và khốc liệt Tất thảy mọi chi phí cho xây dựng, hoạt động, duy trì vàphát triển phong trào quần chúng rộng lớn và đa dạng này đều từ túi Nhà nước bỏ ra

Chính vì thế, để bớt gánh nặng và phù hợp với xu thế phát triển của xã hội Nhà nước đãkịp thời có chủ trương xã hội hóa các hoạt động văn hóa

Trong cơ chế kinh tế thị trường, hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng tất yếu phảichịu những ảnh hưởng và phải tự tìm những biện pháp cho phù hợp để từng bước thích nghivới đặc điểm của cơ chế kinh tế mới

Trang 17

Với chức năng, nhiệm vụ quản lý văn hóa đã được thực hiện, lúc này hoạt động quản lývăn hóa càng có vai trò, vị trí quan trọng và lớn lao hơn.

- Quản lý văn hóa thúc đẩy con người nói riêng và xã hội nói chung phát triển với mụctiêu chân-thiện-mỹ, công bằng, dân chủ, văn minh Tất cả những giá trị của quản lý văn hóađều lấy mục tiêu chiến lược là của dân, do dân, vì dân Mỗi công dân đều có quyền được sángtạo ra giá trị văn hóa vật thể và tinh thần Được hưởng thụ và truyền đạt những giá trị văn hóa dochính mình làm ra và của cả cộng đồng

- Quản lý là làm cho tốt đẹp hơn sự nghiệp văn hóa, văn nghệ quần chúng nhất là tronggiai đoạn cả nước trong cơ chế kinh tế thị trường nhiều tiềm năng, thuận lợi, thành công vàcũng lắm khó khăn, rủi ro, mất mát

- Quản lý văn hóa, văn nghệ quần chúng góp phần vào sự nghiệp xây dựng đời sống vănhóa ở cơ sở, xây dựng con người mới, xây dựng một xã hội con người được giải phóng, nhândân lao động làm chủ đất nước, ra sức học tập và lao động, sáng tạo dựng xây đất nước Tiếntới một đất nước phát triển, giàu mạnh, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong

đó mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, công bằng, dân chủ, đoàn kết, bình đẳng

và hữu nghị quốc tế

4 2 Những rào cản của công tác quản lý văn hóa cộng đồng.

Hai rào cản lớn đó là:

a) Những tiêu cực trong đời sống xã hội

Trung tâm của sự phát triển rầm rộ và ganh đua trong nền kinh tế thị trường là vòngxoáy của trào lưu làm giàu Có nhiều cách làm giàu nhưng không phải ai cũng giàu bằng trítuệ, sức lực, tài năng của mình

- Khắp nơi trong cả nước đang đẩy mạnh phong trào tu sửa, khôi phục lại các công trình tínngưỡng: nhà thờ, đình, chùa, đền miếu với các hoạt động cúng lễ hội hè

Nhờ có nhiều điều kiện thuận lợi trong cuộc sống hơn vài chục năm trước đây, cho nênvào mùa hội lễ hay những ngày lễ trong tháng, nhân dân nô nức mua sắm lễ vật trảy hội và

Trang 18

dâng lễ vào cửa thánh, cửa phật Có không ít những người đến cửa phật không phải vì tínngưỡng mà để lợi dụng tín ngưỡng làm điều bất chính, để lừa lọc, để cờ bạc đỏ đen, buôn thầnbán thánh, lôi kéo người hành lễ vào con đường mê tín dị đoan, bói toán nhảm nhí…

Cùng với những tiêu cực trên, trong xã hội còn biết bao nhiêu tiêu cực khác nữa Nhiềunam nữ, thanh thiếu niên lao vào lối sống thác loạn Gia đình bố mẹ giàu lên thì mải mê ănchơi Gia đình bố mẹ nghèo khó thì phẫn trí làm liều Bao gia đình lâm vào cảnh đau thương,tan cửa nát nhà, cha bỏ con, vợ giết chồng, con cái hư hỏng Bên cạnh đó nhiều cơ sở dịch vụvăn hóa có hoạt động thiếu lành mạnh như truyền bá băng hình kích động bạo lực, đồi trụy.Nhiều quán karaoke trá hình mại dâm, nhiều quán internet, vũ trường sàn nhảy có hoạt độngbất hợp pháp…

Những sự thực đau lòng trên là mặt trái của xã hội Từ khi đất nước bước sang kinh tếthị trường, nó đã thực sự trở thành mảng đen tối trên bộ mặt văn hóa của đất nước, nó trởthành hiểm họa, thành nỗi lo của mỗi người dân, thành vật cản của đời sống văn hóa và sựnghiệp xây dựng đất nước, gia đình ấm no, giàu mạnh

b) Những khó khăn, hạn chế về hoàn cảnh khách quan và dân trí

Song song với những tiêu cực xã hội còn có những khó khăn về hoàn cảnh khách quan

và những hạn chế về nhận thức, về dân trí ở các vùng miền góp phần làm vật cản cho công tácquản lý văn hóa, văn nghệ quần chúng

- Về những khó khăn:

Trước hết phải nêu ra những khó khăn khách quan như điều kiện địa lý, điều kiện thiên

nhiên, môi trường, điều kiện lịch sử với phong tục tập quán, tín ngưỡng

Ở mỗi vùng quê, mặc dù đã có nhiều sự đầu tư của nhà nước, song nhiều nơi điện,đường, trường, trạm vẫn còn thiếu hoặc chưa đồng bộ, dân cư thưa thớt, núi cao, suối sâucách trở, các hoạt động văn hóa, văn nghệ của nhà nước ít đến được thường xuyên, đều đặn

Có nơi thiếu thốn hoàn toàn những hoạt động này Hoạt động tự thân cũng không có

Việc phát rừng làm rẫy bừa bãi gây ra thảm cảnh lũ quét mỗi khi mưa bão, nhà cửa lợn, gà

có khi cả con người bị cuốn theo dòng nước Không những thế còn mất theo các công trình vănhóa xã hội công cộng hoặc đường xá cầu cống cũng bị mất theo, gây nhiều trở ngại khó khăn chođời sống Các trang thiết bị của nhà văn hóa xuống cấp, hư hỏng do điều kiện bảo quản kém, khíhậu ẩm ướt mà lại ít được quan tâm, sử dụng Các khó khăn trở ngại liên tiếp, làm cho con ngườikhông kịp khắc phục

- Về những hạn chế

Ở những thành phố, những vùng kinh tế phát triển, tư tưởng “tiền là tất cả”, “tiền là trênhết” vẫn ngự trị trong đầu của nhiều người Tư tưởng ganh đua, ”thị phú khinh bần” lan rộngtới từng làng quê Dòng họ này ganh đua với dòng họ kia, xây dựng lăng bia, cúng giỗ sao to,

Trang 19

đẹp, hoành tráng hơn Từ đó, nhiều hủ tục cũ sống lại trong đời sống xóm thôn mỗi khi machay, cưới hỏi…

Ở nhiều nơi vẫn tồn tại cách nghĩ, cách làm xưa cũ, lạc hậu Nhiều người ngây thơ, nhẹ

dạ, dễ dàng nghe theo kẻ xấu xúi bẩy, lôi kéo gây ra chia rẽ, mất đoàn kết giữa vùng xuôi vớimiền núi, giữa dân tộc này với dân tộc kia Nhiều người tái mù chữ, nhiều con em vùng sâu,vùng xa không đến trường…tạo nhiều phức tạp cho chính quyền cơ sở trong quá trình lãnhđạo, quản lý nhằm nâng cao dân trí, nâng cao dần đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào

BÀI 2 : LẬP KẾ HOẠCH VÀ THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG TRUYỀN

THÔNG TRONG PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG

1 Các bước lập kế hoạch cho chương trình/ hoạt động văn hoá cộng đồng

1.1 Khái niệm về Kế hoạch:

Kế hoạch được hiểu là một tập hợp những hoạt động được sắp xếp theo lịch trình, có nội dungchương trình, thời hạn, nguồn lực, ấn định những mục tiêu cụ thể, xác định phương án triển khai và định hướng phát triển các hoạt động văn hoá, thể thao, gia đình và du lịch của từng địa phương, nhằm đạt được các mục tiêu chủ yếu đã đề ra Kế hoạch hay, có chất lượng là kế hoạch sát với nhu cầu thực tế khách quan, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết của cấp

Uỷ, Hội đồng nhân dân và UBND xã đối với các hoạt động này

1.1.1 Nội dung của kế hoạch bao gồm các yếu tố sau:

- Xác định mục tiêu, yêu cầu công việc (Vì mục đích gì phải làm công việc này? Côngviệc này mang lại lợi ích gì?)

- Xác định nội dung công việc ( Nội dung công việc đó là gì?)

- Xác định mức độ công việc ( Quan trọng, không quan trọng, khẩn cấp )

- Xác định cách thức thực hiện công việc (Làm bằng cách nào?)

- Xác định phương pháp kiểm soát, kiểm tra ( Ai kiểm tra, kiểm tra tổng thể hay kiểm tratừng bộ phận trọng yếu của công việc?)

- Xác định nguồn lực thực hiện ( Nhân lực, vật lực và tài lực?)

- Xác định thời gian, thời hạn công việc (Khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc?)

- Xác định địa điểm (Làm ở đâu ?)

1.1.2 Phân loại Kế hoạch:

a) Kế hoạch ngắn hạn

Trang 20

Kế hoạch ngắn hạn thường được giới hạn từ 3 tháng đến 6 tháng hoặc 1 năm và chia nhỏ

kế hoạch ra theo ngày, tuần, tháng, quý, 6 tháng, cả năm Kế hoạch ngắn hạn thường có mốiquan hệ hữu cơ với kế hoạch trung hạn và dài hạn Đây là dạng kế hoạch mang tính thực tế và

có những nhiệm vụ cụ thể

b) Kế hoạch trung hạn và dài hạn

Kế hoạch trung hạn và dài hạn là dạng kế hoạch có mục tiêu và thời gian thực hiện từ 3 đến 5 năm,mang tính tổng hợp, cần phải huy động và sử dụng các nguồn lực để tham gia thực hiện

1.2 Kế hoạch quản lý và kế hoạch tổ chức các hoạt động văn hóa

Xây dựng Kế hoạch quản lý và Kế hoạch tổ chức các hoạt động văn hóa có cơ sở khoa học,đạt chất lượng cao bao giờ cũng mang lại hiệu quả thiết thực cho đời sống văn hóa tinh thần củanhân dân Đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng đối với cán bộ công chức văn hóa-xãhội xã

Thông thường cứ mỗi khi người cán bộ công chức văn hóa-xã hội xã làm tốt công tácquản lý thì bao giờ cũng khởi đầu bằng việc xây dựng được kế hoạch hay, có chất lượng, sát vớithực tế Mối quan hệ giữa kế hoạch và quản lý là mối quan hệ biện chứng, hữu cơ, khắng khítvới nhau không thể tách rời Do đó, để công tác quản lý có hiệu quả, đòi hỏi người cán bộ côngchức văn hóa-xã hội xã phải có kỹ năng xây dựng kế hoạch quản lý và kế hoạch tổ chức cáchoạt động văn hóa

Kế hoạch Quản lý và Kế hoạch Tổ chức có vai trò và tầm quan trọng như một kim chỉnam hướng các hoạt động văn hóa ở mỗi địa phương đi đúng quan điểm, đường lối, chủtrương, chính sách của Đảng và Pháp luật của Nhà nước; Đồng thời còn là động lực thúc đẩycác hoạt động này phát triển đi lên trong hiện tại cũng như tương lai Với vai trò là người

“giúp Ủy ban nhân dân xã trong việc quản lý và tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, vănhóa văn nghệ quần chúng, các câu lạc bộ, lễ hội truyền thống, bảo vệ các di tích lịch sử vănhóa, danh lam thắng cảnh ở địa phương, điểm vui chơi giải trí và xây dựng nếp sống vănminh, gia đình văn hóa, ngăn chặn việc truyền bá tư tưởng phản động, đồi trụy dưới hình thứcvăn hóa, nghệ thuật và các tệ nạn xã hội khác ở địa phương” người cán bộ công chức văn hóa-văn hội xã cần phải nắm vững và sử dụng thành thạo các quy trình về việc xây dựng Kế hoạchQuản lý, Kế hoạch Tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch

2 Quy trình xây dựng kế hoạch quản lý các hoạt động văn hóa

Quản lý các hoạt động văn hóa là hoạt động có ý thức nhằm sắp xếp, tổ chức, chỉ huy,điều hành, hướng dẫn thực hiện, kiểm tra quá trình diễn ra các hoạt động văn hóa, thể thao,gia đình và du lịch trên địa bàn sao cho đúng với quan điểm đường lối, chủ trương chính sáchcủa Đảng và pháp luật của Nhà nước, định hướng phát triển kinh tế-xã hội của địa phương,

Trang 21

phù hợp với đời sống văn hóa và thuần phong mỹ tục của dân tộc nhằm nâng cao đời sốngtinh thần cho nhân dân

2.1 Quy trình xây dựng kế hoạch quản lý ngắn hạn (hằng năm).

Hàng năm, cán bộ công chức văn hóa-xã hội xã cần lập một bảng Kế hoạch Quản lý cáchoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch trên địa bàn xã có nội dung cụ thể để tham mưucho UBND xã quản lý tốt các hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch trên địa bàn xã.Trong bảng Kế hoạch Quản lý cần nắm vững các hoạt động mang tính truyền thống, thườngniên hoặc mới phát sinh, trên cơ sở đó lên phương án quản lý nhằm tổ chức thực hiện các hoạtđộng ấy đạt chất lượng và hiệu quả cao

Bước 1: Lập bảng kế hoạch quản lý

Để lập bảng kế hoạch quản lý các hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch tại địaphương một cách bài bản và khoa học, người cán bộ công chức-văn hóa, xã hội xã cần phải tiếnhành khảo sát, thống kê số lượng các hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch mangtính truyền thống, thường niên hoặc mới phát sinh trong những năm gần đây theo trình tự thờigian cụ thể trong năm, mỗi hoạt động đều phải có đầy đủ các thông tin thiết yếu sau đây:

1 Tên hoạt động; Chủ thể tổ chức hoạt động

2 Thời gian tổ chức hoạt động: Ghi rõ ngày, tháng, năm, đến ngày, tháng, năm

3 Chủ thể tổ chức: (Ai là người tổ chức, cá nhân, tập thể, Ban quản lý)

(Ví dụ; Lễ Hội Tháp Bà PONAGA Nha Trang diễn ra từ ngày, tháng năm, đếnngày, tháng, năm… do Ban quản lý Tháp Bà tổ chức)

4 Địa điểm hoạt động: Ghi địa điểm cụ thể (xã, thôn, đội, ấp, làng …)

5 Ý nghĩa, mục đích, nội dung, hình thức và quy mô hoạt động

6 Các loại hình hoạt động:

- Lễ hội truyền thống; Lễ hội dân gian; Lễ hội Tôn giáo

- Hội thi, hội diễn văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao quần chúng

- Các giải thể thao quần chúng: Bóng đá, bóng bàn, cầu lông, vật, kéo co, đá gà…

- Các giải văn hóa, văn nghệ quần chúng (ca hát, múa, vẽ, kể chuyện, ngâm thơ, diễnkịch gia đình, nuôi con khỏe, dạy con ngoan, ông bà cha mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền

- Lịch mời đoàn văn nghệ chuyên nghiệp, đội chiếu bóng lưu động

- Các hội nghị tôn vinh những người tốt, việc tốt, những người có mô hình làm nôngnghiệp giỏi, những người có nhiều đóng góp xây dựng đời sống văn hóa - xã hội ở địaphương…

Trang 22

- Các diễn đàn quảng bá tuyên truyền về sức khỏe sinh sản, sức khỏe giới tính, phòngchống HIV/AIDS, phòng chóng ma túy, mại dâm, bạo lực gia đình và các tệ nạn xã hội khác

- Các sự kiện quảng bá tuyên truyền về việc lập Quỹ khuyến học Phát động phong tràothi đua khen thưởng, tôn vinh các em học sinh, sinh viên ở xã có nhiều thành tích trong họctập và trao học bổng cho các em

- Phối hợp với Ban Văn hóa xã, Ban chỉ đạo toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống vănhóa, tổ chức Hội nghị quán triệt và động viên quần chúng nhân dân thực hiện nếp sống vănminh trong việc cưới, việc tang và lễ hội

- Các hoạt động dịch vụ văn hóa, dịch vụ du lịch phục vụ đời sống văn hóa - xã hội tạiđịa phương

-Các hoạt động thông tin tuyên truyền quan điểm đường lối của Đảng và Chính sáchPháp luật của Nhà nước tại địa phương

- Phát động phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, gia đình, thôn,xóm, ấp, bản, làng, xã văn hóa

- Các hoạt động khác thuộc lĩnh vực văn hóa, thể thao gia đình và du lịch mới phát sinhtại địa phương vào những năm gần đây…

Bước 2: Lập báo cáo tổng thể trình UBND xã xem xét phê duyệt

Sau khi hoàn thiện bảng kế hoạch quản lý, cán bộ công chức văn hóa - xã hội xã có tráchnhiệm lập bản báo cáo tổng thể Kế hoạch quản lý các hoạt động trong năm trình UBND xãxem xét phê duyệt, trên cơ sở đó triển khai thực hiện

Bước 3: Xây dựng phương án quản lý

Căn cứ vào mục đích, ý nghĩa, nội dung, hình thức, quy mô tổ chức và tầm quan trọngcủa mỗi hoạt động mà xây dựng phương án quản lý sao cho phù hợp, nhằm đảm bảo an toàncho các hoạt động Trên cơ sở Bảng Kế hoạch quản lý các hoạt động văn hóa, thể thao, giađình và du lịch trong năm đã được UBND xã phê duyệt, người công chức văn hóa-xã hội xãphải có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan đoàn thể có chức năng xây dựng phương ánquản lý cho từng hoạt động trình UBND xã phê duyệt để triển khai thực hiện Làm được điều

đó mới có thể chủ động xử lý và giải quyết kịp thời mọi tình huống phức tạp nảy sinh ởnhững nơi đông người mà chúng ta thường gặp như: Mất an ninh trật tự, say xỉn, đánh lộn,cướp giật, và các tệ nạn xã hội khác …

Đồng thời tích cực tham mưu đề xuất các phương án quản lý tối ưu nhằm hạn chế tiêucực, phòng chống tệ nạn xã hội, bảo vệ vệ sinh môi trường, giữ gìn an ninh trật tự, giúp cho cácchủ thể tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu của kế hoạch hoạt động đề ra

Trang 23

3 Quy trình xây dựng Kế hoạch quản lý trung hạn và dài hạn (3 đến 5 năm).

Đối với các địa phương, đây là dạng kế hoạch trung hạn và dài hạn cần phải có phân

kỳ, phân hạn, xác định tiến độ thực hiện cụ thể theo từng năm và tổng thể 3 hoặc 5 năm; Đòihỏi người cán bộ công chức văn hóa-xã hội xã phải có trình độ xây dựng kế hoạch 3 năm hoặc

5 năm cụ thể, rõ ràng nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản đã đề ra Nội dung kế hoạch tổngthể 3 năm hoặc 5 năm cần quan tâm đến những hoạt động tiêu biểu của từng năm Thôngthường là những sự kiện tổ chức trọng điểm phục vụ nhiệm vụ chính trị theo năm chẵn, nhằmphát huy sức mạnh của toàn đảng, toàn quân và toàn dân cùng nhau chung sức chung lòng,phát huy truyền thống cách mạng xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp Hoặc tổ chức các

Lễ hội dân gian, Lễ hội truyền thống có tác động to lớn và ảnh hưởng sâu sắc đến tình cảm và

tư tưởng của nhân dân trong thời kỳ hội nhập và phát triển đất nước Mặt khác cũng có thểxây dựng kế hoạch 3 năm hoặc 5 năm trên tinh thần định hướng cho sự phát triển, vận độngmọi nguồn lực xã hội cùng tham gia …

Từ kết quả của việc khảo sát, nắm vững số lượng và chất lượng các hoạt động văn hóa, thểthao, gia đình, du lịch được tổ chức thường niên hoặc mới phát sinh vào những năm gần đây trênđịa bàn xã, căn cứ trình tự thời gian các hoạt động diễn ra hàng năm, căn cứ vào chiến lược xâydựng và phát triển kinh tế-xã hội 5 năm của địa phương, khi xây dựng kế hoạch quản lý 3 nămhoặc 5 năm đối với các hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch, yêu cầu người cán bộcông chức xã hội xã phải có trình độ nhận định, phân tích, đánh giá hoạt động nào gắn liền vớicác sự kiện chính trị, kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, dân tộc, hoạt động nào hướng tới mụcđích quảng bá tuyên truyền các thế mạnh của địa phương, để chủ động xây dựng phương án quản

lý Để việc xây dựng kế hoạch quản lý các hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch từ 3năm đến 5 năm đạt kết quả tốt, người cán bộ công chức văn hóa-xã hội xã cần phải nắm vữngquy trình xây dựng kế hoạch quản lý tổng thể có thời hạn từ 3 đến 5 năm theo các bước sau:

Bước 1: Xây dựng bảng kế hoạch quản lý trung hạn và dài hạn

Nhận định, phân tích, đánh giá, chọn lựa và xác định những hoạt động văn hóa, thể thao,gia đình và du lịch trọng tâm của từng năm, trên cơ sở đó xây dựng bảng kế hoạch quản lýtổng thể từ 3 năm đến 5 năm để tham mưu cho UBND xã Các yếu tố để nhận xét, đánh giá,chọn lựa và xác định các hoạt động trọng tâm:

1.1 Mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết của hoạt động,

1.2 Chủ thể quản lý

1.3 Hoạt động thuộc lĩnh vực gì?

1.4 Tên của hoạt động

1.5 Nội dung, hình thức, quy mô

1.6 Mục tiêu đề ra:

Trang 24

1.7 Khó khăn, thuận lợi, nguồn nhân lực, nguồn kinh phí.

1.8 Kế hoạch và tiến độ triển khai thực hiện theo từng năm

Bước 2: Phân loại các loại hình hoạt động tiêu biểu từng năm, và bất cứ loại hình nào

cũng lần lượt theo các trình tự sau đây mà xây dựng kế hoạch tổng thể 3 năm hoặc 5 năm

a) Các hoạt động văn hóa

Ví dụ:

- Năm 2011: Dự kiến tập trung tổ chức những hoạt động văn hóa tiêu biểu gì? Nhữnghoạt động văn hóa tiêu biểu ấy có giá trị gì về việc quảng bá tuyên truyền và phát huy các thếmạnh của địa phương? Dự kiến kế hoạch quản lý, kèm theo các phương án quản lý

- Năm 2012: Dự kiến tập trung tổ chức những hoạt động văn hóa trọng tâm gì? Nhữnghoạt động ấy có giá trị thúc đẩy đời sống tinh thần và vật chất của người dân trong thời kỳ xâydựng nông thôn mới? Dự kiến kế hoạch quản lý, kèm theo các phương án quản lý

- Năm 2013: Dự kiến tập trung tổ chức những hoạt động văn hóa quan trọng gì? Nhữnghoạt động ấy hướng tới việc huy động mọi nguồn lực xã hội để xây dựng quê hương ngày cànggiàu đẹp? Dự kiến kế hoạch quản lý, kèm theo các phương án quản lý

- Năm 2014: Dự kiến tập trung tổ chức những hoạt động văn hóa tiêu biểu gì? Những hoạtđộng tiêu biểu ấy có giá trị gì cho sự phát triển kinh tế văn hóa- xã hội ở địa phương? Dự kiến kếhoạch quản lý, kèm theo các phương án quản lý

- Năm 2015: Dự kiến tập trung tổ chức những hoạt động văn hóa trọng tâm gì? Nhữnghoạt động trọng tâm ấy có tác dụng gì đến niềm tự hào của xứ sở quê hương? Dự kiến kếhoạch quản lý, kèm theo các phương án quản lý

b) Các hoạt động gia đình:

Ví dụ:

- Năm 2011: Dự kiến tập trung tổ chức những hoạt động lĩnh vực gia đình tiêu biểu gì?Những hoạt động gia đình tiêu biểu ấy có giá trị gì về việc phòng chống bạo lực gia đình, xâydựng gia đình văn hóa? Dự kiến kế hoạch quản lý, kèm theo các phương án quản lý

- Năm 2012: Dự kiến tập trung tổ chức những hoạt động Gia đình trọng tâm gì? Nhữnghoạt động ấy có giá trị thúc đẩy đời sống tinh thần và vật chất của người dân trong thời kỳ xâydựng nông thôn mới? Dự kiến kế hoạch quản lý, kèm theo các phương án quản lý

- Năm 2013: Dự kiến tập trung tổ chức những hoạt động Gia đình quan trọng gì? Nhữnghoạt động ấy hướng tới việc huy động mọi nguồn lực xã hội để xây dựng quê hương ngày cànggiàu đẹp? Dự kiến kế hoạch quản lý, kèm theo các phương án quản lý

Trang 25

- Năm 2014: Dự kiến tập trung tổ chức những hoạt động Gia đình tiêu biểu gì? Nhữnghoạt động tiêu biểu ấy có giá trị gì cho sự phát triển tình làng, nghĩa xóm và đời sống kinh tếvăn hóa- xã hội ở địa phương? Dự kiến kế hoạch quản lý, kèm theo các phương án quản lý.

- Năm 2015: Dự kiến tập trung tổ chức những hoạt động Gia đình trọng tâm gì? Nhữnghoạt động trọng tâm ấy có tác dụng gì đến niềm tự hào của dòng tộc, xứ sở quê hương? Dự kiến

kế hoạch quản lý, kèm theo các phương án quản lý

Bước 3: Xây dựng phương án quản lý

Xây dựng Phương án quản lý các hoạt động trọng tâm trong bảng kế hoạch quản lý trunghạn và dài hạn đã được UBND xã phê duyệt nhằm mục đích:

- Đảm bảo số lượng, chất lượng nội dung, chương trình, mục tiêu của các hoạt động đã

có trong bảng kế hoạch

- Đưa ra phương án quản lý tối ưu nhằm hạn chế tiêu cực, phòng chống các tệ nạn xãhội, bảo vệ vệ sinh môi trường, giữ gìn an ninh trật tự, giúp cho các chủ thể tổ chức thực hiệnthắng lợi mục tiêu của kế hoạch hoạt động đề ra

- Tổ chức lực lượng quản lý: Công an, dân quân tự vệ thanh niên tình nguyện, các tổchức chính trị, đoàn thể…đảm bảo an toàn

- Tăng cường công tác kiểm tra giám sát các hoạt động diễn ra theo kế hoạch

- Xây dựng các phương án quản lý dự phòng, để kịp thời giải quyết các sự cố bất ngờ cóthể xảy ra như hỏa hoạn, mất điện đột xuất, hư hỏng trang thiết bị, tình trạng cấp cứu, mất anninh trật tự, tai nạn nghề nghiệp …

Quản lý các hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch tại địa phương là trách nhiệmcủa Cấp ủy, chính quyền và toàn thể cộng đồng dân cư sinh sống tại địa phương Người cán bộcông chức văn hóa, xã hội xã không thể một mình mà có thể quán xuyến hết các hoạt động cầnphải quản lý Nhưng cán bộ, công chức xã hội xã có một vị trí và vai trò rất quan trọng là thammưu đề xuất cho cấp ủy và chính quyền địa phương cách thức quản lý các hoạt này sao chongày càng đi vào nề nếp, văn minh, tiến bộ, trên cơ sở kế thừa những giá trị truyền thống tốtđẹp, phát triển đi lên, góp phần thúc đẩy các hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch ởđịa phương phát triển ngày càng phong phú, sinh động và hấp dẫn, phục vụ đắc lực đời sốngtinh thần của quần chúng nhân dân trong thời kỳ xây dựng nông thôn mới, công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước

Muốn làm được điều đó người cán bộ công chức văn hóa-xã hội xã phải tự trang bị chomình những kiến thức hiểu biết cần thiết để có thể phận loại các loại hình hoạt động nêu trênmột cách chính xác, rõ ràng Trên cơ sở đó căn cứ vào nội dung, hình thức và quy mô hoạtđộng tham mưu cho Cấp ủy và chính quyền địa phương loại hình nào Chính quyền địaphương trực tiếp quản lý, loại hình hoạt động nào UBND xã giao cho các tổ chức đoàn thể

Trang 26

chính trị xã hội quản lý, Loại hình nào giao cho các tổ chức xã hội nghề nghiệp quản lý; Loạihình hoạt động nào giao cho các doanh nghiệp quản lý; Loại hình hoạt động nào do chính bảnthân người cán bộ công chức văn hóa-xã hội xã trực tiếp theo dõi và quản lý Kèm theo kếhoạch quản lý các hoạt động này người cán bộ công chức văn hóa- xã hội xã có trách nhiệmcung cấp và hướng dẫn cho các chủ thể quản lý sử dụng các văn bản quy phạm pháp luật củaNhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch ở địaphương ngày càng đạt hiệu quả cao

4 Quy trình xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động văn hóa

Tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch là một trong những hoạt động nhằmbảo vệ, gìn giữ, khai thác và phát triển các hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịchtrên địa bàn xã, trên cơ sở đó quảng bá, giới thiệu, tuyên truyền các giá trị thẩm mĩ, nhân văncủa các hoạt động ấy đến với nhân dân, làm thỏa mãn đời sống tinh thần của nhân dân Đểthực hiện được điều đó người cán bộ công chức văn hóa - xã hội xã cần phải có kỹ năng xây

dựng Kế hoạch Tổ chức các hoạt động hữu ích này một cách bài bản, khoa học

Để xây dựng Kế hoạch Tổ chức đạt hiệu quả cao cần phải xác định được mục tiêu, mục

đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của việc tổ chức, trên cơ sở đó đề ra những quyết định đúngđắn về việc chọn lựa các phương án và các giải pháp tổ chức triển khai thực hiện mang tính

khả thi cao Xây dựng Kế hoạch Tổ chức cần nắm vững các bước sau:

Bước 1: Tìm hiểu nội dung hoạt động

Tìm hiểu, nghiên cứu và xác định nội dung hoạt động sắp tổ chức? Thuộc lĩnh vực nào?Nhằm mục đích ý nghĩa gì? Đối tượng hoạt động là ai? Hoạt động được tổ chức thường niênhay hoạt động mới? Ai là chủ thể đứng ra tổ chức: Chính quyền địa phương, doanh nghiệp,đoàn thể hay cá nhân tổ chức? Nội dung, quy mô, hình thức tổ chức? Mục tiêu tổ chức?

- Đối với hoạt động được tổ chức thường niên

Cần nghiên cứu ưu khuyết điểm và những bài học kinh nghiệm của việc tổ chức hoạtđộng này được rút ra từ năm trước, căn cứ vào đời sống kinh tế xã hội và tình hình thực tiễn

của địa phương, xác định phương án xây dựng Kế hoạch Tổ chức sát với nhu cầu thực tế.

Tham mưu, đề xuất, xin ý kiến chỉ đạo của ủy Ban Nhân Dân xã, trên cơ sở đó hướng dẫn chủthể tổ chức hoặc trực tiếp đứng ra tổ chức hoạt động sao cho chất lượng, hiệu quả của hoạtđộng của năm nay tiến bộ hơn năm trước

- Đối với hoạt động mới

Cần xem xét nghiên cứu toàn bộ kế hoạch, nội dung chương trình, kịch bản tổ chức cáchoạt động mới do Chủ thể tổ chức xây dựng có ảnh hưởng gì đến phong tục tập quán, đời sốngvăn hóa tinh thần của nhân dân địa phương hay không? Nếu là hoạt động có tài trợ thì cần xácđịnh xem đối tượng tài trợ là ai? Quyền lợi Nhà tài trợ như thế nào? Hoạt động được tổ chức có

Trang 27

làm ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của dân tộc hay không? Mang lại lợi ích tinh thần vàvật chất như thế nào cho quần chúng nhân dân ở địa phương?

Nhận xét, đánh giá ưu điểm, khuyết điểm của kế hoạch, kịch bản, nội dung chương trình tổchức do chủ thể tổ chức xây dựng Nếu thấy có điều gì bất cập, trực tiếp góp ý và hướng dẫn chủthể tổ chức chỉnh sửa bổ sung hoàn thiện Kế hoạch Tổ chức Báo cáo xin ý kiến chỉ đạo và quyếtđịnh của UBND xã

Bước 2: Xây dựng kế hoạch tổng thể

Từ mục đích, ý nghĩa, nội dung hoạt động chuẩn bị tổ chức xác định mục tiêu của hoạtđộng đó, tiến hành xây dựng kế hoạch tổng thể, có sự sắp xếp, bố trí hợp lý và khoa học chotừng loại công việc Cần phải xác định rõ chủ đề của từng loại hình hoạt động mà trọng tâm lànội dung, hình thức và quy mô của kế hoạch tổ chức: Phong trào văn hóa văn nghệ quần

chúng, Lễ hội dân gian hay giải đua thuyền truyền thống… Đối với hoạt động được tổ chức

mới cần phải được quan tâm đến quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của Nhà tổ chức đối vớichính quyền địa phương

Bước 3: Xây dựng kế hoạch chi tiết, phân chia tiến độ triển khai thực hiện hoạt động

từ đầu cho đến khi kết thúc

Đây là công cụ giúp cho việc kiểm tra, giám sát tiến độ triển khai thực hiện các công việc

có hiệu quả nhất Đảm bảo cho những người thực hiện các công việc trong cùng một kế hoạchtổng thể không để bất cứ một giai đoạn nào của công việc bị trễ hạn, hoặc kém chất lượng, từ

đó gây ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến chất lượng các công việc khác trong cùng một Kếhoạch tổng thể

Bảng kế hoạch về tiến độ triển khai thực hiện sự kiện không chỉ là một bảng danh sách thậtdài với những công việc cần phải làm mà nó còn là một thời khóa biểu liệt kê những công việcchủ yếu, thời gian thực hiện được miêu tả phân tích một cách cụ thể, để các thành viên tham giathực hiện dễ dàng

Bước 4: Tổ chức hoạt động

- Thành lập Ban Tổ chức (cân nhắc các thành viên tham gia sao cho chính xác và đầy đủ)

- Lên kế hoạch tiến độ thời gian cho hoạt động và thực hiện kế hoạch tiến độ thời giancủa hoạt động ấy một cách chính xác

Hãy cân nhắc cách sắp xếp các công việc sao cho hợp lý, khoa học Thông thường cónhững công việc bắt buộc cần phải có thời gian, cũng có những công việc khẩn cấp, nhữngcông việc tịnh tiến theo lộ trình, những công việc cần phải làm ngay mà không cần có quỹ thờigian để thực hiện Vấn đề quan trọng là Ban tổ chức phải xác định được công việc nào cần phảilàm trước, công việc nào giải quyết sau Việc giải quyết các công việc có khoa học sẽ tiết kiệm

Trang 28

được thời gian và nâng cao chất lượng các công việc Ngược lại sẽ làm hạn chế hiệu quả củacông việc

- Phân chia thời hạn cho mỗi công việc trong kế hoạch tổng thể

Có những việc cần phải làm trước, nếu không sẽ gây đình trệ đến những công việc khác.

Trong khi thời gian và nguồn lực có hạn Ban tổ chức cần phải sắp xếp công việc theo thứ tự

ưu tiên để giải quyết trước Ví dụ cần phải lên kế hoạch cụ thể, chi tiết cho nội dung chươngtrình, gửi giấy mời tới đại biểu trước một tuần, thông báo trên phương tiện truyền thông của

xã, hoặc làm áp - phích quảng cáo hay pa - nô treo tại những địa điểm dễ thu hút sự chú ý củacông chúng trước một tuần, hay nửa tháng diễn ra hoạt động…

- Xây dựng kịch bản chương trình, nội dung cụ thể cho hoạt động

Các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch được tổ chức thường mang các màu sắc riêngbiệt khác nhau đôi khi hòa nhập với nhau tạo thành một hoạt động lớn mang màu sắc phongphú, đa dạng

Để phân biệt trong việc tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch tạimỗi địa phương, tạo ra sự phong phú, sinh động, hấp dẫn cuốn hút người dân trong việc tổchức, cán bộ công chức văn hóa - xã hội xã căn cứ mục tiêu chương trình, thời gian tổ chứcchương trình, quy mô chương trình để xây dựng kịch bản nội dung chương trình

Xây dựng kịch bản chương trình cho mỗi hoạt động phải súc tích, diễn đạt ngắn gọn,hàm chứa nhiều ý nghĩa văn hóa, nhân văn nhưng phải mang sắc thái riêng, đặc trưng củahoạt động đó…

- Phân công, phân nhiệm cho các thành viên trong Ban Tổ chức sao cho phù hợp vớitrình độ, năng lực của từng người

Vì quỹ thời gian có hạn, Ban tổ chức sẽ không cùng một lúc làm được tất cả mọi công việccần làm Vì vậy điều cần thiết là phải biết phân chia công việc cho các thành viên trong Ban tổchức rành mạch, rõ ràng, tránh sự chồng chéo, ảnh hưởng đến công việc chung Cũng có nhữngthành viên năng lực hạn chế, thực hiện công việc không đạt yêu cầu… Nhưng sẽ thật lãng phí vàsai lầm nếu Trưởng Ban tổ chức ôm đồm quá nhiều việc, thậm chí phải ngồi xếp từng gói quà hayghi từng tờ giấy mời trong khi việc của Trưởng ban cần làm là theo dõi, quản lý, giám sát, đônđốc tiến độ thực hiện kế hoạch của các thành viên để không có hạng mục nào, nhân sự nào đichệch hướng ra khỏi kế hoạch đã xác định

- Lập phương án dự phòng và phương án giải quyết các sự cố bất ngờ có thể xảy ra

Các vấn đề hỏa hoạn, mất điện đột xuất, hư hỏng trang thiết bị, tình trạng cấp cứu, mất

an ninh trật tự, tai nạn nghề nghiệp… Đó là những vấn đề thường hay gặp phải trong quá trình

tổ chức triển khai thực hiện các sự kiện Người cán bộ công chức văn hóa-xã hội xã khi tổ

Trang 29

chức các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch trên địa bàn xã cần phải lưu ý tính đến cácphương án dự phòng, để kịp thời giải quyết các sự cố bất ngờ có thể xảy ra.

- Dự kiến về tài chính cho hoạt động chuẩn bị tổ chức

Cần phải dự kiến về tài chính và lên dự toán cho các hoạt động chuẩn bị được tổ chức tạiđịa phương Đặt câu hỏi về tài chính lấy từ nguồn nào? Có cá nhân, đơn vị, tập thể nào hỗ trợ,tài trợ hay không? Dự kiến về tài chính là một khâu vô cùng quan trọng trong quá trình tổ chứccác hoạt động văn hóa, thể thao, gia đình và du lịch tại địa phương, nếu không dự kiến đượcnguồn tài chính dù có kế hoạch tốt, kịch bản hay các hoạt động cũng không thể tổ chức được

- Lên danh sách khách mời

Cần lên danh sách khách mời ngay từ khi dự định tổ chức hoạt động, hoạt động chuẩn bịđược tổ chức phù hợp với đối tượng khách mời nào, với giới nào? Độ tuổi nào? Lên danhsách khách mời được coi là khâu khá quan trọng trong quá trình tổ chức, nếu các hoạt độngđược tổ chức mà không có khách mời tham dự thì tổ chức cho ai? Tổ chức để làm gì?

- Dự kiến số người tham dự

Căn cứ vào mục tiêu, mục đích, ý nghĩa, nguồn tài chính, danh sách khách mời của hoạtđộng dự định tổ chức, người cán bộ công chức văn hóa-xã hội xã cần phải hình dung và dựkiến được số người tham dự, ví dụ: Dự định tổ chức hoạt động A sẽ thu hút trên 1.000 ngườitham dự, thì địa điểm tổ chức không thể là nhà văn hóa xã, thôn hoặc nếu chỉ có 100 ngườiquan tâm thì việc tổ chức hoạt động tại một sân vận động có sức chứa 10.0000 người là một

sự lãng phí cực độ… càng dự đoán chính xác số lượng người tham dự bao nhiêu thì việc tổchức các hoạt động càng có cơ hội để thành công bấy nhiêu

- Đốc thúc, kiểm tra lại toàn bộ các công việc đã được phân công cho các thành viêntrong Ban Tổ chức, tiến hành lắp ráp các chương trình theo Bảng tiến độ công việc đã lập Trong các thành viên của Ban Tổ chức cũng có người có đặc tính chần chừ, do dự chờđến gần hết thời gian mới thực hiện công việc được phân công, làm cho Ban tổ chức phải lolắng Ví dụ thứ 4 này họ được giao phải hoàn thành Maket trang trí hội trường phục vụ hộinghị Hội Phụ nữ trước ngày thứ 2 tuần sau, thì họ không làm ngay mà đợi đến sát ngày đómới làm Vì vậy kết quả là họ làm ẩu, Ma két trang trí kém chất lượng, có nhiều lỗi, cần phảichỉnh sửa, mất quá nhiều thời gian, công sức… Việc này có nhiều nguyên nhân, có thể do họbận rộn quá nhiều công việc gia đình, hoặc do họ tự tin vào năng lực của chính họ, hay đơngiản hơn là họ có cá tính thích chần chừ Bất luận như thế nào thì đó là một cá tính và thóiquen xấu Hãy kiểm tra giám sát và có biện pháp khắc phục những cá tính và thói quen xấu ấycủa các thành viên cùng tham gia trong Ban tổ chức (nếu có) để công việc được thuận lợi

- Tiến hành tổ chức hoạt động

- Kết thúc hoạt động

Trang 30

Bước 5 Kết thúc hoạt động

Ban Tổ chức họp để nhận xét đánh giá ưu khuyết điểm và mức độ thành công hay thất bạicủa hoạt động đó Rút ra những bài học kinh nghiệm từ những việc làm được đến những việcchưa làm được Lập Báo cáo gửi UBND xã kết quả của hoạt động Báo cáo cần nêu rõ ưu điểmnổi bật và những hạn chế cần phải khắc phục, kèm theo là những kiến nghị, đề xuất (nếu có)

5 Nhiệm vụ, yêu cầu của công tác thông tin, tuyên truyền, cổ động

5.1 Nhiệm vụ chủ yếu của công tác thông tin, tuyên truyền, cổ động

- Trực tiếp tổ chức thực hiện nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền, cổ động bằng hệ thốnghoạt động của ngành với các phương pháp, nghiệp vụ và các hình thức sinh động phù hợpđiều kiện, đặc thù của địa phương góp phần hướng dẫn tư tưởng, hành động của quần chúngthực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà Nước phục vụ nhiệm vụ chính trịcủa trung ương và địa phương

- Phản ảnh các hoạt động của quần chúng, các điển hình tiêu biểu trong phong trào thiđua trên các lĩnh vực hoạt động xã hội trên địa bàn Phản ánh tâm tư, nguyện vọng của quầnchúng đến các cơ quan quản lý giúp Đảng và Nhà nước đề ra hoặc điều chỉnh các chủ trương,chính sách phù hợp lợi ích của đất nước, của tập thể, của nhân dân lao động

- Kịp thời làm sáng tỏ quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước thích hợp với điều kiện địa phương, phổ biến các biện pháp quản lý chỉ đạo thực hiệncủa chính quyền địa phương

- Chống mọi âm mưu "diễn biến hoà bình", xuyên tạc của kẻ thù, của các thế lực phảnđộng và các hành động chia rẽ đoàn kết dân tộc, tôn giáo gây mất lòng tin của dân với Đảng

và Nhà nước, phá hoại sự nghiệp cách mạng

- Biểu dương các điển hình trong phong trào thi đua yêu nước, lao động sản xuất, bảo vệ

an ninh tổ quốc, tạo sự phấn khích cách mạng trên mọi lĩnh vực đời sống Phê phán các biểuhiện tiêu cực, nếp làm, nếp nghĩ lạc hậu, mê tín dị đoan

- Góp phần xây dựng đức tính tốt đẹp của con người, xây dựng và phát triển nền văn hoáViệt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

- Đảm bảo giữ gìn bí mật quốc gia, giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phát huy sứcmạnh quần chúng, nêu cao tinh thần sáng tạo và trách nhiệm của cá nhân, của cộng đồngnhằm xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa

- Hướng dẫn các đơn vị, tập thể, cá nhân sử dụng có hiệu quả các phương tiện thông tinđại chúng góp phần mở rộng phạm vi tác động của công tác thông tin, tuyên truyền, cổ độngrộng rãi và hiệu quả

5.2 Yêu cầu đối với công tác thông tin, tuyên truyền, cổ động

Trang 31

Công tác thông tin, tuyên truyền, cổ động phải đảm bảo và đáp ứng các yêu cầu sau:

- Tính Đảng, tính tư tưởng

- Tính chân thật, chính xác

- Tính thiết thực, cụ thể

- Tính rõ ràng, dễ hiểu

- Tính nhanh nhạy, kịp thời, thường xuyên liên tục

Các yêu cầu này cũng là tính chất của công tác thông tin, tuyên truyền, cổ động, bất kỳphương thức thông tin nào cũng phải vận dụng

5.3 Thông tin, tuyên truyền, cổ động bằng tin tức

Các phương thức phổ biến, truyền tải tin tức như: đài phát thanh, truyền thanh; các trạm,bảng tin; các phương tiện thông tin đại chúng; các chương trình hoạt động của đội thông tinlưu động, sinh hoạt cộng đồng…

Thông tin, tuyên truyền, cổ động là quá trình nắm bắt thông tin, sản xuất tin và truyền tinđến đối tượng và công chúng

Sơ đồ: Hệ thống công tác thông tin, tuyên truyền, cổ động

Cơ quan Đảng Chính Phủ

Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể

- Bộ Văn hóa-Thể thao-Du lịch;

Bộ Thông tin - Truyền thông

- Các cơ quan thông tấn và báochí của TW và chính phủ

- Tạp chí của các Bộ và cơ quanngang Bộ

- Đài truyền hình VN, Đài tiếngnói Việt Nam

- Các vụ-cục chức năng (Cục tưtưởng văn hóa, Cục văn hóa,Cục báo chí, Cục xuất bản…)

- Các nhà hát, Đoàn nghệ thuậ,

- Vụ tư văn hóa

tưởng Báo, tạp chí

- Trường nghiệp

vụ ngành

Trang 32

- Nhà xuất bản

Chính trị-Sự thật

Quốc gia

Bưu chính- Viễn thông

- Nhà xuất bản, Thư viện quốcgia và các thư viện chuyênngành

- Nhà triển lãm, các Hãng phim(hãng phim thời sự, tài liệu,khoa học…)

- Trung tâm/Nhà văn hóa, Nhàthông tin… Thư viện, cửa hàngsách báo

- Các đoàn nghệ thuật, ĐộiThông tin Lưu động

- Báo cáo viên

- Phòng Văn hóa, Phòng Thôngtin Thư viện, cửa hàng sáchbáo

- Trung tâm văn hóa, ĐộiThông tin Lưu động

- Cụm cổ động, pano, rạp-bãichiếu phim

-Xã

Phường

Thị trấn

- Ban tuyên giáo

- Đài truyền thanh

- Ban văn hóa-xã hội

- Trung tâm/Nhà văn hóa, ĐộiThông tin, Thư viện, Quầy sáchbáo

- Đội văn nghệ không chuyên,

Trang 33

-Các cơ sở Trường học, ĐồnBiên phòng, cơ quan đơn vịtrên địa bàn.

- Trạm bảng tin, cụm pano, Bưuđiện và Điểm Bưu điện Vănhóa xã, Điểm internet

- Sân bãi sinh hoạt văn hóa, thểthao

-Vai trò, vị trí công tác thông tin, tuyên truyền, cổ động rất quan trọng, rất rõ ràng Vì vậy,

Chính phủ đã có Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010 nằm trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2010 Quyết định của Thủ tướng chính phủ số 219/2005/QĐTTg

ngày 9/5/2005 đã chỉ rõ: Phát triển và hiện đại hoá mạng lưới thông tin đại chúng, nâng caochất lượng các sản phẩm, dịch vụ phát thanh, truyền hình, báo trí, xuất bản Đến năm 2010hoàn thành cơ bản việc phổ cập các phương tiện phát thanh, truyền hình đến mỗi gia đình.Phát triển các điểm văn hoá kết hợp hệ thống bưu cục khắp các xã trong nước Dùng tiếng nóidân tộc và chữ viết của các dân tộc có chữ viết trên các phương tiện thông tin đại chúng ởvùng đồng bào dân tộc Theo tinh thần này Nhà nước sẽ phát triển các loại thông tin sau:

- Thông tin qua báo chí in, thông tin qua sách, thông tin qua phát thanh, thông tin truyềnmiệng, thông tin qua truyền hình, thông tin qua điện ảnh

- Mức hưởng thụ bình quân đầu người 10 bản báo/người/năm; sách là 5bản/người/năm; tỷ lệ phim truyện Việt Nam chiếu trên truyền hình 60%; 100% gia đình ởđồng bằng có phương tiện nghe nhìn; 100% gia đình miền núi có phương tiện nghe hoặc nhìn

6 Cổ động trực quan và vị trí, tác dụng của nó trong công tác tuyên truyền

6.1 Khái niệm cổ động trực quan

Cổ động trực quan là những phương pháp, hình thức tác động trực tiếp vào giác quan,chủ yếu vào mắt con người, tạo nên ấn tượng về một vấn đề nhất định theo mục đích màngười tuyên truyền, cổ động muốn truyền đạt tới làm cho họ hiểu và làm theo Chỉ thị

Trang 34

118CT/TW ngày 23-12-1965 của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về công tác thông tin,

cổ động đã nhấn mạnh tới việc cải tiến và làm tốt một số hình thức cổ động trực quan như:

- Bảo đảm phổ biến những khẩu hiệu về nhiệm vụ chính của Đảng và Nhà nước bằngnhiều hình thức trong quần chúng

- Nâng cao và phát triển các loại tranh cổ động, ảnh tuyên truyền, tổ chức triển lãm đểkịp thời phổ biến các nhiệm vụ chính của Đảng và Nhà nước

- Phát triển đèn chiếu, phổ biến rộng rãi những phim thời sự và tài liệu ở cơ sở

Nhờ tính chất cụ thể, sinh động của nó thông tin cổ động trực quan có sức thuyết phụclôi cuốn mạnh mẽ quần chúng, nhất là đối với nông dân Nó có tác dụng trực tiếp hướng dẫnngười ta làm theo, thúc giục người ta hành động, nó gắn công tác tuyên truyền, cổ động vớicông tác tổ chức hành động

Chỉ thị 07/CT-TW ngày 19-3-1977 của Ban bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt

Nam nhấn mạnh: "Phải đưa các hình thức cổ động trực quan, đặc biệt là triển lãm lên vị trí rất quan trọng Đi đôi với những hoạt động nhỏ, nhẹ, lưu động hình thành dần hệ thống nhà thông tin, nhà triển lãm, hệ thống khẩu hiệu, biểu ngữ, tranh tượng cổ động gắn liền với việc xây dựng những trung tâm và công trình văn hoá Tổ chức những cuộc tham quan ở những nơi có kinh nghiệm sản xuất tiên tiến, những di tích lịch sử và cách mạng Đẩy mạnh hoạt động đèn chiếu, phổ biến rộng rãi ảnh tuyên truyền, phim thời sự và phim tài liệu khoa học kỹ thuật Từng đợt tổ chức các đợt thi đua, thi sản phẩm, giới thiệu kinh nghiệm sản xuất, quản lý, các buổi mừng công, lập công có ý nghĩa cổ động mạnh mẽ và giải trí lành mạnh".

6.2 Một số loại hình cổ động trực quan chủ yếu 1

Chỉ có Trung ương Đảng, Đảng uỷ các cấp mới có quyền đề ra khẩu hiệu trong phạm

vi lãnh đạo của Cấp uỷ Đảng Các ngành, các đoàn thể đề ra khẩu hiệu cho ngành, đoàn thểmình nhưng phải được Trung ương Đảng và Cấp uỷ Đảng (nếu là địa phương) thông qua

11 - Nguyễn Phan Ngọc - Cục văn hoá thông tin cơ sở: Công tác thông tin cổ động Triển lãm- Nxb

Hà Nội 1997

Trang 35

Trong quá trình hành động cách mạng, quần chúng tích cực thường nêu ra những khẩuhiệu để động viên cổ vũ lẫn nhau Vì thế, cơ quan thông tin-cổ động phải giúp (tham mưu)Cấp uỷ Đảng kịp thời nắm bắt, uốn nắn và chỉ đạo Ví dụ: trong chiến dịch Điện Biên Phủ,

anh chị em dân công có câu hò: "Đèo cao thì mặc đèo cao, tinh thần tiếp vận còn cao hơn đèo" Đảng uỷ Vận tải Tiền phương đã nhanh chóng nắm bắt, phổ biến thành khẩu hiệu cổ động

trên toàn tuyến đường vận tải

a Phân loại khẩu hiệu

- Khẩu hiệu kêu gọi: Tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân!

- Khẩu hiệu có tính chất khẳng định, khẩu hiệu có tính chất câu hỏi, khẩu hiệu khêu gợinhẹ nhàng cổ động cho một việc, khẩu hiệu có tính chất chỉ đạo…

- Khẩu hiệu chào mừng: Tinh thần ngày Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9 muôn năm!

Nhưng nói chung, căn cứ vào thực tiễn, chỉ nên phân thành 2 loại khẩu hiệu:

- Loại khẩu hiệu chiến lược để lâu dài, nêu vấn đề chung trong cả giai đoạn cách mạng

(mục tiêu cơ bản và thường là khẩu hiệu tuyên truyền nhưng cũng có cả khẩu hiệu hành động)như:

Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm!

Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm!

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!

- Loại khẩu hiệu chiến thuật thường là khẩu hiệu cổ vũ hành động một vấn đề cụ thể, chỉ

đưa ra trong một thời kỳ ngắn, rồi phải thay đổi kịp thời (mục tiêu trước mắt) Nhưng đôi khicũng có cả khẩu hiệu tuyên truyền Khẩu hiệu cổ động phải thật ngắn, thật rõ ràng, thật dễnhớ, nên cô đúc một mục tiêu, một công việc cụ thể thiết thực

- Khẩu hiệu cổ động: Ra sức hoàn thành kế hoạch Nhà nước năm 2011.

Khẩu hiệu tuyên truyền (thường là khẩu hiệu chào mừng các ngày kỷ niệm lớn, chào

mừng khách nước ngoài đến): Nhiệt liệt chào mừng Ngày Quốc khánh 2-9-2011.

b Cách viết, kẻ, treo và hô khẩu hiệu

Với khái niệm khẩu hiệu như đã nêu ở trên không phải khẩu hiệu nào cũng có thể dùng

để hô khi mít tinh, khi diễu hành Có khẩu hiệu để kẻ trên pa-nô, trên tường, có khẩu hiệu để

hô hoặc vừa để kẻ vừa để hô, có khẩu hiệu lại chỉ để in trên báo hoặc truyền đơn, áp phích Không phải khẩu hiệu nào cũng cần kẻ và nhiều khẩu hiệu không dùng để hô được Khẩu hiệu

được chọn để kẻ cần viết đủ và viết đúng, không được sai sót Phải nghiên cứu cách trình bày, sắp xếp để nhấn mạnh được ý chính quan trọng.

Trang 36

- Về kỹ thuật: Chữ thẳng hàng trên một dòng kẻ, chữ kiểu đứng thì vuông góc với dòng kẻ,

chữ kiểu nghiêng thì đều trên dòng kẻ Khẩu hiệu có chữ số thì chữ số cùng kiểu kiểu chữ, đặtdấu đúng trọng tâm Cần có khoảng cách chung nhất định giữa các chữ trong một từ, giữa từ nàyvới các từ khác và giữa các chữ trong khẩu hiểu

- Về bố cục chữ: Phần chữ nằm gọn trong phần nền và chiếm một tỷ lệ thích hợp, cân

đối, hài hoà với phần nền Ví dụ:

- Dấu đặt đúng trọng âm: THANH HÓA

- Dấu đặt không đúng trọng âm: THANH HOÁ

- Một số kiểu chữ số đơn giản, dễ đọc:

+ Phần chữ không cân đối (nhỏ quá) với phần nền, ngắt câu không hợp lý, khoảng cách

giữa các chữ trong một từ, giữa các từ không thống nhất

TOÀN DÂ N ĐOÀN KẾT XÂY D ỰNG ĐỜI SỐNG VĂ N H ÓA

- Màu sắc khẩu hiệu: Dùng màu sắc tươi tắn, rực rỡ có tính tương phản cao để tăng sự

tập trung và làm nổi bật màu chữ với màu nền (ví dụ: nền màu đỏ chữ màu trắng và ngược lại,

Trang 37

nền màu xanh chữ màu trắng và ngược lại ), tuỳ theo nội dung tuyên truyền để chọn màucho thích hợp, không nhất thiết khẩu hiệu nào cũng kẻ, cắt dán chữ màu vàng nền đỏ.

Kẻ khẩu hiệu cần trình bày rõ ràng, giản dị và đẹp để người mới biết chữ đứng ở nơi

xa cũng có thể đọc rõ, đọc đủ khẩu hiệu Khẩu hiệu thấp khiến người đi đường không thể xemđược Khẩu hiệu chi chít, hoặc nối sát nhau liên tiếp vừa ít hiệu quả vừa làm xấu đường phố,cảnh quan Kiểu chữ để kẻ khẩu hiệu trên tường, hay tranh cổ động, triển lãm cần giản dị, dễđọc, thích hợp với tâm lý dân tộc nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số Cho nên người làmcông tác thông tin cổ động phải biết chọn kiểu chữ thích hợp với nội dung và với những đốitượng nhất định

Khẩu hiệu cần được treo đúng chỗ, cất đúng lúc

Những khẩu hiệu chiến lược để lâu dài nhất là khẩu hiệu về Đảng, Nhà nước và Bác

Hồ phải được kẻ to ở những nơi trang trọng, trên các công trình cổ động bền chắc như: bảngtường lớn, tường cao, trên sườn núi hoặc ở tầm cao những công trình kiến trúc công cộng.Khẩu hiệu về Đảng, Bác Hồ viết, treo, dán trong nhà thì phải viết, dán, treo ở trên cao, nơitrang trọng Những khẩu hiệu có giá trị một thời gian ngắn thì chỉ nên kẻ ở mảng tường nhỏ,tốt nhất là kẻ, dán chữ trên pa-nô, trên cót hoặc vải để xoá ngay, cất đi ngay sau khi hết tácdụng

Khẩu hiệu chọn khi mít tinh, diễu hành phải ngắn gọn và chọn để hô cần xem xét kỹ,

dễ hô và không bị hiểu lệch lạc

6.2.2 Biểu ngữ

Biểu ngữ là một đoạn trích ngắn gọn trong các văn kiện tài liệu của Đảng và Nhà nước,trong lời nói của lãnh tụ, ở các tác phẩm kinh điển của các bậc thầy chủ nghĩa Mác-Lênin vàcác danh nhân, anh hùng có nội dung phù hợp nhằm tuyên truyền, cổ động cho một nhiệm vụnhất định

Biểu ngữ có tầm quan trọng như khẩu hiệu Chỉ có Cấp uỷ Đảng chọn cơ quan giúpviệc là Ban tuyên giáo mới có quyền hạn cho phép trích biểu ngữ Cơ quan thông tin ở địaphương giúp Uỷ ban Nhân dân và Cấp uỷ Đảng làm những biểu ngữ tuyên truyền, cổ độngcho nhiệm vụ của địa phương kiểm soát việc viết, treo, dán biểu ngữ và khẩu hiệu ở nơi côngcộng

6.2.3 Tranh cổ động

Tranh cổ động thường gọi là tranh áp phích là một thể loại đặc biệt của nghệ thuật đồ họa

trong nghệ thuật tạo hình, dùng hình vẽ là chính kết hợp với khẩu hiệu làm phương tiện diễn đạt

chủ đề tư tưởng, có thể in ra hoặc sao chép thành nhiều bản mà giá trị vẫn gần như nguyên bản.Trên thế giới, tranh áp phích đã có từ lâu nhằm tuyên truyền, cổ động, quảng cáo cho các hoạtđộng chính trị, văn hoá, thương mại Ở nước ta, tranh cổ động được gắn liền với cách mạng ởViệt Nam, đã có vai trò to lớn, phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ chính trị và cuộc sống của nhân

Trang 38

dân Bức vẽ đầu tiên thuộc thể loại này là tác phẩm "Việt Nam độc lập thổi kèn loa" đăng trên báo Độc Lập năm 1941-1946 của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc Trong suốt quá trình phát triển của Cách

mạng tranh cổ động luôn là vũ khí sắc bén, kịp thời trên mặt trận chính trị tư tưởng của Đảng.Bằng sự rung cảm chính trị sâu sắc, nét bút tài hoa, các hoạ sỹ đã thể hiện lịch sử vẻ vang của dântộc, cổ vũ toàn dân, toàn quân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam lập nên nhữngchiến công huy hoàng trong sự nghiệp đấu tranh dành độc lập thống nhất, xây dựng và bảo vệ Tổquốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Tranh cổ động là một loại hình đã phát triển rộng khắp đi vào cuộc sống và làm tốtchức năng tuyên truyền, cổ động và góp phần thoả mãn một phần nhu cầu trang trí góp phầntừng bước nâng cao trình độ thẩm mỹ của nhân dân

Nguyên tắc chung về ngôn ngữ của tất cả các loại tranh là: màu sắc, đường nét Tranh

cổ động khác các loại tranh khác (sơn dầu, sơn mài, lụa ) ở chức năng của nó nhằm thực hiệnđạt nhất chức năng cổ vũ hành động

Hai loại áp-phích cổ động:

Loại áp-phích cổ động dùng hình vẽ là chính kết hợp với khẩu hiệu có tác dụng làm cho người xem tiếp thu được ngay nội dung chính một cách nhanh nhạy mà ta gọi là tranh cổ động hiện được dùng rất phổ biến trong công tác tuyên truyền ở nước ta.

Loại áp-phích tuyên truyền và giới thiệu tỉ mỉ có tác dụng làm cho người xem hiểu cụthể của một vấn đề Loại áp-phích này thường dán ở trong nhà, trạm thông tin hoặc trong cáchội trường, câu lạc bộ, lớp học

Công trình cổ động ngoài trời hay Cụm cổ động là những tranh hay tượng cổ động

hoặc khẩu hiệu được phóng to trên pa-nô, trên tường Tốt nhất là nên làm từng pa-nô cổđộng, một hoặc hai pa-nô (một pa-nô tranh, một pa-nô khẩu hiệu) ở những nơi đông ngườiqua lại như bến xe, nhà ga hoặc đầu vào hay đầu ra của khu vực địa phận sở tại Cũng có thểlàm thành giàn pa-nô cổ động gồm nhiều tranh cổ động, nhưng tập trung vào một vấn đề

6.2.4 Tranh châm biếm

Tranh châm biếm là một thể loại của ngành đồ hoạ trong nghệ thuật tạo hình, dùng

hình vẽ là chính với đường nét, màu sắc rất đơn giản và cường điệu một cách khái quát nhữngđặc điểm nào đó trong tính cách của con người để gây cười

Tranh châm biếm được dùng phổ biến trong báo chí, bản tin nhằm phê bình một cáchnhẹ nhàng và thân ái một việc làm sai trái nào đó trong cuộc sống

Tranh đả kích cũng là một hình thức trong thể loại tranh châm biếm, dùng phương

pháp cường điệu những tính cách của con người, của một hiện tượng trong cuộc sống để chếdiễu sâu sắc hay phê phán mạnh mẽ không chút thương xót những tính cách xấu, những việclàm xấu, những hiện tượng xấu

Trang 39

6.2.5 Triển lãm

Triển lãm là một hình thức trưng bày có tính nghệ thuật tổng hợp và có hệ thống theo

một nội dung, chủ đề nhất định bằng phương pháp trực quan nhằm tuyên truyền, cổ động,giáo dục quần chúng Triển lãm thoả mãn nhiều đối tượng người xem Nội dung tuyên truyền,

cổ động thâm nhập vào người xem nhẹ nhàng, gây ấn tượng sâu sắc đọng lại được lâu trongtrí óc của họ Triển lãm có thể thay thế một báo cáo tổng kết rất sinh động (vì người xem thấytận mắt, sờ tận tay) và có thể biểu lộ xúc cảm trực tiếp

Hình thức triển lãm phổ biến ở cơ sở và có tác dụng tốt là trưng bày chuyên đề gọi là

triển lãm nhỏ

Triển lãm nhỏ là trình bày một bộ gồm nhiều tờ tranh và ảnh, hoặc một bộ toàn là tranh

hoặc là ảnh được sắp xếp một cách có hệ thống với sự thuyết minh đầy đủ, rõ ràng nhằmtuyên truyền, cổ động cho một chủ đề nhất định Hình thức gọn, nhẹ, rất thích hợp với hoạtđộng thông tin, cổ động ở cơ sở

Bộ triển lãm nhỏ có thể gồm các thể loại: Loại phổ biến khoa học kỹ thuật; Loại kểchuyện về người tốt, việc tốt và phê bình người làm sai, việc làm sai; Loại Thời sự tài liệu

Triển lãm nhỏ chủ yếu tuyên truyền, cổ động cho cái đang làm, sẽ làm, tập trung chủ

đề mới tạo được ấn tượng sâu Mỗi bộ triển lãm chỉ nên có từ 5-7 tờ tranh vẽ và ảnh nhiềunhất là 15 tờ để người thuyết minh cũng dễ thuộc, dễ nắm sâu chủ đề triển lãm

6.2.6 Đoàn cổ động

Đoàn cổ động là dùng một số đông người cùng diễu hành, có thể kèm theo cả việc hôvang các khẩu hiệu nhằm tuyên truyền, cổ động cho một hoạt động nào đó có tính chất độngviên quần chúng sâu rộng nhằm mục đích động viên, cổ vũ mọi người hưởng ứng làm theo.Tuỳ mức độ yêu cầu của công tác tuyên truyền mà chọn phương thức cụ thể tổ chức đoàn cổđộng linh hoạt nhất, tác động tâm lý nhiều nhất và đạt hiệu quả cao nhất

Đoàn cổ động thường diễn ra sau cuộc mít tinh ngắn, rồi tiến hành diễu hành theo một

lộ trình xác định

Về phương tiện: Có thể dùng ô tô, mô tô, xe máy, xe đạp, xích lô thường được trang bị

hệ thống tăng âm, micro, loa có công suất lớn, trang trí tranh (hoặc Pa-nô, áp phích) Cổ động:khẩu hiệu, hoặc bộ triển lãm nhỏ, tài liệu tuyên truyền như truyền đơn, tờ rơi

Về phương thức hoạt động: để gây không khí sôi động thu hút quần chúng nhân dân

tham gia đông đảo thì việc bài trí mỹ thuật rất quan trọng, đoàn cổ động vừa đi vừa hoà nhạc,đánh trống, thanh la, múa kỳ lân, sư tử Nếu phát thanh tuyên truyền thì phải ngắn gọn, rõràng, cho xe dừng ở một điểm nhất định để có hiệu quả cao Đây là một dạng xen kẽ giữatuyên truyền miệng, trực quan, văn nghệ, cổ động nên khi trang trí cần phải tôn trọng luật lệgiao thông, không để cao quá hoặc chờm ra rộng quá làm cản trở giao thông Khi hành tiến

Trang 40

các xe phải giữ đúng cự ly giãn cách để đảm bảo an toàn trong khi làm nhiệm vụ, cần thiếtphải có xe cảnh sát giao thông hỗ trợ.

Các cuộc mít tinh đều do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện theo quy định củapháp luật Cho nên ở nước ta có mít tinh và có đoàn cổ động hoặc diễu hành, nhưng không cóbiểu tình hoặc tuần hành như ở các nước dân chủ tư sản

Nhà thông tin mở cửa hoạt động hàng ngày cho nên cần tạo điều kiện để hoạt động đượcthường xuyên, thông báo quy định giờ mở cửa, đóng cửa Là trụ sở của những người làmthông tin, tuyên truyền, cổ động, nhà thông tin không chỉ phát tin, cung cấp tin mà cần giaolưu, trao đổi kinh nghiệm nâng cao trình độ công tác thông tin, cổ động

6.2.9 Trạm bảng tin

Trạm bảng tin là thiết bị thông tin cổ động tại một vị trí thuận lợi để nhiều người được nhận tin mà ở đó thường xuyên đưa tin bằng cách viết, vẽ hoặc dán các bản tin, bản thông báo hay báo, tranh, ảnh nhằm tuyên truyền cổ động.

Trạm bảng tin thường có ở trụ sở Uỷ ban Nhân dân cấp xã, gắn trên một mảng tường,hoặc xây gạch, hoặc làm bằng thiết bị chuyên dùng có mái che để làm điểm thông tin côngcộng ổn định, đưa những tin, việc công khai rộng rãi cho nhân dân, giúp định hướng dư luận,góp phần tuyên truyền, vận động mọi người hưởng ứng làm theo Ngày nay ở các thành phố

Ngày đăng: 19/03/2021, 22:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w