Xuất phát từ thực tiễn đó, việc tiến hành nghiên cứu thực trạng cấu trúc vốn của tổ chức tài chính vi mô, và đặc biệt tác động của từng nguồn vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội c
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
-
NGUYỄN BÍCH NGỌC
TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN MỨC ĐỘ BỀN VỮNG
VÀ HIỆU QUẢ XÃ HỘI (SPI) CỦA CÁC TỔ CHỨC
TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã ngành: 9 34 02 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Hà Nội, 2021
Trang 2Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp cơ sở vào hồi …… giờ ngày
… tháng … năm … tại Học viện Ngân hàng
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Học viện Ngân hàng
- Thư viện quốc gia
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Yêu cầu nghiên cứu lý luận
Tại các quốc gia trên thế giới và đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, tài chính đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nói chung (Agnello và cộng sự, 2012; Ashta, 2010) và xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh
xã hội nói riêng (Ledgerwood, 2013; Chowdhury, 2009) Tuy nhiên, nếu như mức độ tiếp cận với các dịch vụ tài chính cũng như phạm vi dịch vụ bị hạn chế thì lại có thể kìm hãm sự phát triển của cá nhân, doanh nghiệp, và tỉ lệ người nghèo trong xã hội cũng vì thế mà tăng lên Chính vì vậy phát triển một hệ thống tài chính toàn diện, đáp ứng nhu cầu của tất cả các
cá nhân trong xã hội là mục tiêu mà bất kì nền kinh tế nào cũng muốn hướng tới
Trong xu hướng đó, đối tượng người nghèo, người có thu nhập thấp nhận được sự quan tâm nhiều hơn cả, bởi còn nhiều rào cản như trình độ, mức độ rủi ro hay giới tính… hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính từ khu vực được cấp phép của những đối tượng này Chính vì vậy, vào khoảng thế kỷ thứ 17, tài chính vi mô đã được ra đời nhằm giúp người nghèo dễ dàng tiếp cận hơn với các dịch vụ tài chính Mô hình này sau đó đã nhanh chóng phát triển và lan rộng ra nhiều quốc gia trên thế giới
Cụ thể, qua quá trình hoạt động, số liệu thống kê của Microfinance Barometer cho thấy các tổ chức tài chính vi mô trên thế giới đã cung ứng dịch vụ cho khoảng 136 triệu khách hàng thu nhập thấp vào năm 2016 và 139 triệu khách hàng vào năm 2017 Cũng theo thống kê này, tỉ lệ tăng trưởng về số lượng khách hàng của MFIs cho hai năm 2016 và 2017 lần lượt là 9.6% và 5.6% Như vậy, có thể thấy mặc dù số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ từ các tổ chức tài chính vi mô trên thế giới vẫn đang trên đà tăng trưởng, nhưng tốc độ tăng trưởng đang chậm lại dần Quan trọng hơn, khi so sánh giữa quy mô khách hàng hiện nay của tổ chức tài chính vi mô với tỉ lệ 10.9% người trên thế giới đang phải sống dưới mức thu nhập $2/ngày theo thống kê của tỉ lệ người nghèo trên thế giới vào năm 2018, rõ ràng đối tượng người nghèo được tiếp cận với dịch vụ tài chính vi mô vẫn còn rất nhỏ so với nhu cầu
Chính vì vậy, việc duy trì hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô trong dài hạn để
có thể phục vụ nhiều hơn nữa khách hàng có thu nhập thấp trong tương lai là vấn đề nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Trong đó Crabb (2007); Daher và Le Saout (2013) và Quayes (2015) đều nhấn mạnh đạt được bền vững chính là chìa khóa của vấn đề bởi chỉ khi các tổ chức tài chính vi mô hoạt động bền vững, họ mới có thể phục vụ khách hàng trong một thời gian dài (Rhyne, 1998; Meyer, 2002) và giúp cho khách hàng của họ
Trang 4thoát nghèo một cách bền vững Quan điểm này cũng hoàn toàn đồng nhất với kết luận được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu trong nước như Nguyễn Kim Anh và cộng sự (2013) và Nguyễn Kim Anh và cộng sự (2012) khi các tác giả khẳng định đạt được sự bền vững chính
là cơ sở nền tảng để các tổ chức tài chính vi mô có thể phục vụ thêm được nhiều khách hàng hơn nữa trong tương lai
Tuy nhiên, Ndanyenbah (2017) trong nghiên cứu về sự biến đổi, sụp đổ và bền vững tài chính của MFIs chỉ ra rằng từ những năm 1990 khi mà các nhà tài trợ và Chính Phủ cho thấy không còn đủ nguồn để tài trợ cho người nghèo thông qua hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô, thì cấu trúc vốn đã thực sự trở thành thách thức đối với các tổ chức tài chính
vi mô trên con đường đạt được sự bền vững Điều này đã dẫn tới nhu cầu tìm kiếm các nguồn vốn từ bên ngoài để phục vụ cho hoạt động của MFIs Tuy nhiên, cũng trên con đường thương mại hóa, vấn đề đảm bảo hiệu quả xã hội của MFIs cũng là đề tài được nhiều nhà nghiên cứu lưu tâm, bởi quan điểm hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô đang chịu ảnh hưởng rất lớn từ động lực và mục tiêu của các nhà tài trợ khác nhau (Jasmina Devinck, 2013) Do đó, sự thay đổi trong cấu trúc vốn của MFIs hẳn nhiên có những tác động nhất định đến định hướng phát triển cả về bền vững tài chính và hiệu quả xã hội của các tổ chức tài chính vi mô trong tương lai
1.2 Yêu cầu nghiên cứu thực tiễn
Được hình thành từ khá sớm vào giai đoạn những năm 1980, hoạt động tài chính vi
mô tại Việt Nam đã trải qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển với những thành quả đáng ghi nhận như giá trị tổng tài sản không ngừng tăng lên, số lượng khách hàng được tiếp cận với các dịch vụ tài chính và phi tài chính tại các tổ chức tài chính vi mô cũng tăng trưởng liên tục qua các năm (Lê Văn Luyện, Nguyễn Đức Hải, 2016), công tác triển khai các sản phẩm, dịch vụ như tín dụng, huy động tiết kiệm cũng nhận được đánh giá ngày càng cao từ phía khách hàng (VMFWG, 2017)
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, hoạt động của tổ chính tài chính vi mô tại Việt Nam trong những năm gần đây cũng vấp phải những khó khăn và tồn tại những hạn chế nhất định Cụ thể, thời điểm năm 2010 khi nước ta được cấp phép bước vào hàng ngũ các nước có thu nhập trung bình với nguồn vốn ưu đãi của tổ chức Phi Chính Phủ nước ngoài vào Việt Nam có xu hướng thu hẹp dần, thì việc tìm kiếm các nguồn vốn để duy trì hoạt động của các tổ chức, chương trình, dự án tài chính vi mô bắt đầu trở nên khó khăn hơn Điều này đã tạo nên thách thức cho các tổ chức trong việc phải nhanh chóng thích nghi, và tìm kiếm các nguồn vốn mới thay thế nhằm duy trì hoạt động trong dài hạn Tuy nhiên, để tiếp cận với các nguồn vốn từ thị trường, yêu cầu đặt ra cho các tổ chức là phải đáp ứng các quy định về hoạt động và chế độ tài chính theo yêu cầu của pháp luật – những điều kiện mà
Trang 5không phải trong thời gian ngắn các tổ chức có thể đáp ứng được Bên cạnh đó, đa phần các
tổ chức tài chính vi mô đều chưa có định hướng cụ thể về việc nên lựa chọn và phát triển nguồn vốn nào trong tương lai Chính vì vậy, công tác quản lý và phát triển nguồn vốn phục
vụ cho hoạt động của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam thực sự là một thách thức đối với lãnh đạo của MFIs
Hơn thế nữa, trong bối cảnh nguồn vốn gặp khó khăn, các nhà quản lý của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam còn phải đối mặt với áp lực đảm bảo cân bằng giữa bền vững tài chính và hiệu quả xã hội bởi đây chính là nguồn gốc sức mạnh của ý tưởng về tài chính vi mô (Sinha, 2006) Cụ thể, cũng trong khoảng thời gian từ 2010 trở về đây, số liệu thu thập được từ Danh bạ tài chính vi mô của Nhóm công tác tài chính vi mô Việt Nam cho thấy khả năng bù đắp các chi phí hoạt động từ thu nhập hoạt động của các tổ chức tài chính
vi mô tại Việt Nam đang có xu hướng giảm dần Bên cạnh đó, chỉ số hiệu quả xã hội theo tính toán của tác giả cũng có chiều hướng đi xuống Xuất phát từ thực tiễn đó, việc tiến hành nghiên cứu thực trạng cấu trúc vốn của tổ chức tài chính vi mô, và đặc biệt tác động của từng nguồn vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô để có những định hướng, khuyến nghị phù hợp cho tổ chức tài chính vi mô trong việc lựa chọn và
phát triển nguồn vốn là điều cần thiết Do đó, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài “Tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội (SPI) của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu, khoảng trống trong lĩnh vực nghiên cứu
2.1 Tổng quan nghiên cứu về cấu trúc vốn và mức độ bền vững của tổ chức tài chính vi mô
2.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Các nghiên cứu về tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững của tổ chức tài chính vi mô đã nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu quốc tế; trong đó, các nghiên cứu có thể được thực hiện trong phạm vi một quốc gia hoặc nhiều quốc gia khác nhau
Đại diện cho các nhà nghiên cứu phân tích tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững của MFIs tại nhiều quốc gia khác nhau là Bogan (2012), Iezza (2010), Muriu (2011) và Tehulu (2013) với các kết quả khá đa dạng với tác động của từng cấu phần nguồn vốn (vốn chủ sở hữu, vốn huy động, nợ vay) đến mức độ bền vững là không đồng nhất Tuy nhiên, phần lớn các kết quả đều cho thấy vón huy động có tác động tích cực, trong khi nợ vay có tác động tiêu cực tới mức độ bền vững
Thực hiện nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững chỉ trong phạm vi một quốc gia, kết quả nghiên cứu của Nyamsogoro (2010), Sekabira (2013), Kinde (2012), Kidzuga (2011), Kyereboah – Coleman (2007), Mwizarubi và cộng sự
Trang 6(2015) và Hosain và Asam (2016) cũng không thống nhất bởi những sự khác biệt trong môi trường hoạt động tại mỗi nước Tuy nhiên, phần lớn các kết quả cũng khẳng định vốn huy động từ tiền gửi đóng vai trò tích cực trong thúc đẩy mức độ bền vững của MFIs
2.1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Kế thừa các mô hình nghiên cứu về phân tích về mức độ bền vững của MFIs trên thế giới, các nghiên cứu trong nước cũng đã tiến hành phân tích thực trạng hoạt động của các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô tại Việt Nam bao gồm các tổ chức tín dụng nói chung
và tổ chức tài chính vi mô, tổ chức tài chính vi mô được cấp phép nói riêng Đại diện tiêu biểu cho các nhà nghiên cứu lĩnh vực này trong nước gần đây gồm Đào Lan Phương (2019), Nguyễn Quỳnh Phương (2017) và Phan Thị Hồng Thảo (2019)
Kết quả từ các bài nghiên cứu là khá tương đồng khi cùng chung nhận định vốn chủ sở hữu có tác động thuận chiều đến mức độ bền vững của tổ chức, trong khi vốn vay thì không
Qua phân tích các nghiên cứu trước đây tác giả nhận thấy có một số điểm chính sau:
- Thứ nhất, đa phần kết quả của các nghiên cứu trước đây đều chỉ ra rằng nhóm biến
cấu trúc vốn có tác động mạnh đến mức độ bền vững của các tổ chức tài chính vi mô; tuy nhiên, chiều tác động của các biến về cấu trúc vốn là không tương đồng cũng như không có
sự thống nhất hoàn toàn trong kết quả của các nghiên cứu tại các quốc gia khác nhau Điều này xuất phát từ thực tế khác biệt trong điều kiện kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, cũng như đặc điểm hoạt động của tổ chức tài chính vi mô tại mỗi đất nước Chính vì vậy, việc tập trung nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững của các tổ chức tài chính
vi mô có cùng môi trường hoạt động sẽ giúp nhận diện chính xác hơn chiều hướng tác động
của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững
- Thứ hai, các nghiên cứu ngoài nước đa phần thực hiện nghiên cứu ở phạm vi rộng,
nhiều quốc gia với mỗi quốc gia có những quy định và điều kiện hoạt động tài chính vi mô khác nhau; chính vì vậy, các nghiên cứu chưa đưa ra được các giải pháp, cũng như khuyến nghị phù hợp nhằm cải thiện mức độ bền vững dựa trên nhóm biến về cấu trúc vốn Bên cạnh đó, các nghiên cứu trong nước hiện tại chưa nghiên cứu nào tập trung vào khai thác sâu tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững của tổ chức tài chính vi mô; do đó, việc đưa ra các khuyến nghị phù hợp nhằm thúc đẩy mức độ bền vững dựa trên cấu trúc vốn của
tổ chức còn khá hạn chế
2.2 Tổng quan nghiên cứu cấu trúc vốn và hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô
2.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa đầu tư tư nhân và sự phát triển của tổ chức tài chính vi mô, Bérengère Basset và Julien Lefilleur (2009) nhận định thu hút nguồn vốn từ
Trang 7các nhà đầu tư tư nhân là cần thiết đối với sự phát triển của tổ chức tài chính vi mô Tuy nhiên, các tác giả cũng lưu ý sự can thiệp của khu vực tư nhân đôi khi gây ra những bất lợi trong việc thực hiện sứ mệnh xã hội của MFI Chính vì vậy việc phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả xã hội của MFIs trong đó có cân nhắc tới tác động của cấu trúc vốn cũng đa thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước
Điều đặc biệt là các nghiên cứu nước ngoài nghiên cứu về đề tài này thường được thực hiện trên dữ liệu mẫu tại nhiều quốc gia (Hartarska và Nadolnyak (2007); Khachatryan và cộng sự (2017); Hoque và Chisty (2011); Bogan (2012); Adair và Berguiga (2013), Bibi và cộng sự (2018), Awaworyi và Marr (2012) Chính vì vậy, kết quả tác động cũng khá đa dạng Bên cạnh đó việc lựa chọn biến đại diện cho hiệu quả xã hội của các tổ chức tài chính vi mô cũng không có sự thống nhất giữa các nghiên cứu, khiến cho kết quả cũng tương đối khác biệt
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, các doanh nghiệp bên cạnh việc thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng không ngừng thể hiện sự quan tâm của mình đối với xã hội Đặc biệt, đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa khi số lượng các doanh nghiệp, các công ty đa quốc gia gia nhập vào Việt Nam càng nhiều, thì xu hướng này lại càng được thúc đẩy mạnh
mẽ Tuy nhiên, có phần khác biệt với các quốc gia khác khi hiệu quả xã hội của tổ chức được quan tâm đánh giá trên cả bốn phương diện gồm cải thiện mức độ tiếp cận, chất lượng phục vụ, mang lại lợi ích cho khách hàng và cải thiện trách nhiệm xã hội, thì đa phần các nghiên cứu tại Việt Nam về mảng xã hội của doanh nghiệp mới chỉ trọng tậm vào nội dung
về trách nhiệm xã hội Còn trong lĩnh vực tài chính vi mô, các nghiên cứu về hiệu quả xã hội của MFIs cũng chưa nhiều
Cụ thể, tại Việt Nam các nghiên cứu có đề cập về hiệu quả xã hội của MFIs bao gồm Lebovics và cộng sự (2016) và Phạm Bích Liên (2016) Tuy nhiên, việc đánh giá hiệu quả xã hội mới chỉ dừng lại ở đánh giá dựa trên mức độ tiếp cận, ngoài ra, sự tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả xã hội của chưa được nghiên cứu
Thông qua phân tích các nghiên cứu trước đây tác giả nhận thấy có một số điểm
chính sau:
Thứ nhất, các quan điểm về khái niệm và cách thức đo lường hiệu quả xã hội của tổ
chức tài chính vi mô là khá đa dạng với hai phương pháp đo lường tiếp cận phổ biến là thông qua độ rộng hoặc độ sâu tiếp cận và thông qua bộ chỉ số đánh giá hiệu quả xã hội của
tổ chức Tuy nhiên, mỗi phương pháp tiếp cận đều có những ưu và nhược điểm riêng; do đó, tùy theo điều kiện về sự phù hợp của dữ liệu mà các nhà nghiên cứu lựa chọn phương pháp đánh giá cho phù hợp Tại Việt Nam, các nghiên cứu về đánh giá hiệu quả xã hội của tổ
Trang 8chức tài chính vi mô chưa nhiều; quan trọng hơn, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại đánh giá
hiệu quả xã hội của MFIs thông qua mức độ tiếp cận nên mức độ khái quát hóa chưa cao
- Thứ hai, trong các nghiên cứu về hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô, số
lượng các nghiên cứu chứng minh tác động rõ nét của cấu trúc vốn lên hiệu quả xã hội của MFIs là tương đối nhiều; qua đó, có thể thấy cấu trúc vốn là một trong các biến quan trọng
có tác động đến hiệu quả xã hội của MFIs Tuy nhiên, hầu như chưa có nghiên cứu nào tập
trung nghiên cứu về tác động này tại Việt Nam
2.3 Khoảng trống nghiên cứu
Thông qua việc tìm hiểu các nghiên cứu cả trong và ngoài nước, tác giả rút ra một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, bổ sung khung lý thuyết về hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô
Thứ hai, xây dựng chỉ tiêu đo lường hiệu quả xã hội của các tổ chức tài chính vi mô Thứ ba, bổ sung nghiên cứu về tác động của cấu trúc vốn lên đồng thời cả mức độ
bền vững và hiệu quả xã hội của MFIs
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu tập trung đưa ra các khuyến nghị phù hợp về cấu
trúc vốn của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam để nâng cao mức độ bền vững và hiệu quả
xã hội của các tổ chức này
4 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1 (Q1): Cấu trúc vốn tác động thế nào đến mức độ bền vững của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam?
Câu hỏi 2 (Q2): Cấu trúc vốn tác động thế nào đến hiệu quả xã hội (SPI) của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam?
Câu hỏi 3 (Q3) Các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam nên thay đổi cấu trúc vốn theo hướng như thế nào để đảm bảo được mức độ bền vững và hiệu quả xã hội?
Trang 95 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cấu trúc vốn, mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam
- Tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: cấu trúc vốn, mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của các tổ chức TCVM được cấp phép theo giấy phép của Ngân hàng Nhà nước và các quỹ xã hội hoạt động tài chính vi mô, chương trình tài chính vi mô chuyên trách nhưng chưa đăng kí thành lập tổ chức tài chính vi mô
- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các tổ chức tài chính vi mô được cấp phép theo quy định tại Luật các tổ chức tín dụng 2010 và các quỹ xã hội hoạt động tài chính
vi mô, chương trình tài chính vi mô chuyên trách nhưng chưa đăng kí thành lập tổ chức tài chính vi mô
- Về thời gian:
+ Nghiên cứu thực trạng cập nhật cho giai đoạn 2011 – 2019
+ Đánh giá tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2017 Dữ liệu của đề tài chủ yếu dựa vào dữ liệu thứ cấp được công bố trong ấn phẩm Danh bạ các tổ chức tài chính vi mô được xuất bản bởi Nhóm công tác tài chính vi mô tại Việt Nam; tuy nhiên, tại thời điểm nghiên cứu ấn phẩm mới chỉ công bố dữ liệu đến năm 2017 Chính vì vậy, số liệu sử dụng trong mô hình phân tích tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam chỉ mới cập nhật tới 2017
+ Đề xuất khuyến nghị đến năm 2025
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Thiết kề nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả
xã hội của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam được cụ thể hóa gồm các bước như sau:
Trang 10Sơ đồ 1: Quy trình nghiên cứu
Tổng quan nghiên cứu
Tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của
MFIs
Nghiên cứu lý thuyết
- Thu thập tài liệu về chủ đề nghiên cứu qua sách, báo, hội thảo
- Phân loại, sắp xếp tài liệu theo từng chủ đề
- Tổng hợp thông tin để hình thành khung lý thuyết của luận án
Xây dựng khung lý thuyết của luận án Lực chọn, thiết kế mô hình nghiên cứu phù hợp
Thu thập dữ liệu thứ cấp (VMFWG, The Mix) Thực hiện phỏng vấn chuyên sâu với chuyên gia và lãnh đạo của MFIs
tại Việt Nam
So sánh, phân tích chỉ số - Phân tích hồi quy các nhân tố
ảnh hưởng bằng mô hình FEM
Nghiên cứu thực tiễn
Hoàn thiện nghiên cứu
Khoảng trống nghiên cứu
Xác định chủ đề nghiên cứu
“Tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội (SPI)
của MFIs tại Việt Nam”
Trang 116.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Luận án tập trung khai thác dữ liệu từ hai nguồn chính gồm dữ liệu thứ cấp về MFIs Việt Nam được cung cấp bởi các tổ chức có uy tín, và dữ liệu được thu thập từ quá trình tác giả thực hiện phỏng vấn chuyên sâu với đại diện của các tổ chức tài chính vi mô, cũng như
các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam
Thứ nhất, đối với nguồn dữ liệu thứ cấp, căn cứ vào các nghiên cứu về tài chính vi
mô trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy hai nguồn dữ liệu chính được các nhà nghiên cứu tin dùng là Danh bạ các tổ chức tài chính vi mô Việt Nam được phát hành bởi Trung tâm Tư vấn nguồn lực Tài chính vi mô Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa (tiền thân là Nhóm Công tác Tài chính vi mô Việt Nam – VMFWG) và MIX market – chuyên trang cung cấp dữ liệu về các
tổ chức tài chính vi mô trên thế giới Tuy nhiên, trong thời gian luận án được thực hiện, trang MIX Market đã có sự chuyển đổi trong quản lý dữ liệu về tài chính vi mô sang cho Ngân hàng thế giới; và dự kiến đến cuối năm 2019, bộ dữ liệu này mới được công bố trên trang web được cấp phép của World Bank Do đó, nguồn dữ liệu thứ cấp chính được sử dụng trong nghiên cứu này được thu thập từ Danh bạ các tổ chức tài chính vi mô Việt Nam
Thứ hai, đối với nguồn dữ liệu sơ cấp, tác giả đã tiến hành phỏng vấn chuyên sâu với
đại diện của các tổ chức tài chính vi mô cũng như các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính vi
mô tại Việt Nam để luận án có được góc nhìn bao quát nhất về hoat động của các tổ chức dưới cả giác độ chuyên gia, nhà quản lý và các tổ chức hoạt động thực tiễn Qua đó, góp phần củng cố thêm cho việc phân tích thực trạng hoạt động của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam Cụ thể, tác giả đã thực hiện cả hình thức phỏng vấn trực tiếp và gửi bảng khảo sát qua email tới các tổ chức tài chính vi mô để thu thập các thông tin liên quan đến cấu trúc vốn; hoạt động của tổ chức tài chính vi mô; những vướng mắc, kiến nghị của tổ chức trong quá trình hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức trong giai đoạn 2018 – 2019 (nội dung câu hỏi cụ thể được thể hiện trong phụ lục 6)
6.2.2 Phương pháp phân tích dữ liệu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả đã tiến hành sử dụng đồng thời
cả phương pháp phân tích định tính và phương pháp định lượng Cụ thể như sau:
- Phương pháp nghiên cứu định tính:
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết: Trong luận án, tác giả đã tiến hành nghiên cứu các sách, báo, tài liệu nghiên cứu khác nhau về cấu trúc vốn, mức độ bền vững
Trang 12và hiệu quả xã hội của doanh nghiệp nói chung và tổ chức tài chính vi mô nói riêng; qua đó, tác giả hình thành nên cơ sở lý thuyết cho luận án tại chương 1 Đặc biệt các nghiên cứu về
lý thuyết và thực nghiệm tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội cũng được tác giả tổng hợp và phân tích cụ thể để lựa chọn ra mô hình nghiên cứu phù hợp cũng như xây dựng khung phân tích và hình thành các giả thuyết khoa học cho luận án
+ Phương pháp so sánh, phân tích chỉ số: Dựa trên bộ dữ liệu thứ cấp thu thập được
từ danh bạ các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam, và dữ liệu từ các cuộc phỏng vấn chuyên sâu với lãnh đạo tại các tổ chức tài chính vi mô, tác giả đã sử dụng phương pháp so sánh để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu về cấu trúc vốn, mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô rtong khoảng thời gian từ 2011 đến
2019 tại chương 2
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Luận án sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính thông thường (OLS), mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) để xử lý dữ liệu bảng bao gồm dữ liệu chéo là các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam và dữ liệu chuỗi thời gian từ 2011 đến 2017 Bên cạnh đó, luận án cũng sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình phù hợp giữa 3 mô hình trước khi phân tích tác động
của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội tại chương 3
7 Đóng góp mới của luận án
Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trong và ngoài nước hiện có về cấu trúc vốn, mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô, luận án có những đóng góp mới cả về
lý luận và thực tiễn như sau:
Thứ nhất, trong nội dung cơ sở lý thuyết, luận án đã làm rõ được khái niệm cấu trúc vốn,
mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô
Thứ hai, luận án đã xây dựng mô hình mô phỏng cơ chế tác động của cấu trúc vốn đến mức
độ bền vững và hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô Lý thuyết M&M, lý thuyết đánh đổi và lý thuyết trật tự phân hạng là các lý thuyết thường được sử dụng trong các nghiên cứu về cấu trúc vốn tại doanh nghiệp nói chung và tổ chức tài chính vi mô nói riêng Tuy nhiên, cơ chế tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của tổ chức tài chính vi
mô có khác biệt so với doanh nghiệp, và vấn đề này chưa được đề cập tại các công trình nghiên cứu khác Luận án đã đi sâu làm rõ những điểm nổi bật trong cơ cấu nguồn vốn của
tổ chức tài chính vi mô Đây là nền tảng quan trọng để tiếp tục phân tích và đặc biệt là xây
Trang 13dựng mô hình mô phỏng tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả hoạt động tại các tổ chức tài chính vi mô
Thứ ba, luận án sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ danh bạ các tổ chức tài chính vi mô Việt
Nam kết hợp cùng dữ liệu thu thập được từ quá trình phỏng vấn với chuyên gia và các nhà quản lý tổ chức tài chính vi mô để đánh giá thực trạng cấu trúc vốn, mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của MFIs tại Việt Nam Các khía cạnh trên được luận án so sánh và phân tích giữa hai nhóm tài chính vi mô được cấp phép và tổ chức tài chính vi mô có đăng kí Qua đây có thể thấy, mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của cả hai nhóm tổ chức đều có
xu hướng giảm dần
Thứ tư, luận án phát triển mô hình đánh giá tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững
và hiệu quả xã hội của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam dựa trên lý thuyết, quá trình khảo lược các nghiên cứu trước đây, và đặc biệt là thực trạng hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam
Thứ năm, luận án đã đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao mức độ bền vững và hiệu quả
xã hội của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam theo 2 hướng là khuyến nghị đối với các tổ chức tài chính vi mô và khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý Nhà nước Trong đó dựa trên kết quả của mô hình nghiên cứu, khuyến nghị được đưa ra đối với các tổ chức tài chính
vi mô là tập trung vào phát triển nguồn vốn huy động Bên cạnh đó, dựa trên tài liệu phân tích thực trạng hoạt động của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam và nhận định của các chuyên gia cùng nhà lãnh đạo, quản lý của MFIs, khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý Nhà nước tập trung vào tạo điều kiện để các tổ chức tài chính vi mô dễ dàng tiếp cận và thu hút thêm được nhiều nguồn vốn huy động từ thị trường
Trang 14Chương 4: Khuyến nghị về cấu trúc vốn nhằm nâng cao mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam
Hình 1.1: QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU LUẬN ÁN
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN, MỨC ĐỘ BỀN VỮNG VÀ
HIỆU QUẢ XÃ HỘI CỦA TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ
1.1 Tổng quan về tổ chức tài chính vi mô
1.1.1 Khái niệm và vai trò của tổ chức tài chính vi mô
1.1.1.1 Khái niệm tổ chức tài chính vi mô
Các tổ chức tài chính vi mô được định nghĩa là các tổ chức được thành lập với mục đích cung cấp các dịch vụ tài chính và phi tài chính cho đối tượng có thu nhập thấp và yếu thế trong xã hội nhằm giúp họ thoát nghèo một cách bền vững
Trong luận án này dữ liệu về các tổ chức TCVM được cấp phép (được trình bày dưới tên gọi MFIs được cấp phép) và các quỹ xã hội hoạt động tài chính vi mô, chương trình tài chính vi mô chuyên trách nhưng chưa đăng kí thành lập tổ chức tài chính vi mô (được trình bày dưới tên gọi MFIs có đăng kí) sẽ được tập trung phân tích
1.1.1.2 Vai trò của tổ chức tài chính vi mô
Về khía cạnh kinh tế: Các tổ chức tài chính vi mô giúp khách hàng có thu nhập thấp
trong xã hội có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ tài chính cơ bản như tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm Qua đó, những người yếu thế có thêm cơ hội để tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, gia tăng thu nhập và giảm đói nghèo
Về khía cạnh xã hội: Bên cạnh các dịch vụ tài chính, các tổ chức tài chính vi mô còn
cung cấp các dịch vụ phi tài chính nhằm nâng cao sức khỏe, ý thức, cũng như kĩ năng của người có thu nhập thấp nhằm giúp khách hàng tự tin hòa nhập tốt hơn vào các hoạt động kinh tế và xã hội trong cộng đồng
1.1.2 Sản phẩm, dịch vụ của tổ chức tài chính vi mô
Căn cứ vào vòng đời phát triển của một con người, ngân hàng thế giới đã nhận diện các nhu cầu tài chính cơ bản của con người gồm: nhu cầu có vốn để kinh doanh; nhu cầu tích lũy tiền để đầu tư cho các nhu cầu trong tương lai như giáo dục, cưới hỏi, thai sản; nhu cầu bảo hiểm cho nhân mạng và tài sản; nhu cầu nhận và chuyển tiền cho người thân; nhu cầu đầu tư, tích lũy khi về già và nhu cầu chi trả viện phí khi ốm đau hoặc các trường hợp khẩn cấp khác Chính vì vậy, các sản phẩm được cung cấp bởi tổ chức tài chính vi mô cần phải đa dạng để đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu cơ bản của người dân nói chung và người nghèo nói riêng Cụ thể, các sản phẩm tín dụng vi mô, tiết kiệm, bảo hiểm, thanh toán dần được hình thành Bên cạnh đó, các dịch vụ hỗ trợ hay dịch vụ xã hội giúp cải thiện điều kiện sống của người nghèo cũng được các tổ chức tài chính vi mô cung cấp song hành với dịch
vụ tài chính nhằm mang đến sự phát triển bền vững cho khách hàng
Trang 161.2 Cấu trúc vốn của tổ chức tài chính vi mô
1.2.1 Khái niệm về cấu trúc vốn của tổ chức tài chính vi mô
Cấu trúc vốn của tổ chức tài chính vi mô được định nghĩa là sự kết hợp linh hoạt giữa các nguồn vốn tài trợ với các nguồn vốn thương mại (vốn huy động từ tiền gửi, vốn chủ sở hữu, vốn vay) để giúp đảm bảo nguồn tài chính phục vụ cho hoạt động của tổ chức tài chính vi mô
1.2.2 Biến đại diện cấu trúc vốn của tổ chức tài chính vi mô
Để đo lường cấu trúc vốn của TCTCVM tại Việt Nam, nhiều hệ số khác nhau căn cứ vào nguồn hình thành nên vốn từ nợ và vốn chủ sở hữu của TCTCVM (vốn huy động từ tiền gửi, vốn đi vay, nợ khác và vốn chủ sở hữu) sẽ được sử dụng
1.3 Mức độ bền vững của tổ chức tài chính vi mô
1.3.1 Khái niệm
Bền vững tài chính được định nghĩa là khả năng của tổ chức trong việc tạo ra doanh thu
từ việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng nghèo để trang trải cho toàn bộ chi phí đầu vào cũng như tích lũy cho quá trình phát triển trong dài hạn của tổ chức
1.3.2 Biến đại diện mức đọ bền vững của tổ chức tài chính vi mô
Đánh giá về mức độ bền vững tài chính của tổ chức tài chính vi mô, ba chỉ tiêu thường được các nhà nghiên cứu sử dụng để phân tích mức độ bền vững của một tổ chức tài chính vi mô bao gồm tự vững hoạt động (OSS), tự vững tài chính (FSS) và hệ số phụ thuộc trợ cấp (SDI) (Marakkath, 2014)
1.4 Hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô
1.4.1 Khái niệm
Khái niệm hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô có thể hiểu theo cả nghĩa rộng
và nghĩa hẹp; trong đó, theo nghĩa hẹp hiệu quả xã hội của MFIs là những kết quả, lợi ích
mà tổ chức tài chính vi mô mang lại cho toàn thể các bên liên quan, cho cộng đồng và cho
xã hội; còn theo nghĩa rộng hiệu quả xã hội thể hiện qua việc tổ chức thiết lập được một tổng thể quy trình từ hoạch định, lên ý tưởng chính sách, thiết lập quy trình hoạt động đến kết quả, tác động mà tổ chức tài chính vi mô mang lại cho tất cả các bên trong các mối quan
hệ xã hội của mình
1.4.2 Biến đại diện hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô
Tương ứng với quan điểm về định nghĩa hiệu quả xã hội theo nghĩa hẹp và rộng, các nghiên cứu về hiệu quả xã hội của MFIs cũng cho thấy có hai phương pháp thường được sử dụng trong đo lường hiệu quả xã hội của MFIs Trong đó, theo nghĩa hẹp các tác giả thường
Trang 17đo lường hiệu quả xã hội dựa trên những kết quả ghi nhận từ các báo cáo Theo nghĩa rộng, hiệu quả xã hội lại được đo lường dựa trên việc khảo sát, đánh giá từ giác độ quy trình quản
lý và thực thi
1.5 Tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội
1.5.1 Lý thuyết M&M
1.5.1.1 Nội dung lý thuyết M&M
Lý thuyết về cấu trúc vốn hiện đại được bắt nguồn từ lý thuyết của Modigliani và Miller (1958) Với các giả định về một thị trường vốn hoàn hảo như không có thuế, không
có chi phí giao dịch, không có hiện tượng thông tin bất cân xứng và cả doanh nghiệp lẫn nhà đầu tư đều là người chấp nhận giá (Levati và cộng sự, 2012), lý thuyết M&M nhận định giá trị của doanh nghiệp không phụ thuộc vào nguồn vốn dùng để tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp đó
1.5.1.2 Các nghiên cứu về lý thuyết
Ủng hộ cho lý thuyết M&M, Stiglitz (1969) đã chứng minh lý thuyết về cấu trúc vốn của Modigliani và Miller không chỉ đúng với các giả định về thị trường vốn hoàn hảo, mà còn xảy ra tại thị trường nơi mà hoạt động vay vốn cá nhân bị hạn chế hoặc có dấu hiệu của phá sản
Đưa ra ý kiến phản bác đầu tiên cho lý thuyết M&M là Durand (1959) khi tác giả cho rằng hai giả thuyết liên quan đến thay thế hoàn hảo và cơ hội kinh doanh chênh lệch giá là không thể xảy ra trong thị trường hoàn hảo Bên cạnh đó, dựa trên những điểm không hoàn hảo của thị trường vốn, Arzac và Glosten (2005), Dann (1981), Masulis (1983) và Graham và Harvey (2001) cũng phản bác lại lý thuyết M&M khi chỉ ra rằng tồn tại mối
quan hệ mật thiết giữa giá trị doanh nghiệp và đòn bẩy tài chính
1.5.2 Lý thuyết đánh đổi
1.5.2.1 Nội dung lý thuyết
Được phát triển bởi Kraus và Litzenberger (1973) lý thuyết đánh đổi cho rằng có sự đánh đổi giữa lợi ích và chi phí của việc sử dụng nợ; do đó các nhà quản lý cần cân nhắc để tìm ra một tỉ lệ nợ tối ưu (Graham & Harvey, 2001) nhằm tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp (Abor, 2005)
1.5.2.2 Các nghiên cứu về lý thuyết
Ủng hộ cho quan điểm về lý thuyết đánh đổi là các nghiên cứu của Tong và Green (2005), Graham và Harvey (2001), Flannery và Rangan (2006), Marsh (1982), Opler và Titman (1994) và Taggart (1977), Hackbarth và cộng sự (2007)
Trang 18Trái lại, Baker và Wurgler (2002, p.3) đưa ra ý kiến phản bác lý thuyết đánh đổi và kết luận “cấu trúc vốn là kết quả của sự nỗ lực theo thời gian trên thị trường chứng khoán” Bên cạnh đó, Fama và French (1998), Dawar (2014), Daskalakis và Psillaki (2005) và Salim và
Yadav (2012) cũng có những ý kiến phản bác lý thuyết này
1.5.3 Lý thuyết trật tự phân hạng
1.5.3.1 Nội dung lý thuyết
Trái ngược với lý thuyết đánh đổi, lý thuyết trật tự phân hạng được giới thiệu bởi Myers và Majluf (1984) phủ nhận sự tồn tại của một tỉ lệ nợ mục tiêu Tuy nhiên, lý thuyết này cũng đồng thuận về việc xây dựng một thứ tự ưu tiên lựa chọn cho các nguồn vốn sử dụng bởi doanh nghiệp
1.5.3.2 Các nghiên cứu về lý thuyết
Ủng hộ cho quan điểm của lý thuyết này là Remolona (1990), Baskin (1989), De Jong
và cộng sự (2011)
Cũng thực hiện nghiên cứu kiểm tra mức độ phù hợp của lý thuyết trật tự phân hạng, tuy nhiên Lery và Roberts (2010) nhận thấy lý thuyết này chỉ giải thích được khoảng 20% quyết định tài chính của các doanh nghiệp, thấp hơn rất nhiều so với kết quả được đưa ra bởi De Jong và cộng sự (2011) Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cũng cho thấy mức độ giải thích của lý thuyết trật tự phân hạng đối với cấu trúc vốn của tổ chức không cao (Seifert và
Gonenc, 2008; Helwege và Liang, 1996; Frank và Goyal, 2003; Graham và Harvey, 2001)
1.5.4 Đặc tính cấu trúc vốn của tổ chức tài chính vi mô
Sự khác biệt trong sứ mệnh và cách thức hoạt động đã khiến cho cấu trúc vốn của tổ chức tài chính vi mô và doanh nghiệp có những sự khác biệt rõ rệt
Thứ nhất, các tổ chức tài chính vi mô thường được nhận các nguồn vốn viện trợ,
các nguồn vốn ưu đãi hơn so với các doanh nghiệp
Thứ hai, cấu trúc vốn của tổ chức tài chính vi mô luôn luôn biến động dựa trên sự thay đổi trong nhu cầu của khách hàng
Thứ ba, các tổ chức tài chính vi mô phải tuân thủ các quy định về an toàn vốn, trong khi các doanh nghiệp thì không
1.5.5 Cơ chế tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội
Thông qua phân tích sự khác biệt trong đặc điểm cấu trúc vốn, và đặc biệt là sự tác động của các giả định đến cấu trúc vốn của tổ chức tài chính vi mô, tác giả nhận thấy chi phí phá sản và chi phí đại diện ít có tác động đến cấu trúc vốn của tổ chức tài chính
vi mô Trái lại thuế và đặc biệt là chi phí giao dịch trong các giả định của lý thuyết cấu trúc vốn cơ bản có tác động nhất định đến mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và mức độ bền
Trang 19vững, hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô Chính vì vậy, cơ chế tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội được xây dựng như sau:
Biểu đồ 1.3 Cơ chế tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội
của tổ chức tài chính vi mô
Nguồn: Tác giả tự phát triển
Việc lựa chọn các nguồn vốn khác nhau sẽ quyết định chi phí sử dụng vốn mà mỗi
tổ chức tài chính vi mô phải chi trả để duy trì hoạt động của mình Chi phí này sẽ tác động trực tiếp tới chi phí tài chính, và sau đó là mức độ bền vững của tổ chức Bên cạnh
đó, tổ chức tài chính vi mô vẫn luôn được biết đến là tổ chức hoạt động với mục tiêu giúp xóa đói, giảm nghèo; do đó, việc sử dụng các nguồn vốn với chi phí khác nhau cũng
vô hình chung tạo một áp lực nhất định đối với nhà quản lý, điều hành tổ chức khi phải vừa đảm bảo cân bằng giữa mục tiêu tài chính và mục tiêu xã hội Chính vì vậy, hiệu quả
xã hội của tổ chức tài chính vi mô cũng sẽ bị tác động
Hiệu quả xã hội
Trang 20CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CẤU TRÚC VỐN, MỨC ĐỘ BỀN VỮNG VÀ HIỆU
QUẢ XÃ HỘI CỦA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH
VI MÔ TẠI VIỆT NAM 2.1 Quá trình hình thành của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam
2.2 Môi trường pháp lý cho hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam
2.3 Các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam
Tổ chức cung cấp tài chính vi mô tại Việt Nam khá đa dạng Tuy nhiên, theo như phần định nghĩa trong khái niệm về tổ chức tài chính vi mô, luận án chỉ tập trung phân tích các tổ chức đã chuyển đổi được cấp phép hoạt động theo luật tổ chức tín dụng (gồm TYM, M&-MFI, TCTCVM Thanh Hóa và CEP) và các quỹ xã hội, tổ chức/chương trình/dự án tài chính vi mô có đăng kí và có thực hiện việc thống kê, báo cáo hàng năm cho Ngân hàng Nhà nước
Ngoài ra, do được hình thành sau so với các tổ chức tài chính vi mô hoạt động tại các quốc gia khác thuộc khu vực châu Á, MFIs tại Việt Nam không chỉ cách biệt về số lượng các tổ chức cung ứng dịch vụ, mà quan trọng hơn còn có những đặc điểm khác biệt so với MFIs trong nhóm đồng đẳng
Thứ nhất, quy mô của MFIs Việt Nam nhỏ hơn so với các tổ chức trong nhóm đồng
đẳng, nguồn huy động từ tiết kiệm chưa thể hiện đóng vai trò chính và chủ yếu tại các tổ chức tài chính vi mô, vốn chủ sở hữu và các khoản nợ chiếm đa số trong tổng nguồn vốn của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam và các khoản vay từ các đơn vị tư nhân chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ
Thứ hai, chi phí hoạt động của MFIs Việt Nam được ghi nhận là thấp hơn so với
MFIs tại các quốc gia khác, do đó, các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam đạt được lợi nhuận và duy trì mức độ bền vững ở mức tương đối ổn định qua các năm so với các tổ chức
tài chính vi mô tại quốc gia khác
Thứ ba, khách hàng của MFIs Việt Nam đa phần là nữ giới cho thấy các tổ chức tài
chính vi mô tại Việt Nam đang đảm bảo theo đuổi mục tiêu hiệu quả xã hội
2.4 Cấu trúc vốn của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam
2.4.1 Thực trạng cấu trúc vốn của các TCTCVM được cấp phép tại Việt Nam
Căn cứ vào dữ liệu được cung cấp bởi Nhóm công tác tài chính vi mô tại Việt Nam, tác giả nhận thấy cấu trúc nguồn vốn của các tổ chức tài chính vi mô được cấp phép tại Việt Nam khá đa dạng khi cấu thành bởi các nguồn gồm vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn vay
và vốn khác Trong đó, các tổ chức tài chính vi mô được cấp phép đều có sự tăng trưởng rất
Trang 21ấn tượng trong tỷ lệ vốn huy động từ tiền gửi trên tổng nguồn vốn, đồng thời cũng khẳng định tiết kiệm đang dần trở thành nguồn vốn quan trọng nhất trong hoạt động của tổ chức Trái lại, do những vướng mắc trong vấn đề pháp lý, cơ chế vay vốn từ các tổ chức và cá nhân bằng ngoại tệ, hay năng lực hoạt động còn hạn chế nên tỷ lệ vốn vay trong tổng nguồn vốn suy giảm theo thời gian
2.4.2 Thực trạng cấu trúc vốn của các TCTCVM có đăng kí tại Việt Nam
So với các TCTCVM được cấp phép, tổ chức có đăng kí có cơ cấu vốn có phần kèm
đa dạng hơn; trong đó, vốn chủ sở hữu – nguồn vốn đa phần được tạo lập bởi vốn góp ban đầu và vốn nhận tài trợ chiếm gần 50% tổng nguồn vốn của MFIs có đăng kí, nguồn vốn vay và vốn huy động đang chiếm tỷ lệ gần như ngang bằng nhau với dao động trong khoảng 21% - 28%, và cuối cùng là vốn khác chiếm một tỷ lệ tương đối khiêm tốn ở mức 1% - 4%
2.5 Mức độ bền vững của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam
2.5.1 Thực trạng về mức độ bền vững của các TCTCVM được cấp phép tại Việt Nam
Chỉ số OSS của các tổ chức đều cao hơn 100% - phản ánh thu nhập từ hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô được cấp phép đều có thể trang trải cho toàn bộ chi phí hoạt động, và đặc biệt chỉ số OSS của từng tổ chức qua các năm cũng không có sự biến động quá lớn Tuy nhiên, nếu căn cứ theo thông lệ quốc tế và nhận định của Nguyễn Kim Anh, Lê Thanh Tâm và cộng sự (2013) về tỉ lệ mức độ bền vững hoạt động trong dài hạn, thì hiện tại chỉ có TYM và CEP là đáp ứng yêu cầu Song, chỉ số OSS của TYM cũng không chênh quá nhiều so với ngưỡng chuẩn, còn đối với CEP do mới bước vào quá trình chuyển đổi nên OSS cũng chưa thực sự ổn định và có thể biến động trong các năm tiếp theo Chính vì vậy, việc duy trì và nâng cao chỉ số này trong thời gian tới là điều cần thiết để đảm bảo hoạt động bền vững của MFIs được cấp phép
2.5.2 Thực trạng về mức độ bền vững của các TCTCVM có đăng kí tại Việt Nam
Chỉ số OSS bình quân của các tổ chức có đăng kí qua các năm đều cao hơn 120%, và đặc biệt có phần cao hơn so với các tổ chức được cấp phép Tuy nhiên, khi tập trung phân tích OSS của từng tổ chức có đăng kí có thể thấy mức độ bền vững của các tổ chức có sự chênh lệch rất lớn, và đặc biệt số lượng các tổ chức có đăng kí có chỉ số OSS lớn hơn 120% ngày càng suy giảm
2.6 Hiệu quả xã hội của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam
2.6.1 Mức độ tiếp cận (A)
So sánh về số lượng khách hàng đang vay vốn bình quân tại tổ chức tài chính vi mô
Trang 22được cấp phép và có đăng kí có thể thấy mức độ tiếp cận của các tổ chức được cấp phép là
cao hơn so với tổ chức có đăng kí
2.6.2 Tỉ lệ dư nợ bình quân trên thu nhập bình quân (B)
So sánh về sự thay đổi của dư nợ bình quân/GNI bình quân đầu người qua các năm tại tổ chức được cấp phép và có đăng kí có thể thấy tỉ lệ này không thay đổi quá nhiều theo thời gian
2.6.3 Chi phí trên một khách hàng vay (C)
Chi phí trên một khách hàng vay vốn bình quân tại tổ chức được cấp phép là cao hơn tương đối so với tổ chức có đăng kí
2.6.4 Tỉ lệ khách hàng nữ (D)
Tỷ trọng khách hàng nữ trên tổng số khách hàng đang vay vốn tại các tổ chức tài chính vi mô được cấp phép và có đăng kí luôn chiếm tới hơn 88%
2.6.5 Số lượng chi nhánh (E)
Số lượng chi nhánh trong nghiên cứu này được nhận định có rất ít biến động; và do
đó, sẽ được loại trừ khi tính toán giá trị SPI
2.6.6 Tỉ lệ nợ rủi ro (G) và tỉ lệ xóa nợ (H)
Tỷ lệ dư nợ rủi ro trên 30 ngày và tỷ lệ xóa nợ bình quân của các tổ chức được cấp
phép luôn thấp hơn so với tổ chức có đăng kí
2.6.7 Chỉ số SPI
Chỉ số hiệu quả xã hội (SPI) của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam giai đoạn
2011 – 2017 có xu hướng giảm dần theo thời gian Đặc biệt, so sánh giữa tổ chức tài chính
vi mô được cấp phép và tổ chức tài chính vi mô có đăng kí thì hệ số SPI của tổ chức có đăng kí lại có phần nhỉnh hơn, phản ánh hiệu quả xã hội của các tổ chức có đăng kí là tốt hơn