Giáo trình "Sinh lí học trẻ em" của Tiến sĩ Lê Thanh Vân là một tài liệu đề cập một cách toàn diện những đặc điểm phát triển sinh lí trẻ em lứa tuổi mầm non, đầu tuổi học: đặc điểm phát
Trang 1đại học huế trung tâm đào tạo từ xa
TS lê thanh vân
Giáo trình
(In lần thứ hai)
Nhà xuất bản đại học s− phạm
Trang 22
MỤC LỤC
Lời giới thiệu 5
Chương I Mở đầu 6
I- Tầm quan trọng của bộ môn 6
II- Giới thiệu chung về cơ thể người 7
Câu hỏi 14
Hướng dẫn tự học chương I 14
Hướng dẫn trả lời câu hỏi ôn tập chương I 17
Chương II Tính quy luật về sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể 19
I- Tính quy luật về sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể trẻ 19
II- Gia tốc phát triển của cơ thể 22
III- Những chỉ số phát triển thể lực của trẻ 23
IV- Giới thiệu về biểu đồ tăng trưởng 24
V- Đặc điểm phát triển các thời kì của cơ thể 27
Câu hỏi 30
Hướng dẫn tự học Chương II 30
Hướng dẫn trả lời câu hỏi ôn tập chương II 33
Chương III Hệ thần kinh 34
I- Tầm quan trọng của hệ thần kinh 34
II- Cấu tạo và chức phận của hệ thần kinh 34
III- Hoạt động phản xạ của hệ thần kinh 39
IV- Các loại hình thần kinh 46
V- Đặc điểm hoạt động thần kinh cấp cao ở người 47
VI- Ngủ 50
Câu hỏi 52
Hướng dẫn tự học Chương III 52
hướng dẫn trả lời câu hỏi ôn tập chương III 57
Chương IV Cơ quan phân tích 61
I- Đại cương về cơ quan phân tích 61
II- Các cơ quan phân tích 61
Câu hỏi 73
Hướng dẫn tự học chương IV 73
Hướng dẫn trả lời câu hỏi ôn tập chương IV 79
Chương V Hệ vận động 81
I- Tầm quan trọng của hệ vận động 81
II- Hệ xương 81
III- Hệ cơ 88
Trang 3IV- Sự phát triển tư thế 94
Câu hỏi 95
Hướng dẫn tự học Chương V 96
Hướng dẫn trả lời câu hỏi ôn tập Chương V 102
Chương VI Hệ tuần hoàn 104
I- Máu 104
II- Tuần hoàn 110
Câu hỏi 116
hướng dẫn tự học chương VI 116
Hướng dẫn trả lời câu hỏi ôn tập chương VI 121
Chương VII Hệ hô hấp 123
I- Tầm quan trọng của hệ hô hấp 123
II- Cấu tạo của hệ hô hấp 123
III- Hoạt động của cơ quan hô hấp 125
IV- Đặc điểm hệ hô hấp ở trẻ em 128
V- Âm thanh và tiếng nói 129
Câu hỏi 130
Hướng dẫn tự học Chương VII 130
Hướng dẫn trả lời câu hỏi ôn tập chương VII 134
Chương VIII Hệ tiêu hoá 137
I- Vai trò của thức ăn ý nghĩa của sự tiêu hoá 137
II- Cấu tạo và chức phận của cơ quan tiêu hoá 137
III- Sự tiêu hoá thức ăn trong ống tiêu hoá 142
IV- Sự hấp thụ thức ăn và sự thải bX 143
V- Sự thống nhất hoạt động trong cơ quan tiêu hoá 145
VI- Cơ sở sinh lí của sự ăn uống 145
Câu hỏi 145
Hướng dẫn tự học chương VIII 146
Hướng dẫn trả lời câu hỏi ôn tập chương VIII 149
Chương IX Trao đổi chất và năng lượng 152
I- Khái niệm về trao đổi chất và năng lượng 152
II- Sự trao đổi chất 152
III- Sự trao đổi năng lượng 156
Câu hỏi 158
hướng dẫn tự học Chương IX 158
Hướng dẫn trả lời câu hỏi ôn tập chương IX 161
Chương X Hệ bài tiết 163
I- ý nghĩa của sự bài tiết 163
Trang 44
II- Sù bµi tiÕt n−íc tiÓu qua thËn 163
III- Sù bµi tiÕt må h«i qua da 169
C©u hái 172
H−íng dÉn tù häc ch−¬ng X 172
h−íng dÉn tr¶ lêi c©u hái «n tËp ch−¬ng X 177
Ch−¬ng XI C¸c tuyÕn néi tiÕt 179
I- §¹i c−¬ng vÒ tuyÕn néi tiÕt 179
II- C¸c tuyÕn néi tiÕt 180
C©u hái 183
H−íng dÉn tù häc ch−¬ng XI 183
H−íng dÉn tr¶ lêi c©u hái ch−¬ng XI 186
Tµi liÖu tham kh¶o 188
Trang 5Lời giới thiệu
càng lớn Chúng ta có thể quan sát thấy trẻ lớn khôn từng ngày Việc nghiên cứu đặc
điểm tâm lí, sinh lí trẻ em và những quy luật phát triển của nó là đặc biệt cần thiết đối với việc nuôi dạy trẻ em
Giáo trình "Sinh lí học trẻ em" của Tiến sĩ Lê Thanh Vân là một tài liệu đề cập một
cách toàn diện những đặc điểm phát triển sinh lí trẻ em lứa tuổi mầm non, đầu tuổi học: đặc điểm phát triển của hệ thần kinh; đặc điểm phát triển của các cơ quan phân tích; hệ vận động; hệ tuần hoàn; hệ hô hấp; hệ tiêu hoá; hệ bài tiết Trên cơ sở phân tích đặc điểm phát triển sinh lí của trẻ qua các thời kì, tác giả đã chỉ ra những yêu cầu sư phạm cần thiết trong công tác nuôi dạy trẻ lứa tuổi mầm non Do vậy, tài liệu này rất hữu ích cho cán bộ giảng dạy, sinh viên các trường sư phạm mầm non Đồng thời cũng là tài liệu hữu ích cho học viên cao học, cán bộ nghiên cứu và những người làm công tác quản lí giáo dục mầm non, cho các bậc cha mẹ và các cô nuôi dạy trẻ
Sinh lí học trẻ em là một vấn đề phức tạp Trong khuôn khổ của giáo trình này khó
có thể thỏa mãn được bạn đọc về mọi khía cạnh của sinh lí học trẻ em Nhà xuất bản
và tác giả mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để lần tái bản sau giáo trình
Trang 66
Chương I
Mở đầu
I- Tầm quan trọng của bộ môn
1 Khái niệm về giải phẫu và sinh lí người
1.1 Giải phẫu người
Giải phẫu người là một môn khoa học nghiên cứu về cấu tạo, hình dạng và các quy luật phát triển của cơ thể người cũng như các cơ quan trong cơ thể Nó nghiên cứu mối tương quan của các bộ phận với nhau trong cơ thể Từ đó thấy được sự thống nhất trong cơ thể và sự thống nhất giữa cơ thể và môi trường nhờ hệ thần kinh Trên cơ sở đó tìm ra những biện pháp tác động
đến môi trường làm ảnh hưởng tốt đến sự phát triển của cơ thể
1.2 Sinh lí người
Sinh lí người là một môn khoa học nghiên cứu hoạt động chức năng của các cơ quan, các hệ cơ quan và toàn bộ cơ thể nói chung Nó nghiên cứu các quy luật làm cơ sở cho các quá trình sống của cơ thể
Giải phẫu và sinh lí người có liên quan mật thiết với nhau Muốn hiểu được chức phận của một cơ quan nào đó trong cơ thể thì phải biết cấu tạo của cơ quan đó
2 Mối quan hệ với các môn khoa học khác
Giải phẫu và sinh lí người có liên quan đến nhiều ngành khoa học khác nghiên cứu về con người như: y học, tâm lí học, giáo dục học, giáo dục thể chất
ư Đối với y học: Giúp cho người thầy thuốc có khả năng chẩn đoán và đưa ra các biện pháp
điều trị và ngăn ngừa phù hợp
ư Đối với tâm lí học: Sự phát triển của tâm lí diễn ra trên cơ sở sự phát triển về giải phẫu và sinh lí của nó, đặc biệt là trên cơ sở sự phát triển của nRo bộ và của hệ thần kinh Hay nói cách khác: Giải phẫu và sinh lí người là cơ sở của tâm lí Chẳng hạn sự kém phát triển của nRo thì trí tuệ thường bị thiểu năng Hoặc sự kém phát triển và suy yếu chức năng của tuyến giáp trạng dẫn
đến sự trì trệ của trí tuệ
Mặt khác, bản thân sự phát triển tâm lí lại có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển cơ thể
Ví dụ: Sự phát triển của hoạt động ngôn ngữ đR làm phát triển tai âm vị của đứa trẻ, hoặc những
sự luyện tập có động cơ, có mục đích có thể làm tăng tính nhạy cảm của cơ quan phân tích
ư Đối với giáo dục học: Giải phẫu và sinh lí là cơ sở giúp cho giáo dục học có thể đề ra những nội dung giáo dục cụ thể, chính xác, phù hợp với độ tuổi
Trang 7ư Đối với giáo dục thể chất: Giải phẫu và sinh lí là cơ sở để dựa vào đó có thể đề ra kế hoạch luyện tập, nội dung và phương pháp luyện tập phù hợp với mỗi độ tuổi
3 Tầm quan trọng của bộ môn
Giải phẫu và sinh lí có một vai trò quan trọng trong chương trình đào tạo của ngành Mầm non
ư Giúp cho người học hiểu được cơ thể trẻ em có những đặc điểm khác với người lớn: khác
về cấu tạo, chức phận của từng cơ quan và của cả cơ thể
ư Những đặc điểm khác nhau đó thay đổi trong các giai đoạn tuổi khác nhau của trẻ
ư Trên cơ sở của những hiểu biết này giúp cho các cô giáo mầm non tương lai có kế hoạch chăm sóc và giáo dục trẻ một cách hợp lí, tạo điều kiện tốt cho sự hoàn thiện và phát triển cơ thể trẻ
ư Ngoài ra môn học này còn cung cấp những kiến thức cơ sở để người học có khả năng tiếp thu những kiến thức của các môn học khác: tâm lí học, giáo dục học, dinh dưỡng và các bộ môn phương pháp
II- Giới thiệu chung về cơ thể người
1 Cấu tạo và chức phận của tế bào và mô
phần triệu của milimét (tức là vài nanômét) Màng có nhiệm vụ làm cho tế bào có hình dạng nhất định và bảo vệ tế bào Ngoài ra, màng tế bào còn có khả năng bán thấm để thực hiện quá trình trao đổi chất giữa cơ thể và môi trường (bán thấm và chọn lọc)
hơi đặc Trong nguyên sinh chất có vô số các ống nhỏ phân nhánh đảm bảo mối liên hệ giữa các phần khác nhau của tế bào Nhân được tạo nên bằng một thứ nguyên sinh chất đặc biệt Bao giờ
nó cũng nằm trong nguyên sinh chất Có một lớp màng kép bao xung quanh nhân Nhân thường
có hình trứng và có màu sáng hơn nguyên sinh chất bọc quanh Ngoài ra, trong nguyên sinh chất có các cơ quan tử và có màng bao bọc, nó là những thành phần chuyên hoá giống như các cơ quan của cơ thể, phụ trách những chức năng nhất định, đảm bảo hoạt động sống bình thường của tế bào Chẳng hạn: ti thể (thường có trong nguyên sinh chất) có thể coi là trạm năng lượng của tế bào vì nó tích luỹ năng lượng cần cho tế bào Sự tổng hợp protein gắn liền với riboxom những hạt nằm trên bề mặt của ống nhỏ, ngược lại trong các lizoxom lại xảy ra sự phân giải protein
Trang 8a) Có rất nhiều chất tham gia vào thành phần của tế bào Trong đó nước chiếm khoảng 3/4
các chất hữu cơ chiếm khoảng 1/4 khối lượng tế bào (trong đó chủ yếu là protein, ngoài ra còn
có axit nucleic, gluxit, lipit, )
tham gia tổ chức các quá trình sống Có hơn 20 aminoaxit có thể tham gia vào thành phần các protein, tạo thành một hoặc một số chuỗi liên kết với nhau Các chuỗi này có thể uốn khúc và cuộn
tròn lại thành từng búi Có nhiều loại protein Mỗi loại protein khác nhau về số lượng phần tử của từng loại aminoaxit và về trật tự sắp xếp của những aminoaxit này
Protein có tính chất xúc tác đặc hiệu thông qua các enzym Thông thường mỗi enzym chỉ thúc đẩy một phản ứng hoá học nhất định Một vài enzym chỉ có tác động đối với một chất mà không ảnh hưởng gì đến các chất khác, thậm chí cả đối với các chất gần giống các chất ấy
tử: chất hữu cơ chứa nitơ (bazơ nitơ), đường 5 nguyên tử cacbon và axit photphoric Chuỗi polynucleotit chỉ gồm có 4 loại nucleotit với các bazơ nitơ khác nhau: xitozin, timin, adenin, guanin
Axit nucleic đảm bảo sự tạo nên protein từ các aminoaxit đặc trưng cho mỗi tế bào và giữ
được bản chất di truyền
d) Gluxit (hydratcacbon hay saccarit) Gluxit được cấu tạo từ các nguyên tố như cacbon,
hydro, oxy Trong đó các nguyên tử của 2 nguyên tố hydro và oxy hầu như bao giờ cũng có tỉ lệ giống như trong phân tử nước Gluxit có 2 loại hydratcacbon đơn giản (monosaccarit) và hydratcacbon phức tạp (polysaccarit hay polyme trùng hợp) Trong cơ thể người và động vật,
đường glucozơ được dùng để tiêu hao năng lượng hàng ngày Loại đường này với một lượng nhỏ
có mặt không những ở tất cả các tế bào mà còn cả ở trong máu Thường chúng có trong gan và cơ, còn phần khác được biến đổi thành lipit
ít Chẳng hạn, mỡ người có công thức C55H100O6 Ngoài ra còn có một số lipit có cấu tạo phức tạp hơn như trong thành phần có chứa photpho và một số chất khác
Lipit thường phủ mặt dưới da và nhiều cơ quan, là chất dự trữ của cơ thể có giá trị năng lượng rất lớn Ngoài ra còn có một số chất có tính chất giống lipit (các hợp chất giống lipit) cũng có ý nghĩa quan trọng trong các quá trình sống
1.1.3 Những đặc tính của tế bào
Tế bào có thể xem là những đơn vị cơ sở mà trạng thái sống của chúng được đảm bảo bằng những đặc tính sống cơ bản sau:
Trang 9a) Biến đổi năng lượng từ một dạng này sang dạng khác Chẳng hạn, năng lượng hoá học
của các chất hữu cơ trong các tế bào cơ thể người được biến đổi thành những dạng năng lượng khác như cơ năng, điện năng
b) Xây dựng cơ thể bằng cách chuyển hoá các chất hấp thụ được vào
c) Sinh trưởng và phân chia Các tế bào lớn lên nhờ các vật chất mới của tế bào được hình
thành mạnh mẽ, phân đôi nhiều lần, sinh sôi nảy nở Trong đó mỗi tế bào con giống hệt tế bào
mẹ
d) Tính đặc trưng Sự phát triển của tế bào thai bắt đầu bằng sự phân chia các tế bào sinh
dục cái được thụ tinh Nhờ tiếp tục phân chia mà số lượng tế bào được nhân đôi không ngừng và nhanh chóng hình thành mầm mống của cơ thể tương lai Lúc này bắt đầu thấy rõ sự khác nhau
về cấu tạo của các nhóm tế bào riêng biệt để hình thành những chức năng sống nhất định của chúng
e) Biểu hiện khả năng phản ứng và hưng phấn (tức là sự phản ứng với những thay đổi xuất
hiện ở môi trường ngoài, từ đó làm cho cơ thể thích nghi với môi trường)
Ví dụ: Đáp lại các kích thích các tế bào cơ co (co ngắn lại) làm cho tuyến nước bọt tiết nước bọt
1.2 Mô
Mô là tập hợp những yếu tố có cấu trúc tế bào và yếu tố không có cấu trúc tế bào, hình thành trong quá trình tiến hoá của sinh vật, phát triển trong cơ thể từ những lá phôi nhất định và
đảm nhiệm những chức năng nhất định trong cơ thể, do đó mỗi loại mô có cấu tạo chung
Dựa vào nguồn gốc phát sinh, chức năng và cấu tạo, người ta chia ra làm 4 loại mô: mô thượng bì, mô liên kết, mô cơ và mô thần kinh Bốn loại mô này được hình thành từ những lá phôi khác nhau và chúng tạo thành các cơ quan và hệ cơ quan trong cơ thể Hoạt động của chúng có mối liên hệ hữu cơ trong một cơ thể thống nhất dưới sự điều khiển của hệ thần kinh
2.2.1. Mô thượng bì (biểu mô)
a) Cấu tạo: Là một loại mô phủ bề mặt một cơ quan, giới hạn cơ quan đó với môi trường
xung quanh Vị trí bề mặt của mô thượng bì có liên quan với chức năng của nó: hoặc có chức năng bảo vệ che chở, hoặc qua đó mà thực hiện quá trình trao đổi chất giữa cơ thể với môi trường
Mô thượng bì có cấu tạo đặc trưng, nhưng chúng mang những nét chung nhất là: thành
thượng bì mà có cách phân biệt các loại thượng bì Sau đây là một số ví dụ về các mô thượng bì:
ư Thượng bì da, có trong thành phần da và lát đoạn đầu trên của ống tiêu hoá (khoang miệng) Từ thượng bì da hình thành một số yếu tố dẫn xuất như lông, móng và các tuyến da Cấu tạo của nó gồm nhiều tầng tế bào Tầng sâu nhất của thượng bì da có khả năng sinh sản
Trang 10b) Chức năng của mô thượng bì: bảo vệ, che chở tránh những tác động cơ học, hoá học và
các tác động khác từ bên ngoài Ngoài ra, mô thượng bì còn thực hiện quá trình trao đổi chất giữa cơ thể và môi trường
1.2.2 Mô liên kết (đệm – dinh dưỡng)
Thành phần cấu tạo chủ yếu của mô này không phải là tế bào mà là chất gian bào
Dựa vào chức năng có thể phân ra làm hai loại mô liên kết: loại có chức năng dinh dưỡng (như máu và bạch huyết), loại có chức năng đệm cơ học (như xương, sụn) Sự phân chia này
cũng chỉ có tính chất tương đối
a) Một số mô liên kết
ư Võng mô: tạo nên cơ sở của mọi cơ quan tạo huyết như tủy xương, hạch bạch huyết, tì Yếu tố tế bào của mô này có hình sao nối với nhau bằng những nhánh nguyên sinh chất tạo thành một khối hỗn bào Liên hệ mật thiết với chất nguyên sinh của tế bào có những sợi tơ mảnh làm thành một mạng lưới, nên có tên là võng mô
Chức năng của võng mô là tạo huyết, bảo vệ cơ thể và có khả năng thực bào nhờ sự có mặt của những tế bào tự do tách ra từ khối hỗn bào
ư Máu và bạch huyết: Loại mô này có thành phần chủ yếu là chất lỏng – huyết tương, trong
đó có các yếu tố định hình như huyết cầu (hồng cầu, bạch cầu) và các huyết thể nhỏ Trong cơ thể, máu và bạch huyết lưu thông trong hệ mạch, đảm bảo chức năng dinh dưỡng qua sự trao đổi chất giữa cơ thể và môi trường ngoài
ư Mô liên kết sợi xốp: là loại mô rất phổ biến trong cơ thể, có mặt ở tất cả các cơ quan, dọc theo đường đi của mạch máu, mạch bạch huyết và làm thành những lớp mô đệm dưới da hoặc giữa các cơ Trong mô liên kết sợi xốp, yếu tố gian bào là một khối chất dính, nhớt, vô định hình, trong đó có những bó tơ sinh keo và những sợi đàn hồi Còn yếu tố tế bào chỉ là những nguyên bào sợi, sau này trưởng thành biến đổi ra thành tế bào sợi Tại một số bộ phận của cơ thể như dưới da, mô liên kết sợi xốp biến đổi thành mô mỡ
ư Mô liên kết sợi chắc: có cấu trúc sợi là thành phần chủ yếu bên cạnh yếu tố tế bào kém phát triển
ư Mô sụn: là loại mô có cấu tạo khá đặc biệt, trong đó gồm một yếu tố gian bào phát triển, còn các tế bào rải rác trong gian bào hoặc riêng lẻ, hoặc nhóm 2 – 3 tế bào trong bao nang + Căn cứ vào cấu trúc chất gian bào mà phân biệt thành 3 loại mô sụn:
* Sụn trong: như sụn sườn, sụn mũi,
Trang 11* Sụn đàn hồi: tạo thành vành tai, sụn thành ống tai ngoài, một số sụn thanh quản
* Sụn liên kết sợi: như những đĩa sụn gian đốt
+ Mô sụn tăng trưởng nhờ có màng sụn bọc ngoài Màng sụn gồm có hai lớp: lớp ngoài và lớp trong tiếp với mô sụn có khả năng sinh sản Trong mô sụn không có mạch máu
ư Mô xương: có lớp màng xương (hay cốt mạc) phủ ngoài Màng xương có 2 lớp: lớp ngoài
là mô liên kết sợi chắc và lớp trong gồm những tế bào sinh xương có khả năng sinh sản Trong mô xương, chất gian bào do những tơ sợi sinh keo cấu tạo nên xếp thành những tấm dẹp có tẩm một số muối vô cơ làm cho nó vừa đặc, vừa chắc lại vừa đàn hồi Mô xương là một loại mô phân hoá cao hơn cả và lần đầu tiên xuất hiện ở những động vật có xương sống
a) Mô cơ vân: Trong cơ thể, cơ vân tạo nên vách cơ tim và cùng với hệ xương làm thành cơ
màng bọc quanh một khối nguyên sinh chất trong có nhiều tơ cơ nằm dọc cùng một hướng với sợi cơ và có vô số nhân tế bào (có tới hàng trăm nhân, những nhân này đều dàn ra gần bề mặt của sợi cơ)
Quan sát dưới kính hiển vi thì thấy: Mỗi tơ cơ gồm những khoanh hình đĩa có màu tối và sáng xen kẽ nhau, vì vậy mà có tên là cơ vân Các sợi cơ tập hợp thành bó cơ có độ dài thay đổi Cơ vân có khả năng co rút nhanh hơn cơ trơn khoảng 10 lần
Ngoài ra trong cơ còn có các mạch máu và dây thần kinh để thực hiện chức năng trao đổi chất và thực hiện phản xạ giữa các cơ quan của cơ thể với môi trường
b) Mô cơ trơn: Tham gia vào thành phần cấu tạo các nội quan và thành mạch máu Cấu tạo
của mô cơ trơn gồm những tế bào cơ có hình sợi thuôn nhọn hai đầu Trong tế bào cơ trơn có chất nguyên sinh, một nhân hình que và nhiều tơ cơ trơn xếp dọc cùng một hướng theo chiều dài của tế bào cơ
Sự co rút của mô cơ trơn không theo ý muốn
Mô thần kinh tạo nên hệ thần kinh Ngoài ra nó còn có chức phận quy định và kết hợp sự hoạt động của tất cả các cơ quan và hệ cơ quan trong cơ thể cũng như đảm bảo mối liên hệ giữa cơ thể với môi trường ngoài
Trang 12cơ quan, mô và tế bào đều được liên kết với nhau thành một khối thống nhất trong cơ thể
Sự thống nhất này được thể hiện như sau:
2.1.1 Sự thống nhất giữa đồng hoá và dị hóa
Cơ thể muốn tồn tại và phát triển thì phải luôn luôn cân bằng với môi trường sống của mình Sự cân bằng đó được thực hiện thông qua quá trình trao đổi chất
Trao đổi chất là chức năng cơ bản của cơ thể sống Trao đổi chất bao gồm hai quá trình
đồng hoá và dị hóa
Kết quả là tạo ra các hợp chất hoá học phức tạp rồi từ đó tổng hợp lên các thành phần của cơ thể sống và tạo ra năng lượng
sự phân hủy này là sự giải phóng ra năng lượng Năng lượng này một mặt dùng để tổng hợp các chất phức tạp mới từ các chất lấy ở bên ngoài vào (tức là được dùng vào quá trình đồng hoá), một mặt dùng để thực hiện các quá trình sống trong các bộ phận của cơ thể
Đồng hoá và dị hoá là hai quá trình không thể tách rời nhau được: không có đồng hoá thì không có dị hóa Ngược lại, không có dị hoá thì cũng không có đồng hóa Nhưng trong từng giai đoạn phát triển của cơ thể, vai trò của chúng không như nhau: khi cơ thể còn trẻ, đồng hoá mạnh hơn dị hoá; khi cơ thể đR già thì dị hoá lại mạnh hơn đồng hóa Mặt khác, trong cơ thể người luôn luôn có sự hủy hoại và đổi mới Chẳng hạn, các tế bào lớp ngoài cùng của da luôn
được đổi mới Hoặc hồng cầu ở trong máu cũng vậy, nó chỉ sống được khoảng 130 ngày rồi bị chết và được thay thế bằng hồng cầu mới
Như vậy, sự sống chỉ có thể tồn tại nếu môi trường bên ngoài cung cấp cho cơ thể oxy, thức
ăn và nhận của cơ thể những sản phẩm phân huỷ
2.1.2 Sự thống nhất giữa cấu tạo và chức phận
Giữa cấu tạo, hình thái với sinh lí, chức phận có sự thống nhất chặt chẽ với nhau Chức phận và hình thái của cơ thể là kết quả của sự phát triển cá thể và chủng loại của cơ thể Do đó giữa chức phận và hình thái cấu tạo có mối liên hệ khăng khít và lệ thuộc lẫn nhau, trong đó chức phận giữ vai trò quyết định vì chức phận trực tiếp liên hệ với trao đổi chất
2.1.3 Sự thống nhất giữa các cơ quan trong cơ thể
Các cơ quan và các hệ quan cơ trong cơ thể luôn luôn có sự hoạt động phối hợp nhịp nhàng
và thống nhất với nhau
Sự liên hệ, phối hợp giữa các cơ quan trong cơ thể diễn ra theo 3 hướng:
ư Một bộ phận này ảnh hưởng đến các bộ phận khác
Ví dụ: Khi ta lao động, cơ làm việc, đồng thời tim đập nhanh hơn, nhịp thở gấp hơn
Trang 13ư Toàn bộ cơ thể ảnh hưởng đến một bộ phận
Ví dụ: Hiện tượng đói là biểu hiện toàn bộ cơ thể ảnh hưởng đến cơ quan tiêu hóa
ư Trong từng cơ quan có sự phối hợp với nhau
Ví dụ: Khi ta nhảy thì có sự phối hợp giữa chân trái và chân phải
2.1.4 Sự thống nhất giữa cơ thể và môi trường
Cơ thể và môi trường là một khối thống nhất Khi môi trường thay đổi thì cơ thể cũng phải
có những thay đổi, những phản ứng cho phù hợp với sự thay đổi của môi trường Nếu không thì cơ thể sẽ không tồn tại được Khả năng này của cơ thể gọi là khả năng thích nghi Thích nghi là quy luật cơ bản của sinh vật
Ví dụ, khi trời rét ta "nổi da gà" Đó chính là sự thích nghi của cơ thể đối với thời tiết (lúc này các cơ ở lỗ chân lông co lại để giữ cho nhiệt trong cơ thể khỏi thoát ra ngoài) ở người, sự thích nghi mang tính chất chủ động Chẳng hạn, ta chống rét bằng mặc áo ấm, dùng lò sưởi
Việc điều hoà hoạt động của cơ thể còn được thực hiện nhờ một số chất có hoạt tính sinh học cao được sinh ra trong quá trình trao đổi chất Ví dụ, hoócmôn khi vào máu chúng đi khắp cơ thể làm ảnh hưởng đến hoạt động của các tế bào và các cơ quan khác
Như vậy, điều hoà hoạt động của cơ thể do cơ chế thần kinh và thể dịch Hai cơ chế điều hoà này tác động tương hỗ lẫn nhau: các chất hoá học tích cực được hình thành trong cơ thể có khả năng làm ảnh hưởng ngay đến các tế bào thần kinh khi làm thay đổi trạng thái, chức năng của chúng Mặt khác sự hình thành và xâm nhập của nhiều chất hoá học tích cực nằm trong máu chịu sự điều hoà của hệ thần kinh Hệ thần kinh ảnh hưởng đến chức năng của hàng loạt các cơ quan không những qua các xung động thần kinh đi tới cơ quan theo đường dẫn truyền thần kinh,
mà còn nhờ các chất hoá học được hình thành ở các tế bào của cơ thể và đi vào máu dưới ảnh hưởng của hệ thần kinh
3 Đặc điểm chung của cơ thể trẻ
ư Cơ thể trẻ em nói chung và từng cơ quan nói riêng không hoàn toàn giống người lớn đR trưởng thành
ư Cơ thể trẻ em không phải là cơ thể người lớn thu bé lại theo một tỉ lệ nhất định
ư Giữa cơ thể trẻ em và người lớn có nhiều điểm khác nhau: khác nhau về kích thước, về cân nặng, về cấu trúc và về chức năng hoạt động
Trang 1414
ư Sự hoạt động của cơ thể trẻ cũng như của người lớn không phải là gồm sự hoạt động riêng
lẻ của từng hệ cơ quan mà các cơ quan trong cơ thể đều hoạt động thống nhất trong một toàn bộ hoàn chỉnh
Câu hỏi
1 Thế nào là giải phẫu và sinh lí người?
2 Nêu ý nghĩa của giải phẫu và sinh lí người đối với chương trình đào tạo của ngành Mầm non
3 Chứng minh "Tế bào là một đơn vị cấu trúc, chức năng và di truyền cơ bản của cơ thể"
4 Thế nào là mô?
5 Chứng minh "Cơ thể là một khối thống nhất"
6 Tại sao nói "Cơ thể là một hệ thống tự điều chỉnh"?
7 Trình bày đặc điểm chung về cơ thể trẻ
Hướng dẫn tự học chương I
I- Mục đích yêu cầu
Học chương này, học viên cần nắm vững được các kiến thức cơ bản sau:
ư Khái niệm về giải phẫu và sinh lí người, từ đó thấy được tầm quan trọng của nó đối với những người làm công tác chăm sóc và giáo dục trẻ
ư Khái niệm về tế bào và mô
ư Sự thống nhất trong cơ thể
ư Đặc điểm chung của cơ thể trẻ em
II- Phương pháp học
Đọc kĩ giáo trình và sử dụng hình vẽ
III- Hướng dẫn chi tiết
1 Khái niệm về giải phẫu và sinh lí người
a) Giải phẫu người
ư Là một môn khoa học nghiên cứu về cấu tạo, hình dạng và các quy luật phát triển của cơ thể người cũng như các cơ quan trong cơ thể
ư Nghiên cứu mối tương quan của các bộ phận trong cơ thể
ư Thấy được sự thống nhất giữa cơ quan trong cơ thể và giữa cơ thể với môi trường
b) Sinh lí người
ư Là một môn khoa học nghiên cứu chức năng hoạt động của các cơ quan, các hệ cơ quan và toàn bộ cơ thể
ư Nghiên cứu các quy luật làm cơ sở cho các quá trình sống của cơ thể
Giải phẫu và sinh lí người có liên quan mật thiết với nhau
2 Tầm quan trọng của môn Sinh lí học trẻ em
ư Có vai trò quan trọng trong chương trình đào tạo của ngành Mầm non
ư Giúp cho người học hiểu được về cơ thể trẻ
Trang 15ư Cung cấp những kiến thức cơ sở để người học có khả năng tiếp thu kiến thức của các môn học khác như tâm lí học, giáo dục học, dinh dưỡng và các bộ môn phương pháp
3 Cấu tạo và chức phận của mô tế bào và mô
∗ Là lớp ngoài của nguyên sinh chất đặc
∗ Dày không đến vài phần triệu của milimét
∗ Có nhiệm vụ:
• Làm cho tế bào có hình dạng nhất định
• Bảo vệ tế bào
• Thực hiện quá trình trao đổi chất giữa cơ thể với môi trường
+ Nguyên sinh chất (tế bào chất):
∗ Là nguyên liệu thực của sự sống
∗ Trong suốt, lỏng, hoặc hơi đặc
∗ Có vô số ống nhỏ phân nhánh đảm bảo mối liên hệ giữa các phần khác nhau của tế bào
∗ Có các cơ quan tử phụ trách những chức năng nhất định, đảm bảo hoạt động sống bình thường của tế bào
+ Nhân:
∗ Là một thứ nguyên sinh chất đặc biệt
∗ Bao giờ cũng nằm trong nguyên sinh chất
∗ Thường có hình trứng và có màu sáng hơn nguyên sinh chất ở xung quanh
∗ Có màng kép
∗ Nhiệm vụ:
• Là trung tâm hoạt động hoá học
• Quyết định hình dáng, kích thước và chức năng của tế bào
• Điều khiển đa số các quá trình sinh lí trong tế bào
Trang 1616
+ Biến đổi năng lượng từ một dạng này sang một dạng khác (như cơ năng, điện năng…)
+ Xây dựng cơ thể bằng cách chuyển hoá các chất hấp thụ được vào tế bào
* Phủ bề mặt một cơ quan, giới hạn cơ quan đó với môi trường xung quanh
* Thành phần có cấu trúc tế bào là chủ yếu, còn phần không có cấu trúc tế bào ít, không
* Thành phần cấu tạo chủ yếu là chất gian bào
* Gồm: võng mô, máu và bạch huyết, mô liên kết sợi xốp, mô liên kết sợi chắc, mô sụn, mô xương
• Mô cơ trơn: Tham gia vào thành phần cấu tạo các nội quan và thành mạch máu Có sự
co rút không theo ý muốn của con người
• Mô cơ vân tạo nên vách cơ tim và cùng với hệ xương làm thành cơ quan vận động
+ Mô thần kinh:
* Phân hoá cao độ
Trang 17* Có khả năng cảm ứng được các loại kích thích của môi trường
ư Mọi cơ quan, mô và tế bào được liên kết thành một khối thống nhất trong cơ thể
Sự thống nhất thể hiện như sau:
+ Thống nhất giữa đồng hoá và dị hoá:
* Nêu khái niệm đồng hoá và dị hoá
* Mối quan hệ của đồng hoá và dị hoá trong cơ thể
+ Thống nhất giữa cấu tạo và chức phận:
Mối quan hệ giữa cấu tạo và chức phận, đồng thời khẳng định vai trò quyết định của chức phận (vì chức phận liên quan trực tiếp đến quá trình trao đổi chất)
+ Thống nhất giữa các cơ quan trong cơ thể:
Giữa các cơ quan và hệ cơ quan trong cơ thể luôn có sự hoạt động phối hợp nhịp nhàng
và thống nhất với nhau Và sự thống nhất đó thể hiện theo 3 hướng:
* Một bộ phận này ảnh hưởng đến các bộ phận khác
* Toàn bộ cơ thể ảnh hưởng đến một bộ phận
* Trong từng cơ quan có sự phối hợp với nhau
+ Thống nhất giữa cơ thể với môi trường được thể hiện thông qua sự thích nghi Riêng ở người thì sự thích nghi này mang tính chủ động
b) Cơ thể là một hệ thống tự điều chỉnh Cơ thể có khả năng điều chỉnh nhờ sự tác động
của cơ chế thần kinh và thể dịch Hai cơ chế này tác động tương hỗ lẫn nhau Nêu mối quan
hệ tương hỗ giữa thần kinh và thể dịch
5 Đặc điểm chung của cơ thể trẻ
ư Cơ thể trẻ em không phải là cơ thể người lớn thu nhỏ theo một tỉ lệ nhất định và có nhiều
điểm khác về kích thước, cân nặng, cấu trúc và về chức năng hoạt động
ư Sự hoạt động của cơ thể trẻ cũng như của người lớn là các cơ quan và các hệ cơ quan hoạt động thống nhất trong một hệ thống hoàn chỉnh
Hướng dẫn trả lời câu hỏi ôn tập chương I
Câu 1 Thế nào là giải phẫu và sinh lí người?
Nêu khái niệm về giải phẫu và sinh lí người
Câu 2 Nêu ý nghĩa của giải phẫu và sinh lí người đối với chương trình đào tạo của ngành Mầm
non Nêu tầm quan trọng của bộ môn
Câu 3 Chứng minh "Tế bào là một đơn vị cấu trúc, chức năng và di truyền cơ bản của cơ thể"
Trang 18(Lưu ý: Trong các loại mô phải nêu cấu tạo và chức năng của nó)
Câu 5 Chứng minh "Cơ thể là một khối thống nhất"
Nêu:
ư Cơ thể bao gồm các cơ quan và các hệ cơ quan Các cơ quan và hệ cơ quan được cấu tạo từ các tế bào và mô
ư Các cơ quan, mô và tế bào liên kết thành một khối thống nhất trong cơ thể
ư Sự thống nhất trong cơ thể thể hiện như sau:
+ Thống nhất giữa đồng hoá và dị hoá (nêu khái niệm, mối quan hệ giữa đồng hoá và dị hoá trong cơ thể)
+ Thống nhất giữa cấu tạo và chức phận (nêu mối quan hệ giữa cấu tạo và chức phận)
+ Thống nhất giữa các cơ quan trong cơ thể (thể hiện theo 3 hướng)
+ Thống nhất giữa cơ thể với môi trường
(Lưu ý từng biểu hiện của sự thống nhất, lấy ví dụ minh hoạ)
Câu 6 Tại sao nói "Cơ thể là một hệ thống tự điều chỉnh"?
Cần nêu:
ư Vai trò của hệ thần kinh đối với cơ thể
ư Vai trò của thể dịch (chất có hoạt tính sinh học cao) đối với cơ thể
ư Mối quan hệ của cơ chế thần kinh và thể dịch trong việc điều khiển hoạt động của cơ thể
Câu 7 Trình bày đặc điểm chung về cơ thể trẻ em
Cần nêu:
ư Cơ thể bao gồm các cơ quan và các hệ cơ quan Các cơ quan và các hệ cơ quan đều
Trang 19Chương II
Tính quy luật về sự sinh trưởng
và phát triển của cơ thể
I- Tính quy luật về sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể trẻ
1 Khái niệm về sự sinh trưởng và phát triển
Quá trình sinh trưởng và phát triển là đặc tính sinh học chung của chất sống Sự sinh trưởng
và phát triển của con người được bắt đầu từ thời điểm thụ tinh của tế bào trứng cho đến lúc chết
1.1 Sự phát triển
Sự phát triển là một quá trình thay đổi về mặt số lượng và chất lượng xảy ra trong cơ thể
Sự phát triển của con người là một quá trình liên tục diễn ra trong suốt cả cuộc đời ở mỗi một giai đoạn phát triển của cá thể đều chứa đựng các vết tích của giai đoạn trước, những cái hiện có của giai đoạn này và những mầm mống của giai đoạn sau Như vậy, mỗi một lứa tuổi là một hệ thống cơ động, trong đó vết tích của giai đoạn trước dần dần bị xóa bỏ, cái hiện tại và tương lai được phát triển Sau đó cái hiện tại lại trở thành cái quá khứ và mầm mống của cái tương lai lại trở thành cái hiện tại, rồi những mầm mống của cái tương lai lại nảy sinh
Sự phát triển của cơ thể người được biểu hiện qua các chỉ số đo như: chiều cao, cân nặng, vòng ngực
Sự phát triển được thể hiện ở 3 yếu tố:
ư Sự tăng trưởng (hay sự lớn lên) của cơ thể, của các cơ quan riêng lẻ của cơ thể và ở sự tăng cường các chức năng của chúng
ư Sự phân hoá của các cơ quan và các mô
Trang 2020
1.2 Sự sinh trưởng
Sự sinh trưởng là quá trình tăng liên tục khối lượng của cơ thể bằng cách tăng số lượng hoặc tăng kích thước tế bào của cơ thể, dẫn đến tăng khối lượng mô, cơ quan và toàn bộ cơ thể Kết quả là xuất hiện sự thay đổi về mặt kích thước
Trong quá trình sinh trưởng, số lượng tế bào, khối lượng cơ thể và hệ số nhân chủng được tăng lên Một số cơ quan trong cơ thể như xương, phổi sự sinh trưởng được thực hiện đặc biệt nhờ việc tăng số lượng tế bào, một số khác như cơ, mô thần kinh có quá trình tăng kích thước chính tế bào
2 Tính quy luật sinh trưởng và phát triển của cơ thể
2.1 Tính không đồng đều và dạng sóng của quá trình sinh trưởng
Chẳng hạn:
ư Về chiều cao: Trẻ sơ sinh cao 50cm, cuối 1 tuổi cao 78 – 80cm (thậm chí 100cm); trẻ từ
11 – 12 tuổi thì em gái cao hơn em trai một chút; 13 – 14 tuổi em trai cao bằng em gái; 14 – 15 tuổi em trai thường cao hơn em gái
ư Về cân nặng: Trẻ sơ sinh nặng 3 – 3,2kg; cuối 1 tuổi nặng 9,5 – 10kg; 2 tuổi: 12kg, 3 tuổi: 14kg, 4 tuổi: 16kg, 5 tuổi: 15,7kg
Đến thời kì trưởng thành, nhịp độ sinh trưởng lại giảm và mỗi năm chỉ tăng lên 1,5 – 2kg về khối lượng và chiều cao tăng lên 4 – 5cm
Như vậy từ lúc sinh ra đến lúc trưởng thành, chiều dài cơ thể tăng lên 3,5 lần, chiều dài của thân tăng lên 3 lần, chiều dài của tay tăng lên 4 lần và chiều dài của chân tăng lên 5 lần
2.2 Các tỉ lệ trên cơ thể thay đổi theo lứa tuổi
ư Trẻ sơ sinh được phân biệt với người lớn bằng chân tay ngắn, thân lớn và đầu to
ư Với các lứa tuổi, độ dài của đầu nhỏ dần và độ dài của xương kéo dài ra Đến tuổi dậy thì:
ở nam chân tay dài, thân ngắn, xương chậu hẹp hơn so với nữ
Chẳng hạn: + ở trẻ sơ sinh, chiều dài đầu = 1/4 chiều dài cơ thể;
+ 2 tuổi, chiều dài đầu = 1/5 chiều dài cơ thể;
+ 6 tuổi, chiều dài đầu = 1/6 chiều dài cơ thể;
+ 12 tuổi, chiều dài đầu = 1/7 chiều dài cơ thể;
+ Người lớn, chiều dài đầu = 1/8 chiều dài cơ thể
Trang 21ư Có thời kì khác nhau về tỉ lệ giữa chiều dài và chiều ngang của cơ thể: từ 4 – 6 tuổi, 6 –
15 tuổi và 15 – người lớn
2.3 Sự thay đổi không đồng đều của các phần riêng biệt của cơ thể cũng như của nhiều cơ quan
về cơ bản là phù hợp với sự sinh trưởng không đồng đều về chiều dài của cơ thể Nhưng một số cơ quan và một số phần của cơ thể có kiểu sinh trưởng khác
Ví dụ, cơ quan sinh dục phát triển mạnh mẽ vào thời kì dậy thì và lúc này còn hình thành
được những dấu hiệu sinh dục phụ
Hoặc hệ thần kinh hoạt động như một khối thống nhất, nhưng các phần của nó được phát triển và hình thành theo những nhịp độ và thời hạn khác nhau: phần hướng tâm hoàn thiện lúc
6 – 7 tuổi, phần li tâm hoàn thiện lúc 23 – 25 tuổi Lúc 8 – 10 tuổi về cấu tạo của nRo bộ và nRo tủy như ở người lớn, còn về chức năng thì được hoàn thiện trong suốt thời gian dài tiếp theo
Như vậy, sự sinh trưởng không đồng đều là sự thích nghi được tạo bằng sự tiến hóa Sự phát triển không đồng đều cho phép đảm bảo sự sinh trưởng nhanh và có chọn lọc
2.4 Một số cơ quan tăng tỉ lệ thuận với khối lượng cơ thể
Ví dụ: tim tăng 15 lần, cơ tăng 35 – 40 lần so với mới sinh
2.5 Một số cơ quan tăng nhanh ngay trong thời kì phát triển bào thai
Khối lượng của chúng chỉ tăng 3 – 4 lần sau khi sinh
Ví dụ: nRo trẻ sơ sinh nặng 390g, còn nRo của người lớn 1480g (từ 10 tuổi trở đi khối lượng của nRo tăng rất ít)
2.6 Có những cơ quan khối lượng của chúng hoàn toàn không đổi sau khi sinh
Ví dụ như cơ quan thính giác và các ống bán khuyên nằm trong xương thái dương
Hình 2.1. Sự biến đổi tỉ lệ của thân thể theo tuổi
Trang 2222
2.7 Mỗi thời kì lứa tuổi có những đặc điểm phát triển cá nhân
Chúng thay đổi và phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe, điều kiện và mức độ phát triển của hệ thần kinh
II- Gia tốc phát triển của cơ thể
1 Khái niệm
Vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, người ta thấy rõ một hiện tượng: sự phát triển của loài người được tăng nhanh ở khắp mọi nơi trên trái đất và người ta gọi là gia tốc phát triển của cơ thể
Ngày nay người ta có đủ cơ sở để nói đến gia tốc sinh học và gia tốc xR hội
Gia tốc sinh học là toàn bộ những biến đổi có liên quan tới mặt sinh học của sự phát triển con người Gia tốc sinh học có liên quan đến một loạt các chỉ số phát triển hình thái và chức năng của cơ thể, trước hết là chỉ số về chiều cao, cân nặng
Gia tốc xR hội là sự tăng khối lượng tri thức của trẻ em so với những trẻ em cùng độ tuổi ở
+ Và từ 7 – 12 tuổi mỗi năm tăng trung bình 3 – 4cm
ư Sự gia tăng về khối lượng cũng được thể hiện rất rõ rệt Theo nghiên cứu của Đại học Y khoa trên trẻ Việt Nam:
áp, đái tháo đường, xơ vữa động mạch
2.2 Sự cốt hoá của xương
Chẳng hạn: sự cốt hoá của xương bàn tay diễn ra sớm hơn 1 – 2 năm so với năm 1936 Sự thay thế răng sữa bằng răng vĩnh viễn cũng được gia tăng với tốc độ như vậy
Trang 232.3 Về mặt sinh dục
Kì hạn của tuổi dậy thì được thay đổi cùng một lúc với gia tốc phát triển, thường sớm hơn 2 – 3 năm so với hồi đầu thế kỉ XX Trước đây, thời điểm xuất hiện kinh nguyệt lần đầu thường xảy ra ở em gái lúc 14 tuổi Từ năm 1959 trở lại đây, lần có kinh đầu tiên thường thấy ở các em gái 12 – 14 tuổi Còn bây giờ thời điểm có kinh lần đầu thường thấy lúc 11 – 13 tuổi
Qua nghiên cứu người ta thấy thời gian sinh đẻ của phụ nữ bây giờ kéo dài hơn trước kia khoảng 3 năm Thời kì mRn kinh của phụ nữ hiện nay xuất hiện muộn hơn so với trước kia Nếu trước kia thời kì mRn kinh xuất hiện lúc 45 tuổi, còn bây giờ lúc 48 – 50 tuổi
3 Nguyên nhân của gia tốc phát triển
Có nhiều giả thiết giả định lí giải về vấn đề này, nhưng cho đến nay vẫn chưa có quan điểm thống nhất
ư Đa số các nhà khoa học coi sự thay đổi trong thức ăn là yếu tố xác định trong tất cả sự tiến triển của sự phát triển Chẳng hạn, tăng protein, gluxit, lipit, vitamin
ư Một số người lại cho rằng do tác động của tia nắng mặt trời Như vậy trẻ em chịu ảnh hưởng của bức xạ mặt trời nhiều hơn Nhưng điều này không được khẳng định vì gia tốc phát triển của trẻ ở các nước phía Bắc diễn ra không bằng nhịp điệu nhỏ nhất so với các nước ở phía Nam
ư Một số người khác lại cho rằng do sự thay đổi khí hậu Chẳng hạn, không khí nóng, ẩm làm cho cơ thể sinh trưởng, phát triển chậm Còn không khí mát mẻ, khô ráo làm cho cơ thể mất nhiệt, điều đó đR kích thích sự sinh trưởng của cơ thể
ư Một số khác lại cho rằng, tăng chất lượng của thức ăn, giảm bệnh tật ở trẻ em là nguyên nhân quan trọng
ư Một số khác lại cho rằng, hình thức và phương pháp mới của giáo dục và dạy dỗ mà trước hết là sự tiếp xúc thường xuyên giữa nam và nữ, thể dục, thể thao là nguyên nhân dẫn đến gia tốc phát triển
ư Một số khác lại liên hệ gia tốc phát triển với tác nhân kích thích tác động nhịp điệu cuộc sống thành phố Thường trẻ em ở thành phố phát triển trí tuệ và đặc biệt là phát triển tình dục sớm hơn
ư Nguyên nhân của gia tốc phát triển nằm ngay trong lĩnh vực di truyền ở những nước kinh tế, giao thông phát triển, di dân mạnh, từ đó làm cho hôn nhân được mở rộng, xóa bỏ sự cô lập di truyền Và đó là nền tảng để thay đổi di truyền Vì vậy trẻ em lớn và trưởng thành sớm hơn bố mẹ mình
III- Những chỉ số phát triển thể lực của trẻ
Khi đánh giá mức độ phát triển thể lực của cơ thể trẻ em có thể theo: khối lượng cơ thể, chiều cao, vòng ngực và một số chỉ số khác (như trạng thái và màu sắc của niêm mạc, sự phát triển của các mô mỡ dưới da, sự phát triển về trương lực cơ, tư thế ) Ngay cả trẻ em hoàn toàn khỏe mạnh cũng tăng về chiều cao và cân nặng không đều đặn ở giai đoạn này thì trẻ lớn nhanh hơn, ở giai đoạn khác trẻ lại chậm lớn hơn
Trang 2424
Những chỉ số phát triển thể lực thay đổi mạnh, nhất là trong những năm đầu Chúng giảm nhiều khi trẻ bị ảnh hưởng của điều kiện sinh hoạt gia đình không thuận lợi, thiếu khí trời trong sạch, dinh dưỡng kém, thiếu ngủ, ít vận động, bị mắc bệnh Vì vậy, cần phải thường xuyên theo dõi sự phát triển thể lực của trẻ để kịp thời phát hiện những diễn biến xấu trong thể trạng của trẻ Trẻ em trong năm đầu cần theo dõi một tháng một lần, trẻ từ 1 – 3 tuổi thì 3 tháng/1 lần, trẻ từ 3 – 6 tuổi thì ít nhất 6 tháng/1 lần
Để đánh giá sự phát triển thể lực của cơ thể trẻ, người ta dùng phương pháp cân đo để đo chiều cao, cân nặng
ư Có thể ước tính chiều cao cho trẻ trên 1 tuổi bằng cách áp dụng công thức sau:
CN (kg) = 9 + 1,5 (n – 1)
hay CN (kg) = 9,5 + 2 (n – 1) + Đối với trẻ từ 11 – 15 tuổi, tính theo công thức:
CN (kg) = 21 + 4 (n – 10)
(n: số tuổi tính theo năm)
IV- Giới thiệu về biểu đồ tăng trưởng
1 Khái niệm về biểu đồ tăng trưởng
Biểu đồ tăng trưởng (biểu đồ phát triển cân nặng theo tuổi) là đồ thị thể hiện chiều hướng phát triển cân nặng của một đứa trẻ tương ứng với tuổi của nó
2 ý nghĩa của biểu đồ tăng trưởng
Biểu đồ giúp theo dõi và đánh giá sự phát triển thể chất của trẻ một cách dễ dàng, mặt khác phát hiện kịp thời tình trạng dinh dưỡng của trẻ Từ đó có kế hoạch điều chỉnh chế độ dinh dưỡng
và các biện pháp chăm sóc trẻ cho phù hợp
3 Cách sử dụng biểu đồ tăng trưởng
Hàng tháng tiến hành cân đều đặn cho trẻ bằng một loại cân nhất định
Trang 2626
Kết quả của mỗi lần cân được ghi vào biểu đồ tăng trưởng (biểu đồ đR được in sẵn, trong đó trục ngang ứng với giá trị của tuổi, trục dọc ứng với giá trị của cân nặng) Sau đó nối các kết quả của các lần cân ta được đồ thị Nếu đường đi của đồ thị theo hướng đi lên là tốt, theo hướng nằm ngang thì chứng tỏ trẻ không lên cân, còn theo hướng đi xuống trẻ sụt cân Khi đồ thị chỉ
Trang 27theo hướng nằm ngang và đi xuống cần phải tìm hiểu nguyên nhân rồi từ đó có những biện pháp can thiệp kịp thời
V- Đặc điểm phát triển các thời kì của cơ thể
2 Đặc điểm của các thời kì
Sự phân chia các thời kì (hay giai đoạn) của cơ thể là một thực tế khách quan, nhưng ranh giới giữa các giai đoạn không rõ ràng
Có nhiều cách phân chia các thời kì của cơ thể Các cách phân chia đều dựa vào những đặc
điểm cơ bản về sinh học của cơ thể, song cách gọi tên mỗi thời kì cũng như sự phân thời gian cũng khác nhau tùy theo từng trường phái
Sau đây là cách chia của trường phái các nhà nhi khoa Liên Xô trước đây (A F Tua) đR
được sử dụng rộng rRi ở nước ta
ư Thời kì phát triển trong tử cung
2.1 Thời kì phát triển trong tử cung
a) Thời kì này được bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến khi đứa trẻ ra đời (khoảng
270 ư 280 ngày)
Thời kì này có 2 giai đoạn nhỏ:
ư Giai đoạn phát triển phôi thai (3 tháng đầu): là giai đoạn hình thành thai nhi
ư Giai đoạn phát triển thai nhi: (từ tháng thứ 4 đến khi đẻ): thai nhi phát triển rất nhanh + Từ 4 ư 6 tháng: thai nhi phát triển về chiều dài
+ Từ 7 ư 9 tháng: thai nhi phát triển về cân nặng
Trang 2828
Sự tăng cân của thai nhi phụ thuộc vào sự tăng cân của mẹ, cũng như khả năng giảm mỡ của tử cung
Sự tăng cân của mẹ khi mang thai:
* Quý I của thai kì tăng từ 0 ư 2kg
* Quý II của thai kì tăng từ 3 ư 4kg
* Quý III của thai kì tăng từ 5 – 6kg
Đến cuối thai kì người mẹ tăng được từ 8 – 12kg
b) Đặc điểm chung của thời kì này
ư Hình thành thai nhi và thai nhi phát triển rất nhanh
ư Sự dinh dưỡng của thai nhi hoàn toàn phụ thuộc vào cơ thể mẹ
2.2 Thời kì sơ sinh (từ lúc lọt lòng đến 1 tháng)
Trẻ bắt đầu làm quen và thích nghi đối với môi trường sống ngoài tử cung Cơ thể trẻ rất yếu, chức năng của tất cả các bộ phận đều chưa hoàn chỉnh (nhất là hệ thần kinh) Chức năng hô hấp và tuần hoàn cũng thay đổi hẳn Bộ máy tiêu hoá bắt đầu làm việc Ngoài ra còn có các hiện tượng bong da, vàng da sinh lí, sụt cân, rốn khô và rụng
2.3 Thời kì bú mẹ (hay nhũ nhi)
ư Thời kì này tiếp theo thời kì sơ sinh cho đến hết năm đầu (từ
1 ư 12 tháng) Các tác giả Pháp – Mỹ tính đến 24 tháng
ư Thời kì này tốc độ tăng trưởng nhanh, nhất là trong 3 tháng đầu Do đó nhu cầu dinh dưỡng cao, quá trình đồng hoá mạnh hơn quá trình dị hóa Vì thế cuối 1 tuổi trẻ nặng gấp 3 lần
so với lúc mới đẻ, chiều cao tăng 1,5 lần và vòng đầu tăng 35%
ư Chức năng của các bộ phận cũng phát triển nhanh, nhưng vẫn chưa hoàn thiện, đặc biệt là chức năng tiêu hoá (cụ thể: số lượng dịch tiêu hoá ít, hoạt động của các men tiêu hoá yếu, trẻ chưa biết cách nhai )
ư Hệ thống tín hiệu thứ nhất đR hình thành, bắt đầu có hoạt động thần kinh cấp cao ở trẻ Cuối 1 tuổi trẻ đR bắt đầu biết nói và hiểu được nhiều điều
ư Chức năng điều hoà nhiệt của nRo trẻ chưa hoàn chỉnh, bề mặt của da tương đối lớn so với cân nặng của cơ thể, do đó nhiệt lượng của cơ thể trẻ mất nhiều hơn ở người lớn gấp 2 – 3 lần
ư Hệ thống cơ xương phát triển nhanh, đối với trẻ khỏe mạnh, 1 tuổi đR bắt đầu đi được
2.4 Thời kì răng sữa (từ 12 – 72 tháng)
ư Có thể chia thời kì này thành 2 giai đoạn nhỏ:
+ Giai đoạn nhà trẻ: từ 1 – 3 tuổi;
+ Giai đoạn mẫu giáo: từ 4 – 6 tuổi
ư Đặc điểm chủ yếu của thời kì này:
+ Biến đổi chủ yếu về số lượng hơn là biến đổi về chất lượng
+ Trẻ chậm lớn hơn so với thời kì bú mẹ
Trang 29+ Các chức năng chủ yếu của cơ thể dần dần hoàn thiện Đặc biệt là chức năng vận động phối hợp động tác, cơ lực phát triển nhanh Vì vậy, trẻ làm được những động tác khéo léo hơn, gọn gàng hơn, có thể làm được những công việc tương đối khó, phức tạp hơn và một số công việc tự phục vụ như tự ăn, tự mặc quần áo, tự đi tất, tự tắm rửa lấy
+ Hệ thần kinh tương đối phát triển, hệ thần kinh trung ương và ngoại biên đR biến hóa, chức năng phân tích, tổng hợp của vỏ nRo đR hoàn thiện, số lượng các phản xạ có điều kiện ngày càng nhiều, tốc độ hình thành phản xạ có điều kiện nhanh, trí tuệ phát triển nhanh Do đó trẻ có thể nói được những câu dài, có biểu hiện ham học, có ấn tượng sâu sắc đối với những người xung quanh
+ Đến thời kì mẫu giáo, thể chất, trí tuệ và tính khéo léo phát triển hơn Lúc này trẻ đR biết chơi tập thể với nhau, đR học được những bài hát ngắn Vì vậy, tác dụng tốt hay xấu của môi trường xung quanh dễ tác động đến trẻ
2.5 Thời kì thiếu niên (từ 7 – 15 tuổi)
ư Thời kì này cũng có thể chia làm 2 giai đoạn nhỏ:
+ Giai đoạn học sinh nhỡ (học sinh tiểu học: từ 7 – 12 tuổi)
+ Giai đoạn học sinh lớn (tuổi dậy thì): từ 12 – 15 tuổi
ư Đặc điểm chung của thời kì này:
+ Cấu tạo và chức phận của các bộ phận trong cơ thể đR phát triển hoàn toàn
+ Tế bào vỏ nRo đR hoàn toàn biệt hóa, các đường dẫn truyền đR hoàn thiện, chức phận của bán cầu đại nRo phát triển mạnh và phức tạp hơn
+ Hệ thống cơ bắp phát triển mạnh
+ Răng vĩnh viễn thay cho răng sữa
+ Có những biểu hiện đặc biệt về sự phát triển trí tuệ, về tâm sinh lí của từng giới
2.6 Thời kì dậy thì (tuổi học sinh Trung học phổ thông)
ư Thời kì dậy thì thực ra bắt đầu từ lứa tuổi thiếu niên, nhưng nó thay đổi tùy theo giới, tình trạng dinh dưỡng, hoàn cảnh kinh tế – xR hội
Theo nghiên cứu gần đây (1995) của Cao Quốc Việt và cộng sự trên học sinh ở các tỉnh phía Bắc cho thấy:
Thời kì dậy thì ở học sinh
± 1 năm 3 tháng
13 năm 6 tháng
± 1 năm
Trang 3030
ư Đặc điểm chung của thời kì này:
+ Có sự chuyển biến về hệ nội tiết Hoạt động của nội tiết tố sinh dục chiếm ưu thế Chức năng của cơ quan sinh dục đR trưởng thành, các tính sinh dục thứ yếu đR hoàn toàn phát triển
Do có sự biến đổi về hệ nội tiết nên hệ thần kinh thường có những tình trạng không ổn định Cơ thể phát triển nhanh
+ Sau khi dậy thì hoàn toàn thì tốc độ tăng trưởng giảm xuống rất nhanh và ngừng hẳn ở nữ vào tuổi 19 – 20 và ở nam ở tuổi 21 – 25
Kết luận:
ư Sự thay đổi và phát triển của các thời kì phụ thuộc vào nhiều yếu tố (như di truyền, môi trường sống ) Vì vậy, ranh giới của các thời kì không rõ ràng, chúng có thể diễn ra sớm hay muộn tùy từng trẻ, song mọi trẻ đều phải trải qua các thời kì đó
ư Mỗi thời kì có những đặc điểm riêng Vì vậy cần nắm vững những đặc điểm đó để nuôi dưỡng và giáo dục trẻ cho phù hợp với từng độ tuổi
ư Cần có quan điểm "động" khi nghiên cứu về trẻ
Câu hỏi
1 Thế nào là sự sinh trưởng và sự phát triển?
2 Trình bày tính quy luật sinh trưởng và phát triển của cơ thể
3 Thế nào là gia tốc phát triển của cơ thể?
4 Phân tích những nguyên nhân gây ra gia tốc phát triển của cơ thể
5 Trình bày đặc điểm phát triển của các thời kì của cơ thể
Hướng dẫn tự học Chương II
I- Mục đích yêu cầu
Học chương này, học viên cần nắm được các kiến thức cơ bản sau:
ư Khái niệm về sinh trưởng và phát triển, từ đó nắm được các quy luật của sự sinh trưởng
và phát triển của cơ thể
ư Khái niệm về gia tốc phát triển của cơ thể, từ đó nắm được gia tốc phát triển của cơ thể
và nguyên nhân gây ra gia tốc đó
ư Các chỉ số đánh giá sự phát triển thể lực của cơ thể
ư ý nghĩa và cách sử dụng biểu đồ tăng trưởng
ư Cơ sở phân chia và đặc điểm phát triển của các thời kì của cơ thể
II- Phương pháp học
Đọc kĩ giáo trình
III- Hướng dẫn chi tiết
1 Khái niệm về sự sinh trưởng và phát triển
Cần nắm được:
ư Sinh trưởng và phát triển là đặc tính sinh học chung của chất sống
Trang 31ư Sự sinh trưởng và phát triển của con người được bắt đầu từ thời điểm thụ tinh của tế bào trứng cho đến lúc chết
a) Sự phát triển
ư Là một quá trình thay đổi về mặt số lượng và chất lượng xảy ra trong cơ thể
ư Sự phát triển của con người là một quá trình liên tục diễn ra trong suốt cả cuộc đời và
được biểu hiện qua các chỉ số đo người như: chiều cao, cân nặng, vòng ngực
2 Tính quy luật sinh trưởng và phát triển của cơ thể
Cần nắm được các quy luật sau:
ư Không đồng đều và dạng sóng của quá trình sinh trưởng
ư Các tỉ lệ trên cơ thể thay đổi theo lứa tuổi
ư Sự thay đổi không đồng đều của các phần riêng biệt của cơ thể cũng như của nhiều cơ quan về cơ bản là phù hợp với sự sinh trưởng không đồng đều về chiều dài của cơ thể Nhưng một số cơ quan và một số phần của cơ thể có kiểu sinh trưởng khác
+ Một số cơ quan tăng tỉ lệ thuận với khối lượng cơ thể
+ Một số cơ quan tăng nhanh ngay trong thời kì phát triển bào thai, khối lượng của chúng chỉ tăng 3 … 4 lần
+ Có những cơ quan khối lượng của chúng hoàn toàn không đổi sau khi sinh
+ Mỗi thời kì lứa tuổi có những đặc điểm phát triển cá nhân
3 Gia tốc phát triển của cơ thể
ư Nguyên nhân của gia tốc phát triển:
+ Có nhiều giả thiết giả định lí giải về vấn đề này, nhưng cho đến nay vẫn chưa có quan
Trang 3232
+ Vòng ngực
+ Một số chỉ số khác (như trạng thái và màu sắc của niêm mạc, sự phát triển của các mô
mỡ dưới da, sự phát triển về trương lực cơ, tư thế )
ư Những yếu tố đó ảnh hưởng đến phát triển thể lực của trẻ:
+ Điều kiện sinh hoạt gia đình không thuận lợi
+ Thiếu khí trời trong sạch
+ Theo dõi và đánh giá sự phát triển thể chất của trẻ một cách dễ dàng
+ Phát hiện kịp thời tình trạng dinh dưỡng của trẻ
ư Cách sử dụng:
+ Cân đều đặn cho trẻ bằng một loại cân nhất định
+ Kết quả của mỗi lần cân được ghi vào biểu đồ tăng trưởng
+ Nối các kết quả của các lần cân ta được đồ thị
6 Đặc điểm phát triển của các thời kì của cơ thể
b) Đặc điểm phát triển của các thời kì của cơ thể
ư Thời kì phát triển trong tử cung
Trang 33+ Thời gian của thời kì
+ Đặc điểm của từng thời kì
Hướng dẫn trả lời câu hỏi ôn tập chương II
Câu 1 Thế nào là sự sinh trưởng và sự phát triển?
ư Nêu khái niệm của sự sinh trưởng và phát triển
Câu 2 Trình bày tính quy luật sinh trưởng và phát triển của cơ thể
Cần nêu:
ư Các quy luật của sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể
ư Cho ví dụ minh họa cho từng quy luật ấy
Câu 3 Thế nào là gia tốc phát triển của cơ thể?
Cần nêu:
ư Khái niệm về gia tốc phát triển của cơ thể
ư Gia tốc phát triển của cơ thể được thể hiện thông qua các chỉ số phát triển hình thái
và chức năng của cơ thể và được thể hiện ở các lứa tuổi Lấy ví dụ minh hoạ
Câu 4 Phân tích những nguyên nhân gây ra gia tốc phát triển của cơ thể
Cần nêu:
ư Các nguyên nhân: di truyền, dinh dưỡng, luyện tập, tiêm chủng…
ư Và lí giải vì sao lại đưa ra các nguyên nhân đó
Câu 5 Trình bày đặc điểm phát triển của các thời kì của cơ thể
Cần nêu:
ư Cơ sở phân chia
ư Đặc điểm của các thời kì của cơ thể
(Lưu ý: Khi trình bày đặc điểm của các thời kì của cơ thể cần nêu thời gian và đặc điểm của nó)
Trang 3434
Chương III
Hệ thần kinh
I- Tầm quan trọng của hệ thần kinh
Nhờ hệ thần kinh mà cơ thể có khả năng tiếp nhận được tất cả mọi biến đổi xảy ra ở môi trường bên trong, bên ngoài cơ thể và phản ứng lại một cách tích cực đối với những biến đổi đó, làm thay đổi quan hệ của mình đối với chúng Từ đó, làm cho hoạt động của các cơ quan thích nghi với những điều kiện biến đổi của môi trường bên ngoài trong từng thời điểm riêng rẽ, cũng như trong suốt cuộc đời của cơ thể Đồng thời nhờ có phần cao cấp của hệ thần kinh (bán cầu
đại nRo và đặc biệt là vỏ nRo) mà con người có hoạt động tư duy và hoạt động tâm lí Chính vì thế, vỏ nRo là cơ sở vật chất của toàn bộ hoạt động tâm lí của con người
Như vậy, hệ thần kinh có vai trò vô cùng quan trọng trong cơ thể, nó chính là cơ quan điều khiển cơ thể làm cho cơ thể là một khối thống nhất
II- Cấu tạo và chức phận của hệ thần kinh
1 Nơron ưưưư đơn vị cấu trúc và chức năng
Nơron (tế bào thần kinh) là yếu tố cấu trúc cơ bản của hệ thần kinh Nơron khác nhau về hình dạng bên ngoài, về kích thước và về cấu tạo Mỗi một nơron đều có màng bao bọc ở bên ngoài Từ các nơron nằm trong nRo bộ và tủy sống có các trục đi ra ngoại biên gọi là các sợi thần kinh Các sợi thần kinh tập trung thành từng bó gọi là dây thần kinh Một nơron gồm:
1.1 Thân tế bào
Gồm có nguyên sinh chất và nhân làm nhiệm vụ nuôi dưỡng tế bào, dẫn truyền hưng phấn
và giữ lại dấu vết của những luồng kích thích đR đi qua Trong nguyên sinh chất có các thể Niss chứa ARN Chính thể Niss làm cho thân tế bào có màu xám, vì thế vỏ nRo cũng có màu xám
ở người thân tế bào thần kinh có kích thước 10 – 40àm Trong nhân tế bào có chứa ADN, vì vậy nhân đảm nhận được nhiệm vụ trên
1.2 Các trục (các tua) của tế bào
Các trục (các tua) của tế bào làm nhiệm vụ tiếp nhận và dẫn truyền những xung động thần kinh Gồm:
ư Các tua ngắn (đột nhánh hay dendrit)
ư 1 hoặc 2 tua dài (đột trục hay acxon) ở đầu của các tua dài cũng phân nhánh
và ở tận cùng nối với các tế
Trang 35ở người và động vật bậc cao, các tua dài được bao bởi một vỏ mielin Vỏ này không liên tục mà có những eo gọi là Ravier Tùy từng vị trí mà tua dài có thể dài từ 2cm đến 1m
Nơron không sinh ra trong quá trình sống Đây là điểm khác so với các tế bào khác trong cơ thể Khi sinh ra có 100 tỉ, lúc 30 tuổi mất 1/2 số nơron Nếu các tua của tế bào thần kinh bị cắt
ra khỏi thân thì phần ngoại biên (dây thần kinh) sẽ bị chết đi, nhưng bao mielin vẫn nằm đấy và tái sinh lại phần dây đR mất Còn nếu cắt thân thì tế bào thần kinh bị chết hẳn Khi bị thương nếu dây thần kinh chưa nối thì có hiện tượng tê
ư Có nhiều cách phân loại tế bào thần kinh Sau đây là một số loại:
+ Phân loại theo chức năng thì tế bào thần kinh gồm:
* Tế bào cảm giác: 1 tua liên kết với các thụ quan, giác quan rồi đưa tin về thần kinh trung
ương
* Tế bào vận động: đưa lệnh vận động từ trung ương thần kinh đến các tuyến, các cơ gây vận động
* Tế bào trung gian: liên kết giữa tế bào cảm giác và các tế bào vận động
+ Phân loại theo hình dạng của tế bào thần kinh thì gồm:
* Tế bào thần kinh hình sao
* Tế bào 3 góc (tế bào mũ ni)
Trang 36+ Sự dẫn truyền của nơron:
Trong một nơron hưng phấn được dẫn truyền theo một chiều (từ trục ngắn qua thân nơron sang tua dài)
Sợi thần kinh có khả năng dẫn truyền theo hai chiều, nhưng trong cơ thể nó chỉ dẫn truyền một chiều Tốc độ dẫn truyền phụ thuộc vào cấu tạo của sợi thần kinh Chẳng hạn, các sợi thần kinh có đường kính to dẫn truyền nhanh hơn các sợi có đường kính nhỏ Các sợi không có bao mielin dẫn truyền liên tục theo kiểu"cuốn chiếu", các sợi có mielin dẫn truyền theo kiểu nhảy cóc từ eo này sang eo khác, vì vậy tốc độ dẫn truyền lớn hơn so với sợi không có mielin
Trong một bó sợi thần kinh, xung động được dẫn truyền riêng rẽ trong từng sợi
Sự dẫn truyền xung động qua xináp được thực hiện bởi các chất môi giới hoá học
2 Sự phát triển của hệ thần kinh trong bào thai
Trong 3 tuần lị đầu của thời kì bào thai chưa có dấu hiệu thành lập hệ thần kinh Đến tuần thứ 4, ở phía lưng phôi thai xuất hiện những mảnh tuỷ, đây là cơ sở đầu tiên của hệ thần kinh Sau đó từ những tấm này hình thành nên ống tuỷ Phần sau của ống hẹp hơn biến thành tủy sống, phần trước của ống rộng hơn tạo thành nRo bộ Về sau phần trước của ống rộng hơn nữa
để tạo thành phình nRo Phình nRo gồm: 2 bán cầu đại nRo (nối với nhau bằng thể chai), nRo trung gian, nRo giữa, cầu nRo, tiểu nRo, hành tủy tiếp liền với tủy sống
3 Cấu tạo và chức phận của hệ thần kinh trẻ
3.1 Cấu tạo
3.1.1 Não bộ
Cho đến lúc ra đời, nRo bộ của trẻ vẫn chưa được phát triển đầy đủ, mặc dù hình thái và cấu tạo giải phẫu của nó không khác với nRo của người lớn là mấy ở trẻ sơ sinh, nRo bộ có kích thước nhỏ, khối lượng khoảng 370 – 392g (= 1/8 – 1/9 khối lượng cơ thể) ở người lớn khối lượng của nRo bằng 1/40 ư 1/49 khối lượng cơ thể Như vậy, 1kg cân nặng trẻ em có 109g chất nRo, còn ở người lớn chỉ có 20,5g chất nRo Trong 9 năm đầu, khối lượng của nRo tăng lên mạnh
mẽ Chẳng hạn, trẻ được 6 tháng tuổi khối lượng của nRo tăng gấp đôi, 3 tuổi tăng gấp 3 và khi trẻ được 9 tuổi thì nRo nặng trung bình là 1300g (chỉ kém nRo người lớn khoảng 100g) Đến tuổi dậy thì, khối lượng của nRo hầu như không thay đổi Như thế không có nghĩa trong nRo không xảy ra sự thay đổi nào
Bảng 3.1. Khối lượng của não bộ theo tuổi (g) theo Gundobin
Trang 37Đến khi trẻ được khoảng từ 7 – 14 tuổi thì nRo bộ của nó giống như người lớn
NRo của trẻ em có 100 tỉ tế bào và vỏ nRo cũng có 6 lớp nhưng các tế bào thần kinh vỏ nRo chưa được biệt hoá hoàn toàn Khi trẻ được khoảng 3 tuổi, đa số các tế bào thần kinh đR biệt hóa, nhưng phải đến khoảng 8 tuổi mới biệt hoá hoàn toàn như ở người lớn
Các tế bào thần kinh sắp xếp liền nhau không những ở mặt ngoài vỏ nRo mà cả trong chất trắng nữa Vì vậy sự phân biệt giữa chất trắng và chất xám cũng như lớp vỏ và trung tâm dưới
vỏ ở nRo bào thai và trẻ sơ sinh chưa rõ rệt Sau này vỏ nRo ngày càng phát triển, các tế bào thần kinh đR phân hoá ra và tập trung ở phần vỏ nRo
Hình 3.2. Não bộ của trẻ
a) Thai 3 tháng; b) Thai 5 tháng; c) Não của trẻ sơ sinh
1 Hốc Sinviut; 2 Rãnh trung tâm; 3 Rãnh trước trung tâm
Trang 3838
ở trẻ mới đẻ, các sợi thần kinh chưa được mielin hoá hết, đến tháng thứ ba, các dây thần kinh sọ nRo có vỏ mielin Từ tháng thứ ba đến tháng thứ sáu, bó tháp có vỏ bọc mielin, các dây thần kinh ngoại biên phải đến khi trẻ được 3 tuổi mới có vỏ bọc mielin Nói chung đến gần 2 tuổi thì quá trình mielin hoá đR tương đối hoàn thiện Sự mielin hoá có ý nghĩa lớn vì nó góp phần làm cho hưng phấn được truyền đi một cách riêng biệt theo các sợi thần kinh Vì thế hưng phấn được truyền đến vỏ nRo một cách chính xác, định khu hơn Từ đó hoạt động của trẻ hoàn thiện hơn
Trong thời kì sơ sinh, vỏ nRo và thể vân chưa phát triển Lúc đầu chủ yếu các trung tâm dưới
vỏ, sau đó vỏ nRo mới được hình thành và phát triển
Hệ thống mao mạch trong nRo của trẻ (đặc biệt ở trẻ sơ sinh) phát triển mạnh, các đám rối huyết quản chưa phát triển
Trong nRo của trẻ em có nhiều nước, nhiều chất đạm, ít chất mỡ Khi trẻ được 2 tuổi thì thành phần hoá học của nRo giống như ở người lớn
Sự phát triển của các đường dẫn truyền diễn ra mạnh mẽ theo sự tăng lên của tuổi và được tiếp tục cho đến khi trẻ 14 – 15 tuổi
ư Các tế bào thần kinh chưa được biệt hoá hoàn toàn
ư Các sợi thần kinh chưa mielin hoá đầy đủ
ư Hệ thống mao mạch của nRo phát triển nhiều
ư Trong nRo có chứa nhiều nước
Chính vì những đặc điểm trên mà nRo của trẻ dễ bị xung huyết; trong các bệnh, trẻ em dễ
có phản ứng nRo (hôn mê, co giật) Khi bị trúng độc thì trẻ thường bị nặng hơn
3.1.2 Tiểu não
Tiểu nRo tuy phát triển muộn nhưng có tốc độ nhanh Trẻ sơ sinh, tiểu nRo chưa phát triển: các rRnh chưa sâu, khối lượng còn nhỏ Khi trẻ được 3 tháng có sự phân hoá trong cấu trúc tế bào tiểu nRo Trẻ được khoảng 1 đến 2 tuổi, tiểu nRo có khối lượng và kích thước gần giống với tiểu nRo của người lớn
3.1.3 Hành tuỷ, não giữa
Khi trẻ được 5 – 6 tuổi, hành tủy và nRo giữa có được vị trí giống như ở người lớn về mặt chức năng
3.1.4 Tủy sống
ư ở trẻ, khối lượng và kích thước của tủy sống có những biến đổi rõ rệt theo chiều cao của chúng Trẻ sơ sinh tủy sống nặng 2 – 6 gam; sau một tuổi nặng gấp đôi; 5 tuổi nặng gấp 3 (18 gam); 14 – 15 tuổi nặng gấp 4 – 5 lần (24 – 30 gam)
ư Chiều dài của tủy sống cũng được thay đổi tương ứng với chiều dài thân thể Chẳng hạn: + Trẻ sơ sinh chiều dài tủy sống xấp xỉ 30% chiều dài thân thể
+ Sau một năm chiều dài tủy sống xấp xỉ 27% chiều dài thân thể
+ Sau 5 năm chiều dài tủy sống xấp xỉ 21% chiều dài thân thể
Trang 39Cụ thể, lúc mới đẻ nón cùng tủy sống tương đương với đốt thắt lưng 3; 4 tuổi thì ngang mức thắt lưng 1 và 2 như ở người lớn
ư ở trẻ em nước nRo tủy có khoảng 60ml (ở người lớn là 100ml)
3.1.5 Hệ thần kinh thực vật
Trong những giai đoạn đầu của sự phát triển ở trẻ, hai phần giao cảm và phó giao cảm của
hệ thần kinh thực vật phát triển không đồng đều Hệ giao cảm có tác dụng ưu thế trong những tháng đầu của trẻ sơ sinh cho đến 7 tuổi Hệ phó giao cảm có tác dụng khi trẻ được 3 tháng Do
đặc điểm này mà một số tác giả cho rằng nó gây ra hiện tượng loạn nhịp thở, loạn nhịp tim, co thắt thanh quản, ra nhiều mồ hôi và một vài hiện tượng khác hay gặp ở lứa tuổi này
3.2 Chức phận
ư Phản ứng vỏ nRo có xu hướng lan toả Do các tế bào thần kinh chưa biệt hoá nên bất kì một kích thích nào cũng đều gây phản ứng toàn thể
Ví dụ: Khi kích thích vào da của trẻ (đặc biệt là trẻ sơ sinh) thì nó co cả tay và chân
ư Khả năng hưng phấn của vỏ nRo còn yếu, chóng bị mệt mỏi Đặc biệt, ở trẻ sơ sinh khi có kích thích ngoại cảnh quá mức sẽ đưa đến tình trạng ức chế bảo vệ của vỏ nRo Vì thể trẻ sơ sinh ngủ suốt ngày
ư Lúc đầu vỏ nRo chưa phát triển nên hoạt động của trẻ do các trung tâm dưới vỏ điều khiển Do đó ở trẻ sơ sinh có những cử động có tính chất tự phát, có dạng múa giật, múa vờn của hệ thống ngoại tháp Dần dần vỏ nRo phát triển xuất hiện ở trẻ những vận động có ý thức và phối hợp như ngồi, đứng, đi Sau này ở trẻ em khi bị kích thích quá mức như sợ hRi, tức giận có thể gây nên ức chế hoạt động vỏ nRo, giải phóng trung tâm dưới vỏ và tạo nên những cử động bất thường của hệ thống dưới vỏ (biểu hiện bằng những cử động không mục đích, không trật tự, không phối hợp)
III- Hoạt động phản xạ của hệ thần kinh
1 Định nghĩa phản xạ
Xuất phát từ quan niệm về sự thống nhất giữa cơ thể và môi trường, Paplôp cho rằng: Phản xạ là những nhân tố của sự thích ứng thường xuyên hay là thăng bằng thường xuyên giữa cơ thể
nói: Phản xạ là hoạt động trả lời của cơ thể đối với sự thích nghi của cơ quan nhận cảm, được thực hiện qua hệ thần kinh trung ương
Ví dụ: Sờ tay vào nước nóng thì rụt tay lại
2 Cung phản xạ
ư Cung phản xạ là đường truyền của xung động thần kinh từ cơ quan thụ cảm qua trung
ương thần kinh đến cơ quan thực hiện
ư Cung phản xạ gồm: 5 khâu
+ Bộ phận nhận cảm
+ Đường thần kinh truyền vào (dây thần kinh hướng tâm)
Trang 4040
+ Trung ương thần kinh: nRo bộ, tủy sống
+ Đường thần kinh truyền ra (dây thần kinh li tâm)
+ Cơ quan thực hiện (cơ quan hiệu ứng)
Hình 3.3 Sơ đồ cung phản xạ
ư Phản xạ không chỉ dừng lại ở sự trả lời kích thích mà từ cơ quan trả lời đó có những xung
động thần kinh chạy ngược về hệ thần kinh trung ương để báo cáo lại kết quả của hành động đR thực hiện (đó là tín hiệu phản hồi hay đường liên hệ ngược) Tại trung ương thần kinh có sự đối chiếu với dự định ban đầu, nếu cần thiết sẽ đưa ra mệnh lệnh mới để bổ sung, điều chỉnh Do đó
đường đi của phản xạ là một vòng khép kín, hay là một vòng xoáy ốc cứ mở rộng mRi ra do kết quả của tín hiệu phản hồi Chính vì vậy mới có khái niệm về vòng phản xạ
3 Trung khu thần kinh
Trong hệ thần kinh trung ương có những vùng liên quan chặt chẽ với từng chức phận sinh lí của cơ thể, mỗi vùng như vậy gọi là trung khu thần kinh
Trung khu thần kinh là một nhóm các tế bào thần kinh tham gia điều khiển một phản xạ hoặc điều hoà một chức năng nào đó
Một trung khu thần kinh có thể nằm ở một hay nhiều nơi
Ví dụ: Trung khu hô hấp vừa nằm ở hành tủy và vừa nằm ở vỏ nRo
4 Hoạt động phản xạ
4.1 Sự khác nhau giữa phản xạ có điều kiện và phản xạ không điều kiện
Bảng 3.2. So sánh phản xạ không điều kiện và có điều kiện
Phản xạ không điều kiện Phản xạ có điều kiện
ư Phản xạ có tính chất bẩm sinh, di truyền,
đặc trưng cho loài ư Phản xạ tự tạo, được hình thành trong đời
Nơron trung gian Chất trắng