Tài liệu thảo luận Văn hóa ẩm thực Tây Nguyên được thực hiện bởi sinh viên Đại học Thương Mại khoa Kinh Tế Luật Bộ môn Cơ sở văn hóa Việt Nam.Tài liệu hỗ trợ các bạn biết thêm về vị trí địa lý, dân cư, văn hóa của vùng văn hóa Tây Nguyên, đặc biệt là nền ẩm thực phong phú nơi đây. Hi vọng tài liệu của chúng mình có ích cho các bạn, mang lại nhiều thông tin phục vụ đề tài thảo luận nhóm hay nguồn đọc bổ ích trang bị kiến thức cho bản thân. Mình xin chân thành cảm ơn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
oOo
- - -
CHUYÊN ĐỀ THẢO LUẬN
VĂN HÓA ĂN TÂY NGUYÊN
Nhóm thực hiện: 5
Lớp học phần:
Khoa: Kinh tế – Luật
Môn học: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Giáo viên hướng dẫn: Kiều Thu Hương
Hà Nội, tháng 12 năm 2020.
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, nhóm 5 chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô Kiều Thu
Hương – Giảng viên lớp Cơ sở văn hóa Việt Nam đã giảng dạy nhiệt tình, truyền
đạt cho bọn em những kiến thức cơ bản cho tới thực tiễn cần thiết đến tới chúng em
và các bạn Từ đó chúng em vận dụng những kiến thưc ấy để hoàn thành bài thảo
luận một cách tốt nhất Bên cạnh đó không thể không nhắc tới những đóng góp nhất
định không nhỏ tới từ thành viên trong nhóm, cảm ơn các bạn tham gia đầy đủ, tích
cực tham gia đóng góp ý kiến xây dựng và hoàn thành bài thảo luận Mặc dù nhóm
đã cố gắng để hoàn thành bài thaỏ luận trong phạm vi và khả năng cho phép song
vẫn sẽ không tránh khỏi những sai sót, nhóm em rất mong được nhạn sự đóng góp
từ cô và các bạn dể bài thảo luận nhóm được hoàn thiện hơn cả
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một nước nông nghiệp thuộc về xứ nóng, vùng nhiệt đới gió mùa Ngoài ra lãnh thổ Việt Nam được chia ra ba miền rõ rệt là Bắc,
Trung, Nam.Chính các đặc điểm về địa lý, văn hóa, dân tộc, khí hậu đã quy
định những đặc điểm riêng của ẩm thực từng vùng - miền Mỗi miền có một
nét, khẩu vị đặc trưng Điều đó góp phần làm ẩm thực Việt Nam phong phú,
đa dạng.
Núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ với những sản vật của non cao sẽ làm hài lòng du khách bốn phương khi có dịp dừng chân Ẩm thực Tây
Nguyên vừa dân giã, vừa tinh tế, lại bổ dưỡng Món ăn không được nấu
trong những nồi, chảo thông thường mà chế biến từ trong những ống tre, ống
nứa sẽ đem lại cho bạn những cảm giác đặc biệt, không thể nào quên.
Trang 4I Giới thiệu sơ lược về Tây Nguyên.
Tây Nguyên Việt Nam là vùng cao nguyên gồm 5 tỉnh, được sắp xếptheo thứ tự từ bắc xuống nam: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, và
Lâm Đồng
1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên:
Tây Nguyên là vùng cao nguyên, giáp với Hạ Lào và Đông BắcCampuchia Kon Tum có biên giới phía tây giáp với Lào và Campuchia Gia
Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông thì chỉ có chung đường biên giới với Campuchia
Còn Lâm Đồng không có đường biên giới quốc tế Thực chất, Tây Nguyên
không phải là một cao nguyên duy nhất mà là một loạt cao nguyên liền kề
Đó là các cao nguyên Kon Tum cao khoảng 500m, cao nguyên Kon Plông,
cao nguyên Kon Hà Nừng, Plâyku cao khoảng 800m, cao nguyên Mdrak cao
khoảng 500m, Đắk Lắk cao khoảng 800m, Mơ Nông cao khoảng 800-1000m,
Lâm Viên cao khoảng 1500m và Di Linh cao khoảng 900-1000m Tất cả các
cao nguyên này đều được bao bọc về phía Đông bởi những dãy núi và khối
núi cao (chính là Trường Sơn Nam)
Tây Nguyên có thể chia thành ba tiểu vùng địa hình đồng thời là batiểu vùng khí hậu, gồm Bắc Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai), Trung Tây
Nguyên (Đắk Lắk, Đắk Nông), Nam Tây Nguyên (Lâm Đồng) Trung Tây
Nguyên có độ cao thấp hơn và nền nhiệt độ cao hơn hai tiểu vùng phía Bắc
và Nam
Trang 5phê là cây công nghiệp quan trọng số một ở Tây Nguyên Tây Nguyên cũng
là vùng trồng cao su lớn thứ hai sau Đông Nam Bộ Tây Nguyên là khu vực ở
Việt Nam có nhiều diện tích rừng với thảm sinh vật đa dạng, trữ lượng
khoáng sản phong phú hầu như chưa khai thác và tiềm năng du lịch lớn
1.2 Khí hậu
Khí hậu được chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10
và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, trong đó tháng 3 và tháng 4 là hai tháng
nóng và khô nhất
Do ảnh hưởng của độ cao nên trong khi ở các cao nguyên cao 400-500
m khí hậu tương dối mát và mưa nhiều, riêng cao nguyên cao trên 1000 m
(như Đà Lạt) thì khí hậu lại mát mẻ quanh năm như vùng ôn đới
1.3 Dân cư, văn hóa
Nhiều dân tộc thiểu số chung sống với dân tộc Việt (Kinh) ở TâyNguyên như Ba Na, Gia Rai, Ê đê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông
- Tây Nguyên hiện nay thực sự là vùng đất đa dân tộc, đa văn hóa, nơi
cư trú của 47 dân tộc anh em, với rất nhiều đặc trưng, sắc thái của nhiều tộc
người, nhiều địa phương trong cả nước hội tụ; đồng thời cũng là nơi có tốc
độ tăng dân số và biến động về cơ cấu dân cư nhanh nhất cả nước Một trong
những nguyên nhân chính là do tình trạng di cư tự do kéo dài nhiều năm, đến
nay vẫn còn diễn ra phức tạp
Sau ngày miền Nam giải phóng (1975), Đảng và Nhà nước ta có nhiềuchủ trương, chính sách để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống cho đồng
bào các dân tộc Tây Nguyên, đồng thời thực hiện chủ trương chuyển một bộ
Trang 6phận dân cư và lao động từ các vùng đông dân của đất nước đến xây dựng
kinh tế mới và mở mang các nông lâm trường Là vùng đất màu mỡ, có ưu
thế lớn về đất đai và tài nguyên thiên nhiên, nên Tây Nguyên đã nhanh chóng
trở thành nơi hấp dẫn, thu hút hàng triệu đồng bào từ các tỉnh thành đến sinh
sống
II VÀI NÉT VỀ ẨM THỰC VIỆT NAM.
II.1 Đặc điểm chung.
Việt Nam là một nước nông nghiệp thuộc về xứ nóng, vùng nhiệt đớigió mùa Ngoài ra lãnh thổ Việt Nam được chia ra ba miền rõ rệt là Bắc,
Trung, Nam Chính các đặc điểm về địa lý, văn hóa, dân tộc, khí hậu đã quy
định những đặc điểm riêng của ẩm thực từng vùng - miền Mỗi miền có một
nét, khẩu vị đặc trưng Điều đó góp phần làm ẩm thực Việt Nam phong phú,
đa dạng
Một đặc điểm ít nhiều cũng phân biệt ẩm thực Việt Nam với một sốnước khác: ẩm thực Việt Nam chú trọng ăn ngon tuy đôi khi không đặt mục
tiêu hàng đầu là ăn bổ Bởi vậy trong hệ thống ẩm thực người Việt ít có
những món hết sức cầu kỳ, hầm nhừ ninh kỹ như ẩm thực Trung Hoa, cũng
không thiên về bày biện có tính thẩm mỹ cao độ như ẩm thực Nhật Bản, mà
thiên về phối trộn gia vị một cách tinh tế để món ăn được ngon, hoặc sử dụng
những nguyên liệu dai, giòn thưởng thức rất thú vị dù không thực sự bổ béo
Trong thực tế nhiều người nhận thấy, một cách cảm tính, đặc trưng ẩmthực Việt Nam toát lộ trong sự đối sánh với các nền văn hóa ẩm thực khác
trên thế giới: món ăn Trung Hoa ăn bổ dưỡng, món ăn Việt ăn ngon miệng,
món ăn Nhật nhìn thích mắt Tuy nhiên, đặc điểm này ngày càng phai nhòa
Trang 7- Tính hoà đồng hay đa dạng
II.2 Nguyên tắc phối hợp
Ẩm thực Việt Nam đặc trưng với sự trung dung trong cách pha trộnnguyên liệu không quá cay, quá ngọt hay quá béo Các nguyên liệu phụ (gia
vị) để chế biến món ăn Việt Nam vô cùng phong phú, bao gồm:
Nhiều loại rau thơm như húng thơm, tía tô, kinh giới, hành, thìa là v.v.;
Gia vị thực vật như ớt, hạt tiêu, sả, hẹ, tỏi, gừng, chanh quả hoặc lá
biệt, thưởng thức từng món, mà một bữa ăn thường là sự tổng hòa các món
ăn từ đầu đến cuối bữa Một nét đặc biệt khác của ẩm thực Việt Nam mà các
nước khác, nhất là nước phương Tây không có chính là gia vị nước mắm
Nước mắm được sử dụng thường xuyên trong hầu hết các món ăn của người
Việt Ngoài ra còn có các loại nước chấm như tương bần, xì dầu (làm từ đậu
nành) Bát nước mắm dùng chung trên mâm cơm, từ xưa đến nay làm khẩu vị
Trang 8đậm đà hơn, món ăn có hương vị đặc trưng hơn và biểu thị tính cộng đồng
gắn bó của người Việt
Ẩm thực Việt Nam tuân theo hai nguyên lý là Âm dương phối triển vàNgũ hành tương sinh
Các gia vị đặc trưng của các dân tộc Đông Nam Á nhiệt đới nói trênđược sử dụng một cách tương sinh hài hòa với nhau, như món ăn dễ gây lạnh
bụng (tính hàn) buộc phải có gia vị cay nóng (tính nhiệt) đi kèm và ngược lại
Các nguyên liệu tính nóng (ấm) phải được nấu cùng nguyên liệu tính lạnh
(mát) để tạo sự cân bằng cho món ăn
Các món ăn kỵ nhau không thể kết hợp trong một món hay không được
ăn cùng lúc vì không ngon, hoặc có khả năng gây hại cho sức khỏe cũng
được dân gian đúc kết thành nhiều kinh nghiệm lưu truyền qua nhiều thế hệ
Ví dụ:
Thịt vịt tính "lạnh", thích hợp ăn vào mùa hè với nước mắm gừng, tính
"nóng" Mặt khác, thịt gà và thịt lợn tính "ấm" thích hợp ăn vào mùa đông
(trước đây thường chỉ khi đến Tết mới làm thịt lợn, thịt gà)
Thủy sản các loại từ "mát" đến "lạnh" rất thích hợp để sử dụng vớigừng, sả, tỏi("ấm")
Thức ăn cay ("nóng") thường được cân bằng với vị chua, được coi là("mát")
Trứng vịt lộn ("lạnh"), phải kết hợp với rau răm ("nóng")
Bệnh nhân cúm và cảm lạnh phải uống nước gừng, xông bằng lá sả, lá
bưởi ("nóng")
Trang 9III VĂN HÓA ẨM THỰC TÂY NGUYÊN.
Vùng Tây Nguyên (Cao nguyên) gồm 5 tỉnh, Kon Tum , Gia Lai , ĐắkLắk, Đắk Nông và Lâm Đồng Đây là nơi cư ngụ lâu đời và hội tụ nhiều nét
văn hoá truyền thống độc đáo của hơn 40 đồng bào dân tộc anh em, tiêu biểu
như các dân tộc Jrai, Êđê, Bahnar, Xơ-đăng, Cơ-ho, Brâu, Rơ-măm,
M'nông… Sinh hoạt ăn uống liên quan chặt chẽ tới toàn bộ hệ thống xã hội
như kinh tế, văn hóa, giáo dục , chứa nhiều thong tin về văn hóa tộc người,
sử học, dân tộc học Người Tây Nguyên từ xa xưa sống cách biệt giữa núi
rừng nên ít giao lưu, vì vậy còn lưu giữ khá đầy đủ những nét văn hóa cổ
Nhưng trước sự hội nhập, sự đô thị hóa các làng bản, các món ăn truyền
thống đã mai một cần phải được bảo tồn và phát huy đúng cách
III.1 Bữa ăn.
III.1.1 Cỗ bàn.
Bữa cỗ trong văn hóa ẩm thực Tây Nguyên rất khác so với bữa cỗtrong văn hóa ẩm thực của các vùng miền khác Chính điều này tạo nên
những nét văn hóa đặc sắc và rất riêng của vùng núi rừng Tây Nguyên Vùng
rừng núi nơi tụ tập sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số, từ phong tục tập
quán của các dân tộc hình thành nên một nền ẩm thực rất khác, nền ẩm thực
chủ yếu dựa vào núi rừng Chính vì thế bữa cỗ trong ẩm thực của vùng này
cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ núi rừng
Tuy nhiên, không vì thế mà nó mất đi tính đa dạng và phong phú củacác món ăn trong bữa cỗ Các món ăn được chế biến từ nguyên liệu núi rừng
mang tính chất rất tự nhiên đậm đà bản sắc văn hóa núi rừng
Cỗ bàn ở đây cũng tập hợp đầy đủ từ cơm xôi, đồ xào, đồ luộc, đồchiên, đồ nướng, đến các đồ uống và dùng như nó cũng rất thịnh soạn
Trang 10III.1.2 Đồ nhậu.
Đồ nhậu ở vùng núi rừng Tây Nguyên mang phong thái rất đặc trưng,cách chế biến khá đơn giản chỉ từ các loại thịt thú rừng trải qua công đoạn
nướng là đã có món để nhắm Loại rượu dùng để uống trong khi nhậu
thường là rượu cần và có một loại rượu được lấy từ thân của một loại cây
trong rừng
Thịt bò nướng kiểu tây nguyên
Trang 11Gà rừng nướng sa lửa
3.1.3 Gia vị phổ biến
Đồng bào người Tây Nguyên dùng gia vị chủ yếu là muối và ớt cùng lá
bép sẵn có xung quang môi trường sống Tuy gia vị khá đơn giản nhưng
khiến món ăn đều có hương vị riêng biệt, có sự hấp hẫn đến lạ
Lá bép còn có tên là lá bét, rau nhíp,lá bột ngọt, một loại lá rừng, đặc sản của núi rừng, gia vị phổ biến ở Tây Nguyên Từ lâu, bà con người dân tộc
Trang 12thiểu số Tây nguyên coi lá bép là cây rau, cây thuốc, còn người Kinh coi đây là
một loại rau siêu sạch vì cây mọc tự nhiên trong rừng, cho đọt và lá quanh năm
mà không cần sử dụng bất cứ loại thuốc bảo vệ thực vật nào cây vẫn phát triển
Lá bép tròn dài, màu xanh nhạt, lúc còn non màu đỏ hồng, vị ngọt, khi nấu
chín có mùi vị đặc trưng Loại rau này dùng nấu canh, xào với lòng gà hoặc
tôm tép đều ngon
3.2 Các món ăn
Hầu hết các món ăn, dù chế biến theo cách nào, người Tây Nguyêncũng ít quy định chi tiết tỉ lệ pha chế nguyên liệu, độ lửa, thời gian nấu
nướng, và cả tính chất của món ăn đó cần ăn nóng hay ăn nguội Người dân
tộc Tây Nguyên cũng như đa số các dân tộc thiểu số khác chưa có sách dạy
nấu ăn, chỉ tồn tại dưới dạng kinh nghiệm, truyền khẩu hay do sự giáo dục
trực tiếp từ gia đình
Do sống ở vùng rừng núi Trường Sơn Tây Nguyên nên các nguyên liệuchủ yếu của các món ăn mang đậm sắc thái núi rừng Chính điều này đã góp
phần làm cho các món ăn của người Tây Nguyên trở thành đặc sản và được
nhiều người ưa thích Sau đây là một số món tiêu biểu
3.2.1 Cơm lam
Trang 13Cơm Lam được coi là món ăn của núi của rừng bởi chắt lọc trong đó vịngọt của dòng suối mát trong đầu rừng và hương thơm của rừng tre nứa xanh
Để làm được cơm Lam ngon đòi hỏi một sự tỷ mỉ đến từng chi tiết
Đầu tiên phải chọn cây nứa ngô còn non, chặt lấy gióng lưng chừng nứa rồi
phạt đi đầu mặt, dung lá nút lại, chất củi xung quanh đốt cho sôi Gạo nếp
làm cơm Lam phải chọn loại nếp trắng, dẻo, thơm, tốt nhất là “khảu tan” (nếp
tan), rồi ngâm gạo, vo sạch, rắc ít muối trộn đều rồi cho vào ống lam, cùng
với dòng nước suối trong vắt chảy trong rừng sẽ tạo nên một cơm Lam hương
vị đặc biệt của núi rừng, có thể làm say lòng bất cứ người thưởng thức nào
Khi cơm chín, chẻ bỏ lớp cháy đen bên ngoài ống cơm thật khéo léocho đến khi bao bọc phần ruột cơm chỉ là một lớp nứa mỏng Xắt mỗi ống ra
thành năm hay bảy khúc Khi ăn chỉ cần bóc bỏ lớp nứa bên ngoài
Cơm Lam được dọn ra ăn cùng với thịt gà hay thịt lợn rừng nướng(những thứ thịt này cũng được nướng trong ống tre) Tuy nhiên, cơm Lam
ngon nhất khi ăn với muối vừng (mè)
Nếu không có điều kiện để lên rừng thưởng thức hương vị đặc biệtnày, bạn có thể tìm đến nhà hàng Bắc Pó ở đường Yên Phụ, cơm Lam ở đây
được tiện thành từng khúc ngắn độ 4-5 phân như khúc mía mà người bán
rong thường vẫn tiện sẵn, chấm từng miếng với muối vừng, thi thoảng chen
vào một lát măng chua, khung cảnh nhà sàn nên thơ sẽ khiến bạn cảm tưởng
như đang hòa mình cùng núi rừng…
Trang 143.2.2 Canh thụt
Nguyên liệu cho món canh thụt là: Gạo, lá rau rừng hoặc lá sắn, lá ớtnhưng nếu đầy đủ và để đủ vị phải có lá bép, đọt mây, cà đắng Canh có thể
được nấu với thịt rừng tươi hoặc khô, cá suối hoặc thậm chí là ếch nhái đặc
biệt là tất cả thường không được làm ruột Các gia vị kèm theo là mắm, ớt,
muối Đổ những nguyên liệu đó vào ống giang và dựng ống nghiêng trên
đống lửa để nấu, dùng một chiếc que tre có chiều dài hơn ống để thụt cho
nguyên liệu nhuyễn và trộn đều với nhau trước và cả trong khi nấu nên vì vậy
người ta mới gọi là canh thụt Tất cả các mùi vị đều là tự nhiên và mang đậm
đặc trưng núi rừng Không chỉ vậy, đây còn là món ăn rất tốt, bồi bổ sức
khỏe, tránh những bệnh thường gặp như cảm nắng, sốt trong quá trình du
khách đi tham quan ở núi rừng Tây Nguyên
3.2.3 Cá chua
Trang 15dành cho ngày hôm sau như phơi khô, sấy khô, treo gác bếp… Ðặc biệt là
chế biến món cá chua Thức ăn này để càng lâu càng ngon Ðây là món ăn
đặc sản Tây Nguyên
Cách làm món cá chua thật dễ dàng Trước hết cần chọn loại cá niệng
để chế biến – Cá niệng trông hơi giống cá trôi nhưng mình dẹt có nhiều ở
vùng ung suối Tây Nguyên Cá được đánh hết vẩy, bỏ ruột, bóc mang và rửa
sạch, cắt thành khúc nhỏ dày chừng 2 phân đến 3 phân, để trước gió cho ráo
nước Khi cá se khô, bắt đầu trộn đều với muối, ớt, lá bép (tức cây mì chính)
thính ngô (được giã nhỏ mịn) Trộn đều xong cho vào ống nứa hay ống lồ ô
khô, sạch, nút thật kín, chặt rồi gác lên dàn bếp hoặc dưới mái nhà, chỉ sau
vài ngày là có thể ăn được Cá chua để càng lâu ăn càng ngon vì miếng cá sắt
lại nhờ các gia vị đã thấm sâu vào thịt cá làm cho người ăn thấy vị mặn của
muối, vị cay của ớt rừng, vị ngọt đầm của lá bép, vị thơm của thính ngô và vị
chua do hỗn hợp này đã được lên men…
3.2.4 Cháo chua- người k-ho.
Cháo chua là một món lạ của người Tây Nguyên Món này vừa là thức
ăn (cháo) lại vừa là thức uống giải khát (như rượu) Tương truyền, món ăn
này do thần linh chỉ dạy người đồng bào cách chế biến để chống lại sự khắc
nghiệt của thời tiết xứ Tây Nguyên Các nguyên liệu gạo, muối và có bí quyết
riêng Khi cháo nhừ người ta cho chút muối để tạo độ mặn vừa phải, để cháo
nguội đổ vào những trái bầu khô đã được lấy ruột từ trước, đậy nút lại treo
lên vách nứa nhà sàn Để đến tháng ba năm sau vào mùa phát nương, người
ta mang theo để ăn
Cháo chua theo quan niệm của người Tây Nguyên là món ăn bổdưỡng Nó có vị chua xen vị ngọt, có mùi của men rượu Nó là thứ nước
uống giải khát, chống cảm nắng, sức đề kháng cơ thể